Nguyễn Bính và Hoàng Cầm là hai nhà thơ tiêu biểu của thi đàn
Việt Nam thế kỷ XX. Điểm thú vị là, ở họ, có khá nhiều sự gặp gỡ, từ cuộc đời đến
tác phẩm văn chương. Một trong số đó là sự chiếm lĩnh của hình tượng người chị
cả ngoài đời thực lẫn trong đời thơ của hai nhà thơ. Kết quả khảo sát cho thấy,
người chị không phải là nhân vật nữ duy nhất trong thi giới của hai tác giả
song lại có vị trí quan trọng, chi phối mạnh mẽ đến cấu trúc cảm hứng và thi tứ
của thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn Bính và Hoàng Cầm.
1. Người chị trong thơ Nguyễn Bính
Trong phong trào Thơ mới, có lẽ, Nguyễn Bính là người thường
nhắc về chị nhất. Người chị trong thơ ông, không chỉ có một người mà là nhiều
người, không mang tính phiếm chỉ mà minh định. Đó là chị Trúc, chị Tuyết, chị
hàng xóm. Trong số đó, nhà thơ dành nhiều tình cảm nhất cho chị Trúc. Ông không
chỉ làm thơ tặng chị (Lỡ bước sang ngang) mà còn làm thơ gửi chị, tâm sự với chị
(Xuân tha hương, Thư gửi chị, Xuân vẫn tha hương, Xây hồ bán nguyệt…). Chị
Trúc, do vậy, là nhân vật chủ đạo làm nên hình tượng người chị trong thơ Nguyễn
Bính. Xuất phát từ nhận định này, chúng tôi chỉ giới hạn phạm vi khảo sát ở những
bài thơ liên quan đến chị Trúc, lấy đó làm cơ sở khái quát hình tượng người chị
nói chung trong thơ ông.
Trước hết, dễ thấy rằng, chị Trúc (và tương tự là những người
chị khác) là một người phụ nữ có thật ngoài đời. Những thông tin về chị, tuy có
đôi nét khác biệt, nhưng thống nhất ở điểm: Nguyễn Bính rất quý mến chị. Tình cảm
đó sâu sắc đến độ, nhà thơ không ngại ngần giãi bày, thổ lộ và chọn chị - trong
muôn vàn gương mặt người phụ nữ - làm “nàng thơ” của mình. Điều đặc biệt là,
trong cảm quan của Nguyễn Bính, chị Trúc, dù đã được “sáng tạo” lại dưới lăng
kính nghệ thuật, song vẫn rất chân thực, như vốn có ở đời thực. Nói cách khác,
nhà thơ đã không cách điệu hóa, thi vị hóa người chị trong thơ. Hiện lên trong
thơ Nguyễn Bính, người chị với hình ảnh “…nước mắt đầm đìa/ Chào hai họ để đi về
nhà ai”[1] (Lỡ
bước sang ngang); là người chị nhắn bảo em “Em cứ yêu đi! Thực thủy chung/ Yêu
đi! Rồi chị tặng khăn hồng” (Khăn hồng); là người chị “Ở nhà tằm chị cứ chăm/
Dâu chị cứ hái để nhằm lứa sau”… Có lẽ bởi vậy mà, hình ảnh người chị ấy vừa rất
riêng, là của riêng Nguyễn Bính nhưng cũng lại rất đỗi gần gũi, quen thuộc đối
với những đứa em đọc giả khác.
Khảo sát văn bản thơ cho thấy, Nguyễn Bính gần như không miêu
tả Chị một cách trực tiếp về diện mạo, ngoại hình, cử chỉ… Nếu đặt nhân vật này
bên cạnh những nhân vật khác của thơ Nguyễn Bính như cô bé vừa mới thành thiếu
nữ (Mưa xuân), người mẹ (Tết của mẹ tôi), T.Đ (Tơ trắng)… thì người chị tuy có
tần số xuất hiện hơn hẳn song có phần mờ nhạt hơn. Bởi, ngoại trừ bài
thơ Lỡ bước sang ngang (trong bài này, người chị cũng đồng thời là chủ
thể trữ tình, chủ thể phát ngôn), còn lại ở Xuân tha hương, Xây hồ bán
nguyệt, Xuân vẫn tha hương, Khăn hồng…, người chị hiện lên gián tiếp thông
qua lời đề “gửi tặng…”, “gửi…” và qua dòng suy nghĩ, lời tự sự của nhân vật
“em”. Chính cấu trúc thi thoại trong các sáng tác này góp phần rất lớn trong việc
khắc họa hình tượng nhân vật chị - một nhân vật vắng mặt nhưng luôn hiện hữu và
song hành cùng em, dù chỉ trong ký ức, hoài niệm và mộng tưởng.
Ví như, khi nhà thơ nhắc lại kỷ niệm một lần trò chuyện cùng
chị: “Đưa ảnh người yêu cho chị xem/ (Cả thư người ấy viết cho em)/ Chị cười:
“Đáng sợ là đôi mắt”/ Chưa khóc đêm nào đến trắng đêm/ Em cứ yêu đi! Thực thủy
chung,/ Yêu đi! Rồi chị tặng khăn hồng/ Bao giờ…vui nhỉ! Về ăn cưới!/ Chắc chả
như khi chị lấy chồng” (Khăn hồng) thì thông qua cuộc đối thoại ấy, ít nhiều những
ý niệm về chị được gợi mở. Trước nhất, chị là người mà nhân vật em rất tin tưởng.
Vì tin tưởng nên mới đưa chị xem ảnh và thư của người yêu - những vật vốn dĩ rất
riêng tư và cần cẩn trọng khi chia sẻ. Thứ nữa, chị có tâm hồn rất đẹp (khuyên
em yêu thủy chung). Và sau cùng, chị luôn mang trong lòng nỗi niềm riêng về hôn
nhân, hạnh phúc lứa đôi. Cho nên, nghĩ đến ngày cưới của em, niềm vui vẫn không
thể giúp chị khuất lấp nỗi buồn, không khỏi chạnh lòng nhớ về ngày cưới của
mình. Câu thơ cuối tựa như một tiếng thở dài xót xa.
Khước từ mọi sự miêu tả mang tính hình thức bên ngoài, nhà
thơ Nguyễn Bính đi sâu khắc họa đời sống nội tâm của nhân vật. Dường như, chính
ở phương diện này, ông tìm thấy sự đồng cảm, nảy nở ước mong được sẻ chia, được
giải tỏa, bù đắp những thiếu hụt trong đời sống tình cảm của một cậu bé sớm mồ
côi mẹ, lớn lên lại chịu nỗi lưu lạc nơi đất khách quê người. Nhà thơ đã hơn một
lần ý thức về sự tương đồng trong cảnh ngộ của mình và chị:
Em đi dang dở đời sương gió
Chị ở vuông tròn phận lãnh cung [2]
(Xuân tha hương)
Đôi câu thơ tưởng chừng như là lời kể về hai cảnh đời đối lập
của em và chị. Em thì phiêu bạt gió sương, lấm láp bụi đường. Chị thì sắm tròn
vai một người thiếu phụ ở chốn buồng khuê lạnh lùng. Em thì xê dịch không biết
đến điểm dừng, không quê hương, bản xứ. Chị thì ở yên, héo mòn mãi một góc nơi
chốn quê. Ấy vậy nhưng, đằng sau sự đối lập bên ngoài đó, ở bề sâu là sự giống
nhau của hai cuộc đời, hai số phận. Đời sương gió - phận lãnh
cung, xét đến cùng, đều sầu tủi như nhau. Một đằng bị rứt ra khỏi quê hương, một
đằng sống ngay trên mảnh đất quê mà thiếu thốn hơi ấm tình thương. Một đằng mỏi
gối chồn chân, một đằng héo úa tàn phai. Trong Lỡ bước sang ngang, người
chị tự ví mình là “kiếp con chim lìa đàn”. Một cách ví von, so sánh chứa đựng sự
đau đớn, xót xa, cả trạng thái bơ vơ lạc lõng. Nguyễn Bính chưa khi nào tự ví
mình như vậy, nhưng cả cuộc đời, ông đã sống trong mặc cảm “kiếp con chim lìa
đàn” ấy. Cho nên, thơ ông nói nhiều đến những phận người lở dỡ, đến kiếp sống
tha hương. Thơ ông hóm hỉnh mà cũng không ít những bài ngậm ngùi, xót xa, não
nùng. Đặc biệt là ở những bài thơ viết cho chị, gửi tặng chị.
Bên cạnh đặc điểm về số phận lỡ làng, đường tình duyên trắc
trở, đau thương - đặc điểm mang tính phổ quát cho cuộc đời của một lớp người phụ
nữ không của riêng xã hội Việt Nam hay của thời đại nào, người chị trong thơ
Nguyễn Bính chủ yếu xuất hiện với vai trò là “người chị tinh thần”. Có thể nói,
đây là hình tượng mang dấu ấn sáng tạo cá nhân của nhà thơ Nguyễn Bính. Ở đó,
người chị hiện lên chủ yếu trong những cuộc đối thoại trong tâm tưởng, mộng tưởng
của nhà thơ. Nguyễn Bính, trong những giờ phút đau thương nhất của cuộc đời
luôn nghĩ về chị, nhớ đến chị như một niềm an ủi, như tìm thấy nơi nương tựa vững
chắc, an yên cho tâm hồn. Nhà thơ giãi bày: “Chiều qua ngồi ngắm hoàng hôn xuống/
Nhớ chị làm sao, nhớ lạ lùng!” (Xuân tha hương); Hay: “Rượu say nhớ chị hồi con
gái/ Thương chị từ khi chị lấy chồng” (Xuân tha hương). Một lần khác:
Em gửi về đây một tấm lòng
Cầu mong cho chị vui như Tết
Tóc chị bền xanh, má dậy hồng
Trong mùa nắng mới sầu không đến
Giữa hội hoa tươi ấm lại lòng
(Xuân tha hương)
Đọc thơ Nguyễn Bính, vì vậy, dễ nhận thấy sự xuất hiện của cặp
đôi hình tượng chị - em. Em, hay là chính nhà thơ, thường tự xưng hô là “em bé
chị”, “ Bính em”, “em chị”... Và gọi chị bằng những tiếng gọi thân thương “chị
hiền”, “chị thân yêu”. Cách hô - gọi phân định rất rõ ngôi thứ quan hệ. Tưởng
chừng như đối diện với chị, nghĩ về chị là một cậu bé Bính yêu chị bằng tất cả
tấm lòng yêu của mình. Cậu bé ấy, dù đã thành người lớn, đã bước chân ra đi vì… thất tình: “Em đi mất tích một mùa xuân/ Đi để chôn vùi hận ái ân” (Khăn hồng)
đã thấm thía cuộc đời phiêu bạt lênh đênh: “Chén rượu tha hương, trời! Đắng lắm/
Trăm hờn nghìn giận một mùa đông” (Xuân tha hương) đã tìm quên nỗi sầu
trong chén rượu ngày xuân: “Chị ơi, Tết đến, em mua rượu/ Em uống cho say đến
não lòng,/ Uống say cười vỡ ba gian gác/ Ném cái chung tình xuống đáy sông”
(Xuân tha hương) đã nghẹn ngào nỗi đoạn trường lưu lạc:
Từ em lưu lạc ngoài muôn dặm,
Một đoạn đường đi một đoạn trường
Cửa quan chẳng mở đầu Viên bạc;
Tri kỷ không ai, mắt Tịch cuồng.[3]
(Xuân vẫn tha hương)
nhưng khi nghĩ về chị, lại thấy lòng mình thành trẻ thơ. Cho
nên, thường trực trong những bài thơ Nguyễn Bính viết cho chị, gửi chị là hình ảnh
một Nguyễn Bính - cậu bé con tinh nghịch: “Đố chị thư nầy ai viết nhé,/Chị ơi!
Em bé chị đây mà!” (Xây lại cuộc đời) ẩn sâu bên trong một Nguyễn Bính người lớn
dày dặn sương gió, cô đơn và sầu tủi về tình người, tình đời: “Thời chưa gặp
đó, nằm suông mãi/ Suông cả ân tình, rượu cũng suông” (Xuân vẫn tha hương). Sự
đồng hiện của hai mặt tính cách đối lập đó càng khắc sâu hơn bi kịch tinh thần
của nhà thơ. Đồng thời, cho thấy vai trò của Chị như một đối tượng hóa giải,
xoa dịu những đau thương, trắc trở mà ông gặp phải.
Mặt khác, những bài thơ Nguyễn Bính viết gửi chị đều được
sáng tác khi nhà thơ đang trên bước đường lưu lạc phương Nam. Người chị, do đó,
còn là hiện thân của quê hương, xứ sở trong tâm thức của người con xa quê, chưa
biết đến ngày về. Viết thư gửi chị nhưng nhà thơ cũng đồng thời khẳng định “Em
gửi về đây một tấm lòng”, “Em gửi về đây một chút lòng”… Chắc hẳn đó không chỉ
là lòng riêng với chị, mà sâu thẳm bên trong là tiếng vọng về quê cha đất mẹ:
“Chị ạ! Em không người nước Sở,/ Nhớ nhà đâu mượn địch Trương Lương/ Đất khách
tình dâng nhòa mắt lệ,/ Ôi nhà! Ôi chị! Ôi quê hương!” (Xuân vẫn tha hương). Tiếng
kêu nghe nấc nghẹn, tha thiết. Chị và quê hương, trong tâm cảm của nhà thơ, là
những điều thiêng liêng nhất. Vì vậy, khi nỗi nhớ chị đong đầy cũng là lúc,
khát vọng trở về trỗi dậy mãnh liệt: “Em sẽ uống say hơn mọi bận/ Cho hồn về tận
xứ Hà Đông” (Xuân tha hương). Cũng có khi, nhà thơ nhắn nhủ chị: “Vườn nhà Tết
đến hoa còn nở/ Chị gửi cho em một cánh hồng” (Xuân tha hương). Chị, vì thế, là
hiện thân của quê hương, song cũng là sợi dây níu giữ, thắt chặt hồn em với
tình quê: “Ai biết tình em với núi sông/ Mấy sông, mấy núi mà xa được/ Lòng chị
em ta vẫn một lòng”(Xuân tha hương), cho nên nhà thơ Nguyễn Bính, tuy chân bước
tới quê người nhưng lòng lại gửi nơi quê nhà. Lúc nào và ở bất kì đâu, nhà thơ
cũng cảm thấy “bơ vơ trong xứ người xa lạ” (Lá thư về Bắc), “Quê người đắng
khói, quê người cay men” (Anh về quê cũ).
Qua những phân tích như đã nêu, chúng tôi nhận thấy người chị
là một trong những hình tượng nhân vật cơ bản của thế giới thơ Nguyễn Bính. Xây
dựng hình tượng người chị, Nguyễn Bính không xuất phát từ yếu tố ngẫu nhiên mà
là sự lựa chọn có ý thức, xuất phát từ tình yêu thương, quý trọng người chị
ngoài đời thực. Điểm đặc biệt là, nhà thơ dường như không sử dụng bất kì một thủ
pháp nghệ thuật nào để khắc họa hình tượng nhân vật, như cách thông thường mà
các tác giả khác vẫn làm. Nguyễn Bính chỉ thủ thỉ những kỉ niệm với chị, đối
thoại với chị (dù rằng cuộc đối thoại mang tính chất đơn chiều) nhưng người chị
vẫn hiện lên rất rõ nét trong thơ ông. Đó là người chị với câu chuyện lỡ bước
sang ngang của riêng cuộc đời mình. Đồng thời, trong cảm quan của nhà thơ, người
chị cũng chính là hiện thân của quê hương bản quán, là đối tượng tâm tình, giãi
bày những nỗi niềm thầm kín của bản thân. Ở một góc độ nhất định, Nguyễn Bính gửi
gắm vào hình tượng nhân vật chị khát vọng, ước mơ được che chở, được thụ hưởng
tình yêu thương, vỗ về, chăm sóc - thứ tình cảm thiêng liêng mà Nguyễn Bính -
vì mẹ mất sớm, nhà chỉ toàn anh trai - thiếu hụt ngay từ thuở ấu thơ. Như vậy,
sự xuất hiện và chiếm lĩnh của hình tượng người chị trong thơ ông ít nhiều gợi
mở ý niệm về sự tham gia của yếu tố vô thức trong hoạt động sáng tạo của nhà
thơ, dù chưa thực sự rõ nét.
2. Người chị trong thơ Hoàng Cầm
Trên thi đàn Việt Nam hiện đại, có lẽ Hoàng Cầm là nhà
thơ đầu tiên và duy nhất tự nhận mình là thi sĩ “theo dòng mẫu hệ”. Thơ ông ghi
nhận sự hiện hữu và chiếm lĩnh của thế giới những nhân vật nữ. Họ là những người
mẹ - người chị - người em xứ Kinh Bắc, thuộc nhiều thế hệ, trải dài từ huyền sử
đến đương thời. Trong đó, người chị là một hình tượng nhân vật trung tâm, góp
phần kiến tạo những giá trị độc đáo của thơ Hoàng Cầm.
Kết quả khảo sát văn bản thơ cho thấy, hình ảnh người chị xuất
hiện nhiều nhất trong tập thơ Về Kinh Bắc. Nhà thơ Hoàng Cầm đã dành hẳn một
nhịp - nhịp Năm - trong kết cấu 8 nhịp của tập thơ để nói về chị. Trong đó, sức
nặng biểu đạt và cảm xúc của hình tượng nhân vật tập trung ở 5 bài thơ được xem
là “linh hồn” của nhịp: Cây tam cúc, Lá diêu bông, Quả vườn ổi, Cỏ bồng
thi, Nước sông Thương. Có một điểm đặc biệt là, ở cả 5 bài thơ trên và trong những
sáng tác khác, Hoàng Cầm luôn viết hoa từ Chị. Khó có thể lí giải một cách xác
đáng nguyên do sự việc trên, song, chắc hẳn rằng, trong tâm thức của nhà thơ,
người chị hiện hữu như một đối tượng để nhà thơ ngưỡng vọng. Dường như, nhà thơ
đã “linh hóa” người chị cả trong đời thực và trong thơ. So với Nguyễn Bính, người
chị trong thơ Hoàng Cầm nghiêng hẳn về phía tâm linh, hư ảo, chập chờn? Và nếu
như trong thơ Nguyễn Bính, ấn tượng về sự đối lập không gian tồn tại của cặp
đôi hình tượng chị - em rất rõ (Chị - quê hương, tâm tưởng/ Em - lưu lạc, thực tại)
thì ở thơ Hoàng Cầm, chị - em gần như song hành trong cùng một chiều kích không
gian: không gian của ngày - hôm - qua, không gian tâm tưởng.
Cho nên, nếu Nguyễn Bính nghĩ về chị bằng một tâm thế lưỡng cực: vừa là cậu bé con Nguyễn Bính vừa là một Nguyễn Bính trưởng thành thì Hoàng Cầm lại nguyên vẹn là một cậu bé của ngày xưa, bừng nở hoàn toàn các giác quan, xúc cảm để sống lại giấc mơ ngày thơ bé. Trong phần Vĩ thanh của tập thơ Về Kinh Bắc, Hoàng Cầm đã xác quyết điều này: “Ảnh Chị in màu trong hồn Em, không một nhà khoa học nào có thể làm ra cho Em những tấm ảnh như Em đang vẫn có, vẫn còn đầy đủ và tươi tắn, nguyên vẹn từ hơn sáu chục năm xưa đấy, Chị ơi!”[4]
Cho nên, nếu Nguyễn Bính nghĩ về chị bằng một tâm thế lưỡng cực: vừa là cậu bé con Nguyễn Bính vừa là một Nguyễn Bính trưởng thành thì Hoàng Cầm lại nguyên vẹn là một cậu bé của ngày xưa, bừng nở hoàn toàn các giác quan, xúc cảm để sống lại giấc mơ ngày thơ bé. Trong phần Vĩ thanh của tập thơ Về Kinh Bắc, Hoàng Cầm đã xác quyết điều này: “Ảnh Chị in màu trong hồn Em, không một nhà khoa học nào có thể làm ra cho Em những tấm ảnh như Em đang vẫn có, vẫn còn đầy đủ và tươi tắn, nguyên vẹn từ hơn sáu chục năm xưa đấy, Chị ơi!”[4]
Dễ thấy rằng, người chị trong thơ Hoàng Cầm được định danh vừa
trừu tượng vừa cụ thể. Trừu tượng vì nhà thơ không gọi chị bằng một cái tên rõ
ràng, ví như chị Trúc trong thơ Nguyễn Bính, mà gắn liền với một không gian văn
hóa lớn rộng: xứ Kinh Bắc - vùng đất địa linh nhân kiệt, nơi phát tích nhiều
huyền sử và rền rã những bài ca quan họ mà một khi đã cất lời thì “những lứa hợp
tình chuốt rơm bện ổ”. Cụ thể vì, người chị ấy không phải là một người chị thôn
quê chung chung, có thể bắt gặp ở bất cứ đâu mà là người con gái Kinh Bắc với “váy
Đình Bảng buông chùng cửa võng”, với cây tam cúc, lá Diêu bông, cỏ Bồng thi rất
riêng của cõi thơ Hoàng Cầm. Tìm hiểu thêm những tư liệu bên ngoài văn bản, ta
thấy, có ít nhất 3 người chị trong thơ ông. Đó là chị Vinh trong Lá Diêu
bông, chị Nghĩa trong Cây tam cúc, chị Bắc và một vài người chị khác nữa.
Song, trong thơ Hoàng Cầm, họ hiện hữu như là một và duy nhất. Từ Lá diêu
bông, qua Cây tam cúc, Quả vườn ổi, Cỏ bồng thi, Nước sông
Thương, đến Chị em xanh, người chị luôn hiện lên trong tư thế đuổi bắt với
em. Em - một cậu bé 12 tuổi - cứ mải miết chạy theo chị, và chị - một cách có
chủ đích - lẩn tránh em. Cho nên, trong cảm quan của nhà thơ, người chị vừa có
thực nhưng cũng đồng thời là ảo ảnh, vừa gần gụi đến mức có thể “nghé cây bài
tìm hơi tóc ấm” song mãi mãi không thể chạm tới được:
Từ thuở ấy
Em cầm chiếc lá
đi đầu non cuối bể
Gió quê vi vút gọi
Diêu bông hời…
… Ới diêu bông…!
(Lá Diêu bông)
Do sự lẩn tránh của chị, em luôn ở vào tình thế “đứng nhìn
theo”, “lẽo đẽo”, “tơ tưởng”… Giọng thơ của ông khi nói về chị, cũng vì thế, da
diết, nghẹn ngào, chứa đầy những khoảng trống, những đối thoại câm rời rạc:
Ngày Chị bảo Em quên
Em tơ tưởng sao bắt Em đừng nhớ
Tha cho Em
Tha Em
“Sông Thương nước chảy đôi dòng”
(Nước sông Thương)
Hay:
Dưới kia sông chẳng quay đi
Mười hai tuổi cũ biết gì Chị ơi
(Gọi đôi)
Cũng như Nguyễn Bính, Hoàng Cầm luôn xưng em với chị, cách
xưng hô phân biệt ngôi thứ rất rõ ràng. Song, tuyệt nhiên, mối quan hệ của chị
- em không thiên về mối quan hệ gia đình thân tộc (hoặc tương tự như thế) mà là
một thứ tình cảm khác: tình luyến ái nam nữ. Tình cảm ấy đơn phương, vô vọng,
ám ảnh và day dứt Hoàng Cầm mãi về cuối đời: “… xuyên qua năm tháng và
không gian, qua gió mưa và nắng đẹp, qua biết bao hình thái của tâm tư, của số
phận, mà vẫn trội lên cái sầu đơn phương, cứ vấn vương mãi, cho tôi nhớ mãi đến
hết một kiếp này, biết đâu còn xót xa yêu thương vào tận kiếp sau… kiếp sau nữa”.
Lẽ dĩ nhiên, đó là thứ tình cảm vi phạm cấm kị, bất hợp pháp. Chị hiểu được
nên… bịa ra chiếc lá Diêu bông để từ chối khéo em. Vậy mà cậu bé con Hoàng Cầm
vì chưa hiểu (hay cố tình không hiểu) cứ mải mê đi tìm để rồi khiến lòng chị
càng thêm héo hắt. Ba lần đầu em tìm thấy lá, chị còn đoái nhìn mà “chau mày”,
“lắc đầu”, “cười xe chỉ ấm trôn kim”; đến lần thứ 4 thì chị đã cự tuyệt “xòe
tay phủ mặt chị không nhìn”. Cái xòe tay phủ mặt của chị đã đẩy em vào trạng
thái “ù ù gió thổi/ Em vọng ai đâu mà hóa đá” (Cỏ bồng thi) . Em rơi vào tình cảnh
nước đôi: muốn quên/ không quên, yêu/ ghét, giận/ thương… Còn chị và em thì rơi
vào tình thế: “Xiết tay kết một vô cùng/ Lơi tay lại vẫn đôi dòng lửng lơ/ Song
song có gặp bao giờ/ Hai dòng lệ chảy, hai bờ sông trôi” (Nước sông Thương). Có
lẽ vì vậy, thơ Hoàng Cầm nói nhiều đến lễ hội. Bởi hội hè cho phép con người được
tự do vi phạm cấm kị, được làm những điều mà ngày thường quy tắc đạo đức và thiết
chế xã hội không cho phép.
Nói cách khác, hội hè là phương thức giải tỏa ẩn ức trong thơ Hoàng Cầm. Trong không gian “phàm tục” đó, khát vọng tình cảm của nhà thơ được thỏa mãn. Không gì khác hơn, đó chính là giấc mơ tình yêu, giấc mơ hôn nhân mang màu sắc nhục cảm:
Nói cách khác, hội hè là phương thức giải tỏa ẩn ức trong thơ Hoàng Cầm. Trong không gian “phàm tục” đó, khát vọng tình cảm của nhà thơ được thỏa mãn. Không gì khác hơn, đó chính là giấc mơ tình yêu, giấc mơ hôn nhân mang màu sắc nhục cảm:
- Em đi đêm tướng điều sĩ đỏ
Đổi xe hồng đưa Chị đến quê Em
(Cây tam cúc)
- Hai đứa lung linh lơi yếm áo
Thuyền trăng dềnh sã cánh cô đơn
(Chị
em xanh)
Mặt khác, do bản chất của mối quan hệ là tình cảm nam nữ nên
trong mối quan hệ sóng đôi với em, cặp đôi chị - em tạo thành một cặp thành tố
tương hỗ Âm - Dương xoắn bện. Không gian xuất hiện của chị - em thường là thiên
nhiên bao la, căng ứ hơi thở phồn thực phồn sinh. Còn chị thì chẳng cần ý tứ,
không mấy mảy may đến khuôn phép, mặc sức đỏng đảnh, làm duyên, phô bày vẻ đẹp
“trời cho” trước con mắt người đàn ông:
Gầu giai ai vớt Chị ơi
lòa lõa thân trăng
(Đợi mùa)
Điều đó khiến người ta dễ liên tưởng đến đôi nam nữ đầu
tiên của nhân loại: Adam - Eva. Và chiếc lá Diêu bông, cỏ Bồng thi, quả vườn ổi
tựa như trái cấm vườn Địa đàng trong huyền thoại. Có khác chăng là lá Diêu
bông, cỏ Bồng thi, cả quả vườn ổi cứ chập chờn ảo mê, cuốn em bước vào hành
trình kiếm tìm vi phạm cấm kị nhưng mãi mãi không thể chạm đến được, không thể
thành hiện thực. Trò chơi tam cúc, đố cỏ Bồng thi, thách tìm lá Diêu bông, ngỡ
chỉ đơn thuần là trò giải trí của trẻ thơ hóa ra có nguồn mạch sâu xa từ tục
tìm lá quý, lá độc, đố lá lạ của trai gái yêu nhau vào mùa xuân trong rừng ngày
xưa của nền văn hóa Việt - Mường. Phải chăng, tất cả những điều đó vẫn còn dư ảnh
trong tiềm thức nhà thơ? Còn chị, qua khát vọng chạm đến cấm vật của em, phải
chăng là hiện thân của “nguyên vẹn kí ức trùng khơi” về giấc mơ hạnh phúc
(không chỉ là tình yêu lứa đôi) của nhân loại?.
Nhà nghiên cứu Đỗ Lai Thúy, trong bài viết “Đi tìm ẩn ngữ
trong thơ Hoàng Cầm”, đã khám phá bản chất của tình cảm luyến ái Hoàng Cầm dành
cho chị là “sự phóng chiếu của một tình cảm khác, phức cảm Oedipe (Complexe
d'Oedipe)”[5].
Nói cách khác, tình yêu với mẹ đã được nhà thơ di chuyển sang chị. Và như vậy,
chị là sự chuyển vị của hình ảnh người mẹ trong tâm thức nhà thơ. Cơ sở của sự
chuyển vị này, có lẽ, bắt nguồn từ những điểm tương đồng giữa mẹ và chị. Cả hai
cùng là những cô gái quan họ xinh đẹp, tài năng và có tác động sâu sắc đến đời
sống tình cảm của nhà thơ: “Trong viên ngọc kết tinh của muôn vàn nỗi niềm, cảnh
sắc, hương vị, âm thanh, tiết tấu của cuộc sống vừa xa xưa, vừa đương đại, lúc
huyền ảo, lúc hiện thực, như mê mà tỉnh, như ngủ mà thức, hư hư thực thực ấy,
thì hình ảnh mẹ tôi bàng bạc bao phủ cả tập thơ, rồi đến cậu bé con cầm chiếc
lá Diêu bông trong tay đi xuyên thời gian”.[6] Mẹ
và chị, do vậy, tồn tại song trùng và lắm khi hòa lẫn vào nhau. Nỗi sợ mất mẹ,
tâm thức côi cút của một đứa trẻ luôn khát tìm mẹ:
Mẹ ơi
Mẹ ơi
Con không mong trời mưa
Mưa không thả được diều
Bây giờ mẹ ở đâu
(Đứa trẻ)
ánh xạ nguyên vẹn trong suy nghĩ về chị:
- Chị bỏ Em đi
Cánh nhẹ trên sông
Chiếc lá mơ rừng
Hát lừng ngọn gió
Khóc đỏ chiều quê
(Đếm nắng)
- Ới thương là thương
Gà con mất mẹ
Cỏ vàng rung chân
Ới thương là thương
(Đếm
nắng)
Tìm về với chị, do vậy, còn là tìm về một chỗ dựa tinh thần
trong khát vọng được che chở, được hồi sinh bằng tình yêu thương vô lượng.
Hoàng Cầm, dù cho có tuần du khắp dặm dài quá khứ, đi từ nguồn ra đến biển, khắp
đủ nghìn phương thì cuối cùng vẫn là Về với ta, với cậu bé của ngày xưa
“Là em cưới Chị xanh thiêm thiếp/ Sinh một đàn con mây trắng bay” (Chị em
xanh).
Nhìn chung, người chị trong thơ Hoàng Cầm không chỉ đơn giản
là hình ảnh, mà là siêu tượng, linh ảnh. Từ hình tượng một người chị cụ thể
trong cõi riêng tâm tưởng, nhà thơ đã có sự phóng chiếu ra muôn vàn gương mặt
người chị trong thơ, nâng họ từ cái “ngắn ngủi, tạm thời” cá nhân lên sự vĩnh cửu,
phổ quát của cộng đồng, của nhân loại. Người chị vừa bình dị, chân thực vừa lộng
lẫy kiêu sa trong ánh hào quang huyền thoại; vừa là đối tượng có thể tri nhận bằng
logic, bằng ý thức thông thường vừa vượt thoát khỏi phạm vi của sự tỉnh thức để
chạm đến cõi sâu vô thức nhà thơ, thậm chí là vô thức cộng đồng. Ở đó, hình ảnh
chị thiên về ý nghĩa biểu tượng, giàu sức ám gợi và là minh chứng tiêu biểu cho
tính âm trội bật trong thơ Hoàng Cầm.
Dường như, Nguyễn Bính và Hoàng Cầm đều đã dành những vần thơ
đẹp nhất của đời thơ để viết về chị. Sự so sánh, vì thế, không nhằm hướng đến mục
đích đề cao hay hạ thấp hình tượng nhân vật trong sáng tác của mỗi nhà thơ, mà
nhằm khám phá những giá trị thẩm mĩ riêng của hình tượng nhân vật trong sáng
tác của từng nhà thơ.
Sự tương đồng và dị biệt của hình tương người chị trong thơ
Nguyễn Bính và Hoàng Cầm là khá rõ nét. Đặt sang bên những yếu tố tương đồng,
chúng tôi chú trọng hơn đến việc khám phá các yếu tố dị biệt. Kết quả khảo sát
cho thấy, trong mối quan hệ với nhân vật trữ tình em, người chị trong thơ Nguyễn
Bính thiên về tình cảm gia đình thân tộc; còn trong thơ Hoàng Cầm, thiên về
tình luyến ái nam nữ. Cho nên, nếu như Nguyễn Bính nghĩ về chị trong niềm ước vọng
được sẻ chia, tâm tình cho vơi bớt nỗi cô đơn, nỗi nhớ quê hương thì Hoàng Cầm
gắn liền với chị bằng giấc mơ tình yêu, hạnh phúc, sâu xa hơn là khát vọng được
“bào trữ”, chở che. Xét về ý nghĩa của hình tượng nhân vật, so với thơ Nguyễn
Bính, người chị trong thơ Hoàng Cầm ít mang nét nghĩa tả thực nhưng giàu tính
tượng trưng và giá trị văn hóa, góp phần tạo nên một Hoàng Cầm với sắc diện hào
hoa, đa tình trong thơ. Nói cách khác, người chị trong thơ Nguyễn Bính gợi ý niệm
về hình ảnh người chị truyền thống, quen thuộc; còn trong thơ Hoàng Cầm, người
chị là một sáng tạo mới lạ, không thể nhòe lẫn vào muôn vàn gương mặt người chị
khác trong thi ca Việt Nam.
Những khác biệt cơ bản như đã nêu phần nào hé mở sự khác nhau
trong tư duy sáng tạo và phong cách sáng tác của Nguyễn Bính và Hoàng Cầm. Trước
hết, Nguyễn Bính dung dị, dân dã hơn Hoàng Cầm. Nhân vật người chị trong thơ
Nguyễn Bính, về cơ bản, vẫn dễ tri nhận và gần gũi hơn so với thơ thi sĩ xứ
Kinh Bắc. Trong thơ Hoàng Cầm, nhiều hình ảnh thơ liên quan đến Chị tựa hồ
“đánh đố” người đọc, đòi hỏi một sự giải mã công phu, tích hợp nhiều tri thức.
Chẳng hạn như:
- Chị đi một chuyến chơi xanh cỏ
Quay bánh linh xa miết triệu vòng
Nhặt sợi vô cùng thêu áo gối
Mau về mừng cưới
(nhớ Em không?)
(Chị
em xanh)
- Lắc đầu hoa tím rụng
ngó rừng xanh Em hỏi ngọn nguồn
Thêm nữa, sự gần gũi, dễ nắm bắt của hình tượng nhân vật chị
trong thơ Nguyễn Bính còn bởi nhà thơ đã xây dựng nhân vật theo logic vận động
thông thường của lý trí và cảm xúc - một lối tư duy mang tính truyền thống, không
chỉ so với Hoàng Cầm mà ngay cả với những nhà thơ cùng thuộc phong trào Thơ mới,
như Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên… Hoàng Cầm đã tiến xa hơn Nguyễn Bính về
phía hiện đại. Đó là lối thơ siêu thực, thơ của tiềm thức, giấc mơ, của lối viết
tự động. Trong thơ Hoàng Cầm, hình tượng Chị cứ chập chờn giữa hai bờ hư - thực,
mê - tỉnh, vô thức - ý thức. Việc đan cài những hình thơ lạ lẫm, “phi thực” như
lá Diêu bông, cỏ Bồng thi, cầu bà Sấm, bến cô Mưa khiến cho nhân vật chị như được
bao bọc trong một không gian thơ bị phủ mờ bởi lớp sương mờ ảo, huyền thoại.
Trong không gian nhòe mờ hiện thực đó, hình tượng người chị chứa đựng nhiều lớp
nghĩa ẩn dụ và được xây dựng từ những chất liệu đậm đà văn hóa dân gian, đặc biệt
là huyền thoại. Từ đó, mang đến một không gian thơ bừng sáng chủ nghĩa tự nhiên
cho thi giới Hoàng Cầm. Và hơn thế nữa, bằng cách “linh hóa” người chị, Hoàng Cầm
đã bất tử hóa Kinh Bắc trong tâm tưởng nhà thơ.
Tóm lại, người chị là một hình tượng nhân vật độc đáo trong
thơ Nguyễn Bính và Hoàng Cầm. Bằng những lối tư duy nghệ thuật riêng, mỗi nhà
thơ đã khắc họa tinh tế, sinh động hình ảnh người chị trong tâm tưởng của mình.
Ở chiều ngược lại, thông qua việc khám phá hình tượng người chị, người đọc thức
nhận rõ nét hơn vẻ đẹp văn chương và vẻ đẹp tâm hồn của hai thi sĩ tiêu biểu
vào loại bậc nhất trên thi đàn Việt Nam thế kỷ XX.
Chú thích:
[1] Nguyễn Bính toàn tập, tập 1 (Nguyễn Bính Hồng Cầu sưu tầm, biên soạn). Nxb. Hội Nhà văn, 2017, tr.38. Các trích dẫn trong bài rút từ cuốn sách này.
[2] Nguyễn Bính toàn tập, tập 1 (Nguyễn Bính Hồng Cầu sưu tầm, biên soạn). Sđd., tr.242.
[3] Nguyễn Bính toàn tập, tập 1 (Nguyễn Bính Hồng Cầu sưu tầm, biên soạn). Sđd., tr.303.
[4] Hoàng Cầm: Thơ. Nxb. Hội Nhà văn, H., 2011, tr.174. Các trích dẫn thơ Hoàng Cầm trong bài đếu rút từ tập sách này.
[5] Dẫn theo Lại Nguyên Ân (chủ biên): Hoàng Cầm hồn thơ độc đáo. Nxb. Hội Nhà văn, H., 2011, tr.254.
[6] Hoàng Cầm: Thơ. Nxb. Hội Nhà văn, H., 2011, tr.169
7.8.2018
Huỳnh Thị Diệu Duyên








Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét