Thứ Ba, 25 tháng 7, 2017

Người về

Người về
Người ta vẫn thấy nàng con gái nhỏ đứng tần ngần dưới vòm hoa sứ... 
Những say sưa hốt nhiên trẻ dại thuở đôi tám nàng gửi lại cho Trần và cái nắm tay thẹn thò trong một chiều mưa giăng nắng đổ ở quê nhà. Hai năm sau nàng gặp Phan. Cũng tại Đà Nẵng. Khi ấy nàng vừa đậu Đại Học. Nhiều ước vọng. Nhiệt thành. Không lâu sau Phan ra đi. Xoáy lốc như lúc đến. Nàng bỏ mặc những cảm xúc yêu thương. Yên vui sách vở, cơm nước và quanh quẩn với anh em gia đình. 
Tưởng rằng đã yên. Giáng sinh năm ấy, nàng con gái nhỏ nhận được phong thư ngào ngạt hương và cành lan trắng muốt của chàng trai trẻ, người đã từ bỏ giảng đường phiêu du đâu đó trong một thời gian khá dài. Một năm. Chàng trai trẻ lại khoác áo lên đường vì những nguyên do mà chỉ có chàng mới biết... 
Chiều vàng. Nàng hẹn chàng trai trẻ bên cầu nước xuôi. Nước trong êm, rồi bất chợt xanh lên một màu lịm ngát trống trải như mênh mông. Rong trôi hàng nối hàng, khẽ chạm nhau, rồi tan mau, chạy theo những bờ lối phiêu du bất định. Chàng-trai-trẻ không đến. Nàng soi đôi mắt buồn thiên thu vào ánh nước hoàng hôn. Lặng lẽ quay về. Gió thổi rối tung mái tóc êm. Tà áo mỏng vợi bay trong chiều… 
Chàng trai trẻ là bậc anh tài của Trời Đất. Biết vậy nên nàng dù rất muốn, cũng không đành níu giữ. Chàng trai trẻ lại là người ưa bay nhảy, sống tự do đến mức không giới hạn. Nàng nghĩ cách sống ấy không thích hợp cho một gia đình, dẫu rằng đã có lần nàng cùng chàng nuôi ước mộng tròn đôi. Hơn nữa, nàng chỉ như cánh đồng hoa dại bát ngát tròn hương, mở tay ngời đón chàng trong một buổi sớm mai rất dịu nhẹ trong đời, mang đến cho người chút hạnh phúc ấm êm và những cảm hứng bất thần ngắn ngủi. Nàng phải để cho chàng trai trẻ đi tìm những hứng khởi khác biệt cho tài hoa của mình. Có những loài chim quý không thể giữ mãi trong lồng, một phần trong ta vui mừng để nó bay đi. Nàng âm thầm đau đớn tiễn cánh chim lồng lộng đang trở lại với suối biếc rừng già và nội đồng xanh tươi. Dẫu gì đó cũng là một cánh chim, phải làm tròn chức phận với trời xanh. 

Thuở hai người bên nhau, nàng viết rất say sưa. Truyện, thơ của nàng dịu dàng hiền lành như hoa dại, ảnh hưởng chút sắc khí ngông ngạo của chàng. Nàng mang tặng chàng. Chàng trai trẻ đọc rồi cười thoảng nhẹ, mắt nhìn vào những khoảng lặng im lìm trong không gian. Đôi mắt đẹp se sắt. Nhưng lâu nay nàng không biết gì, vì sợ đụng chạm đến nỗi đau. Nàng hay viết về nỗi đau. Nỗi đau như một lẽ tất yếu của hạnh phúc vuông tròn. Nàng yêu hạnh phúc. Mà cũng si mê niềm đau. 
Những kẻ biết nàng vừa đơn côi liền tìm tới. Nàng chỉ cười, để tâm hồn họ mặc sức lạc bay và hồ nghi tơ tưởng. Khí huyết linh hồn nàng đã vắt cạn cho cuộc tương giao với chàng trai trẻ, thì đâu còn muốn tơ vương tới điều chi? Không có chàng trai trẻ ở bên nữa, nàng dồn đam mê mãnh liệt vào vẽ Tranh. Cái nào cũng là tình yêu, như nhau cả thôi. Nhưng tình yêu với Tranh hiền hòa đẹp êm hơn nhiều. Đó là một người yêu phẳng lặng như hồ thu, ân cần nhẫn nại mà nàng có thể hạnh ngộ ngay lúc nào, sẽ sàng trao nhau cái nhìn đắm đuối cuồng điên. Không bão lũ, oán than. Không dữ dằn thô bạo. Không hoang đàng phù phiếm. Tranh đối với nàng như một sự cứu rỗi. Sự cứu rỗi cho một linh hồn bơ vơ và yếu đuối. Nàng vẽ nhiều, không theo trường lớp, sách vở, kiểu cách nào. Nét vẽ vụng nhưng thăm thẳm hồn nhiên. Nàng thường vẽ chiếc cổng nhà có giàn tigôn che phủ. Nàng vẽ lan, cây hoa chàng đã mang đến cho nàng trong một buổi trưa nồng tháng tư. Nàng vẽ chàng trai trẻ. Sự hình dung về khuôn mặt chàng trong ký ức của nàng còn rất rõ. Vậy mà chẳng hiểu sao, không có khi nào nàng vẽ chàng giống với chàng-trai-trẻ. Đôi khi nàng vẽ chàng đẹp và hào hoa như một hoàng tử trong truyện cổ tích, dũng mãnh trên lưng ngựa giữa cánh đồng vàng hoa dại. Đôi khi chàng lại xuất hiện trong một bộ mặt kì dị lạ lẫm, và đôi mắt dữ tợn tung hoành. Không ai tin đó là chàng trai trẻ. Nhưng nàng tin. Một bữa nọ, trong lúc vẽ chàng trai trẻ với khuôn mặt kì dị, nàng cười. Đầu tiên tiếng cười trong như pha lê. Sau thánh thót như ngọc vỡ. Rồi hoang dại. Sự hoang dại không rõ hình, hơi đáng sợ. Từ đó nàng con gái nhỏ không còn nói lời nào nữa. 

Và cũng từ đó, người ta hay thấy nàng quanh quẩn bên cội sứ già, gần như mỗi chiều. Cạnh cội sứ ấy có một vũng nước nhỏ, thường đọng lại vào những ngày mưa. Nàng thường nghiêng soi bóng dáng nhỏ nhắn âm thầm của mình vào đó, hoa sứ rung rinh trên đầu. Màu trắng của váy áo nàng, của hoa sứ thấp thoáng trong vũng lầy. 
Nàng cũng thơ thẩn nhặt lá vàng rơi ở góc đường Tôn Đức Thắng. Nơi này nàng cũng đã cùng từng chàng trốn học để lang thang. Ly càfe góc phố buổi ấy sao ngây thơ say đắm. Và cũng vội vã cuống cuồng. 
Bao kỷ niệm trở về dày xéo tâm linh bất ổn của nàng. Kí ức về mẹ, về quê hương. Nỗi nhớ những ngày mùa hạ bên gió biển. Lưu luyến những chiều mùa đông bên đường Trưng Nữ Vương. Trong vạn ngàn suy tưởng của nàng luôn ẩn hiện những suy nghĩ về chàng trai trẻ như một bản nhạc nền dâu bể. Nàng thấy chàng nắm tay mình thiết tha chạy bạt ngàn hoa nội đồng li ti tỏa ngát. Thấy ước mộng vàng son đọng lại trên bờ suối đã thành, vang mấy lời du dương ngọt lành như điệu ballad. Nàng ứa nước mắt. Tâm trí nàng vần vũ như muốn đuổi xua kỷ niệm. Hai tay nàng ôm đầu, rồi bất thần quờ quạng. Cái ly thủy tinh trên đầu giường rơi xuống nền gạch. Vỡ toang. Nàng ngồi dậy. Hỗn loạn nhận ra trong đám mảnh vỡ ấy khuôn mặt dằn dữ của chàng mỗi lúc trào sôi giận dữ. Những lần ấy cả hai người không còn là nàng-con-gái-nhỏ và chàng trai trẻ nữa. Tranh cãi bạo liệt cho tới khi nàng nhận một cái tát phũ phàng của chàng rồi lặng lẽ quay đi trong dòng lệ không ngăn được. Nàng thảng thốt nhận diện chàng trong từng khuôn mảnh vỡ còn lại. Nàng đã từng khó hiểu vô cùng cái khoảng lặng vời vợi khi gặp chàng. Chợt hiểu chàng có cách sống quá ư cách biệt với nàng - lý do xem chừng đơn giản. Nàng hiền ngoan như hươu non, mong manh như sương sớm, và thuần khiết như hoa lan. Nàng nguyên tắc đến mức cực đoan, nhưng thường để cảm xúc bùng nổ. Nhiều lần bùng nổ như thế, tình yêu bỗng vỡ òa. Quá nguyên sơ và dễ xúc động. Trái tim nhỏ bé gần như nát vụn khi chàng trai trẻ dứt áo ra đi. Tình yêu của nàng như một đường tơ giữa nắng trời, chỉ cần một va chạm nhẹ, cũng đủ làm nó bứt tung. Nàng-con-gái-nhỏ không đủ sức lực để nâng giữ vô vọng đường tơ long lanh ấy nữa. Nàng còn muốn níu lại một đường tơ, nên đã tiễn cuộc tình đi với một vòng hoa trắng buồn u uẩn. 

Không ai hiểu vì sao nàng trở nên lặng lẽ. Vì sao mọi tác động của đời sống không mảy may làm nàng để mắt tới. Nàng đã như thế từ bao lâu? Từ lúc nào? Người ta chỉ thấy nàng thẫn thờ bên cội sứ già thường xuyên hơn. Những ngày mẹ nàng ngoài quê vào thăm, nàng gần như quên hẳn cây sứ và vũng nước bên cạnh. Nàng hay vùi đầu vào lòng mẹ, để mẹ vuốt mái tóc dày đen mượt cho nàng. Người mẹ thơm nồng mùi cau trầu dung dị, lại thoang thoảng hương chanh, hương bưởi quê nhà. Thi thoảng nàng cảm nhận một thứ nước ấm nóng, xót xa rớt trên da thịt nàng. Nàng-con-gái-nhỏ ngước đôi mắt ngây buồn nhìn đôi mắt thăm thẳm trũng sâu của mẹ. Hai dòng nước ấm từ nơi ấy ứa tuôn… 
Người lữ khách vừa trở về thành phố sau bao ngày rong ruổi buồn phiền mỏi mệt. Chang đã rời bỏ nơi này ra đi gần mười năm. Chàng thay đổi nhiều. Gương mặt rắn rỏi và cương nghị đã hằn mấy vết rạn cuối đuôi mắt. Không hiểu nét ngông cuồng kiêu ngạo mười năm trước đã biến bay đâu rồi? Có lẽ đã rơi trên những tháng ngày dặm trường mê mải… 
Lữ khách xốc lại chiếc áo gió, cầm chắc cái túi da đen đựng hành lý, rồi tiếp tục bước ra khỏi đường tàu. Hờ hững bỏ qua những lời chèo kéo của hàng rong và xe ôm, chàng đi trong miên man, nửa như kiếm tìm, nửa muốn bỏ quên. Mười năm. Người lữ khách đã bỏ quên quá nhiều thứ ở thành phố tráng lệ này. Thuở xưa, nghe lời thiên thu gọi, chàng khoác áo phong sương lên đường, để sau lưng một đôi mắt buồn trong ánh nước. Lênh đênh trên những vùng miền, gặp gỡ và quen biết thêm nhiều cô gái, chàng vẫn thấy họ thiếu điều gì đó. Chàng không rõ. Hôm nay chàng trở lại đây để tìm nhặt điều mà chàng luôn thấy thiếu khi ở bên những người con gái…. 
Giáng Sinh. Người vùng này có thông lệ đón Giáng Sinh như một lễ hội lớn. Màu sắc không gian có khác thường. Điều khác thường ấy bắt nguồn từ cảm thức của một người đi xa quá lâu ngày chăng? Hay đơn giản chỉ vì hôm nay là Noel, như cái mùa chàng từng tặng nhành hoa lan cho người con gái nhỏ? 
Trời không lạnh lắm, nhưng gió thì khô rốc. Chút khí vị thu còn sót lại ngập ngừng rũ ra trên mấy cành cây đã gần như trụi trơ. Lá khô cuống quít đuổi nhau trên đường. Vài đôi nam nữ choàng khăn ấm ríu rít dắt tay nhau… 
Người lữ khách dừng lại bên cành sứ già, bàng hoàng nhìn màu áo trắng lẫn vào màu hoa sứ ngan ngát. Bóng áo trắng chợt xoay người về phía chàng, mở mấy ngón tay xinh đón lấy bông sứ nuột nà vừa xoay xoay trong gió. Người con gái lặng im. Đôi mắt đẹp se sắt vừa bắt gặp cái nhìn buồn thiên thu… Khoảng lặng… 
Và hôm nay, ta vỡ trời yêu thương…
Giáng Sinh 2005 

Huyền Nguyên

Nguồn: http://vnthuquan.org/
Theo http://4phuong.net/


Cảnh xuân trong Bức tranh quê

Cảnh xuân trong Bức tranh quê
Nữ sĩ Anh Thơ (Vương Kiều Ân) sinh 1921 tại thị trấn Ninh Giang (Hải Dương). Tuổi thơ ấu, nhà thơ gắn bó với khung cảnh của một thị trấn nhỏ nằm cạnh dòng sông Luộc. Gọi là thị trấn nhưng phố xá không nhiều, chỉ cần bước ra vài trăm mét là thấy làng nối làng, ruộng nối ruộng. Khung cảnh ấy đi vào thơ qua cái nhìn trong trẻo yêu đời của một nữ sinh. Tập thơ Bức tranh quê (1939) được giải thưởng về Thơ của Tự lực văn đoàn. Tập thơ gồm 45 bài, trừ 3 bài nói về Tết nhất thì có đến 6 bài viết về mùa xuân. Nhân ngày xuân đọc lại Bức tranh quê, là để cảm nhận lại vẻ đẹp của xuân quê hương chúng ta cách đây gần một thế kỷ, nhất là được tiếp xúc với một tâm hồn thơ nữ (không nhiều) được hai nhà phê bình Hoài Thanh - Hoài Chân trân trọng chọn lựa đặt trong "ngôi đền thiêng" - Thi nhân Việt Nam (thơ mới Việt Nam 1932-1945).
Trong 6 bài thơ viết về mùa xuân có 3 bài viết về cảnh xuân ban ngày, ba bài viết về cảnh xuân ban đêm. Hãy cùng đi qua một ngày xuân hơi lạnh, nắng vàng hơi ửng, giữa lúa đồng xanh rợn sóng tận chân mây… Cái thứ hoa xoan thôn dã từng rụng vơi đầy trong thơ Nguyễn Bính, giờ đây lại tơi bời trong Mưa xuân: Mưa đổ bụi êm êm trên bến vắng/Đò biếng lười nằm mặc nước sông trôi/Quán tranh đứng im lìm trong vắng lặng/Bên chòm xoan hoa tím rụng tơi bời (Chiều xuân).

Đã qua tiết sơ xuân nên không thấy hình ảnh của hoa đào mà chỉ có đồng lúa trải rộng trong tầm xanh rờn và ướt lặng mưa xuân. Cánh cò trắng ẩn hiện, những cánh én đan dệt, rồi cỏ xanh triền đê như mời gọi cánh bướm rập rờn, từng đàn sáo bay đi bay về mổ vu vơ… Tất cả chấm phá nên những nét đặc trưng nhất của mùa xuân nơi đồng bằng Bắc Bộ. Ở một vùng rộng xa không một bóng núi.
Cảnh nào cũng có bóng dáng hoạt động con người nhưng không phá vỡ cái không gian thanh bình. Một cô nàng yếm thắm mải mê làm cỏ chợt giật mình khi bắt gặp lũ cò bất ngờ bay lên. Thật ra, lũ cò cũng lặng lẽ kiếm ăn trong đám lúa bỗng gặp người mà hoảng hốt. Con người làm việc nhưng nhẹ nhàng trong không gian gần như tĩnh lặng. Hình ảnh Cô nàng yếm thắm, mang tính chấm phá song có sức gợi về một vẻ đẹp thiếu nữ thanh tân hòa hợp trong không gian đồng quê. Câu thơ Những trâu bò thong thả cúi ăn mưa thật dung dị, nhưng chữ ăn mưa lại được dùng rất mới. Chỉ có lòng yêu mến thiên nhiên tha thiết cùng óc quan sát bén nhạy, cảm xúc đằm trong cảnh vật mới có thể viết nên những câu thơ tự nhiên mà gợi hình, gợi cảm như thế.

Gặp phiên chợ xuân, tác giả viết là Chợ đông quá…, nhưng đông mà không xô bồ. Tựa như thủ pháp vẽ tranh đông người, các gương mặt ấy như bị nhòe đi, dành nhiều hơn nét bút cho những nhân vật chính: các chàng trai giương ô, mấy cụ già gật gù say, rồi người đoán thẻ… xung quanh các cô gái chen vai xem bói nhân duyên…
Đọc lại Bức tranh quê, là để cảm nhận lại vẻ đẹp của xuân quê hương chúng ta cách đây gần một thế kỷ.
Dường như ngòi bút Anh Thơ muốn tạo nên bức tranh hoàn chỉnh về mùa xuân nên đã dành hẳn ba bài viết về đêm. Bài Đêm rằm tháng Giêng có thể xem là khung cảnh điển hình của đêm mạnh xuân. Tháng Giêng - nhất là ngày rằm là cao điểm của các thủ tục tâm linh, cúng lễ. Không khí tại một ngôi chùa làng thật náo nhiệt:  Chùa mở hội người làng nô nức tới/Trong khói hương trầm ánh nến xôn xao/Các bà lão yếm hồng tươi khoe mới/Các cô nàng khuyên bạc sáng như sao.
Như một sự dàn cảnh tự nhiên, các bà cùng các nữ tú ở trong chùa thành tâm lễ cầu, các nam thanh thì cứ đi lại ở ngoài sân. Dưới ánh trăng bàng bạc, họ niệm Phật nhưng chẳng mấy kính lễ. Dường như đến đây là để đi xem, đi tìm người bạn tình… Vậy nên, họ hành xử tín ngưỡng có khi không kém phần tinh nghịch: Thỉnh thoảng họ nam mô lên một loạt/Và cười trêu các ả đến dâng hoa. Câu thơ nào cũng có tính từ, động từ chỉ sắc thái, hoạt động… Ngôi chùa như có sức hút mọi bàn chân. Khi đến thì nô nức, vào trong chùa thì hớn hở và khi cầu thì xoa xuýt kêu oan…
Đến bài Đêm trăng xuân lại đẹp như một bức tranh lụa: Đồng lặng lẽ sương mù buông bát ngát/Ao âm thầm mây tới ngập mênh mang/Gió im ắng tự từng không man mác/Mưa bay trăng nhè nhẹ dệt tơ vàng.
Tác giả miêu tả mùa xuân ở nhiều thời điểm, nhiều góc nhìn và không quên tả một đêm xuân không trăng. Cứ tưởng làng xóm sẽ yên ắng lắm, nhưng không: Trong các ngõ người đi ra từng tụm/Những đàn ông vào điểm họp quân bài/Các cô gái ra bờ sông hát đúm/Mấy bà già cõng cháu đến nhau chơi (Đêm xuân).

Nữ sĩ tuy Tây học nhưng gia đình cơ bản mang gia phong truyền thống, cô thiếu nữ ấy lớn lên trong phong cảnh thiên nhiên nơi đồng quê tươi đẹp, cái cảm xúc tự nhiên về phồn thực âm dương, về lứa đôi đã len lỏi trong thơ tự khi nào: Ngoài đồng vắng trời đêm mà che nón/Có hai người đi lẻn tới nương dâu (Đêm xuân).
Đọc lại chùm thơ xuân của Anh Thơ trong Bức tranh quê ta như lần giở lại bộ sưu tập ảnh về mùa xuân xưa. Ấn tượng chung mang lại là một cảnh xuân đầm ấm tình người của làng quê nơi đồng bằng Bắc Bộ. Một thiên nhiên tươi mới, thanh sạch. Nhìn chung thơ thiên về tả, nhưng do khéo nắm bắt cái thần của cảnh vật nên nét vẽ khá tinh tế, nhiều câu thơ đạt độ tài hoa. Trong cái ngữ điệu thơ tám tiếng vốn ảnh hưởng từ thơ lãng mạn Pháp, với cảnh sắc Việt, tâm hồn Việt… người đọc vẫn thấy hồn thơ của nữ sĩ họ Vương chân chất đồng quê, nền nã lại tươi mới.
Gần một thế kỷ đi qua, lịch sử đã đi một bước rất dài. Cảnh đồng quê mùa xuân cũng như sinh hoạt của cộng đồng đã có nhiều đổi khác. Song như một gợi ý: những vẻ đẹp nào bảo lưu và phát triển được từ trong quá khứ ta có thể nâng niu và gìn giữ được chăng?.
NGUYỄN VIỆT THANH
Theo http://www.baohaiduong.vn/


Thứ Hai, 24 tháng 7, 2017

Từ cô Kiều đến hồn dân Việt Nam

Từ cô Kiều đến hồn dân Việt Nam
Lời người sưu tầm: Bài viết sau đây, xuất hiện trên báo chí từ những năm 1930, dõi theo một ý tưởng thường có ở người nghiên cứu hiện đại, theo đó những kiệt tác văn chương mà một dân tộc tự chọn cho mình luôn mang trong nó những thuộc tính tinh thần của chính dân tộc ấy; vì vậy, có thể từ phân tích tác phẩm để nhận định đôi nét tâm lý và tính cách dân tộc. Sự khai triển ý tưởng này khi ấy còn thoáng qua, chưa được tác giả T. T. Nam Viên (thật sự tôi chưa biết tác giả này là ai) làm cho trở nên sâu sắc. Nhưng, suy nghĩ đào sâu hơn trên vấn đề này lại là việc của hậu thế. Xin giới thiệu lại bài viết này với bạn đọc. - Lại Nguyên Ân
Càng đọc kỹ Truyện Kiều ta càng phục cụ Tiên Ðiền có một bộ mắt tinh đời, dùng cán viết thần tình miêu tả rõ ràng cặn kẽ cái chân dung của linh hồn dân Việt Nam. Cô Kiều chính là hình ảnh của cái tâm lý thông thường vẫn sinh sống trong tủy não con cháu Lạc Hồng mấy nghìn năm, cho tới ngày nay nó đang chạm trán với ngọn trào tấn hóa.
Trước hết, một điều hiển hiện là cả quả tim khối óc Kiều bị nung nấu trong lò mê tín cho tới cái kết quả: mê tín với hồn Kiều là một chất. Cái mê tín ấy xui cô nhắm mắt đưa chân, phó thân danh cho trời xanh vùi dập, sau khi nối một mối tình khăng khít tầm phơ cùng gái Ðạm, được biết số lênh đênh trong biển khổ. Cái mê tín ấy bắt cô đem thân ra trả nợ đời, dùng hương phấn đầy đoạ cái tuổi xanh qua ngày đoạn tháng để khỏi trái lời mộng mị, mong tránh thoát nợ lồng kiếp nữa. Ðau đớn, khổ sở, nhục nhã vì mê tín, đó là thân phận Kiều nhi. Nhưng cái mê tín ấy có lúc nó làm cho độc giả phải lộ ra một nụ cười chua chát, ái ngại cho cái vẻ ngây thơ chân thật của cô gái u mê, tức là lúc bị ép duyên cùng Bạc Hạnh, giữa cảnh hiểm nghèo mà Kiều còn bộc lộ cái tinh thần mê tín, nó hóa ra trò con nít, tìm cái yên lòng câu thề tiếng khấn trong cuộc đời gian ác. Ây đấy cái óc mê tín hại người như vậy. Nó làm cho linh hồn Kiều mất hết chí mạnh mẽ, sức tự chủ, trở nên một cái nguồn gốc cho nụ cười giọt lệ. Nó khiến cô tin ở số mệnh, ở quỷ thần, ở mộng mị, cúng bái,… mà hóa người bị động, không đủ lực lượng đối phó với cái cảnh ngộ oái oăm- những cảnh ngộ chỉ có thể giải quyết được bằng khối óc tự do với quả tim chan chứa tinh thần phấn đấu.

Từ cô Kiều mê tín đó ta bước mạnh vào cái thế giới vô hình là cái hồn người Việt Nam; thử hỏi ai có con mắt biết nhìn, không công nhận rằng hai tâm linh ấy giống nhau như đúc?
Người nước ta mê tín ra sao, các báo chí sách vở nói đã nhiều rôì, ai nấy đều kết luận: Dân mình ươn hèn nô lệ cho tiền định, thiếu sức tự chủ. Phải! Ðã phó cuộc đời cho ông Tạo (?) vần xoay, thì đứng trước cảnh ngộ đau đớn, hẳn chỉ còn cách khoanh tay bứt tóc mà khóc ròng. Vì không tin ở sức mạnh thì còn mong phấn đấu làm sao được? Thuyết số mệnh đã ăn sâu vào óc người nước ta lắm rồi. Nó đã thành cái khuôn cửi mà công việc, ngôn ngữ, ý nghĩ của quốc dân là những sợi chỉ dọc ngang. Câu “trăm đường tránh chẳng khỏi số” cùng câu “khôn sao chọi được với trời ” là tiếng thường dùng của hết thảy mọi người.
Trái hẳn người phương Tây vì tự tin gây nên được bầu không khí tự do rắp phản động và xô đạp các điều khó, người Việt Nam bởi coi nhân lực như trò đùa trước sức mạnh vô cùng của ông Tạo nên hay dùng tính nhẫn nhục liệt bại (résignation passive) mà đối phó với mọi sự. Một dân tộc thiếu tự do, không biết phản động hoàn cảnh như thế làm sao mà tiến hoá cho được? Mà thái độ ươn hèn ấy lại là kết quả trực tiếp của sự mê tín thì phỏng ta có thể dùng cách gì mà đập chết con yêu nghiệt ấy đi không? Nó tai hại lắm: nó làm Kiều đau đớn, nhục nhã cũng như nó bắt dân tộc ta lẹt đẹt trên con đường tiến hóa, quên lửng cả nhân cách con người.
Ngoài sự ươn hèn kia, sự mê tín ấy lại còn đào tạo ra một cái triết lý nhân sinh hẹp hòi trong bộ óc người mình mà tôi lại xin đem Kiều ra làm biểu hiệu rõ rệt.
Trong bài trước tôi có nói, lúc đụng chạm với đời, cái hồn cố hữu của Kiều bị một “con người mới” vừa xuất hiện, đàn áp đi mất. Con người mới! Con người thường tình! Ây đấy cái hình ảnh của ý nghĩ tích cực đối với sự sống vẫn chi phối tâm hồn dân Việt. Con người mới ấy nảy nở trong hồn Kiều từ lúc, con người cũ va phải sự dơ dáng trong đời kêu lên mấy tiếng thê thảm: Tuồng chi là giống hôi tanh! Sau lúc hồn triết lý tái sinh bị cảm tưởng mê tín dìm xuống (hồi Kiều tự tử ở nhà Tú Bà, mê thấy Ðạm) thì Kiều đã chịu sức chỉ huy của con người mới rồi. Phải bỏ giấc mộng êm đềm, mất vẻ lạc quan, thảm thay! Hồn cố hữu của Kiều nhi thôi từ đây phó mặc theo ngọn trào dĩ vãng.
Tránh sự đau, khổ, nhục, tìm đường đi trốn với Sở Khanh, năn nỉ xin chừa cùng mụ Tú, phải chăng đó là cử chỉ của thường nhân? Mà lúc muốn tìm đường xa chạy cao bay, vì ham sự sống mà quên đạo lý, ăn cắp chuông vàng khánh bạc, thì ôi thôi! Còn đâu là dấu vết gái thanh cao! Ra tay báo oán đền ơn lúc vừa mở mặt, xui Từ Hải ra hàng vì muốn được sống một cảnh đời êm ái, an nhàn, vinh hoa, mệnh phụ, vương thần, sau lúc mùi đời đã trải, thôi đích rồi cái ý nguyện của con người mới nó không bao giờ đủ sức mà phấn đấu. Tới lúc bị lừa để đến nỗi mang tiếng giết chồng, linh hồn tan nát, hy vọng lên mây, thì con người mới không tài nào sống được nữa. Thôi! Chết cho rồi, dù sao cũng đành ngọc nát vàng tan: đó là cái kết quả sau cùng của cái triết lý hẹp hòi kia nó đã được sức mê tín làm cho lảo đảo.
Ây đấy, có hiểu con người mới đó, mới cắt nghĩa một cách chân xác được sự hành vi của Kiều trong 15 năm hoạn nạn. Mà cái “con người” ấy nó phát sinh là vì sự cần dùng chứ không phải vì ý muốn của Kiều. Nó làm cho Kiều khổ sở, đau đớn, theo danh từ triết học ta có thể gọi nó là cái lực lượng vô tâm, kẻ thừa hành luật nhân quả đó. Con người mới đứng chủ cuộc đời Kiều trong lúc ba đào thích sự an nhàn, ưa mối công danh, rối loạn ươn hèn, nô lệ cho bản năng, nô lệ cho ngoại vật, - tôi xin hỏi ai ai chịu nghĩ - phải chăng là tâm lý chung của người Việt Nam?
Bao nhiêu kẻ vì nghĩ như Kiều “Chi bằng lộc trọng quyền cao, công danh ai dứt lối nào cho qua?” mà để tiếng xấu đời đời. Bao nhiêu người vì chỉ muốn như Kiều “nở nang mày mặt rỡ ràng mẹ cha” mà mất óc thanh cao, học lầm học láo, để tiêu hủy sức tang bồng?
Mực cạn bút mòn, thói dư luận đã nhiều phen giày vò cái tư cách ấy! Tôi không cần nhắc lại. Nào ai yêu Truyện Kiều kính tác giả, hãy cùng tôi bắc loa hô to dân tộc mình cũng biết rằng: Tự do là hạnh phúc!. 
Nguồn: Báo Ðông tây, Hà Nội, số 142, ngày 23/1/1932, Lại Nguyên Ân sưu tầm.
Nam Viên
Lại Nguyên Ân sưu tầm
Theo http://www.talawas.org/ 

Tập Kiều, lẩy Kiều

Tập Kiều, lẩy Kiều
Chúng ta đều biết Truyện Kiều tuy là tác phẩm đề cập một vài mảnh đời riêng, nhưng có sức cảm thông và phổ cập đến mọi hạng người. Trong cuộc đời đầy bất trắc, dường như ai cũng thấy một vài câu thơ trong truyện Kiều nói lên thân phận mình. Như hoàn cảnh đưa đẩy phải làm một việc liều lĩnh, biết mai kia ra làm sao, người trong cuộc đành chép miệng: 
Cũng liều nhắm mắt đưa chân,
Thử xem con tạo xoay vần đến đâu. 
Hoặc số phận hẩm hiu, bước trầm luân không dứt, kẻ xấu số đành an ủi: 
Phận bèo bao quản nước sa,
Lênh đênh đâu nữa cũng là lênh đênh. 
Nói về đường ứng dụng của Truyện Kiều thì muôn màu muôn vẻ. Chuyện kể một anh nhà nông đang cày ruộng, gặp ông thầy đồ đi trên đường, bèn dừng lại nói: “Thầy hay ngâm Kiều, tôi đố thầy đọc một câu Kiều, mà có thể sai khiến con bò của tôi được.” Ông thầy đồ thấy khó, lắc đầu, anh nhà nông bèn đằng hắng, ngâm câu thơ: 
Nàng rằng “Phận gái chữ tòng,
Chàng đi, thiếp cũng một lòng xin đi.” 
Anh đọc to chữ đi, nên con bò theo lệnh cất bước kéo cày. Bắt bò dừng lại, nhà nông ta thường thét “hò”. Lần này anh nhà nông đọc trại chữ “họ” thành “hò” trong câu thơ: 
Họ [hò] Từ, tên Hải vốn người Việt Đông. 
Thì con bò lại ngoan ngoãn dừng lại.
Về mặt văn chương, có rất nhiều thơ, văn, câu đối theo thể tập Kiều, lẩy Kiều ra đời. Tập Kiều là chắp nối nhiều câu rải rác trong Truyện Kiều, làm nên một công trình mới có vần, để diễn tả theo ý mình. Lẩy Kiều là sửa chữa hay thay đổi một vài chữ trong câu Kiều, nhằm diễn đạt một đề tài. Làm một bài thơ tập Kiều không quá khó, chỉ cần thuộc chuyện Kiều, khéo léo chọn lựa những câu hợp vần mà diễn tả. Câu đối gay hơn, vì chuyện Kiều theo thể lục bát, cước vận [vần cuối câu] và yêu vận [vần giữa câu] đều dùng âm bằng; đối liễn có hai vế đối nhau theo luật bằng trắc, nên người làm cần phải giỏi lẩy Kiều, để rút ra những phần thích hợp. Đến như làm bài phú vừa tập Kiều, vừa lẩy Kiều lại là một tác phẩm dài hơi hơn cả thơ và câu đối.
Bài phú chúng tôi giới thiệu dưới đây, nhan đề là “Phú thuốc phiện”, dài trên 70 câu, sử dụng có đến hàng trăm câu Kiều, tác giả là cụ Trúc Đình Lê Hữu Nghiêm, tự Lê Khoan Hoàng. Cụ là nhà Nho triều Nguyễn, quê tại Nghệ-Tĩnh, đồng thời với cụ Phan Bội Châu; một số thơ văn của cụ trước đây được đăng trên tạp chí Nam Phong. Bài phú này được giới nho sĩ đương thời ca tụng vì lời đẹp, ý sâu; tập Kiều và lẩy Kiều đắc thể.
Về lịch sử, Nguyễn Du, tác giả Truyện Kiều mất vào năm Minh Mệnh nguyên niên [1820]. Nha phiến được người Anh buôn lậu vào Trung-Quốc sau đó, và đã xảy ra cuộc Chiến tranh Nha phiến vào năm [1840]; vậy rõ ràng đời cụ Nguyễn Du chưa hề biết đến nha phiến. Nhưng kỳ lạ thay, qua Truyện Kiều, những lời tình tự thiết tha giữa Thúy Kiều và Thúy Vân trong buổi biệt ly: 
Mai sau dầu có bao giờ,
Đốt lò hương ấy, so tơ phím này.
Trông ra ngọn cỏ lá cây,
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về. 
Được cụ Trúc Đình, dùng một cách tài tình thích hợp, đượm vẻ Liêu Trai, trong câu mở đầu của bài “Phú thuốc phiện” như sau: 
Rũ bức rèm châu,
Đốt lò hương cũ.
Còn thoang thoảng trầm,
Thấy hiu hiu gió. 
Ai cũng biết cơn đam mê của thuốc phiện rất mạnh; vậy còn sự diễn tả nào đắc thể hơn là mượn sự say mê Thúy Kiều của hai kẻ si tình Thúc Sinh và Kim Trọng [1] gộp lại, để tạo thành hai câu đối ngẫu trong bài phú: 
Thanh khí một dây một buộc ai giằng cho ra,
Ngọn đèn khi tỏ khi mờ khiến người ngồi đó. 
Đến cảnh vướng vào nghiện ngập, mê mẩn như con thiêu thân; được tác giả cực tả qua lối vay mượn từ Truyện Kiều những văn ảnh đam mê nhục dục và tình ái: 
Đuốc hoa để đó nàng nằm, cho mê mẩn đời cho lăn lóc đá.
Hương lửa sẵn đây ta đốt, càng quen thuộc nết càng dan díu tình.[2] 
Thêm vào, phải kể đến kỹ thuật chơi chữ trong bài phú đạt đến trình độ cao, tác giả sử dụng khéo léo các từ về đong lường “phân, lượng” trong nguyên văn Truyện Kiều: 
Tiểu thư xem cũng thương tài,
Khuôn uy dường đã bớt vài bốn phân. 
Hoặc: 
Tính bài lót đó luồn đây,
Có ba trăm lạng việc này mới xuôi. 
Để biến thành những thành ngữ nhà nghề trong tiệm hút như “vài phân thuốc”, “hương yên”, “ba trăm lạng bạc”, “khách khứa xôn xao”: 
Được một vài phân, hương khói một nhà thức nức,
Có ba trăm lạng, yến anh ngoài cửa xôn xao. 
Cuối bài, với tổng luận về định mệnh khắt khe trong đoạn kết Truyện Kiều: 
Bắt phong trần phải phong trần,
Cho thanh cao mới được phần thanh cao 
Được tác giả an ủi thêm rằng, việc này chỉ xảy ra trong thời nô lệ “cá chậu chim lồng”, và khuyến khích nghị lực con người ráng “Gìn ngọc giữ vàng, về sau còn nhiều hưởng thụ”: 
Cho thanh cao thời thanh cao mới được,
Bắt phong trần phải phong trần như ai.
Ai ơi! Gìn ngọc giữ vàng, về sau còn nhiều hưởng thụ,
Bỏ chi chim lồng cá chậu, làng chơi chưa dễ mấy người. 
Xét cho cùng, những lời của người giới thiệu cũng chỉ là rờm rà, không đáng có; mong được độc giả trực tiếp thưởng thức giá trị văn chương, qua nguyên văn tác phẩm “Phú thuốc phiện” dưới đây.
Trúc Đình Lê Hữu Nghiêm (tự Lê Khoan Hoàng)
Phú thuốc phiện
(Thể tập Kiều, lẩy Kiều)
Rủ bức rèm châu,
Đốt lò hương cũ.
Còn thoang thoảng trầm,
Thấy hiu hiu gió.
Thanh khí một dây một buộc ai giằng cho ra,
Ngọn đèn khi tỏ khi mờ khiến người ngồi đó.
Mấy cành phù dung,
Trăm năm trong cõi.
Lạc suối Đào Nguyên đâu đến, giá càng gieo, phẩm càng cao,
Mua ở Bắc-Kinh đưa về, ngàn cũng qua, sông cũng lội.
Một đời anh hùng được mấy, hễ thấy thời mê,
Đã lòng quân tử đa mang, được lời như cởi.
Đặt giường thất bảo,
Khép cửa phòng thu.
Khi tựa gối,
Khi cúi đầu.
Liền tay ngắm nghía chốn nằm, thay đen đổi trắng,
Ngọn đèn hiu hắt trong lò, nhả ngọc phun châu.
Dập dìu tài tử giai nhân, đèn khuya chung bóng,
Đua nhau vương tôn quí khách, tơ liễu buông mành.
Đuốc hoa để đó nàng nằm, cho mê mẩn đời cho lăn lóc đá.
Hương lửa sẵn đây ta đốt, càng quen thuộc nết càng dan díu tình.
Ngoài ngàn dặm,
Chốc ba đông.
Hương càng đượm,
Lửa càng nồng.
Tiễn đưa một chén quan hà, gọi là gặp gỡ,
Há nợ ba sinh hương lửa, chốc để lạnh lùng.
Trướng loan hiu hắt, Đồng Tước một nền xuân tỏa,
Tay tiên dìu dặt, Lam Điền hạt ngọc ấm đông.

Buộc lấy mình vào,
Gắn bó tất giao.
Thầm mong trộm nhớ,
Rày ước mai ao.
Được một vài phân, hương khói một nhà thức nức,
Có ba trăm lạng, yến anh ngoài cửa xôn xao.
Mái Tây để lạnh hương nguyền, mai dàu giọt tuyết, gương lờ nước thủy,
Song the trông chừng khói ngất, lá màn rủ thấp, ngọn đèn khêu cao.
Gái sắc tài trai,
Mấy mặt làng chơi.
Ngày xanh mòn mỏi,
Má hồng phôi pha,
Từ khi hơi tiếng vừa quen một ngày nặng một,
Đến lúc phong trần rất mực, mười phân vẹn mười.
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da; bây giờ lạt phấn phai hương, mười phần xuân có gầy ba bốn,
Thao lược gồm tài, côn quyền hơn sức; khi đà xương mòn thịt nát, chín chục thiều quang ngoài sáu mươi.
Những kẻ hàm én mày ngài, ba sinh cho phỉ mười nguyền, rồi cũng nợ nần mang lấy,
Những người buôn hùm bán hổ, trăm năm đổ không một trận, bao nhiêu vốn liếng đi đời.
Não nùng thu ba,
Vắn dài châu sa.
Rằng quen mất nết,
Biết gỡ cho ra!
Chơi cho liễu chán hoa chê, rõ mặt bây giờ rồi sẽ!
Làm cho xiêu đình đổ quán, đọan trường lúc ấy dở mà!
Có giở bài bây, đến cơ hội này,
Dại rồi còn biết khôn làm sao đây?
Đã tu tu trót qua thì thôi, xin chớ rày lần mai lữa,
Họa dần dần bớt chút nào được, nghe ra ngậm đắng nuốt cay.
Khi hương sớm,
Khi trà trưa.
Bàn vây điểm nước,
Họa đàn đường tơ.
Bầu tiên rót rượu,
Câu thần nối thơ.
Những thấy truy hoan trong cuộc, thức thức sẵn bày,
Làm chi đeo thói khuynh thành, khăng khăng mình buộc.
Mà gầy như mai,
Mà vàng như trúc.
Mà cau đôi mày,
Mà vò chín khúc.
Tiếc chi đến hương, thương chi đến ngọc, đem tình cầm sắt đổi ra kỳ,
Mấy trăng cũng khuyết, mấy hoa cũng tàn, nát thân bồ liễu đền nghì trúc.
Gẫm cơ hội ngộ, mua vui cũng được vài canh,
Dại nết chơi bời, đau đớn trải qua một cuộc.
Nghĩ rằng:
Trăm năm tính cuộc,
Muôn sự tại trời.
Cho thanh cao thời thanh cao mới được,
Bắt phong trần phải phong trần như ai.
Ai ơi! Gìn ngọc giữ vàng, về sau còn nhiều hưởng thụ,
Bỏ chi chim lồng cá chậu, làng chơi chưa dễ mấy người.
[1] Câu thơ diễn tả Thúc Sinh say mê Kiều:
Lạ chi thanh khí lẽ hằng,
Một dây một buộc, ai giằng cho ra
và Kim Trọng thưởng thức nàng Kiều dạo đàn như sau:
Ngọn đèn khi tỏ khi mờ, Khiến người ngồi đó cũng ngơ ngẩn sầu.
[2] Văn ảnh được lần lượt lấy trong những câu thơ Kiều sau đây:
Một cơn mưa gió nặng nề, Thương gì đến ngọc, tiếc gì đến hương.
Đêm xuân một giấc mơ màng,
Đuốc hoa để đó mặc nàng nằm trơ.
Chơi cho liễu chán hoa chê,
Cho lăn lóc đá, cho mê mẩn đời.
Miệt mài trong cuộc truy hoan,
Càng quen thuộc nết càng dan díu tình.

 Hồ bạch Thảo   
Theo http://www.talawas.org/




“Nét ngài” và “mày ngài”

“Nét ngài” và “mày ngài”
Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du có dùng hai cụm từ “nét ngài” và “mày ngài” để tả lông mày. “Nét ngài” dùng trong mấy câu thơ phác họa khuôn mặt Thúy Vân: 
Vân xem trang trọng khác vời,
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang 
và cả trong lời Tú Bà bày cho Thúy Kiều giở những ngón “nhoẻn miệng”, “chau mày”, thay đổi nét mặt thật linh động để cầm chân khách: 
Khi khóe hạnh khi nét ngài,
Khi ngâm ngợi nguyệt khi cười cợt hoa. 
Còn “mày ngài” được nhà thơ dùng trong mấy câu thơ vẽ dung mạo Từ Hải, và dùng đến hai lần. Lần thứ nhất, khi Từ mới xuất hiện trước mặt Thúy Kiều: 
Râu hùm, hàm én, mày ngài,
Vai năm tấc rộng thân mười thước cao; 
và lần thứ hai, sau khi Từ đã đánh Đông dẹp Bắc “Nghênh ngang một cõi sơn hà/Huyện thành đạp đổ năm tòa cõi Nam” trở về gặp lại nàng Kiều: 
Rỡ mình lạ vẻ cân đai,
Hãy còn hàm én mày ngài như xưa. 
Như vậy xét về đối tượng, sự khu biệt nghĩa giữa “mày ngài” và “nét ngài” tưởng như đã rõ: chỉ cần hoán dụ một thành tố đầu từ toàn thể ra bộ phận (mày → nét), Nguyễn Du đã gợi lên được dung nhan thanh tú của nữ giới. Nhưng rất lạ, trong Truyện Kiều, trong khi “nét ngài” chỉ dành riêng cho nữ thì “mày ngài” lại được nhà thơ dùng cho cả nữ và nam. Ông viết về quang cảnh trong ngôi lầu xanh của Tú Bà khi Thúy Kiều vừa đặt chân vào: 
Bên thì mấy ả mày ngài,
Bên thì ngồi bốn năm người làng chơi. 

Thế mới rắc rối. Mấy nàng kỹ nữ này cũng có cặp lông mày của Từ Hải hay sao? Nguyễn Du muốn hài hước hóa hạng người mà ông hết lòng bênh vực trong Truyện Kiều và cả trong thơ chữ Hán chăng? Hóa ra vấn đề không phải chỉ nằm ở chữ “nét”. Cũng không nhất thiết ở chữ “mày”. Tách riêng câu “Mày xanh trăng mới in ngần” (câu 1795) khỏi câu sau: “Phấn thừa hương cũ bội phần xót xa” dám chắc người đọc vẫn liên tưởng dến một khuôn mặt phụ nữ. Cũng có khi Nguyễn Du buộc phải lựa chọn “nét” hay “mày” còn do sự đăng đối của câu thơ lục bát: trường hợp Khi khóe hạnh, khi nét ngài và Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang, nếu dùng âm trắc ở chữ thứ năm câu lục và ở chữ thứ sáu câu bát thì nghe hay hơn âm bằng, và ngược lại Bên thì mấy ả mày ngài dùng âm bằng lại hay hơn âm trắc; mặt khác, theo phép tiểu đối, một danh từ phải đối rất chỉnh với một danh từ nằm ở vế trước: 
Khuôn trăng/nét ngài
Khóe hạnh/nét ngài 
Nếu dùng “mày” thay cho “nét”, sự cân chỉnh của vế đối sẽ mất đi. Có thế thôi.
Vậy thì vấn đề còn lại chính là chữ “ngài” trong tổ hợp “mày ngài” và cả trong tổ hợp “nét ngài”. Khi dùng cho Từ Hải và khi dùng cho kỹ nữ, hay Thúy Vân, chữ “ngài” có sự khác biệt nào về sắc thái ngữ nghĩa hay tu từ? Đấy là chỗ tế nhị của ngôn ngữ nghệ thuật Nguyễn Du buộc ta phải tìm lời giải đáp.

Nhiều nhà nghiên cứu mặc nhiên coi “ngài” trong “mày ngài” và “ngài” trong “nét ngài” chỉ có một hàm nghĩa duy nhất là hình ảnh con tằm nằm ngang tượng trưng cho lông mày. Và đây không phải là sáng tạo của Nguyễn Du; ông chỉ mượn một cách dùng quen thuộc trong văn học Trung Quốc. Theo một số sách chú giải Truyện Kiều như Kim Túy tình từ của Phạm Kim Chi (1917) [1], Truyện Thúy Kiều của Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim (1925) thì câu “Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang” là xuất phát từ câu văn trong sách Tướng thư: “Diện như mãn nguyệt mi nhược ngọa tàm  滿 : mặt như mặt trăng tròn mà lông mi như con tằm nằm ngang. Đây nói cái tướng phúc hậu của cô Vân” [2]. Còn trong bản dịch Kim Vân Kiều của Nguyễn Văn Vĩnh ra tiếng Pháp (in 1942) thì câu thơ Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang cũng được dịch giả tài danh này dịch là: “Le visage rond comme la lune pleine et les sourcils rappelant la forme du ver-à-soie couché tout de son long” [3], có nghĩa là khuôn mặt tròn như trăng tròn và đôi lông mày gợi lên hình con tằm nằm dài.
Chính là từ những cuốn sách có uy tín của các học giả thuộc lớp tiền bối như nói trên đây mà nhiều thế hệ cầm bút về sau khi nói đến “mày ngài” hay “nét ngài” đều có ngay ấn tượng khá thống nhất, rằng đấy là Nguyễn Du mượn điển “con tằm nằm”. Sách Truyện Kiều khảo đính và chú thích của Nguyễn Thạch Giang (1973) giải thích hai chữ “nét ngài” như sau: “Đây nói nét ngài là bởi chữ tàm mi (mày tằm), hay ngọa tàm mi (mày tằm nằm) = nét lông mày cong, đậm mà thanh. Chỉ lông mày đẹp nói chung” [4]. Còn sách Chữ nghĩa Truyện Kiều của Nguyễn Quảng Tuân (1994, 2003) thì mượn lại lời chú của Phạm Kim Chi, Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim nhưng không nêu rõ xuất xứ từ Tướng thư như hai học giả họ Bùi và họ Trần: “Diện như mãn nguyệt, mi như ngọa tàm (mặt đầy đặn như khuôn trăng tròn và lông mày xanh rậm như con tằm nằm ngang)” [5]. Và Truyện Kiều khảo đính và chú thích cũng của Nguyễn Quảng Tuân (1996) vẫn giữ nguyên lời chú gần như cuốn trước, có phần sát với Trần Trọng Kim và Bùi Kỷ hơn: “Nét ngài nở nang: ý nói lông mày hơi đậm, cốt tả cái vẻ đẹp tự nhiên của Thúy Vân. Cả câu dựa theo lời trong Tướng thư: diện như mãn nguyệt mi như ngọa tàm = mặt như vầng trăng tròn, lông mày như con tằm nằm ngang, chỉ cái tướng phúc hậu” [6].
Tuy nhiên, chính sự mặc nhận lâu ngày thành nếp như thế lại gây một lấn cấn về mặt mỹ cảm. Nói lông mày của Từ Hải như con tằm nằm thì không khó chấp nhận. Nhưng nói lông mày của Thúy Vân, Thúy Kiều và cả mấy nàng ca kỹ đều là mày tằm nằm thì dù là ước lệ đi nữa, cũng ít ai có thể đồng tình. Hẳn là xuất phát từ điều lấn cấn đó mà trong lời chú của Nguyễn Thạch Giang, đã dẫn, có mở rộng thêm một vài ý xem ra hơi khiên cưỡng: đã nói “mày tằm nằm” (con tằm nằm ngang) thì sao lại còn “nét lông mày cong”? Và “mày tằm nằm” có “chỉ lông mày đẹp nói chung” hay không hay là chỉ lông mày đẹp của một giới người nào đó? Chắc nhà nghiên cứu đã không thể quên được nỗi ám ảnh về khuôn mặt của một Thúy Vân mà lại điểm đôi “lông mày sâu róm” nên đưa ra cách lý giải nước đôi khó hiểu như trên. Gần đây, một nhà nghiên cứu khác, ông Đổng Văn Thành, người Trung Quốc, dựa vào bản dịch Truyện Kiều của Giáo sư Hoàng Dật Cầu [7] dịch “nét ngài” là “ngọa tàm mi
”, đã có những lời mỉa mai châm biếm Nguyễn Du: “Nguyễn Du thì lại mượn “ngọa tàm mi” (mày tằm nằm) mà Tam quốc diễn nghĩa dùng để miêu tả Quan Vũ, trang nam nhi cao lớn, uy vũ, khoáng đạt, lắp vào khuôn mặt cô thiếu nữ mười phần xinh đẹp đó (Thúy Vân - NHC thêm). Nếu trên khuôn mặt thiếu nữ xinh tươi mơn mởn lại mọc ra một đôi lông mày võ sĩ vừa đen rậm, vừa thẳng cứng thì cái điều kệch cỡm nghiêm trọng ấy há chẳng phá hoại cả vẻ đẹp của cô thiếu nữ đó sao?” [8]. Ông Đổng Văn Thành chê trách Nguyễn Du cũng là dễ hiểu, vì ông chỉ dựa vào Hoàng Dật Cầu, mà Hoàng Dật Cầu thì có trong tay bao nhiêu bản Kiều của người Việt đã “chúng khẩu đồng từ” về “mày tằm nằm” rồi. Nghĩ lại, khoảng đầu những năm 60, người viết bài này cũng đã lâm vào một tình thế hài hước khi đinh ninh “nét ngài” hoặc “mày ngài” chỉ có một nghĩa là mày tằm.
Nhưng trước hết, hãy xin nói cái cách người Việt Nam tiếp thu ước lệ của nghĩa gốc. Mấy chữ “ngọa tàm mi” quả đúng là có trong chương mở đầu sách Tam quốc diễn nghĩa. Ở đoạn nói về dung mạo Quan Vũ, tác giả viết “Đan phượng nhãn, ngọa tàm mi
” - mắt đỏ như mắt phượng, lông mày [rậm] như con tằm nằm. Có lẽ độc giả Việt Nam vốn tiếp xúc với tiểu thuyết cổ điển Trung Hoa từ rất lâu nên cũng đã từ khá lâu không ít người Việt quen thuộc với cách tả ví von này và sớm Việt hóa thành thành ngữ để chỉ người đàn ông có con mắt đẹp (sắc sảo, quắc thước): “Mắt phụng mày tằm” (Lục Vân Tiên: “Mày tằm mắt phụng môi son” - câu 349). Không biết thành ngữ “mắt phụng mày tằm” xuất hiện ở phía Nam hay ở phía Bắc trước, nhưng khi du nhập vào đất Bắc nó được chuyển âm theo tiếng Bắc: “Mắt phượng mày ngài”. Và điều đáng nói hơn là dần dần nó phai hẳn nghĩa gốc để chuyển sang một nghĩa phái sinh, không còn chỉ đôi mắt nam nhi mà... chuyên chỉ vẻ đẹp của đôi mắt phụ nữ: (Bần nữ thán: “Hễ hãy còn mày ngài mắt phượng/Hễ hãy còn má phấn môi son - câu 185-186; dân ca Thanh Hóa: “Tiếc thay mắt phượng mày ngài/Hồng nhan thế ấy nỡ hoài tấm thân” [9]). Với cô gái nhà nghèo trong Bần nữ thán thì “mày ngài mắt phượng” mà cô từng lấy làm tự hào nhất định không thể là cặp lông mày rậm rì và đôi mắt đỏ vằn tia máu của một người đàn ông, trái lại phải là cặp mắt đẹp với hàng lông mày thướt tha của phụ nữ. Bấy nhiêu dẫn liệu mách bảo ta một sự thực: khi viết Truyện Kiều, nếu có sử dụng hình ảnh “mày tằm nằm → nét ngài”, chắc chắn Nguyễn Du cũng cảm nhận nó theo hướng đã tái tạo lại của văn hóa Việt Nam đương thời hoặc trước thời ông chứ không bê nguyên xi “ngọa tàm mi” trong Tam quốc diễn nghĩa. Cho hay, việc phê phán cách dùng điển cố mà một văn nhân thi sĩ của nước này mượn từ một nền văn hóa khác đòi hỏi phải thấu hiểu mọi khả năng biến hóa nhằm làm mới điển cố ấy trong văn cảnh hoàn toàn khác so với nguyên gốc, nó có thể phục sẵn ở nguyên gốc dưới “tiềm năng chờ đợi” (horizon d’attente) nhưng khi chuyển sang môi trường mới, thông qua kinh nghiệm thẩm mỹ (expérience esthétique) [10] của một truyền thống văn hóa khác biệt, người tiếp nhận lại tạo nên một trường ngữ cảm đột biến mà nguyên gốc chưa hề có. Ở đây ta không trách Giáo sư Hoàng Dật Cầu dịch vụng, chỉ trách ông Đổng Văn Thành đã không biết dựa vào lý thuyết của mỹ học tiếp nhận để đặt một dấu hỏi hoài nghi, cho khỏi rơi vào võ đoán khi nặng lời với Nguyễn Du.
Nhưng hãy khoan. Cũng có thể hai chữ “nét ngài” của Nguyễn Du không liên quan đến “mày tằm nằm”. Còn nhớ vào những năm gần giữa thập niên 60 thế kỷ XX, tại Viện Văn học có những buổi tọa đàm sôi nổi nhằm góp ý cho bản Kiều khảo đính và chú giải của Viện trước khi đem xuất bản trong dịp kỷ niệm 200 năm năm sinh Nguyễn Du (1965). Là một thành viên Tổ văn học Cổ cận đại của Viện lúc ấy, tuy mới ra trường có mấy năm, tôi cũng được dự vào những cuộc thảo luận đó giữa các vị học giả. Tôi nhớ đây là những buổi trao đổi, đối thoại rất cởi mở, người trình bày và người góp ý đều có dịp bày tỏ hết chính kiến của mình. Vốn từng bị định kiến bởi điển “mày tằm nằm” từ hồi còn học ở trường, khi bàn đến mấy câu “Vân xem trang trọng khác vời/Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang”, tôi cứ thấy có điều gì đó chưa thật yên tâm. Nghe các soạn giả cho biết còn có thể phiên âm “Vân xem trang trọng khác vời/Khuôn lưng đầy đặn nét người nở nang” - vì chữ trăng viết Nôm là 
Description: http://www.talawas.org/talaDB/pics/vh70306_2.gif gồm chữ nguyệt  biểu nghĩa và chữ lăng  biểu âm, song chữ nguyệt  lại cũng có thể hiểu là bộ nhục  chỉ những gì thuộc về thân thể, và trong trường hợp ấy thì Description: http://www.talawas.org/talaDB/pics/vh70306_3.gif lại phải đọc là lưng, một bộ phận trong cơ thể động vật cũng như con người; còn chữ ngài có hai cách viết Nôm: viết là Description: http://www.talawas.org/talaDB/pics/vh70306_4.gif (nhân biểu ý + ngại biểu âm) thì có nghĩa là “người”, còn viết là Description: http://www.talawas.org/talaDB/pics/vh70306_5.gif(trùng biểu ý + ngại biểu âm) thì có nghĩa là “con tằm”; tuy thế, chữ Nôm thường viết lẫn chứ không tách bạch rạch ròi mà nghĩa vẫn thông với nhau - tôi hứng thú với cách phiên âm thứ hai và giơ tay tỏ ý biểu đồng tình, nhất là khi nghe chính một nhà bác học như Trương Vĩnh Ký từ lâu cũng đã từng phiên Khuôn lưng đầy đặn nét người nở nang (1875). Giữa lúc các soạn giả đang trầm ngâm cân nhắc ý kiến của tôi thì một nhà nghiên cứu có mặt trong cuộc họp, ông Lại Ngọc Cang, nay đã quá cố, bằng những lời sắc sảo, nêu câu hỏi chất vấn ngay. Theo ông, trong việc lựa chọn dị bản của Truyện Kiều, bên cạnh các tiêu chí như tự dạng chữ Nôm và ngữ âm học còn có tiêu chí cần hết sức chú trọng là quan niệm thẩm mỹ của tác giả. Ca dao chúng ta thường nói đến “Những cô thắt đáy lưng ong” để hình dung vẻ đẹp của phụ nữ. Thử tưởng tượng một Thúy Vân “khuôn lưng đầy đặn nét người nở nang” nghĩa là từ trên xuống dưới thẳng đuột, không còn chỗ nào gọi là “eo” nữa thì trong mắt Nguyễn Du có còn là “ả tố nga” (người đẹp) nữa hay không? Tất cả phòng họp chợt tỉnh ra và cười ồ lên. Tôi cũng rất ngượng vì biết mình nhầm to, nhưng còn cố vớt vát: một người con gái không có eo lưng cũng còn dễ coi hơn một khuôn mặt phụ nữ lại có hai vệt lông mày rậm như hai con tằm nằm ngang trên mắt. Không ngờ, một trong mấy soạn giả là nhà nghiên cứu Nguyễn Đức Vân mà chúng tôi thường thân mật gọi bằng bác, bằng giọng Nghệ trọ trẹ, thủng thẳng phân giải thắc mắc này của tôi. Đại ý ông nói: Trong tiếng Việt con ngài có hai nghĩa, nghĩa đầu tiên là con bướm tằm do con nhộng trưởng thành cắn kén chui ra; bướm tằm có hai loại đực và cái, sẽ giao phối với nhau đẻ ra trứng, trứng ấy lại nở ra thành con tằm. Vì ngài là một chặng trong quá trình sinh trưởng của giống tằm nên người ta cũng quen miệng gọi con tằm là con ngài. Nhưng nghĩa thứ hai này không phổ biến bằng nghĩa thứ nhất.
Ở đây, “mày ngài” trước hết có nghĩa nghĩa là lông mày của con ngài tức con bướm tằm rồi sau mới có thêm nghĩa là lông mày giống hình con tằm. Nếu ai đã sống ở những vùng trồng dâu nuôi tằm tất sẽ biết khi con ngài vừa ra khỏi kén, nhất là con cái, trên hai mắt có hai chiếc râu cong dài, đẹp như lông mày phụ nữ. Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du có cái nhìn sự vật rất tinh tế và nhiều chỗ chính xác đến kỳ lạ, phải kiểm nghiệm qua thực tế mới hiểu nổi. Vì thế, có thể nói, trường hợp nhà thơ dùng “mày ngài” trong câu thơ miêu tả Từ Hải thì có phần chắc ông mượn điển “ngọa tàm mi”, còn trường hợp ông nói “nét ngài” để tả Thúy Vân, hay nói “mày ngài” để chỉ các ả ca kỹ thì chính là ông đang nói đến lông mày con ngài tằm mà ở vùng Nghệ Tĩnh ai đọc đến cũng hiểu.
Quả thực ý kiến của Nguyễn Đức Vân đã đánh tan được hầu hết mọi băn khoăn ngờ vực còn lại của chúng tôi. Ý kiến đó còn gợi mở một phương hướng mới trong phương pháp nghiên cứu văn học cổ. Đối với văn học cổ, tuy sách vở thư tịch là đối tượng chính nhưng cũng không thể chỉ đóng khuôn thuần túy trong sách vở mà phải kết hợp cả với quan sát, trải nghiệm từ cuộc đời thực. Vài năm sau, bản khảo thích và chú giải Truyện Kiều của Viện Văn học được công bố, tôi mở ra xem phần chú thích “nét ngài” thì thấy viết gần đúng như lời Nguyễn Đức Vân đã phát biểu trong cuộc tọa đàm hồi trước: “Nét ngài: nét lông mày. Ngài: con ngài, tức con bướm tằm, ở đầu nó có hai cái râu dài, thanh, cong cong hình bán nguyệt. Lông mày người con gái đẹp trông giống cái râu ngài, nên người ta thường gọi là “mày ngài”” [11]. Tôi biết, các soạn giả đã dựa chủ yếu vào kinh nghiệm sống thực tiễn của bản thân mà chú thích như vậy. Còn về “mày ngài” trong câu thơ dùng cho Từ Hải, Cũng sách ấy đã chú: “Râu hùm, hàm én, mày ngài: Tướng mạo của người anh hùng: râu dữ như râu hùm, hàm nở rộng như hàm chim én, mày cong và to như con tằm” [12]. Chỗ này các soạn giả lại dựa vào điển cố “ngọa tàm mi”. Rõ ràng là cùng một chữ “ngài” mà người biên soạn có cách chú linh hoạt chứ không cứng nhắc, về cơ bản hiểu rất đúng năng khiếu dùng chữ tinh tế bậc thầy của Nguyễn Du.
Nhưng tôi vẫn thắc mắc không hiểu vì sao những nhà chú giải đi sau nhóm Truyện Kiều của Viện Văn học lại không kế thừa ưu điểm này? Mãi khi mở đến Truyện Kiều do Giáo sư Đào Duy Anh chủ trì việc hiệu khảo (1979), tôi mới vui mừng thấy ông đã dựa khá sát vào bản của Viện, có bổ sung thêm cách hiểu của mình về tướng số học: “Nét ngài nở nang: chỉ nét lông mày nhỏ mà dài như râu con ngài (nga my) là tướng đàn bà nhiều phúc về đường con cái” [13]. Riêng về hai chữ “mày ngài” thì nhà học giả lại đồng tình với bản chú giải của Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim: “Mày ngài: Khác với mày ngài ở câu 927, ở đây có lẽ là theo câu “my nhược ngọa tàm” của sách tướng xưa, chỉ lông mày to rậm” [14]. Ngẫm lại, Đào Duy Anh đúng là một học giả cỡ lớn, biết lắng nghe người khác, biết lựa chọn cái hay của những người nghiên cứu trước mình. Nhưng lời chú của họ Đào còn hé cho thấy ông đã tham khảo kỹ lưỡng cả từ điển Trung Quốc. Ông nói đến “nga my” rồi nói đến “diện nhược ngọa tàm” mà không hề nói đến “ngọa tàm mi” chắc là có lý do. Gần đây nhân đọc Đổng Văn Thành, tôi đã mở Từ hải bộ mới (1999) ra xem thì mới hiểu ra: điển cố “ngọa tàm mi”
(mày tằm nằm) hoàn toàn không có trong Từ hải. Nhưng cũng trong Từ hải đúng là có điển “nga mi” (mày ngài), được ghi như sau: “ 須彎 。因 。詩 北史 印。盡  [15]. Tạm dịch: Nga mi, cũng viết là (nga mi): Sợi râu cong, mịn mà dài của con ngài tằm. Nhân dùng để chỉ lông mày dài mà đẹp của phụ nữ. Cũng để chỉ vẻ mặt đẹp của phụ nữ. Bài “Thạc nhân” [ca ngợi người phụ nữ đẹp ở tuổi trưởng thành] trong “Vệ phong”, Kinh thi, có câu: “Đầu như đầu con tần, lông mày như râu con ngài”. Ly tao có câu: “Bọn phụ nữ ghen với mày ngài của ta”. [Mày ngài] cũng là cách gọi chung người con gái đẹp. Tư Không Đồ trong Mười bài cảm ngộ Nam Bắc sử viết: “Không dùng vàng ròng đúc ấn phong hầu/Nộp hết cho công tử để mua mày ngài”.
Thế là rõ. Trong Truyện Kiều, cùng một chữ “ngài” nhưng có hai nét nghĩa, tuy gần nhau mà không hề đồng nhất làm một. Chỗ thâm thúy của tiếng Việt là ở đấy và sự thử thách gian nan đối với người thâm nhập Việt ngữ cũng là ở đấy. Tôi hơi bùi ngùi, tiếc cho Giáo sư Hoàng Dật Cầu đã không vượt nổi một khoảng cách rất ngắn để đạt đến chỗ tận cùng tinh túy của ngôn ngữ Truyện Kiều. Chưa đi được thực tế về các vùng trồng dâu nuôi tằm như lời cụ Nguyễn Đức Vân dặn, tôi đành tìm trong từ điển bách khoa Pháp ngữ hình ảnh vài con ngài (bombyx du murier) giúp bạn đọc có cơ hội nhìn rõ “nga my” và không còn lẫn lộn với “mày tằm”.
Tuy nhiên, vẫn còn lại một điều chưa thật thanh thỏa: tại sao các bậc tiền bối như Nguyễn Văn Vĩnh, Bùi Kỷ, Trần Trọng Kim... lại nghiêng về hướng “mày tằm”? Cân nhắc hết mọi lẽ, tôi thấy lý do duy nhất vẫn là sự chi phối có thể hữu thức hoặc vô thức của quan niệm “công dung ngôn hạnh” Nho gia trong cách nhìn vẻ đẹp phụ nữ ở thời các cụ. Bước biến đổi của cách nhìn ấy chỉ xảy ra từ sau phong trào Tự lực Văn đoàn xuất hiện (1932). Hai chữ “gái mới” bắt đầu đi vào văn học cùng với phong trào này. Đó là cái giới hạn ngỡ như rất mỏng manh, co giãn, thế mà thế hệ những nhà văn sống chủ yếu trong 30 năm đầu thế kỷ XX đã không thể nào vượt lên được, không thể “bước qua lời nguyền”, cũng giống như trong xã hội chúng ta hôm nay, đâu có dễ lứa tuổi nào cũng biết đồng cảm với những tiếng “gào thét” của các siêu sao ca nhạc trên sân khấu, hay những biểu tượng văn học kiểu “bóng đè”, những vần thơ táo tợn và cả cách trình bày trang bìa rất “nghịch dị” của một tập thơ có tính chất... “dự báo phi thời tiết” v.v...? Tiếp nhận được những thứ ấy không chỉ đòi hỏi một cái đầu thông thoáng, cởi mở mà còn cả một vật lộn trong nhãn quan thẩm mỹ. Thời của các cụ, nghĩ về một Thúy Vân phải có bộ mặt tượng trưng cho sự phúc hậu với đôi mày rậm là điều không lạ. Không chỉ thế, các cụ hình như đã bị “đánh bẫy” bởi hình dung từ “nở nang” mà Nguyễn Du đặt tiếp ngay sau “nét ngài”.
Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim không giải thích hai chữ “nở nang” chứng tỏ hai ông hiểu nở nang theo cách hiểu hiện đại. (Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê (2000): “Nở nang: phát triển một cách đầy đặn” [16]. Việt Nam từ điển của Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ (1970): “Nở nang: to lớn ra” [17]). Nguyễn Văn Vĩnh dịch “nở nang: dévelopé, ample” cũng cùng ý ấy. Nhưng lại cần đặt dấu hỏi: vào thời Nguyễn Du sống, “nở nang” có nghĩa là gì? Nguyễn Thạch Giang dẫu đi theo hướng các cụ, đến từ này thì ông đã cảnh giác hơn. Ông giải thích: “Nở nang: tươi tốt”. Mở Đại việt quấc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của (1895), ta tìm được lời giải cho bài toán hóc búa. “Nở nang Description: http://www.talawas.org/talaDB/pics/vh70306_6.gif” theo Paulus Của có hai nghĩa: 
1. Nở ra tươi tốt; 
2. Đẹp đẽ [18]. 
Có lẽ ở đây hiểu “nở nang” là tươi tốt hay đẹp đẽ đều ổn cả. Thế là một lần nữa ta lại có lý do để xác nhận Nguyễn Du đúng là người có nhãn lực bén nhạy, biết cảm xúc và miêu tả cái đẹp không phải chỉ khuôn trong bình diện đạo đức tư tưởng nhà nho mà còn đích thực trên bình diện thẩm mỹ.
[1] “Diện như mãn nguyệt, mi như ngọa tằm. Chú thích: Mặt như trăng tròn, lông mày như con tằm nằm ngang (ở Bắc gọi con tằm là con ngài)”. Tr. 54, bản in lại của Nxb. Tri tân, Sài Gòn, 1973. Những chỗ in sai đúng như trong sách.
[2] Tr. 54, bản in lại của Nxb. Văn hóa Thông tin, 1995.
[3] Tr. 15, bản in của Nxb. Văn học, 1994.
[4] Nxb. Đại học và Trung học chuyên nghiệp, in lần thứ hai, 1976; tr. 350.
[5] Nxb. Văn học in lần thứ ba, 2003; tr. 13.
[6] In trong Nguyễn Du toàn tập, tập II, Nxb. Văn học và Trung tâm nghiên cứu quốc học, 1996; tr. 48.
[7] Nhân dân văn học xuất bản xã, Bắc Kinh, 1959.
[8] Đổng Văn Thành
. Trung Việt “Kim Kiều truyện” đích tỷ giảo . Minh Thanh tiểu thuyết luận tùng  tập 4 (1986) và tập 5 (1987). Trích dẫn theo bản dịch của Phạm Tú Châu trong 200 năm nghiên cứu bàn luận Truyện Kiều. Nxb. Giáo dục, 2005; tr. 1571. Nguyên văn: “ 粗獷威 西 ” “ 。細 。又 直。又 。這 調
?”
[9] Theo Từ điển thành ngữ Việt Nam của Viện Ngôn ngữ học, Nxb. Văn hóa, Hà Nội, 1993; tr. 407.
[10] Đều là thuật ngữ của H. R. Jauss, nhà mỹ học người Đức thuộc trường phái mỹ học tiếp nhận, 1921-1997.
[11] Truyện Kiều do Nguyễn Văn Hoàn, Nguyễn Sĩ Lâm, Nguyễn Đức Vân hiệu đính và chú thích, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1965; tr. 13.
[12] Sách trên, tr. 160.
[13] Nxb. Văn học, 1979, tr. 178.
[14] Sách trên, tr. 256.
[15] Từ hải, Thượng Hải từ thư xuất bản xã, 2000, tập hạ, tr. 5287.
[16] Nxb. Đà Nẵng và Trung tâm Từ điển học; tr. 741.
[17] Nxb. Khai trí, quyển hạ; tr.996.
[18] Nxb. Khai trí tái bản, 1974, Tome II; tr. 152. 

 Nguyễn Huệ Chi  
Theo http://www.talawas.org/