Bài Chiêu hồn thập loại chúng sinh (còn gọi là Văn
tế thập loại chúng sinh hay Văn chiêu hồn) của Nguyễn Du với chỉ 184
câu thơ song thất lục bát, đã trở thành một kiệt tác bất hủ trong di sản văn
hóa tinh thần của nhân loại. Đúng như nhà sư Thích Nguyên Hiền viết, Nguyễn Du
“đã đem từng khúc ruột quặn đau của mình làm bút, trích từng giọt lệ rớm máu của
mình làm mực, viết nên một tình tự nồng nàn da diết, nỗi lòng Tố Như hay tiếng
ngậm hờn thiên cổ kiếp sống phù du? Ai đó trong cõi mang mang trường dạ hẳn đã
nghe ra niềm cảm thông buốt lạnh tồn sinh, rưng rưng kiếp số và thổn thức nhân
tình. Chưa bao giờ trong thi ca Việt Nam lại ngậm ngùi đến thế”.
Mỗi người sinh trưởng ở cõi trần gian đều có thể thốt lên rằng: “trong
khoảng trăm năm cần có tớ” - như Phan Bội Châu. Song, đến lúc từng người
phải “nhập thế” để “xuất, xử, hành, tàng”, để dấn thân vào cuộc sống thì không
đơn giản chút nào! Ở đây với thao tác nghệ thuật ngôn từ hết sức tài tình của
Nguyễn Du, mười loại linh hồn ở cõi hư vô đều lần lượt hiển hiện với cuộc sống
thực tại mà không hề khiên cưỡng. Mỗi câu thơ như một nốt nhạc thiêng liêng xướng
lên từ những âm hồn lay động, du dương, ảo giác, xoáy vào tâm can, máu thịt người
đời đang sống ở “cõi dương”. Mối cảm thông “âm dương đồng nhất lý” giữa người sống
và người chết dường như đã biến thành một hồi chuông cảnh tỉnh mỗi dịp dừng lại
lắng nghe. Một chút lắng nghe, nhưng Nguyễn Du nghe thấy: “Lòng nào lòng
chẳng thiết tha/ Cõi dương còn thế huống là cõi âm”.
Giá trị nhân văn cao cả của bậc đại thi hào là khi viết về
thân phận con người ở mười loại vong hồn: Một là vua chúa bị giết: “Nào những
kẻ tính đường kiêu hãnh/ Chí những lăm cướp gánh non sông/ Nói chi đang thuở
tranh hùng/ Tưởng khi thế khuất vận cùng mà đau!”. Hai là quý nữ liều thân: “Nào
những kẻ màn lan trướng huệ/ Những cậy mình cung Quế Hằng Nga/ Một phen thay đổi
sơn hà/ Mảnh thân chiếc lá biết là làm sao!/... Khi sao đông đúc vui cười/ Mà
khi nhắm mắt không người nhặt xương!”. Ba là tề thần thất thế: “Nào
những kẻ mũ cao áo rộng/ Ngọn bút son thác sống trong tay/ Kinh luân chất một
túi đầy/ Đã đêm Quản, Cát lại ngày Y, Chu/ Thịnh mãn lắm oán thù càng lắm”. Bốn
là đại tướng bại trận: “Nào những kẻ bài binh bố trận/ Đem mình vào cướp ấn
nguyên nhung/ Gió mưa thét rống đùng đùng/ Dãi thây trăm họ làm công một người”. Năm
là kẻ ham giàu chết đường: “Cũng có kẻ tính đường trí phú/ Mình làm mình
nhịn ngủ quên ăn/… Khi nằm xuống không người nhắn nhủ/ Của phù vân dù có như
không”. Sáu là kẻ ham danh chết quán: “Cũng có kẻ rắp cầu chữ Quý/ Dấn
thân vào thành thị lân la/ Mấy thu lìa cửa lìa nhà/ Văn chương đã chắc đâu mà
thí thân”. Bảy là người buôn bán chết xa: “Cũng có kẻ đi về buôn bán/
Đòn gánh tre chín rạn hai vai/ Gặp cơn mưa nắng giữa trời/ Hồn đường phách sá lạc
loài nơi nao”. Tám là binh lính chết trận: “Cũng có kẻ mắc vào khóa lính/
Bỏ cửa nhà gồng gánh việc quan/… Buổi chiến trận mạng người như rác/ Phận đã
đành đạn lạc tên rơi”. Chín là kỹ nữ cô đơn: “Liều tuổi xanh bán nguyệt
buôn hoa/ Ngẩn ngơ khi trở về già/ Ai chồng con nấy, biết là cậy ai?”. Mười là
những người yểu tử, người cùng khổ, chết bởi oan khiên, tai họa: “Kìa những
kẻ tiểu nhi tấm bé/ Lỗi giờ sinh lìa mẹ lìa cha”, “Có người gieo giếng thắt
dây/ Người trôi nước lũ kẻ lây lửa thành”, “Cũng có kẻ nằm cầu gối đất/ Dõi
tháng ngày hành khất ngược xuôi/ Thương thay cũng một kiếp người/ Sống nhờ hàng
xứ, chết vùi đường quan!/ Cũng có kẻ mắc oan tù rạc/ Gửi thân vào chiếu lác một
manh”…
Chọn ra mười loại vong hồn trên đây, Nguyễn Du đã thể hiện tầm
nhìn bao quát và phát hiện ra những nét tinh tế nhất trong cõi mưu sinh của cuộc
sống loài người. Cái chết là điểm nút cuối cùng trong quy luật vĩnh cửu của
vòng đời người. Đó chính là điểm hội tụ mọi biểu hiện thanh lọc tâm hồn, tính
cách của thế giới tâm linh, chứa dựng cái thiêng mang tính toàn cầu. Người ta
có thể đưa ra những quan điểm cực đoan hay lạc quan tùy theo lăng kính thời đại
như: “chết vì tình là đời khốn kiếp/ Chết vì miếng ăn là cái chết đê hèn/ Chết
xông pha vì nước giữa trận tiền/ Ôi cái chết ngả nghiêng trong vũ trụ”... chẳng
hạn.
Người Việt có câu “Cái quan định luận” - nghĩa là tất cả quá
trình tự thân vận động của mỗi người trong giới hạn nhất định của mình, dù là
nam hay nữ ở bất kỳ một cương vị quan, dân, thầy, tớ... nào trong xã hội, dù có
cuộc sống sang, hèn, hơn, kém, no, đói, giàu, nghèo... không kể, nhưng khi sự sống
kết thúc vào bất cứ lúc nào, tuổi nào, hoàn cảnh nào thì mới là sự thu hút mọi
thể hiện ý thức trang trọng. Và khi tấm ván thiên trên cỗ quan tài đóng lại,
người đời đã từng sống xung quanh anh ta, đã từng tiếp xúc trực tiếp hay gián
tiếp với anh ta, đã từng “vay trả, trả vay” bằng vật chất, tinh thần dưới mọi
hình thức tinh vi, thô nhám, thông thường, thủ đoạn trong cuộc sống cơm áo với
anh ta, mới có thể khẳng định đôi điều về ý nghĩa cuộc đời của con người đó.
Đây chính là nét đặc tả trong quan niệm sáng tác của Nguyễn Du, nên chỉ cần một
hai câu thơ phác họa cá tính, miêu tả việc làm cụ thể, điển hình của mỗi trang
đời đã từng trải là hình ảnh của họ đã làm nổi bật và chứa đựng sắc màu gây ấn
tượng với người đọc.
Nói và viết những gì về những người đã khuất, tưởng chừng chỉ
là những lời ca ngợi, phản biện dư luận của người sống trước một đồng loại đã kết
thúc cuộc đời sinh học bằng cái chết, song thực chất những bài văn tế, những
câu văn thơ than khóc tâm huyết đó chẳng phải có linh hồn nào nghe được, hiểu
được mà nó chính là triết lý nhân sinh; nhắn bảo, khuyên nhủ lẫn nhau giữa những
người hiện đang kề vai sánh bước bên nhau, sao cho quan hệ nhân sinh ngày một tốt
đẹp hơn, bản sắc dân tộc độc đáo, sáng tạo sâu dày hơn. Cái khó là thông qua ảo
thuật ngôn từ, thiên tài thi ca Nguyễn Du đã dùng tiếng nói tri âm của người Việt
viết về mười loại vong hồn với một niềm cảm xúc vang dội sâu xa, gợi được nỗi
thương cảm đau xót, nỗi chia sẻ ân tình ấm áp.
Vượt ra khỏi biên giới lãnh thổ quốc gia, những câu thơ lay động
tâm hồn trong Văn chiêu hồn của Nguyễn Du đã khiến nhiều văn nhân chí
sĩ và nhiều bạn đọc ở nhiều ngữ hệ văn tự khác nhau cảm nhận. Bài Cô hồn Mỹ
ở đất Việt và Văn chiêu hồn của Nguyễn Du trong sách Hồ sơ văn hóa Mỹ (1995)
của Hữu Ngọc cho biết: “Sau khi phát hiện bàiVăn chiêu hồn bản tiếng Anh
trong cuốn Văn học Việt Nam của Nguyễn Khắc Viện và Hữu Ngọc, nữ giáo
sư Mỹ Christine White của Đại học Tổng hợp Hawaii rất xúc động.
Bà viết: “Tôi mong là thi phẩm viết cách đây hai trăm
năm ấy có thể giúp người Mỹ hiểu chủ nghĩa nhân văn Việt Nam và vấn đề người Mỹ
mất tích trong chiến tranh (...) Đối với những cựu binh Mỹ, chiến tranh của Mỹ ở
Việt Nam chưa kết thúc, về mặt bệnh lý tâm thần cũng như về mặt tâm lý. Những
ký ức chiến tranh ám ảnh đến mức họ không tài nào sống bình an trong hiện tại”.
… Cái gì có thể làm dịu những cô hồn đói khát và đau khổ đó?
Có thể biện pháp của phong trào Mahikri nhằm chữa tâm hồn, giải oan là phù hợp.
Những người theo phong trào này thắp ánh sáng thiêng liêng ở Trân Châu Cảng để
làm dịu nỗi khổ đau của binh sĩ Mỹ chết khi Nhật tấn công năm 1941. Họ tin là
khi oan hồn nhận được ánh sáng thì oan hồn dần dần thoát được những khổ đau của
ký ức cõi trần, rũ bỏ được nỗi đau khổ trần gian và gần như siêu thoát của nhà
Phật.
Tôi hỏi một chị người Việt (từ Hà Nội đến học ở trường Đại học Tổng hợp Hawaii) để biết ở Việt Nam đêm Rằm tháng Bảy người ta cúng gì. Chị trả lời rất hào hứng: “Người ta làm đồ mã, tất cả mọi thứ cần cho con người đều làm bằng giấy, sau đó đem đốt, lấy tro tung xuống nước cho trôi theo dòng xuống cõi âm. Cúng ban đêm, vì đối với ma, đêm là ngày”.
Tôi hỏi một chị người Việt (từ Hà Nội đến học ở trường Đại học Tổng hợp Hawaii) để biết ở Việt Nam đêm Rằm tháng Bảy người ta cúng gì. Chị trả lời rất hào hứng: “Người ta làm đồ mã, tất cả mọi thứ cần cho con người đều làm bằng giấy, sau đó đem đốt, lấy tro tung xuống nước cho trôi theo dòng xuống cõi âm. Cúng ban đêm, vì đối với ma, đêm là ngày”.
Tôi hỏi chị: “Đêm Rằm tháng Bảy người Việt Nam có nghĩ đến
binh sĩ Mỹ chết ở Việt Nam không?”. Chị bảo: “Có chứ! Chúng tôi còn nghĩ đến cả
binh sĩ Pháp và Nhật”. Thật là nhân văn hết nỗi, bởi câu trả lời của một sinh
viên đang đi du học đã toát lên sự ngấm trải phong tục người Việt của cha ông
mình trong ứng xử giữa con người với con người theo lẽ “nghĩa tử là nghĩa tận”.
Chắc hẳn, nếu những chàng trai trẻ người Mỹ chẳng may tử nạn trong chiến tranh
Việt Nam trước năm 1975 sớm biết điều đó trong chủ nghĩa nhân đạo Việt Nam, thì
không ai dám bấm tay vào cò súng hay đốt phá xóm làng của họ.
Câu chuyện cảm nhận nghệ thuật, ghi nhận về văn hóa Việt Nam
của một trí thức Mỹ khi đọc Văn chiêu hồn của Nguyễn Du bắt nguồn từ
những câu thơ Nôm Việt Nam như thế.






Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét