Hồi ký Phạm Duy: Thời cách mạng kháng chiến
Tập 2 - Phần 3
Chương mười ba
Kìa đoàn người đi trong đêm qua rừng âm u
Người lạnh lùng nghe mưa Thu trên từng ba lô...
Đường Về Quê
Phải có cuộc Cách Mạng và Kháng Chiến thì mới thấy câu châm
ngôn "thời thế tạo anh hùng" là đúng. Cách mạng Việt Nam không phải tới
năm 1945 mới có. Kể từ ngày đầu tiên Pháp tới xâm chiếm, luôn luôn có những
phong trào Cách Mạng. Từ Cần Vương, Văn Thân qua Đông Kinh Nghĩa Thục tới Việt
Nam Quốc Dân Đảng, suốt trong 80 năm bị đô hộ, lúc nào cũng có những hoạt động
cách mạng ở trong hay ngoài nước. Nhưng không có phong trào nào thành công vì
chưa gặp thời.
Thời thế chỉ tới vào lúc Thế Chiến 2 vừa kết thúc, Pháp bị
lép vế ở Việt Nam, Nhật chuẩn bị đầu hàng, nước ta được bỏ trống, các tổ chức
chính trị ùa ra, đảng nào mạnh và giỏi thì đảng đó nắm chính quyền. Đám thanh
niên thuộc tuổi tôi và không theo đảng phái nào thì chỉ biết nhào ra theo
"Cách Mạng". Nghe thấy có "tổng khởi nghĩa" là hè nhau đi
"cướp chính quyền". Thấy Pháp trở lại Việt Nam thì xung phong vào
"kháng chiến Nam Bộ". Rồi khi có lệnh "toàn quốc kháng chiến"
là đua nhau rời phố phường về nơi thôn quê... xây làng chiến đấu. Cách Mạng và
Kháng Chiến thu hút tất cả thanh niên, không chừa một ai cả.
Lúc đó, đại đa số chúng tôi là những cậu "học trò thò lò
mũi xanh" vừa mới lớn lên, những chàng công tử bột hoặc những ông vua thất
nghiệp. Chưa có mấy người trong chúng tôi được học hành ở một trường quân sự
hay ở một trường chuyên môn nào cả, nhưng khi ra với kháng chiến thì anh này trở
thành tiểu đội trưởng, anh kia trở thành Giám Đốc Nha Khoáng Chất, anh nọ trở
thành chuyên viên tình báo. Tất cả đều là "ứng chế" (improviser) hết.
Bao nhiêu mặc cảm nô lệ bỗng nhiên tiêu tan, chúng tôi thấy trong lòng tràn đầy
sự tự tin. Hơn nữa, chúng tôi còn thấy đời mình đã được thay đổi hoàn toàn. Ngoài cơ hội trăm năm một thuở được trở thành "chiến sĩ"
trong cuộc kháng chiến, đời sống của lớp thanh niên chúng tôi đã khác hẳn thời
trước. Chúng tôi không còn phải tùy thuộc vào thời giờ nữa, không phải bận tâm
vì những chuyện phù phiếm ở thị thành như đi bát phố, coi cinéma, nghe máy
hát... không phải lo nghĩ tới công ăn việc làm, tới lương cao hay lương thấp.
Túi tiền luôn luôn trống rỗng, vậy mà chẳng bao giờ chúng tôi phải quan tâm.
Không có mộng làm giầu, mơ tưởng nhà lầu xe hơi, kim cương vàng bạc. Mộng lớn
nhất trong lúc này chỉ là một bộ kaki hay một cái áo blouson Mỹ. Tài sản là tất
cả những gì mình mang ở trên người hay bỏ trong balô, được mệnh danh là
"xí nghiệp". Giấc mơ của chúng tôi được tóm tắt trong câu châm ngôn của
thời đại:
Bút máy Pac-Ke (Parker) Đồng hồ Uy-Le (Wyler)
Nằm giường tre
Lấy vợ tạch-tạch-sè (tiểu tư sản)
Đi xe đạp cuốc (course)
Trong một nền kinh tế tự túc, mọi người dường như sống trong
sự bình đẳng tuyệt đối. Ngày tháng đi qua rất mau. Đời sống lại rất thảnh thơi
dù đang có chiến tranh. Riêng đối với tôi, sau khi nhìn rõ tận mắt sự an phận của
người dân sống trong thôn ổ dưới thời nô lệ thực dân hồi tôi lên Bắc Giang làm
ruộng vào năm 1939, bây giờ tôi thấy rõ ràng là có sự đổi thay trong nếp sống của
dân quê khi Cách Mạng tới. Nhất là trong thời điểm toàn dân kháng chiến này.
Dân quê bây giờ oai lắm. Nhà thơ Quang Dũng, qua một bài thơ
đầu mùa kháng chiến, cho ta nghe thấy tiếng quát dân quân đầu vọng gác, và cho
ta nhìn thấy cảnh vô cùng thân mật của anh tự vệ xách đèn chai lối xóm... Trước
đây, ở thị thành, đời sống của chúng tôi bị tách rời ra khỏi đời sống chung của
dân tộc. Bây giờ, chúng tôi được quay về với nếp sống thôn ổ, bỏ quên điện nước,
bật lửa, trà tầu, làm quen với "nùn" rơm (tức là mồi rơm), thuốc lào,
nước vối. Không có ai phản đối những sự thay đổi này cả. Nếu bây giờ có dăm ba
điều mới thì nó cũng chẳng hề làm mất đi sự thi vị của đời sống thôn quê. Chẳng
hạn qua chính sách "bình dân học vụ", ở những cổng chợ bây giờ có người
đứng gác. Ai không đọc được chữ i chữ tờ trên bảng phấn thì không được vào chợ.
Rất độc tài nhưng cũng rất vui, nếu ta có dịp nhìn thấy các ông già bà già cười
ngặt nghẽo khi bị khảo chữ. Các em bé quê bây giờ cũng được săn sóc một cách kỹ
càng. Làng xóm xưa kia trầm lặng thì bây giờ nổi lên những tiếng trống ếch ròn
rã, ai mà không thích?
Lúc này lại còn có thêm một chính sách gọi là "đời sống
mới" được Chính Phủ đưa ra để khuyến khích mọi người thay đổi tác phong
trong lối sống hằng ngày. Ngay từ những việc tầm thường nhất. Ví dụ trong bữa
cơm tập thể, chúng tôi được dậy cho biết cách dùng đôi đũa theo lối mới nghĩa
là dùng đầu đũa suôi để gắp đồ ăn, rồi và cơm bằng đầu đũa ngược. Ăn cơm mà cứ
như là múa đũa vậy. Vấn đề vệ sinh công cộng rất được chú ý. Dù việc đại tiện vẫn
là cái thú thứ hai sau cái thú được làm quận công, nhưng bây giờ ai "đi đồng" - đúng nghĩa vô cùng - thì phải mang theo cái xẻng. Rồi tới tác phong
"phê bình và tự phê bình". Người nào xưa nay có lối sống vị kỷ đến
đâu thì bây giờ cũng phải hòa mình vào lối sống tập thể.
Đó là chưa kể cuộc du lịch thần tiên trên đất nước, nhất là ở
miền trung du này, có những ngọn đồi êm ái nằm dài như "chờ gót lãng
du" (!) Dù tôi cũng đã đi khắp mọi nơi trên cả ba miền đất nước nhưng bây
giờ cuộc ra đi của tôi có nhiều ý nghĩa hơn...
... Sau khi hát xong ở Vĩnh Yên, Đoàn Văn Nghệ lên đường tới
Việt Trì và ghé thăm Đoàn Chuẩn. Anh bạn nhạc sĩ này là quý tử của ông chủ xưởng
chế nước mắm Vạn Vân. Bước vào nhà anh là đụng phải những chum và vại. Đoàn Chuẩn
về thành rất sớm, tung ra ở Hà Nội và Hải Phòng những bài hát lãng mạn rất hay
như Thu Quyến Rũ, Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay.
Con đường cái nối liền các tỉnh miền Bắc bị phá hủy hoàn toàn
làm cho sư đi lại rất là khó khăn vì phải khách bộ hành phải vượt qua những chướng
ngại vật hay những hố sâu. Vả lại con đường xe hoả bị lột hết đường rầy để tiến
lên Phú Thọ lại chính là con đường ngắn hơn con đường nhựa. Chúng tôi leo lên
đường rầy để đi tới vùng có một di tích lịch sử quan trọng là Đền Hùng. Gặp Tạ
Tỵ, Văn Thanh đang lếch thếch đi theo tổ chức Bình Dân Học Vụ của Nguyễn Hữu
Đang trên con đường rầy này.
Hát xong ở Phú Thọ là chúng tôi nhắm hướng Bắc mà đi. Đây rồi,
hai thành phố lịch sử Yên Bái, Tuyên Quang. Chúng tôi được đi trên những con đường
lịch sử nhắc nhở tới các liệt sĩ trong Việt Nam Quốc Dân Đảng của ngày trước và
chúng tôi cũng nghĩ rằng mình đang đi trên những con đường tạo ra lịch sử của
ngày hôm nay. Thật là hạnh phúc. Nhưng cũng đau lòng khi thấy nhà cửa đã bị phá
hủy.
Tại Yên Bái, ngồi trên đống gạch vụn, tôi nhớ tới Nguyễn Thái
Học và các đồng chí của ông. Rồi chúng tôi gặp vợ chồng Văn Cao cũng đang từ
đâu đó leo lên Tuyên Quang. Lại vui như Tết. Thằng bạn này đang được Đảng chiếu
cố cho nên ăn nói đã có vẻ "chính chị" lắm rồi. Thấy tôi vẫn tếu như
xưa, nó "mắng" tôi là "hủ hoá". Vậy mà nó vẫn còn mê gái
như tôi: ca sĩ Mai Khanh ở trong đoàn văn nghệ có cô bạn gái tên là Oanh. Con
nhỏ cứ hết tống tình thằng Văn Cao lại quay ra quyến rũ tôi khiến cho cả ba thằng
Cao-Duy-Khanh suýt nữa trở thành trò cười cho cô ả lẳng lơ này. May thay, đoàn
văn nghệ không đậu lâu ở đây. I³t lâu sau, Văn Cao cùng với gia đình dọn lên ở
Lào Cai khi Đoàn Văn Nghệ Giải Phóng tới trình diễn ở cái tỉnh biên giới này.
Không biết Văn Cao hoạt động cho Cục Tình Báo từ bao giờ
nhưng vào khoảng đầu mùa hè của năm 1947 nó mở ra một phòng trà với cái tên là
Quán Biên Thùy ở Lào Cai, bề mặt thì là một nơi giải trí nhưng bề sâu là một tổ
chức tình báo. Lúc đó, đối diện với Lào Cai vẫn còn là vùng Trung Hoa Quốc Gia
chưa bị nhuộm đỏ hoàn toàn. Văn Cao cố thuyết phục tôi ở lại hát cho phòng trà
của nó khi Đoàn Văn Nghệ Giải Phóng ra đi. Với bản tính thích thay đổi, tôi lạnh
lùng giã từ đoàn văn nghệ. Đã tưởng rằng sẽ chẳng bao giờ gặp lại các "đồng
chí" trong chặng đường Sơn Tây-Lào Cai này nữa, ai ngờ hơn một năm sau tôi
lại làm việc chung với họ tại Thanh Hóa thuộc Liên Khu IV.
Sau khi đã sống tại một tỉnh biên giới miền Đông là Moncay
lúc mới 17 tuổi, đã từng bước qua chiếc cầu sắt để đi đánh bạc ở thị xã Đông
Hưng bên Tầu, bây giờ tôi lại được sống bên một chiếc cầu biên giới khác, cũng
có một sòng tài xỉu của thị trấn Cốc Lếu ở bên kia sông đang chờ đợi mình. Không
hiểu vì lý do gì, thị xã Lào Cai vẫn còn nguyên vẹn. Nhà cửa theo kiểu Tầu được
xây trên những con phố nhỏ, đường xá là những con dốc khuất khuỷu đắm chìm
trong sương sớm. Tôi tới Chapa khi xưa là nơi nghỉ mát của thực dân ở cách Lào
Cai không xa và được nghe người Mèo thổi "khène" nghe như tiếng chim
kêu.
Quán Biên Thùy đông nhân viên lắm. Tất cả đều là dân Hà Nội.
Tôi cũng không để ý nhiều tới hoạt động tình báo của quán này, chỉ ngờ rằng ở
vùng Lào Cai còn khá nhiều đảng viên của Việt Nam Quốc Dân Đảng. Sau khi bị Việt
Minh tảo thanh từ vùng trung du, Việt-Quốc tập trung ở đây để sẽ lánh qua Trung
Hoa. Nhân viên tình báo của Quán Biên Thùy này đang đi lùng Việt Quốc để báo
cho Công An tới bắt hay báo cho bộ đội tới tiêu diệt. Tôi biết rằng Việt Quốc trước
đây sống nhờ ở tiền thuế của sòng bạc Cốc Lếu, nay sòng bạc này phải đóng thuế
cho Việt Minh. Nhưng tôi không muốn biết thêm nữa vì tôi còn bận việc ca hát
và... ái tình. Quán Biên Thùy có ban nhạc, có ca sĩ và có luôn cả nữ
chiêu đãi viên nguyên là vũ nữ Hà Nội. Tôi bắt tình với một cô và soạn bài Bên
Cầu Biên Giới. Bài này là một trong những bản nhạc tình hiếm hoi của thời đó
cho nên được phổ biến một cách rộng rãi và nhanh chóng. Nó được soạn ra khi tôi
ôm một cô vũ nữ kiêm tình báo viên vào lòng nhưng thực ra nó phản ảnh sự viễn
mơ của tôi, trong khi đang đi chiến đấu, tuy đưa mắt nhìn về một vùng đau
thương chốn làng cũ quê xưa nhưng vì đang đứng trên chiếc cầu biên giới cho nên
vẫn thèm được vượt cầu ra đi để sống bên người đẹp Tô Châu hay chết bên bờ sông
Danube. Từ năm 1947 đó cho tới 1975, chẳng lúc nào tôi dám tin rằng giấc mộng
này lại có thể được thực hiện một cách dễ dàng. Nhưng sau khi bỏ nước ra đi và
định cư ở Mỹ rồi thì tôi thấy rằng thực hiện mơ ước đó là một chuyện quá dễ.
Trong cuộc sống lưu vong buồn tẻ, nhiều khi tôi tự an ủi: trong đau khổ phải xa
quê hương cũng có một chút hạnh phúc, vì mình thực hiện được một giấc mơ nuôi nấng
lúc còn trẻ măng. Cái này bù đắp cái kia. Tôi chưa có dịp đi gặp người đẹp Tô
Châu nhưng đã tới sống bên sông Danube. Có lẽ cũng chỉ nên thực hiện một nửa giấc
mơ mà thôi.
Trong thời gian ở Lào Cai với Văn Cao, tôi còn được cái thú tới
hút thuốc phiện tại dinh của một lãnh chúa người Nùng là Hoàng A Tưởng, người
đang cộng tác mật thiết với anh chàng tình báo Văn Cao. Tôi chẳng bao giờ biết
nghiện một thứ gì ở trên đời nhưng tôi rất thích nằm cạnh bàn đèn để bù khú với
bạn bè. Thuốc phiện chẳng bao giờ làm tôi say cả nhưng thứ thuốc phiện được hạ
thổ lâu năm của Hoàng A Tưởng lần nào cũng đánh gục hai "anh hùng"
kháng chiến là Văn Cao và Phạm Duy.
Tại nơi địa đầu của miền Bắc này, tôi gặp anh bạn của thời ấu
thơ là Đoàn Bính, lúc này mang biệt hiệu là Giang Cao và là Giám Đốc Nha Khoáng
Chất-Kỹ Nghệ của Liên Khu X. Giám Đốc Giang Cao đang đi công tác nghiên cứu đất
đai để khai thác hầm mỏ ở khu vực này. Anh ta bèn rủ tôi cùng đi. Chúng tôi tới
địa hạt của một thứ lãnh chúa người Nùng khác tên là Vương Chí Sình. Cũng như ở
trong khu vực Hoàng A Tưởng, tại đây gia đình nào cũng hút thuốc phiện. Cha một
bàn đèn, mẹ một bàn đèn, con trai con gái trước khi ra nương làm việc thì nằm
hút với cha, với mẹ vài ba chục điếu. Lạ lùng nhất là họ hút như vậy mà người
con trai nào cũng tráng kiện, người con gái nào cũng má đỏ môi hồng. Không có vẻ
gì là thiểu não như tôi thường thấy nơi những người nghiện ở Hà Nội. Lúc ở Lào
Cai, chúng tôi còn rất trẻ, đang đi theo kháng chiến, đang mở rộng lòng ra với
cuộc đời và đang sắp sửa được nhồi sọ về vấn đề tư sản và vô sản thì chúng tôi
thấy người Nùng ở vùng này có một phong tục về tài sản rất hay.
Đôi vợ chồng mới lấy nhau - hoặc lấy nhau đã lâu - và khi vợ
báo cho chồng biết là mình có thai thì chồng vác cuốc đi tìm một mảnh đất hoang
nào đó rồi khởi sự khai đất ngay. Trong suốt thời gian 9 tháng 10 ngày vợ mình
mang thai, mỗi ngày anh phải tiếp tục vác cuốc ra mở rộng thêm diện tích của mảnh
đất mà anh đã chọn. Anh có thể làm việc một mình hay có bạn bè tới phụ giúp. Hoặc
anh có thể thuê thêm người giúp anh khai hoang. Miễn sao anh có một mảnh đất đã
được chuẩn bị kỹ càng cho việc gieo giống vào ngày mà vợ anh sinh nở. Ngày con
anh ra đời, nếu là con trai thì anh trồng thuốc phiện trên mảnh đất đó. Nếu là
con gái thì anh trồng bông. Đứa bé sinh ra là có ngay một tài sản. Nó lớn lên
cùng với tài sản của nó. Trong khi người ở vùng suôi đợi cho con cái mình lớn
lên rồi mới tính tới chuyện gây dựng thì ở vùng Bắc Việt này, trong sắc tộc
Nùng, cha mẹ gây dựng cho con cái từ khi nó mới chỉ là trứng nước bào thai.
Chương mười bốn
Một đoàn người trai hiên ngang - Đeo trên vai nợ máu
xương
Vui ra đi không buồn, nhớ, thương...
Khởi Hành
Ngọc Bích là một nhạc sĩ đi theo tôi trên rất nhiều chặng đường
kháng chiến. Không có nó trong chặng thứ nhất là chặng Nam Bộ Kháng Chiến.
Trong chặng thứ nhì, khi tôi cùng Đoàn Văn Nghệ Giải Phóng đi từ Sơn Tây theo dọc
đường sắt lên tới Lào Cai thì thằng này đã là một đoàn viên không chính thức của
đoàn rồi. Nghĩa là nó có lộ trình riêng của nó, nhưng cũng vẫn chỉ là con đường
bộ như của chúng tôi, ven theo dòng Sông Hồng từ miền trung du lên tới thượng
du. Nó sống độc lập và thỉnh thoảng mới tới hát chung với đoàn Giải Phóng. Nhưng
khi tôi ở lại Lào Cai với Văn Cao thì thằng Ngọc Bích cũng ở lại đó luôn. Và nó
đã hát cùng với tôi tại cái quán có cái tên đích thực là quán "biên
thùy" này. Nó cũng soạn ra những bài hát kháng chiến hay những bản nhạc
tình và nhờ tôi giúp nó trong việc sửa lời hay soạn lời, ví dụ những bài như Bà
Già Giết Giặc, Giấc Mơ Ngàn... Thêm vào các loại nhạc ra đời tại vùng kháng chiến
như dân ca mới, hành khúc, nhạc cảnh, tiểu nhạc kịch... bây giờ với Ngọc Bích,
nhạc kháng chiến có những bài soạn theo nhạc jazz của Hoa Kỳ. Thế mới là vui.
Tôi ở lại Lào Cai với Văn Cao trong ít lâu rồi lại vác ba lô
ra đi. Thằng Ngọc Bích cũng đi theo tôi ngay. Nó còn đi với tôi trên chặng đường
kháng chiến thứ ba từ Lào Cai qua Bắc Kạn, đi chặng thứ tư từ Bắc Cạn xuống
Thái Nguyên rồi qua Cao-Bắc-Lạng, đi chặng thứ năm từ Lạng Sơn về Chợ Đại Cống
Thần và đi chặng thứ sáu từ Khu III vào Thanh-Nghệ-Tĩnh. Trong chặng đi thứ bẩy
là chặng Bình-Trị- Thiên thì không có thằng Ngọc Bích nhưng lại có em gái của
nó tên là Ngọc Khanh cùng đi với tôi. Trong kháng chiến, tôi còn phải đi thêm
hai chặng đường nữa, những chặng đường thứ tám, thứ chín có nhiều vinh quang và
tủi nhục hơn những chặng đường trước. Rồi cuối cùng là chặng đường "dinh
tê" thứ mười đầy nước mắt.
Trong ba bốn năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc, những
văn nghệ sĩ rời thị thành đi ra thôn quê đều là những người tự động tham gia cuộc
chiến đấu chung và dù có gia nhập vào một tổ chức văn nghệ nào của chính quyền
thì cũng được tự do đi lại, tự do sáng tác hay biểu diễn. Chỉ tới khi có Đại Hội
Văn Hoá lần thứ hai được tổ chức tại Bắc Cạn vào năm 1950 thì mới có những đường
lối về văn nghệ được Ban Chấp Hành đưa ra để văn nghệ sĩ học hỏi. Trong tình trạng
như hiện nay, chưa có lúc nào chúng tôi phải học tập chính trị hay bị chính trị
chỉ huy. Ngay cả trong thời gian văn nghệ sĩ kéo nhau về làng Quần Tín thuộc tỉnh
Thanh Hóa vì bị hấp dẫn bởi tài năng văn võ song toàn của tướng Nguyễn Sơn, mọi
người cũng chỉ được nghe vị Khu Trưởng Liên Khu IV này kể lại câu chuyện ông đi
theo Mao Trạch Đông trong cuộc Vạn Lý Trường Chinh như thế nào, nghệ sĩ ở Trung
Cộng đã dựng kịch Lôi Vũ của Tào Ngu ra sao... hoặc nghe nhà văn hóa Mác Xít
chính cống Đặng Thai Mai nói chuyện văn hoá chung chung. Cũng có những lớp văn
hoá được mở ra ở làng Quần Tín này nhưng nặng về văn nghệ hơn là về chính trị.
Vào lúc mà mọi người mới chỉ nghe thoáng khẩu hiệu "dân tộc-khoa học-đại
chúng" và chưa có ai được học tập về một chính sách văn nghệ nào đó để thực
hiện phương châm này, trong phạm vi âm nhạc, tôi đem ý kiến đó ra để thử thách
trong loại dân ca mới. Khoa học hoá nghĩa là phát triển dân ca cổ truyền, nhất
định không cố chấp trong việc bảo tồn vốn liếng dân tộc. Làm nhạc cho dân quê
có thể hát được, đó là đại chúng hóa.
Khi còn ở trong Đoàn Văn Nghệ Giải Phóng, tôi cũng nuôi ý định
đưa ra thêm một loại ca nữa mà tôi gọi là "quân ca", tiếp tục dòng nhạc
hùng mở đầu bằng bài Xuất Quân soạn ra trong cuộc Kháng Chiến Nam Bộ. Trong
chuyến đi về suôi và vòng lên Đông Bắc này, tôi và Ngọc Bích nhận làm việc cho
Cục Chính Trị với tư cách là cán bộ văn nghệ được đồng hóa với cấp đại úy. Được
cấp giấy công tác, được lĩnh lương, tôi không nhớ là bao nhiêu, chỉ biết là vào
lúc đó tôi không bị thiếu thốn trong việc ăn uống, chi tiêu lặt vặt. Đi tới đâu
cũng là khách quý của Bộ Chỉ Huy và được sống chung với bộ đội, lúc đó được gọi
là Vệ Quốc Quân. Nhiều khi còn được đi hành quân với bộ đội, do đó tôi có cảm hứng
để soạn ra những "quân ca" mà họ có thể vừa đi vừa hát, ví dụ những
bài như Đoàn Quân Việt Nam hay Khởi Hành trong đó không phải chỉ có tiếng nói của
người thanh niên biệt ly đời gấm hoa, vui đời áo nâu mà thôi. Bây giờ là:
Quân đi chung một lòng thương
Quân đi với tình yêu nước.
Hay là:
Một viên đạn là một quân thù
Súng cầm tay xây đời ấm no.
Là nghệ sĩ sáng tác nhiều hơn là trình diễn, tôi và thằng Ngọc
Bích không ở lâu trong bất cứ một đơn vị nào cả. Lịch trình đi hay ở là hoàn
toàn do chúng tôi định đoạt. Khi đó, không hiểu vì sao mà hai thằng lại muốn đi
qua Bắc Cạn? A, nhớ ra rồi, chúng tôi nghe đồn Bắc Cạn bây giờ là Thủ Đô Kháng
Chiến, vui lắm. Vậy thì ta đi...
Chương mười lăm
Suối ơi. Bên rừng Thu vắng
Dòng nước trôi lững lờ ngoài nắng...
Văn Cao-Phạm Duy
Trên lộ trình từ Lào Cai xuống Yên Bái, Tuyên Quang rồi rẽ
sang Đại Từ, Thái Nguyên đi ngược lên Bắc Cạn, chúng tôi bắt đầu nếm mùi gian
khổ của đường rừng với những dốc cao, suối lớn. Đường mòn ẩm ướt nhiều khi chui
ra từ rừng rậm rồi đi ven theo những bờ vực thẳm. Sợ nhất là bị vắt cắn. Buồn
nhất là đường vắng vẻ đến rợn người. Bắt đầu làm quen với thần sốt rét nhưng
vào lúc đó chúng tôi còn dự trữ được khá nhiều những viên thuốc "ký
ninh" (quinine). Tuy vậy, vào những buổi chiều dừng chân "đóng trại"
bên bờ suối - thực ra "trại" chỉ là một cái giường bằng cành cây
trong một cái lều tranh hay cỏ - tôi cũng tìm thấy hạnh phúc khi ngồi trên những
phiến đá lớn, nhìn ngọn nước rừng ào ạt chẩy suôi, lòng tôi cũng rào rạt chẩy
theo...
... Khi tới Bắc Cạn thì quả rằng Bắc Cạn vui thật. Gặp lại
nhiều bạn cũ đang làm việc trong các cơ quan của Chính Phủ Kháng Chiến đặt ở
trong rừng. Nhân viên ngày ngày ra thị xã Bắc Cạn để ăn chơi theo kiểu "tạch-tạch-sè" - tức là tiểu tư sản - nghĩa là vào tiệm sách, vào hàng bán tạp hoá, vào quán
ăn, quán cà phê, quán nước. Có luôn cả một thứ phòng trà "dã chiến" để
cho tôi tới hát nữa. Tài tình nhất là nếu muốn hút thuốc phiện, cũng có sẵn một
vài nơi có bàn đèn. Ngoài cái thú được sống lại đời sống thị dân có đèn điện và
nước máy, tôi được mời tới thăm một cái trại giam lỏng người Pháp ở cách thành
phố độ dăm bẩy cây số. Trại này có những ngôi nhà rộng, rất có vệ sinh, không
có hàng rào bằng tre hay giây thép gai. Một thứ nhà tù không có chấn song. Nhìn
những cô đầm thật hay đầm lai đẹp như tiên rong chơi bên một dòng suối rất êm đềm
giống như dòng suối trong bài Suối Mơ trước đây. Thèm "trả thù dân tộc"
quá, nhưng ông bạn Trưởng Trại có hàm râu quai nón tên là Lương không cho. Lối
cư sử đối với những người Pháp bị giữ này cũng có vẻ rất là nhân đạo.
Tại Bắc Cạn, tôi vẫn tiếp tục soạn ra ba loại ca kháng chiến
của tôi. Dân ca thì có thêm Người Lính Bên Tê soạn cho chiến dịch địch vận.
Ngay từ năm 1947 này, tôi đã đưa cái ý niệm "bên ni, bên tê" rồi:
Bên tê là phía sầu u.
Có người dân Việt
Gục đầu trên đất tù.
Bên ni là phía tự do...
Anh ơi. Quay súng lại đây.
Máu người dân Việt còn cần cho luống cầy.
Tôi mong từng phút từng giây
Sống chẳng oán thù, để chờ anh tới đây.
Thanh niên ca thì có bài Đường Về Quê:
Một đoàn người đi miên man trên đường gian nan
In hình qua mây núi xanh lơ bát ngát...
Bài này cũng có chung một cảm hứng với những bài nhạc nói lên
sự kiện "cả nước ra đi", ví dụ những bài Đoàn Lữ Nhạc của Đỗ Nhuận,
Nhạc Đường Xa của anh tôi là Phạm Duy Nhượng. Đường về quê hương đẹp lắm chứ,
khi...
... đoàn người đi trong đêm qua rừng âm u
Người lạnh lùng nghe mưa thu trên từng ba lô... Quân Ca thì có Việt Bắc, Thiếu Sinh Quân. Tôi thích bài Việt Bắc lắm vì trong
đó có những câu kết rất hiên ngang và tin tưởng:
Rừng còn mịt mùng
Đang chờ loài giặc đến
Núi rừng chập chùng lên
Sẽ là mồ thực dân. Tôi còn soạn bài Quân Y Ca vì
có dịp làm quen với hai chị em cô Hà và cô Lan, em gái của Cục Trưởng Quân Y Vũ
Văn Cẩn:
Đoàn Quân Y - Tươi cười ra đi...
Tôi lại gặp anh Nguyễn Xuân Khoát ở tỉnh Bắc Cạn này. Gầy gò
hơn trước, chân đi đôi giầy to tổ bố. Tôi rất mê những bài anh mới viết ra như
Tiếng Chuông Nhà Thờ, đối với tôi lúc đó là một bài poème symphonique vĩ đại.
Bài Gọi Nghé của anh đẹp như một bức tranh sơn cước. Tôi rất thích những câu
hát a be nghé ơi của anh, nghe như tiếng gọi của đồi nương ban chiều. Sau này
khi viết bản Nương Chiều, tôi nghĩ rất nhiều tới tiếng hát gọi nghé của anh
Khoát. Cùng với Ngọc Bích tôi còn tới Trường Thiếu Sinh Quân để sinh hoạt với Đỗ
Nhuận và Lưu Hữu Phước. Mấy ông Cách Mạng thứ thiệt này sẽ ít khi rời khỏi
Trung Ương ở An Toàn Khu để ra đi như tôi.
Bỗng gặp một người mà tôi quen biết từ khi tôi còn đi theo
gánh hát Cải Lương ở trong Nam. Tên là Vũ Văn Thiết. Đã từng làm việc với một
hãng buôn Nhật Bản là ATAKA trước và sau thời Nhật đảo chính. Rồi đi theo Cách
Mạng làm Chính Trị Viên ở Khu VIII trong Nam Bộ. Cùng lúc tôi ở trong Nam trở về
Bắc, nó cũng từ Khu VIII đi ra, hai thằng gặp nhau ở Quảng Ngãi. Kháng chiến
toàn quốc xẩy ra thì nó làm việc tại Bộ Canh Nông ở Tuyên Quang. Khi gặp tôi ở
Bắc Cạn thì Vũ Văn Thiết đã đổi sang làm Giám Đốc của Vụ Ngoại Thương. Nó thấy
tôi là vội kéo đi ăn rồi xong bữa ăn, nó đưa tôi tới một nơi có bàn đèn thuốc
phiện để hai thằng nằm hút. Giữa những điếu thuốc, nó tâm sự với tôi về một
chuyện không may xẩy ra cho nó. Vì nó muốn giúp cho vợ một người bạn, tặng người
này một số bông sợi nên đang bị kết án là bán đồ của Chính Phủ. Chưa biết lúc
nào Công An sẽ tới bắt nó. Nó có vẻ "dinh tê" đến nơi rồi. Quả nhiên
hôm sau thấy nó biến mất. Vào ngày mùng 7 của tháng 10 năm 47, tôi đang đi công
tác ở một địa điểm cách xa thị xã 10 cây số thì được tin Quân Pháp nhảy dù xuống
Bắc Cạn.
Đây là một chiến dịch lớn nhất từ khi xẩy ra cuộc chiến tranh
Việt- Pháp, với 12.000 quân Pháp tấn công vào vùng Việt Bắc với mục đích tiêu
diệt chủ lực quân của Việt Minh và bắt sống toàn thể nhân viên Chính Phủ. Một
đoàn quân dùng đường số 4, từ Lạng Sơn đánh lên Cao Bằng. Một đoàn quân khác, với
những tầu chiến nhẹ, đi trên ngược dòng Sông Lô, đánh bọc từ Việt Trì lên Tuyên
Quang. Riêng ở Bắc Cạn thì vì muốn bắt trọn bộ phận đầu não của kháng chiến nên
Pháp đã dùng lính nhảy dù.
Về sau tôi mới biết là Vũ Văn Thiết đã có mặt trong đám lính
nhảy dù này. Ngay sau đêm nằm chơi với tôi, nó vào thành và được Pháp trọng dụng.
Rồi nó được Pháp cho nhảy dù xuống Bắc Cạn cùng với toán quân. Với một vụ tấn
công bất ngờ như vậy, thế mà quân Pháp đã không thành công trong việc bắt các
lãnh tụ Việt Minh mà chỉ giải thoát được hai trại giam là nơi giam giữ những
người quốc gia và nơi giam lỏng những Pháp kiều. Anh trại phó đã bị giết ngay
khi lính Pháp tới chiếm trại này.
Ngoài Bộ Trưởng Nguyễn Văn Tố không may bị bắt, tất cả các
nhân viên Chính Phủ Kháng Chiến chạy thoát. Chủ lực quân của Việt Minh lọt vào
giữa gọng kìm của hai đoàn quân Pháp vừa chống cự, vừa rút lui khỏi vòng vây.
Hơn thế nữa, tại bến Bình Ca, Vệ Quốc Đoàn phối hợp với dân quân du kích, bắn
vào các tầu chở lính Pháp ở trên Sông Lô, cầm chân không cho tiến tới hoặc rút
lui. Pháp phải cho phi cơ tới oanh kích mạnh mẽ, tàn quân mới rút được về suôi.
Kế hoạch của Tướng Salan không thành công như ý muốn. Đối với Việt Minh thì đây
là những chiến thắng đầu tiên của kháng chiến.
Từ ngày khởi đầu cuộc kháng chiến toàn quốc, đây là lần đầu
tiên Pháp tung ra một chiến dịch lớn nhất vì có tới 12.000 quân. Nhưng chiến dịch
được đặt tên là "Léa" của Tướng Salan này thất bại hoàn toàn vì mục
tiêu thứ nhất là bắt gọn Chính Phủ Kháng Chiến bằng quân nhảy dù tại Bắc Cạn
thì mục tiêu đó không đạt được.
Mục tiêu thứ hai là tiêu diệt chủ lực quân của Việt Minh thì
trong cánh quân miền Tây, những đoàn tầu chở lính Pháp bị đánh dài dài trong suốt
18 cây số từ bến Bình Ca cho tới Đoan Hùng. Sau đó, tôi được phái qua miền Sông
Lô để lấy cảm hứng sáng tác và khi biết trận chiến ở đó đã xẩy ra ra sao tôi mới
thấy rằng không có cách nào mà Pháp có thể thắng Việt Minh được. Trong gọng kìm
phía Tây này, những lính Pháp được đưa từ Tuyên Quang tới Đoan Hùng bằng đường
thủy trên những chiếc tầu đổ bộ gọi là L.S.T. (chứ không phải là trên những chiến
thuyền có loại súng nặng). Quân đội kháng chiến đào hố sẵn ở hai bên bờ sông và
nằm chờ những chiếc tầu chở 'địch quân tới. Hồi đó trong Quân Đội Việt Minh làm
gì có Pháo Binh với những loại súng thần công tối tân của Nga hay Mỹ? Lúc đó chỉ
có hai khẩu 75 ly lấy được của Pháp từ hồi Cách Mạng thành công. Khi mấy chiếc
tầu L.S.T. chở lính Pháp chạy tới bến Bình Ca thì người lính Vệ Quốc Quân nằm
chực sẵn ở trên bờ, chỉ cách tầu địch có khoảng 15 thước, nhắm bắn mục tiêu bằng
cách nhìn qua lỗ súng rồi lắp đạn vào, giật giây nổ. Lúc đó có ai biết tính toạ
độ hay cự ly ra sao đâu? Ơ± mỗi một ổ phục kích, chỉ cần bắn 1 hay 2 quả đạn
vào 1 hay 2 chiếc tầu đổ bộ, thế là đủ thắng trận rồi. Bắn xong là khiêng súng
chạy lên chạy xuống dọc theo con sông để rồi lại nằm ở từng khúc sông, lắp đạn
bắn vào những chiếc tầu khác hoặc để giáp trận với những toán quân địch đã leo
được lên bờ. Một tiểu đoàn Vệ Quốc Quân gần như nhịn ăn, nhịn uống, nhịn ngủ,
đánh giặc ba bốn ngày đêm không ngưng nghỉ, trong đoàn quân không có một ai sợ
chết, và rất lạ lùng là cũng không một ai bị hi sinh cả. Chỉ có một anh bị
thương xoàng ở chân mà thôi. Nói về cả một chiến dịch thì những thắng
lợi Sông Lô chỉ mới là những chiến công cục bộ bởi vì trong lúc khởi đầu của
chiến dịch "Léa", gọng kìm lớn ở miền Đông là Bắc Cạn và Lạng Sơn vẫn
còn rất mạnh. Nhưng tinh thần của đoàn quân Pháp ở gọng kìm Tuyên Quang xuống tới
đất đen trong khi tinh thần của Vệ Quốc Quân và của toàn dân lên vùn vụt nhờ ở
những chiến thắng tại sông Lô này. Những người phục vụ cho Cục Chính Trị như
chúng tôi được khuyến khích để làm cho Chiến Thắng Sông Lô trở thành một chiến
công vô cùng rực rỡ. Bây giờ nếu có ai tò mò - như tôi - đi tìm đọc những cuốn
quân sử của Pháp viết về chiến tranh Đông Dương, sẽ chẳng thấy một dòng chữ nào
cho cái được gọi là "Trận Sông Lô" này cả. Nhưng trong chúng tôi lập
tức có ngay những tuyệt phẩm như bài Lô Giang của Lương Ngọc, bài này duyên
dáng, mặn mà, giống như nét mặt của tác giả - một nhạc sĩ Tây lai - xuất thân
từ Khiêu Vũ Trường và đã từng chiến đấu trong Trung Đoàn Thủ Đô:
Lô Giang. Dòng nước trong xanh
Có nhà mái xinh bên đồi núi cao.
Lô Giang. Dòng nước êm du
Ánh vàng vút cao khi trời cười vui...
Bao phen súng thần công vang
Pháp kia kinh hoàng trốn xuống đáy sông làm ngầu nước
trong...
Bài Trường Ca Sông Lô của Văn Cao là một tác phẩm vĩ đại. Thằng
bạn này vẫn là một kẻ khai phá. Nó là cha đẻ của loại Trường Ca. Về hình thức,
bài của nó chẳng thua gì bất cứ một tuyệt phẩm nào của loại nhạc cổ điển Tây
Phương. Nét nhạc của trường ca rất mạnh khoẻ, rất tươi sáng. Nhịp điệu vô cùng
phong phú với những chuyển đoạn rất tài tình. Bài này đánh dấu sự trưởng thành
của Tân Nhạc, mở đầu bằng một câu nhạc vô địch về dài hơi: Sông Lô.
Sóng ngàn Việt Bắc bãi dài ngô lau núi rừng âm u
Thu ru bến sóng vàng từng nhà mờ biếc chìm một mầu khói thu.
Sông Lô. Sóng ngàn kháng chiến cháy bờ lau thưa đã tàn thôn
trang
Ai qua bến nắng hồng lặng nhìn mầu nước sông Lô xưa...
Bài Du Kích Sông Thao của Đỗ Nhuận có tất cả khối nặng của
nét nhạc và của tiết điệu. Nó nặng nề và oai nghiêm giống như khuôn người của Đỗ
Nhuận: Hồng Hà. Mênh mông trôi cát tới chân làng quê
Dưới sông nhiều bến ai về có thấy đồng mía nương chè
Với những tình thắm trên làng quê?
Hồng Hà. Chơi vơi dòng nước trên nguồn về khơi
Sông Thao ngoài bến Việt Trì có những chàng áo nâu về
Say mê dòng nước ôi tràn trề...
Đó là chưa kể những bài như Bến Bình Ca của Nguyễn Đình Phúc,
Tiếng Hát Trên Sông Lô của tôi, mỗi bài đều có những đặc điểm riêng về nhạc thuật
nhưng đều chung nhau nói lên một cách hùng hồn sự tự hào của dân tộc trong chiến
thắng đầu tiên của kháng chiến này. Tất cả những bản nhạc vừa kể trên cộng với
những bức hoạ, những bài thơ, những truyện ngắn về chiến thắng này làm nức lòng
toàn dân và toàn quân trong vùng kháng chiến, đang ở trong tình trạng bi quan
và chủ bại vì cuộc tấn công rất mạnh mẽ của Pháp.
Gọng kìm phía Đông của Pháp trong chiến dịch "Léa"
này cũng bị thua liểng xiểng. Trên đường số 4, đoàn quân Pháp bị phục kích và bị
tiêu diệt ở những địa điểm như Bông Lau, Đông Khê, Thất Khê... Ngọc Bích và tôi
đều soạn những bài hát cho chiến thắng này. Tôi còn nhớ một đoạn lời ca của bài
Bông Lau:
Bông Lau, Bông Lau rừng xanh pha máu
Biên cương lưu danh ngàn đời về sau
Khi quân ta tiến ra như phong ba oán thù
Và quân Pháp một đi không về... Thế là tôi và Ngọc
Bích được sống thực sự trong không khí chiến tranh khi bị lọt vào khu vực nhảy
dù trong một chiến dịch lớn nhất từ trước tới nay. Tôi có may mắn là ở xa Bắc Cạn
10 cây số cho nên chẳng mất mát gì, nhưng thằng Ngọc Bích thì ở ngay gần thị xã
cho nên mất mẹ nó cái ba lô và cây đàn. May không bị lính Pháp chộp được hay tặng
cho một viên đạn. Chạy thoát khỏi cuộc nhảy dù của lính Pháp này rồi, Ngọc Bích
và tôi gặp nhau ở Đại Từ. Tỉnh Bắc Cạn đã trở thành một nơi nguy hiểm, hai thằng
bèn rủ nhau đi tìm cảm hứng trên một nẻo đường khác.
Chúng tôi xuống Thái Nguyên để trợ lực cho một đoàn văn nghệ
nhỏ của anh tôi là Phạm Duy Nhượng, tác giả bài Nhạc Đường Xa, một bài hát rất
phổ biến tại Việt Bắc thời đó. Anh Nhượng là giáo viên của tỉnh này và bây giờ
được Tỉnh Ủy giao cho điều khiển một ban văn nghệ. Nhân viên toàn là học sinh
của thầy Nhượng. Nhân ông Trường Chinh có mặt tại đây, ban văn nghệ được lệnh tổ
chức một đêm trình diễn cho ông ta coi. Sau buổi diễn có bữa cơm thân mật. Tôi
ngồi cạnh Trường Chinh, thấy ông ta có lòng bàn tay đỏ như son. Giống như bàn
tay của Trần Trọng Kim. Tôi không muốn ở lâu tại Thái Nguyên. Vì trước đây tôi
được phái lên phụ giúp trông coi một cái phòng nhỏ ở Lan Giới thuộc Nhã Nam
(Yên Thế-Bắc Giang) bây giờ tôi nóng lòng muốn trở lại nơi đó...
Chương mười sáu
Hôm nay mới gặp Tần Thủy Hoàng
Bạo chúa như ông sướng hay khổ?
Hoàng Cầm - Kiều Loan
Cuối năm 1947 đó, tôi và Ngọc Bích từ tỉnh lỵ bị tiêu hủy
hoàn toàn là Thái Nguyên đi bộ qua Bắc Giang, tìm về làng Lan Giới thuộc khu
Nhã Nam, Yên Thế. Tôi rảo bước đi trên con đường rất quen thuộc được xây trên mặt
đê của con sông đào Tôi nhớ lại câu hát quan họ mà tôi hát lên trong thời tôi
làm nghề nông và sống ở vùng này:
Ngồi rằng, ngồi tựa a a a a cái con sông đào,
Hỏi rằng là người tri kỷ y y y y
"y mấy có ra vào, ra vào có mấy vấn vương...
Từ xa đi tới, tôi nhận ra cái ấp nhỏ vẫn đang nằm êm ả trên một
ngọn đồi thấp. Tôi sắp tới một nơi chứa đựng không biết bao nhiêu là kỷ niệm êm
đẹp của tôi khi tôi mới hai mươi tuổi. Tới nơi thì biết rằng mấy ngôi nhà ở
trong ấp và mấy trăm mẫu ruộng của ông bà Tuần Phủ Lê Đình Trân đã bị tịch thu.
Một ủy ban nào đó đang quản trị cái ấp và những mẫu ruộng này. Như đã nói trong
Hồi Ký Tập II, có lần tôi là con nuôi của ông bà Tuần Phủ Trân và được cha mẹ
nuôi tin cậy gửi lên Nhã Nam để phụ giúp cho người em của bà Trân, trông coi
cái đồn điền rất xinh xắn nhất ở nơi đây. Tôi biết cầy ruộng, gặt lúa, xay
thóc, giã gạo không thua một anh nông dân nào.
Xin nhắc lại là khi đó tôi có hai người tình là gái quê một
trăm phần trăm, mà lại là gái quê vùng Yên Thế. Trong lần trở về vùng quê cũ
này, tôi chỉ gặp lại một người mà xưa kia tôi có ý định lấy làm vợ. Nàng tên là
Hạ và là con gái lớn của một ông Chánh Tổng. Cảnh làng mạc có đôi phần đổi
thay, tôi hỏi thăm đường về nhà ông bố vợ hụt. Gặp ông, thấy ông "kách mệnh"
quá trời. Mẹ kiếp, ngày ông còn trẻ, ban ngày ông là dân lành, ban đêm ông nổi
lửa đi ăn cướp, ông bị tù gần mọt gông, tôi biết chuyện này mà.
Gặp lại cô gái quê, thấy nàng vẫn chưa lấy chồng, vẫn còn đẹp,
vẫn quần quật lao động và còn lao động "vinh quang" hơn trước nhiều.
Cho mọi người coi giấy công tác của Cục Chính Trị, chúng tôi bèn được hậu đãi
ngay. Trong mấy ngày ở lại đây, tôi được hưởng những đêm ái ân nồng cháy trên ổ
rơm thơm phưng phức bên người đẹp nhà nông có thân hình cứng như... gỗ lim này.
Đến bây giờ tôi vẫn không hiểu tại sao lúc đó tôi không ở lại Nhã Nam, lấy phứt
cô gái quê này làm vợ, trở thành một anh nông dân không tên tuổi? Âu cũng là số
kiếp... và rồi tôi cũng đã nhanh chóng chia tay với tình yêu để đi "nàm việc
nước" (!)
Tôi và Ngọc Bích vác ba lô đi tìm Bộ Chỉ Huy của Khu XII. Ở đó, tôi gặp Hoàng Cầm. Nó đang chuẩn bị thành lập một đội văn nghệ cho chiến
khu này cùng với nhà viết kịch Hoàng Tích Linh, diễn viên Trúc Lâm và vợ chồng
Văn Chung, đôi uyên ương này cũng đã bỏ Đoàn Văn Nghệ Giải Phóng của Phạm Văn
Đôn và lò mò sang đây. Có thêm vài ba mầm non mới gia nhập đoàn văn nghệ như Hiền
thổi saxo chẳng hạn. Tôi và Ngọc Bích nhập ngay vào cái đội văn nghệ chỉ có vỏn
vẹn bẩy, tám người đó để từ Bộ Chỉ Huy, chúng tôi đi lưu diễn ở những nơi có Vệ
Quốc Đoàn đóng quân trong ba tỉnh Bắc Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn.
Gặp Hoàng Cầm, tôi yêu nó ngay. Nó bằng tuổi tôi. Trong khi tôi
thích đùa rỡn thì nó giống như một ông đồ non, lúc nào cũng ngồi hút thuốc lào,
rung đùi, trầm ngâm. Nó đang sống chung với Tuyết Khanh, nữ kịch sĩ của một
đoàn kịch do nó và Hoàng Tích Linh thành lập vào khoảng đầu thập niên 40 là
đoàn "Đông Phương". Tuyết Khanh là người thủ vai chính trong vở kịch
thơ Người Điên của Hoàng Cầm. Vở kịch còn mang thêm cái tên Kiều Loan này, đáng
lẽ được ra mắt công chúng tại nhà Hát Lớn Hà Nội vào trung tuần tháng chạp 1946
nhưng cuộc toàn dân kháng chiến chống Pháp bùng nổ vào ngày 19 khiến vở kịch đó
chỉ được xuất hiện trước ánh sáng tiền trường có một hay hai đêm mà thôi. Do
đó, rất ít người biết tới vở kịch thơ này.
Vở này có câu chuyện khá ly kỳ, đưa ra một nhân vật là Kiều
Loan, người đã khuyến khích chồng ra đi với mưu đồ đánh đổ Nguyễn Ánh để phục
hồi nhà Tây Sơn. Nhưng chồng nàng đã bỏ ý đồ phục quốc, đầu hàng nhà Nguyễn và
được tuyển dụng làm quan trong triều đình. Kiều Loan vào thành Phú Xuân để tìm
chồng thì gặp một người cùng chí hướng là ông già. Cả hai người này đã giả
điên, giả say tạo ra sự huyên náo trước cửa Thành để được bắt đem vào dinh, nơi
đó Kiều Loan có thể gặp được người chồng phản bội, nhắc nhở cho chồng nhớ tới lời
hứa phục quốc khi xưa. Trong dinh, trước mặt bá quan, Kiều Loan giả điên, giơ
tay chỉ hết người này tới người nọ, nhận ai cũng là chồng của mình và rốt cuộc,
cùng với ông già giả say, nàng bị bắt giam. Trong ngục, hai người gặp thêm một
người tù đồng chí là người què. Trong khi ba người: người điên, người say và
người què bị giam trong ngục thì, sau khi súc động vì gặp lại vợ xưa với lời thề
ước, người chồng tỉnh ngộ, cầm quân vào phá ngục để cứu vợ nhưng Kiều Loan đã tự
vẫn chết cùng với các đồng chí của Nàng. Với vở kịch thơ Kiều Loan này, ta thấy
Hoàng Cầm cũng ca tụng cái đẹp của sự thất bại - la beauté des causes perdues - giống như Khái Hưng với Tiêu Sơn Tráng Sĩ.
Đi theo Hoàng Cầm ra vùng kháng chiến, Tuyết Khanh, mà lúc đó
Hoàng Cầm cũng đổi luôn tên là Kiều Loan, đang có thai và bắt buộc phải ở lại
vùng trung du để Hoàng Cầm và chúng tôi lên đường đi lưu diễn. Trong bữa cơm đạm
bạc để chia tay nhau giữa hai vợ chồng Hoàng Cầm tại Phố Nỉ (Bắc Giang), tôi
còn nhớ cảnh Hoàng Cầm ngồi rung đùi ngâm thơ bên cạnh người vợ mà rồi đây nó sẽ
không bao giờ gặp lại nữa, giọng ngâm buồn rười rượi...
Chương mười bảy
Chiều ơi
Lúc chiều về rợp bóng nương khoai...
Nương Chiều
Sau một thời gian tập diễn rất ngắn, chúng tôi khởi sự lên đường
công tác vào một ngày có những giọt mưa Xuân làm cho khung cảnh đồng quê như được
bao phủ bởi một tấm màn mỏng phất phơ mầu xanh xám. Khi đó chúng tôi mới chỉ là
những thanh niên khoảng 25, 26 tuổi, đầy nhiệt tình với Cách Mạng và với cuộc
Kháng Chiến của toàn dân cho nên chân chúng tôi mang hia bẩy dặm (mỗi ngày nuốt
40 cây số đường đá như không) và lòng chúng tôi chan chứa tình nước, tình người.
Tôi được khá nhiều người yêu mến - một nhà lãnh đạo kháng chiến đã nói ra điều
đó khi gặp tôi ở Thái Nguyên - vì những bài dân ca mới mà tôi vừa soạn ra rất
phù hợp với con người Việt Nam muôn thuở đang được sống trong một hoàn cảnh mới.
Trong kỳ lưu diễn ở miền Cao-Bắc-Lạng này, tôi soạn thêm được
nhiều bài dân ca khác trong đó có bài Nương Chiều: Chiều ơi. Lúc chiều
về mọc ánh trăng tơ
Cho ngày mùa bài hát nên thơ, ơi chiều.
Chiều ơi. Mái nhà sàn thở khói âm u
Cô nàng về để suối tương tư, ới chiều...
Đây là một bài dân ca loại mới và có sự tiến bộ về phần nhạc
thuật vì nó không còn đơn sơ như những bài đã soạn ra trước đây, chẳng hạn Ru
Con hay Dặn Dò. Chính trong chuyến đi hát ở vùng này mà tôi thấy tôi đi đúng
con đường thăng hoa dân ca. Một buổi nọ, sau khi trình diễn cho đồng bào thưởng
thức những màn ca-vũ-kịch - Văn Chung cũng đã đưa ra một màn múa, diễn tả các
động tác của nhà nông gọi là nông tác vũ - một bà mẹ quê xin ra hát tặng anh
chị em trong đoàn văn nghệ một bài hát cổ truyền. Chúng tôi vỗ tay hoan nghênh.
Bà mẹ đằng hắng, lấy giọng, rồi hát:
Ai có nghe tiếng hát hành quân xa
Mà không nhớ thương người mẹ già...
Đó là bài Nhớ Người Ra Đi của tôi. Nhưng bây giờ nó không còn
là của tôi nữa. Nó là của dân chúng rồi. Tôi cảm động, muốn khóc oà lên...
Vào lúc này, Hoàng Cầm vẫn còn nuôi mộng xây dựng một sân khấu
kịch thơ sau khi vở Kiều Loan đã không có may mắn được sống trong công chúng.
Nó rất muốn dựng những vở kịch thơ trong kháng chiến nhưng với một đội văn nghệ
ít người và với đối tượng chính là Vệ Quốc Quân, bây giờ nó chỉ có thể soạn những
bài thơ cho một hoặc hai người ngâm trên một thứ sân khấu ngoài trời mà thôi.
Bài thơ Đêm Liên Hoan được viết ra ngay trong những ngày đầu đi công tác. Hoàng
Cầm và tôi diễn ngâm bài này rất nhiều lần trước hàng trăm, hàng ngàn Vệ Quốc
Quân:
Đêm liên hoan đầu nhấp nhô như sóng bể ngang tàng -
Ta muốn thét cho vỡ tung lồng ngực - Vì say sưa tình thân thiết Vệ Quốc
Đoàn.
Biết bao nhiêu Vệ Quốc Quân "lao đầu vào giặc" sau
khi nghe những lời thơ đầy hào khí và thân thiết này:
Trong tiểu đội của anh
Những ai còn ai mất?
Không ai còn, ai mất
Ai cũng chết mà thôi.
Người sau kẻ trước lao vào giặc
Giữ vừng nghìn thu một giống nòi
Dù ta thịt nát sương rơi
Cái còn vĩnh viễn là người Việt Nam...
Ngoài bài thơ Đêm Liên Hoan soạn cho riêng tập thể chiến sĩ,
Hoàng Cầm - cũng như tôi lúc đó - rất quan tâm tới người dân thường. Lúc đó
tôi cũng đã đưa vào loại dân ca kháng chiến của tôi những hình ảnh anh thương
binh, người mẹ già, người vợ hiền, đàn trẻ nhỏ... nhiều hơn là hình ảnh Vệ Quốc
Quân. Hoàng Cầm, qua bài Bên Kia Sông Đuống, cũng đưa ra một cách tuyệt vời những
hình ảnh cô hàng sén răng đen, môi cắn chỉ quết trầu, cụ già phơ phơ tóc trắng,
em bé xột xoạt quần nâu... Những nhân vật đó lại càng nổi bật hơn lên khi được
đặt vào khung cảnh tuyệt vời của miền Kinh Bắc hiển hách đó. Ai mà không muốn
chiến đấu để gìn giữ cảnh vật và những con người thân yêu đó? Những bài thơ
kháng chiến như vậy đã được Hoàng Cầm và tôi diễn ngâm trong rừng sâu, trên đồi
cao hay trong những hang đá dưới ánh đuốc bập bùng, có khi chỉ cách một đồn địch
chừng vài ba cây số.
Vào khoảng đầu năm dương lịch 1948 tức là sắp sửa tới Tết âm
lịch, trong chiến dịch thi đua lập chiến công, Hoàng Cầm sáng tác thêm một bài
thơ nhan đề Tâm Sự Đêm Giao Thừa mà tôi cho là tuyệt vời. Hoàng Cầm đưa ra hình
ảnh một người lính giữ nước, đang đứng gác trong một khu rừng vắng, giữa đêm
giao thừa:
Đêm nay hết một năm
Phải gác tới giao thừa - Quê hương chừng rét lắm
Lất phất mấy hàng mưa...
Anh Vệ Quốc Quân này có một người vợ vừa sinh nở được một mụn
con. - Hoàng Cầm đưa ra hình ảnh của người vợ lính vì liên tưởng tới vợ mình - Người vợ lính đang phải sống lần hồi với một quán hàng trong một phiên chợ
nhỏ, quán vắng khách, người thiếu phụ thiếu ăn, không đủ sữa cho con bú. Vì đêm
nay là đêm giao thừa và theo thông lệ, dù trong hoàn cảnh chiến tranh, người
lính biên thùy (cũng như chàng thi sĩ) cũng muốn có một cái quà gì để gửi về hậu
phương cho vợ con nghèo đói. Nhưng chiến sĩ Việt Nam nghèo lắm cho nên chỉ có
thể gửi cho vợ con một cái quà qúy giá nhất là sự lập chiến công của mình. Người
lính tưởng tượng ra cảnh vợ mình đang đói ăn nên không có sữa cho con bú, nhưng
nghe tin chồng thắng trận thì vui mừng quá, máu bỗng chảy mạnh trong huyết quản
của người vợ lính, sữa bỗng đâu căng lên đầu vú, đứa con bỗng có đủ một miếng sữa
no trong ngày vui của dân tộc này. Hoàng Cầm đã đem được yếu tố sinh lý vào một
bài thơ yêu nước. Trong toàn thể bộ thơ kháng chiến, tôi không hề thấy có ai
làm được việc này. Bài thơ kết thúc với những câu thơ vẫn vô cùng thân yêu và đầy
hào khí như trong những bài thơ khác của Hoàng Cầm:
Cha con ăn Tết lập lập công
Cho sữa mẹ chảy một dòng nghìn thu.
Cha đem cái chết quân thù
Làm nên sức sống bây giờ của con.
Bài thơ này - cũng như các bài thơ khác của Hoàng Cầm viết
ra trong thời kháng chiến - phải được diễn ngâm thì mới thấy được giá trị đích
thực của nó. Thơ kháng chiến của Hoàng Cầm có rất nhiều tính chất đối đáp. Tôi
và Hoàng Cầm chia nhau ra để ngâm từng đoạn và vì tôi vốn xuất thân là một ca
sĩ hành nghề trong một gánh hát rong cho nên ngoài những cách nắn nót giọng
ngâm, tôi còn biết dùng điệu bộ, nét mặt để diễn tả những bài thơ hùng tráng
này. Ngay cả trong phạm vi nhạc điệu, lối ngâm thơ của chúng tôi lúc đó cũng mới
mẻ hơn lối dùng điệu bồng mạc, sa mạc của người đi trước, do đó có tính chất hấp
dẫn hơn. Và cũng vì không khí anh hùng của người viết bài thơ, người diễn bài
thơ và người nghe bài thơ cho nên lối ngâm thơ của chúng tôi không có tí gì là
thảm thiết như lối kêu đường của các ngâm sĩ sau này.
Phải ghi nhận một điều rất quan trong là tác dụng của bài
thơ. Nó đã có khả năng diệt giặc hơn cả những võ khí tối tân lúc đó như SKZ
(súng không giật) hay bazooka vân vân... Trong ba lô của bất cứ một Vệ Quốc
Quân nào cũng đều có những bài thơ chép tay của Hoàng Cầm. Cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp không thể nào thành công nếu không có những tác phẩm văn
nghệ như những bản nhạc của Văn Cao, và những bài thơ của Hoàng Cầm, Quang
Dũng...
Chương mười tám
Em ơi, buồn làm chi?
Anh đưa em về sông Đuống
Ngày xưa bãi cát phẳng lì...
Hoàng Cầm
Trong khi Hoàng Cầm viết bài thơ để nhớ tới vợ con vào năm
1948 như vậy thì vợ con của nó ra sao?
Tuyết Khanh (mà tôi xin gọi là "Kiều Loan Mẹ", vì đứa
bé khi ra đời thì được đặt tên là Bùi Thị Kiều Loan tức là "Kiều Loan
Con") không được gặp lại chồng mình sau cái ngày chia tay tại Phố Nỉ với sự
chứng kiến của tôi. Suốt trong thời gian từ 1948 cho tới 1954, từ trong vùng địch
chiếm, Kiều Loan Mẹ viết thư cho Hoàng Cầm nhiều lần và chẳng bao giờ được trả
lời. Sau khi Hiệp Định Geneve chia đôi đất nước, Kiều Loan Mẹ đành phải bế đứa
con lên sáu di cư vào Nam, trong khi Hoàng Cầm hãy còn ở một nơi nào đó trong
vùng quê miền Bắc.
Về phần tôi thì sau khi vào sinh sống tại Saigon, trong suốt
trong gần 20 năm trời, tôi chỉ có một lần nhận được tấm thiệp báo hỉ của Kiều
Loan Con. Đứa bé nằm trong bụng mẹ trong thời kháng chiến xa xưa, hôm nay,
trong một ngày lành tháng tốt của năm 1968, đã lấy chồng. Qua tới Mỹ, trong
năm1975, tôi biết tin Kiều Loan Mẹ cũng đi tị nạn và đang sống tại vùng Hoa Thịnh
Đốn. Vào năm 1982 thì tôi lại nghe tin Kiều Loan Con cũng vượt biên qua tới nước
Mỹ và về sống với Kiều Loan Mẹ tại Los Angeles. Ngày đầu năm 1983, trong buổi
đi chơi tình cờ, tôi được một người bạn đưa lại gặp hai mẹ con Kiều Loan tại
căn nhà nhỏ ở downtown Los Angeles. Trong đời tôi đã xẩy ra nhiều chuyện thật
là kỳ lạ. Nước Việt Nam đâu có phải là một nước bé nếu ta đi bộ từ Bắc vào Nam,
từ Nam ra Bắc, từ Đông sang Tây và từ Tây sang Đông... như tôi đã làm cái cuộc
cũng được gọi là "vạn lý trường chinh" trong thời tao loạn này. Vậy
mà đi tới đâu thì cũng lại gặp lại những người mà mình đã gặp ở một nẻo đường
xa lắc xa lơ. Có lẽ cũng tại cái biến cố "cả nước lên đường" vậy. Người
nào cũng lên đường cả, thành thử ai cũng gặp nhau. Chẳng hạn Phạm Thanh Liêm.
Chẳng hạn Ngọc Bích, Văn Chung, Đoàn Bính v.v... Đi tới đâu thì tôi cũng gặp lại
họ. Giống như đã có hẹn hò với nhau từ tiền kiếp xa xôi nào đó, xa nhau rồi
cũng lại phải gặp nhau. Qua tới Hoa Kỳ rồi mà vẫn còn gặp lại Hoàng Cầm qua hai
mẹ con Kiều Loan. Sau bốn mươi năm. Đừng hỏi tại làm sao mà tôi cứ bị ám ảnh bởi
thi sĩ Hoàng Cầm. Và soạn Hoàng Cầm Ca.
Đi lưu diễn với Hoàng Cầm tại vùng Cao-Bắc-Lạng này, ngoài
cái vui được đem thơ, đem nhạc, đem kịch (do vợ chồng Văn Chung đóng) để nâng
cao tinh thần kháng chiến của quân đội, của nhân dân, chúng tôi còn có những
cái vui riêng. Chẳng hạn sau khi công tác, dù ở trong nhà dân chúng hoặc đóng
trại trên bìa rừng hay trong hang đá, chúng tôi thường hay bày trò hát ả đào.
Hoàng Cầm có giọng ngâm, giọng hát rất hay. Nó thuộc hết các điệu hát nhà tơ,
đóng vai ca kỹ, còn chúng tôi đóng vai quan viên, đánh trống chầu "tom tom
chát chát", hoặc lấy đàn guitare ra thay thế đàn đáy, gảy ra những tiếng
"tình tình, tình tình, tang, tang" (chúng thường nói đùa cái lối gảy
đàn này là: "thằng nào? thằng nào? tao, tao"). Mấy thằng đóng trò
quan viên và ả đào này thích uống rượu lắm cho nên trong mâm cơm có bao nhiêu
thịt gà là bị tôi là kẻ không uống rượu, đớp hết. Hoàng Cầm còn nhớ tới chuyện
tôi ăn nhanh - và ăn tham - này và kể cho một người có cơ hội đi tị nạn ở Hoa
Kỳ nghe, người này có nhắc lại chuyện đó khi gặp tôi.
Tôi còn nhớ một kỷ niệm rất nên thơ trên một nẻo đường kháng
chiến cùng với Hoàng Cầm. Là những thanh niên quen sống ở đô thị, khi đi kháng
chiến, chúng tôi phải khó nhọc lắm mới khắc phục được cái khổ chung của toàn
dân là: đi bộ. Vai đeo ba lô, tay xách đàn, cổ quàng sắc cốt, đi từ chỗ đóng
quân này tới nơi đóng quân khác, toàn bằng "lô ca chân" thôi. Trèo
đèo, vượt suối, băng rừng, trung bình mỗi ngày đi từ 30 tới 40 cây số. Khi đi
lưu diễn tại Khu XII này, lại toàn đi trên đường đá, trong sương mù. Cảnh thì
thật là đẹp, người miền núi thật là đáng yêu, nhưng có khi nửa ngày mới gặp một
cái bản, một cái thôn. gặp một cái chợ thì như gặp được thiên đàng. Vì nhân
viên trong đội toàn là văn nghệ sĩ cho nên chúng tôi bầy đặt chuyện vừa đi vừa
làm thơ cho đỡ buồn, cho đỡ mệt. Nhưng phải là thơ đặc biệt, chẳng hạn như khi
đang đi thì thấy một đội viên bực mình thốt lên:
Đường đá đưa đoàn đến đếch đâu?
Tụi tôi tìm thấy cái thú làm thêm những câu thơ tiếp tục, những
câu thơ hợp tình, hợp cảnh và theo một vần chữ. Một câu thơ như vậy, cần phải
đi dăm bẩy cây số mới có được một câu mà toàn đội đồng ý. Tôi không nhớ ai đã
tung ra câu thứ hai và câu thứ ba:
Xa xa xam xám xuống sương sầu
Mịt mù mê mải mưa mưa mãi
Câu thứ tư chắc chắn phải là của một thằng nhạc sĩ, vì ngoài
ba lô ra, nó phải đeo thêm cây đàn:
Đàn địch đem đi đến đớn đau.
Nhưng chính trong cái trò chơi giải trí, giải lao, giải buồn
và giải "đói" này tôi mới thấy rõ chân tướng của một nhà thơ lớn là
Hoàng Cầm.
Mùa Thu 1989 Phạm Duy
Mùa Thu 1989
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét