Một nhà nghiên cứu khái quát khá thú vị, rằng: “Con đường
9 là con đường công cụ, con đường muối từ Đông sang Tây, con đường hương liệu
theo chiều ngược lại. Nó cũng là con đường nối miền xuôi với miền ngược; nối biển,
đồng bằng với miền núi; nối Kẻ Biển, Kẻ Ruộng, Kẻ Chợ với Kẻ Mọi; nối đồng bào
người Chăm, người Kinh miền xuôi với đồng bào dân tộc thiểu số miền núi Quảng
Trị”.
Khởi thủy con đường 9 không phải xuất phát từ Đông Hà mà từ
Ngã Tư Sòng thuộc huyện Cam Lộ, nay giáp với Đông Hà, ấy là con đường thượng đạo
xuyên sơn. Thuở xưa nó chỉ là con đường mòn, chủ yếu dành cho người đi bộ lên
vùng thượng du Cam Lộ như cách gọi của Lê Quý Đôn, rồi đi tiếp sang tận nước Ai
Lao (Lào). Chính nhờ vị thế con đường thượng đạo xuyên sơn chạy dọc theo con
sông Hiếu mà một thời đã tạo nên chợ Phiên Cam Lộ nổi tiếng một tháng sáu
phiên: mồng 3, mồng 8, 13, 18, 23, 28 Âm lịch. Nơi đây ngày xưa từng được mệnh
danh là “Tiểu Trường An” với câu hò vang vọng: “Đò về bến Đuồi bùi ngùi nhớ cảnh/
Chạnh tâm tình nhớ núi Lãnh, sông Hương”. Bến Đuồi ngay sát chợ Phiên, còn núi
Lãnh chính là núi Mai Lĩnh (Quảng Trị), còn sông Hương xứ Huế thì được thông
thương bằng sông đào Vĩnh Định dưới thời nhà Nguyễn, nối kinh sư với Quảng Trị
bằng sông Thạch Hãn và sông Hiếu. Hàng hóa từ kinh kỳ có mặt tại chợ Phiên Cam
Lộ theo đường thủy, rồi lên với miền ngược theo con đường tiền thân quốc lộ 9
bây giờ.
Cách đây hàng trăm năm, chợ Phiên Cam Lộ không chỉ có tiếng ở
miền Trung với vai trò đầu mối nội thương mà còn là một trung tâm ngoại thương
tấp nập trên bến dưới thuyền. Tàu bè Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha… từ Cửa Việt lên
chợ Phiên mua bán, rồi voi từ xứ Ai Lao thồ lâm đặc sản như trầm hương, ngà voi
xuôi theo con đường xuyên sơn về trao đổi hàng hóa. Nhà bác học Lê Quý Đôn
đã miêu tả trong Phủ biên tạp lục: “Hai bên tả hữu phía trên sông Hữu
Giang dân các động sách ở, cày cấy chăn nuôi rất nhiều, người buôn ở các xã thường
mang muối, mắm, cá khô, đồ sắt, nồi đồng, thoi bạc, hoa xuyến, đồ lặt vặt, đến
đất người Man đổi lấy các hàng hóa: thóc, gạo, gà, trâu, gai, sáp, mây, gió, vải
man, màn man, thuê voi chở về Cam Lộ. Người Man cũng có lấy voi chở hàng hóa xuống
chợ Cam Lộ để bán, một con voi chở được 30 gánh, mỗi gánh được 20 bát. Cũng có
một phiên chợ lùa trâu đến 300 con để bán, giá một con trâu không quá 10 quan,
giá một con voi chỉ hai hốt bạc và một khẩu súng nhỏ”. Ông còn nhắc đến Tuần Ba
Giăng còn gọi là Sở Tuần hay đồn Hiếu Giang, một nơi triều đình lập ra thu thuế
buôn bán ngày xưa. Vậy thì truyền thống nội thương và cả ngoại thương của Quảng
Trị đã có từ khá sớm và rất đáng tự hào dù chỉ dựa vào một con đường mòn xuyên
Á và mấy con sông.
Người Pháp cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX khi khai thác Đông
Dương đã chú trọng đến giao thông và chính họ đã khai sáng con đường 9 dù mục
đích ban đầu vì lợi ích thực dân của chính quốc, chính vì vậy lúc mới khai sinh
còn có tên là Con đường thuộc địa số 9. Điểm đầu tiên của đường 9 chấm trên bản
đồ thuộc làng Tây Trì, phường 1, Đông Hà ngày nay, nơi gặp gỡ giữa Quốc lộ 9 và
Quốc lộ 1A nên còn được gọi là Ngã ba Đông Dương. Đường 9 băng qua làng Đông Hà
(phường 3 ngày nay) lên gần chợ Phiên Cam Lộ thì gặp mặt con đường mòn thượng đạo
xuyên sơn rồi nhập làm một chạy thẳng một mạch đến biên giới Việt - Lào. Ngay tại
điểm khởi đầu đường 9, đầu thế kỷ trước, người Pháp cho xây dựng ga Đông Hà phục
vụ cho con đường sắt Bắc - Nam. Chính nhà văn Nguyễn Tuân, người luôn muốn “trước
bạ đời mình vào những địa dư trên trái đất”, đã từng viết về những chuyến
đi khi đến Đông Hà, xuất phát điểm của con đường số 9 bằng đủ các phương tiện
giao thông lúc bấy giờ: “Tôi đi bằng tàu lửa, tôi đi bằng tàu biển, tôi đi bằng
ô tô hàng”. Đường 9 lúc Pháp mới mở còn khá thô sơ, đường hẹp khoảng hai mét rưỡi
đến ba mét rưỡi, độ dốc lớn, chủ yếu vẫn dành cho người đi bộ và một số ít xe
đò, xe nhà binh.
Chuyện làm con đường 9 cũng lắm đau thương. Ngày xưa ngược
lên phía tây Quảng Trị là chốn rừng thiêng nước độc, không chết vì lao lực, đòn
roi thì cũng chết vì sốt rét. Tình cảnh ấy đã rơi lệ vào những câu vè than thân
của phu lục lộ: “Hai hàng nước mắt nhỏ tuôn/ Cả năm phủ huyện lên nguồn, trời
ơi/ Cực chi da diết hỡi trời/ Ai không có chiếu trải tơi mà nằm”. Theo ông Lê
Văn Đen, một trong những phu làm đường vào năm 1940 nay đã 90 tuổi, trú tại
thôn Cam Phú, xã Cam Thành, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị: “Thời Pháp thuộc làm
con đường 9 từ Đông Hà sang Lào dân mình cũng khổ lắm. Mỗi thôn phải cử ra năm,
sáu người đi làm phu, làm từ sáng đến tối, làm cả tuần, cả tháng, cả năm, chủ yếu
làm bằng tay, người đào đất, kẻ gánh đất. Người lớn làm đường hay bị đánh đập.
Hồi đường mới làm sơ khai nhiều đoạn bề ngang khoảng chừng hai mét thôi, về sau
mở rộng dần”.
Trong kháng chiến chống Pháp có một sự kiện đáng nhớ, đó là sự
ra đời của một đơn vị quân đội đặc biệt, gọi là “Biệt động đội đường số 9” do
nhà văn, nhà báo, nhà lý luận phê bình Hồng Chương người Quảng Trị tham gia chỉ
huy. Đơn vị này đã đánh nhiều trận từ Khe Sanh, Rào Quán về Đầu Mầu rồi Đèo Đá,
Cầu Đuồi (Cam Lộ). Vừa đánh giặc vừa sáng tác thơ văn, Hồng Chương cho ra đời một
bài thơ dài với những câu thơ mang âm hưởng tráng ca hào sảng trong khói lửa đường
9 một thời kháng Pháp: “Thuở đất nước mịt mù khói đạn/ Thân nam nhi dày dạn
phong sương/ Tuốt gươm cắp súng lên đường/ Âm thầm chính khí, hào hùng nước
non/ Xót quốc biển gia vong lắm lúc/ Tím bầm gan sùng sục uất đầy/ Vứt đe,
quẳng bút, xếp cày/ Đoàn quân biệt động từ nay ra đời/ Người chiến sĩ
ra nơi chiến đấu/ Gót rỗ nhăng in dấu hành binh/ Sẹo ghi từng trận chiến chinh/
Mắt hoe lửa giận, trán khinh hiểm nghèo…”.
Bây giờ, sau lưng nhà ông Lê Văn Đen là con đường 9 do Pháp
xây dựng, còn trước mặt nhà lại con đường 9 được người Mỹ cấp tốc làm nên vào
năm 1971. Hay nếu ai dừng chân ở cầu Đầu Mầu sẽ thấy có đến ba chiếc cầu chính
thức mang bóng dáng lịch sử: một do Pháp xây, một do Mỹ xây và một (đúng ra được
xây hai lần) do Nhà nước ta xây sau ngày thống nhất.
Lê Quý Đôn viết rằng: Từ xã Cam Lộ (đoạn chợ Phiên) lên Tuần
Ba Giăng phải đi hết một ngày đường, đủ biết con đường mòn băng qua núi rừng
quanh co, hiểm trở. Thời Pháp thuộc, bà con vùng này còn đi bộ về chợ Phiên, đi
từ khi trời chưa sáng, đi cả đoàn nối nhau đòn xóc chỉa lên trời để tránh bị cọp
vồ. Thời bao cấp sau năm 1975 vẫn có những đoàn người rồng rắn đi phiên. Nay
sau xuất phát chỉ cần chưa đầy mười phút, ô tô đã đến nơi thong thả, đâu cần đợi
cả ngày trời. Có một con đường mòn đã thành đường Xuyên Á, đi từ quá khứ đến
tương lai.
Phạm Xuân Dũng
Nguồn: Tạp chí Cửa Việt số 273,
tháng 6 năm 2017




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét