Tam giáo Việt Nam đã có một lịch sử lâu dài, kể từ thế kỷ I, II
trở đi, cho nên dễ hiểu vì sao Tam giáo đã có ảnh hưởng sâu sắc không phải chỉ
trong tầng lớp trí thức giỏi chữ Hán mà còn gieo được tư tưởng đạo đức trong
quần chúng bình dân không biết chữ Hán. Văn học dân gian (hay văn chương truyền
khẩu) qua các loại hình cổ tích, dân ca, ca dao, tục ngữ... là những bằng chứng
rõ ràng cho thấy dấu ấn Tam giáo trong văn hóa đạo đức của dân tộc Việt. Các vị
tiên, phật luôn luôn có mặt trong các câu chuyện cổ tích khuyến thiện để giáo
dục con người tu nhân tích đức, làm lành lánh dữ.
1. DẤU ẤN CỦA LÃO GIÁO
Vũ trụ luận Lão Trang cho Đạo là nguyên lý tối sơ, là tuyệt đối
thể, và Đức là sự thể hiện cái Đạo nơi con người. Triết lý đó có thể hơi quá
trừu tượng đối với cách suy nghĩ của quần chúng bình dân. Tuy nhiên, không biết
từ bao giờ, hai chữ đạo đức đã là dụng ngữ quen thuộc trong
lời ăn tiếng nói hằng ngày của mọi người. Theo đó, đạo hiểu
giản dị là lẽ phải trong cách sống giữa người với người. Thế nên, người Việt
bảo nhau hãy biết ăn ở cho phải đạo, rồi từ đó mà có đạo làm người, đạo vợ
chồng, đạo thầy trò, đạo làm con…
Đạo làm con chớ hững hờ,
Phải đem hiếu kính mà thờ mẹ cha.
Biết đạo đối với người Việt là biết cư xử đúng đắn trong mọi quan
hệ giữa bản thân với gia đình, thân tộc, xóm giềng, xã hội, đất nước. Một chàng
trai quê chân lấm tay bùn khi kén bạn đời cũng biết trân trọng giá trị của
người biết đạo, nên đã tỏ lời:
Hột thủy tinh,
Đây nhìn sáng rỡ.
Để dành từ thuở,
Làm nhẫn đeo tay.
Dầu ai năn nỉ hỏi nài,
Đợi người biết đạo, của này sẽ trao.
Những kẻ sống trái lẽ phải có thể bị mắng là vô đạo, thất đức.
Ngược lại, người tốt, biết đạo thì được khen là ăn ở có đức. Chữ đức còn
là tiếng xưng hô cao quý nhất những cho những vị, những đấng mà nhân dân sùng
kính, như: Đức Chí tôn, Đức Mẹ, Đức Chúa, Đức thánh Trần, Đức Bồ tát…
Đức trở nên giá trị tinh thần có huyền lực siêu nhiên để nâng đỡ
cuộc sống con người. Gia đình biết đạo không cho rằng của cải thế gian là tài
sản bền vững truyền lại cho cháu con; ngược lại, chỉ có đức tuy vô hình (vì là
âm đức), nhưng mới thực đáng dành cho mai hậu. Thế nên:
Cây xanh thì lá cũng xanh,
Cha mẹ hiền lành để đức cho con.
Người trồng cây hạnh người chơi,
Khi ví đức với cây xanh, lá xanh, rõ ràng người Việt coi đức là
một thực hữu, nghĩa là một cái gì cụ thể, có thể nuôi lớn, chăm bón cho xum
xuê, để cho đức sẽ nảy nở, đơm hoa kết quả. Nhờ thế, đức ngày một dày, và lâu
bền mãi mãi. Hiểu và thực hành chữ đức một cách linh hoạt, tài tình như thế
chính là nét độc đáo nổi bật của dân tộc Việt Nam.
2. DẤU ẤN CỦA NHO GIÁO
Về phần đạo Nho, các phạm trù đạo đức như tam cương (quân
thần, phụ tử, phu thê) và ngũ thường(nhân, nghĩa, lễ,
trí, tín) cũng được Việt hoá, trở thành lời ca tiếng hát mộc mạc giữa chốn
hương đồng cỏ nội:
Anh làm trai học đạo thánh hiền,
Năm hằng chẳng trễ, ba giềng chớ sai.
Làm trai giữ trọn ba giềng,
Thảo cha, ngay chúa, vợ hiền chớ vong.
Ngũ luân (quân
thần, phụ tử, phu thê, huynh đệ, bằng hữu) và ngũ thường cũng
được gọi cho gọn làluân thường, hay luân thường đạo lý.
Trong các mối quan hệ ấy, đạo làm con đối với cha mẹ là lấy chữhiếu làm
đầu, còn phận làm em đối với anh chị hay phận kẻ nhỏ đối với các bậc vai vế lớn
phải lấy chữđễ. Hiếu đễ được giải thích như sau:
Thờ cha mẹ ở hết lòng,
Ấy là chữ hiếu ở trong luân thường.
Chữ đễ có nghĩa là nhường,
Nhường anh, nhường chị, lại nhường người trên.
Ghi lòng, tạc dạ chớ quên,
Con em phải giữ lấy nền con em.
Câu chữ Hán của Thầy Tăng tử «Hiếu giả bách hạnh chi tiên»
(Hiếu đứng đầu trong trăm hạnh tốt) khi thoát ra khỏi trang sách Nho sĩ đã được
ca dao diễn đạt tài tình:
Làm con nết đủ trăm đường,
Trước tiên điều hiếu đạo thường xưa nay.
Nhân sinh bách hạnh hiếu vi tiên,
Chữ rằng mộc bổn thủy nguyên,
Làm người phải biết tổ tiên ông bà.
Câu chữ Hán «Thần tỉnh mộ khang» (Sớm thăm tối viếng) từ
trong trang sách nhà Nho cũng được chuyển qua ca dao và gắn liền với đạo hiếu
của con với mẹ:
Mẹ già ở túp lều tranh,
Sớm thăm tối viếng mới đành dạ con.
Nếu nói nhờ có đạo Nho mà người Việt mới biết nêu cao đạo hiếu thì
rất sai lầm. Là một dân tộc có truyền thống đạo đức tốt đẹp, người Việt tự
nhiên cũng biết tôn thờ chữ hiếu, tuy nhiên, với sự du nhập của đạo Nho, những
giáo lý tốt đẹp của Nho giáo phù hợp với tình cảm trong sáng của dân Việt đã có
môi trường thuận lợi để phát triển, nảy nở, và người Việt bằng ca dao đã dành
một nội dung phong phú để nhấn mạnh đến tình cảm thiêng liêng này:
Công cha như núi Thái sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Một lòng thờ mẹ kính cha,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.
Công cha như núi ngất trời,
Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển Đông.
Núi cao biển rộng mênh mông,
Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi.
Tu đâu cho bằng tu nhà,
Thờ cha kính mẹ mới là chân tu.
Như vậy, hiếu cũng là phép tu thân. Mệnh đề tu thân tề gia được
nói tới ở đầu sách Đại học: «Thân tu nhi hậu gia tề.» Người
Việt chuyển hóa ý đó thành ca dao như sau:
Tu thân rồi mới tề gia,
Lòng ngay nói vạy, gian tà mặc ai.
3. DẤU ẤN CỦA PHẬT GIÁO
Ảnh hưởng Phật giáo trong đời sống nhân dân rất sâu đậm, nhất là
đức tin về nghiệp báo, luân hồi nhân quả. Triết lý về nghiệp (karma)
được diễn tả:
Lênh đênh qua cửa Thần Phù,
Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm.
Cửa sông Thần Phù là chỗ sông Chính Đại đổ ra vịnh Bắc Bộ, thuộc
huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Cuối đời Lê cửa sông bị cát bồi lấp mất và trở
thành đất liền. Một địa danh không còn, nhưng câu ca dao còn mãi.
Tư tưởng nhân bản của đạo Phật cũng thấm nhuần tình cảm, đạo đức
người Việt. kinh Lăng nghiêm có câu: «Tương thử tâm
thân phụng trần sát, thị tắc danh vi báo Phật ân.» Ngụ ý nói rằng: Ai
dốc lòng phụng sự cõi thế gian (trần sát), tức là đã đền đáp, báo ân Phật.
Ca dao Việt có câu tương tự: xây bảo tháp (phù đồ) thờ Phật, cũng
chưa bằng cứu giúp cho con người thế gian trước đã.
Dù xây chín bậc phù đồ,
Không bằng làm phúc cứu cho một người.
Dấu ấn của Tam giáo còn nhiều. Những dẫn chứng nêu trên chỉ mới
tạm coi là một vài điển hình, tiêu biểu, có tính cách minh họa. Điều cần lưu ý,
đó là bên cạnh ảnh hưởng của Tam giáo, còn có bản sắc tín ngưỡng riêng của
người Việt.
4. TAM GIÁO VÀ TÍN NGƯỠNG THỜ TRỜI
Ngoài Tam giáo lại còn có đức tin ở Trời và tín ngưỡng thờ Trời
của người Việt. Một cô gái quê cắc cớ hỏi bí người bạn trai:
Thấy anh hay chữ,
Em hỏi thử đôi lời.
Thuở tạo thiên lập địa,
Dĩ nhiên hỏi lắt léo như vậy ai mà trả lời được! Tuy không biết
Trời có từ bao giờ, Trời từ đâu sinh ra, nhưng ai cũng kính Trời vì hiểu rằng
có ta đây vì có Trời. Người Việt nói: Trời cho ai nấy hưởng. Trời kêu
ai nấy dạ.
Trong bối cảnh xã hội nông nghiệp, lòng tin Trời gắn liền với sinh
hoạt của con người:
Nhờ Trời mưa thuận gió hòa,
Nào cày nào cấy trẻ già đua nhau.
Nhờ Trời hạ kế sang đông,
Làm nghề cày cấy vun trồng tốt tươi.
Lạy Trời mưa thuận gió đều,
Cho đồng lúa tốt cho chìu lòng em.
Người Việt tin Trời là đấng cầm cân nảy mực công bằng, nên bảo
nhau:
Ở hiền thì gặp lành,
Những người nhân đức Trời dành phúc cho.
Tin Trời, tin vào vận mệnh trường cửu của đất nước non sông, cho
nên dù gặp lúc chiến tranh phân cắt, người Việt vẫn vững lòng chặt dạ một
đức tin mãnh liệt rằng:
Nước non là nước non Trời,
Ai chia được nước, ai dời được non.
Đạo làm con cũng lồng vào đức tin kính Trời qua cái bàn Thiên
ngoài sân, người con hiếu thảo từng đêm đến đó khấn nguyện:
Mỗi đêm mỗi thắp đèn Trời,
Cầu cho cha mẹ sống đời với con.
Tín ngưỡng thờ Trời không có một cách bức nào đối với tín ngưỡng
Tam giáo. Cho nên nếu có bước vô chùa mà lòng tưởng Phật lẫn Trời cũng không có
gì lạ:
Vô chùa thắp một nén nhang,
Miệng nam mô A-di-đà phật,
Nguyện cùng Trời chùa chật cũng tu.
Trời và Phật trong quan niệm người Việt không có ranh giới phân
biệt. Khi hoạn nạn, Phật và Trời đều là nơi con người hướng vọng cầu xin sự tế
độ từ bi:
Nghiêng vai ngửa vái Phật Trời,
Đang cơn hoạn nạn độ người trầm luân.
Nói
về biểu hiện của tinh thần bao dung tôn giáo (religious tolerance) của
người bình dân Việt Nam thì không những chỉ tìm thấy ở ca dao hay tục ngữ, mà
còn tìm thấy cả trong cách thờ phượng. Chùa ở Việt Nam không hẳn chỉ là nơi thờ
Phật. Có chùa thờ cả Quan thánh Đế quân. Ngoài Bắc, ở làng Kim Bảng (Vụ Bản,
Nam Định) có chùa Tam giáo, tức là thờ cả Tam giáo Tổ sư (Thích-ca, Khổng tử,
Lão tử). Trong Nam, đường Cao Thắng, quận 3, Sài Gòn, có chùa Tam tông miếu
(Minh Lý Thánh hội). Trong quyển Tam giáo kinh lưu hành ở Việt
Nam một nghệ nhân nào đó đã khắc gỗ thành một bức tranh tài tình minh họa một
tòa sen lớn, cùng ngồi chung trên đó là Đức Phật Thích-ca (ở giữa), Đức Lão tử
(bên trái), Đức Khổng tử (bên phải). Ba vị bằng nhau, ba vầng hào quang như
nhau. Bên dưới là một bình hương nghi ngút. Khổng, Lão mà ngồi tòa sen, người
Việt Nam nghĩ ra được hình tượng ấy mới là độc đáo.
Trong kho tàng văn chương bình dân Việt Nam có một truyện thơ
thường được gọi là: Phật Bà Quan Âm diễn ca, Nam Hải Quan Thế Âm sự
tích diễn ca, hay là Truyện Phật Bà chùa Hương… Theo
bản in của nhà in Phúc Chi (Hà Nội, 1950), truyện dài 1.424 câu lục bát.
Truyện này thể hiện một tín ngưỡng tổng hợp của người Việt, ở đây
đức tin Trời, đạo Phật, Nho, Lão không hề phân chia ranh giới, mà hòa điệu với
tín ngưỡng của giới bình dân. Cho nên các hình ảnh, các nhân vật của Tam giáo
đều đầy đủ. Nào là triều đình, thủy phủ, Thiên cung, Phong đô địa ngục, có cả
cung Diêu Trì với Hội yến Bàn đào. Nào là Ngọc Hoàng Thượng đế, Phật tổ Như
lai, Quan Âm, Văn Thù, Phổ Hiền, Thiện Tài Đồng tử, Long nữ, Thái Bạch Kim
tinh, Long vương, Diêm vương, Thiên tướng, Thổ địa, Sơn thần, Công đồng Tam
phủ, Nam tào, thần Ngũ lôi, thần Du địch, thần Ôn hoàng, thần Lục đinh…
Về mặt tư tưởng, truyện đã giải quyết mối quan hệ giữa cá nhân và
xã hội, bao gồm việc tự độ là giải thoát thành Phật (tức phần
cá nhân), và việc độ tha (khía cạnh xã hội) là chữ hiếu với
gia đình, chữtrung với nước và chữ nhân với chúng
sanh. Ngay từ khi vào truyện tác giả khuyết danh đã nhấn mạnh:
Chân như đạo Phật rất mâu,
Tâm trung chữ hiếu, niệm đầu chữ nhân. (câu 1-2)
Tác giả định nghĩa:
Hiếu là độ được đấng thân,
Nhân là độ được trầm luân mọi loài. (câu 3-4)
Trên thì hiếu báo sinh thành,
Dưới thì nhân cứu chúng sanh ta bà. (câu 1397-1398)
Tác giả đã gắn liền Đạo pháp với dân tộc:
Thân này thành Phật may ra,
Hộ nước hộ nhà thì mới có phương. (câu 315-316)
Tư tưởng tích cực đó rất gần gũi với dân tộc Việt Nam, và đã có
những tấm gương sáng trong lịch sử, trải qua các đời Đinh, Lê, Lý, Trần…
Lòng tin Trời và luật nhân quả báo ứng được thể hiện qua lời Hoàng
hậu tâu cùng Vua: «Trong cơ báo ứng đạo Trời ở trong». (câu 24). Tin
Phật mà cũng kính Trời, thế nên nhà vua đã thốt: «Trẫm nay ơn Bụt (Phật), ơn
Trời…» (câu 1335). Và cũng với đức tin vô phân biệt ấy cho nên lúc công
chúa phát đại nguyện xuất gia tu Phật thì lại khấn Trời:
Nói thôi ngửa mặt khấn Trời,
Chứng minh xin chớ để sai lòng này. (câu 345-346)
Nhân vật chính trong truyện là Chúa Ba, tu Phật, đắc quả, được gọi
là Bồ tát, là Phật Bà, mà cũng rất nhiều lần được
gọi là Tiên nga (các câu 937, 946, 949, 1049, 1054…) Điều này
không nên đánh giá cạn cợt là tác giả thiếu nhất trí. Trái lại, cần thấy sự
kiện đó phản ảnh tâm lý bình đẳng tín ngưỡng có từ lâu đời, và đã ăn sâu vào
tiềm thức của người Việt. [1]
6. TAM GIÁO TRONG TRUYỆN LÂM TUYỀN KỲ NGỘ (BẠCH VIÊN TÔN
CÁC)
Một tác phẩm khuyết danh tác giả nữa là Lâm tuyền kỳ ngộ (sự
gặp gỡ lạ lùng giữa chốn suối rừng) với hai nhân vật chánh là Bạch viên (con
vượn cái lông trắng) và chàng Nho sĩ Tôn Các.
Bạch viên tiền kiếp là tiên nga, bị đày xuống trần gian làm thân
vượn cái lông trắng. Bạch viên tự thuật:
Chưa hề bén lụy cõi trần duyên.
(Viên thị tự tâm sự)
Vốn thiếp xưa thân cửa Đế Thiên,
Vì duyên cho phải lụy trần duyên.
(Viên thị biệt Tôn sinh)
Tiện thiếp thân xưa khách Quảng Hàn,
Thác sinh đày xuống cõi trần gian.
(Viên thị kiến Huyền Trang)
Do căn tiên nên Bạch viên biết giác ngộ tu hành, tìm đến chùa Phi
Lai học đạo Phật với Thiền sư Huyền Trang.
Đêm thanh náu gót ngoài tăng viện,
Ngày vắng dâng hương trước Phật đài.
(Bạch viên nhập tự thính kinh)
Theo đường Phật giáo mong cầu phúc,
Đội đức Thiền sư cứu khỏi nàn.
(Viên thị kiến Huyền Trang)
Do phép lực của Phật, Bạch viên lại cởi bỏ lốt vượn, hóa thành
thiếu nữ xinh đẹp. Thế rồi Bạch viên kết duyên cùng chàng Nho sinh Tôn Các,
sinh được hai con trai. Nhưng Bạch viên phải tuân lệnh Thiên đình, mãn số ở
trần gian, từ giã chồng con về cõi tiên.
Trăm lạy giã chàng còn ở thế,
Năm mây xin thiếp lại lên tiên.
(Viên thị biệt Tôn sinh)
Tôn Các ở lại trần gian, đi thi được chấm đậu, vua ban áo mão vinh
quy. Tôn Các vốn cũng là tiên thượng giới, nguyên là sao Tử Vi.
Tôn Các nay tuy người hạ giới,
Tử Vi xưa cũng khách Thiên tào.
(Thượng đế chiếu hứa Bạch viên tái hợp)
Ngọc Hoàng Thượng đế thương tình hai người ly biệt nên lại theo
lời xin của Bạch viên cho phép Bạch viên xuống trần lần nữa tái hợp cùng Tôn
Các để trọn đạo phu thê.
Lại ban sum họp duyên hương lửa,
Cho đấng anh Nho sánh má đào.
(Thượng đế chiếu hứa Bạch viên tái hợp)
Và sau rốt Bạch viên, Tôn Các khi số trần đã mãn, lại cùng nhau
trở về Thượng giới.
Duyên nợ oan tình đền kiếp trước,
Cũng giống như truyện Phật Bà chùa Hương, truyện Lâm
tuyền kỳ ngộ mang đầy đủ dấu ấn của Nho, Thích, Lão. Với Nho, đó là
đạo phu thê, đạo cha con, đạo quân thần, phải nhập thế giúp đời. Với Thích, là
giáo lý giải thoát khỏi nghiệp chướng thế gian (Bạch viên cởi lốt). Với Lão là
vai trò cầm luật Thiên tào của Thượng đế, là kiếp trích tiên ở chốn thế gian
của Bạch viên, Tôn Các… [2]
Tóm lại, kho tàng văn học dân gian Việt Nam, từ ca dao, tục ngữ,
đến truyện thơ, đã có những bằng chứng cho thấy nét văn hóa đạo đức truyền
thống của người Việt, đó là lòng bình đẳng trước mọi tôn giáo, và khả năng tiếp
thu, chuyển hóa Tam giáo cho hòa hợp với văn hóa bản địa, tạo thành một tín
ngưỡng tổng hợp trên đất nước Việt Nam. Tín ngưỡng tổng hợp đó gồm Nho, Thích,
Lão, và tín ngưỡng thờ Trời vậy.
NGUỒN:
Chương V, CON ĐƯỜNG TAM GIÁO VIỆT NAM TỪ KHỞI NGUYÊN ĐẾN THẾ KỶ XIX, Nxb Tp HCM, 1994, tr. 73-88.
Mã số của sách này trong Library of Congress Online:
LC Control Number: 94945152.
Chương V, CON ĐƯỜNG TAM GIÁO VIỆT NAM TỪ KHỞI NGUYÊN ĐẾN THẾ KỶ XIX, Nxb Tp HCM, 1994, tr. 73-88.
Mã số của sách này trong Library of Congress Online:
LC Control Number: 94945152.
CHÚ THÍCH
[1] Về truyện Phật Bà chùa Hương, ngoài
bản in Phúc Chi (Hà Nội, 1950), còn có thể xem Truyện Bà chúa Ba (Nam
Hải Quan Thế Âm), Nxb Khoa học Xã hội (Hà Nội, 1991).
[2] Về truyện Lâm tuyền kỳ ngộ có
thể tìm bản rô-nê-ô năm 1960 của Phòng Nghiên cứu Văn học sử và Văn chương Việt
Nam thuộc Đại học Sư phạm Huế. Hoặc đọc trong Lịch sử tư tưởng Việt
Nam, Tập 6, của Nguyễn Đăng Thục, Nxb Tp.HCM, 1992, tr. 257-272.
Lê Anh Dũng








Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét