Thứ Sáu, 4 tháng 4, 2025

Sức hấp dẫn trong tản văn Nguyên Du


Sức hấp dẫn trong tản văn Nguyên Du

1. Cầm trên tay ba tập sách anh tặng “Nhất Huế nhì Sịa, Bí bầu lớn xuống, Tiếng dạ tiếng thương”, tôi đã đọc chậm để cảm nhận cái hay của mỗi khúc tản văn. Nếu người viết phải chọn lựa ngôn từ chữ nghĩa thật dụng công, thì tôi – người tiếp nhận cũng trải qua những cảm nhận khác nhau trên mỗi khúc tản văn. Càng đọc càng hiểu ý nghĩa của lý thuyết liên văn bản, về mối quan hệ giữa văn học và văn hóa…

Chúng tôi hiểu thể loại tản văn là: Loại văn xuôi ngắn gọn, hàm súc, có thể trữ tình, tự sự, nghị luận, miêu tả phong cảnh, khắc họa nhân vật. Lối thể hiện đời sống có tính chất chấm phá… có cấu tứ độc đáo, có giọng điệu, cốt cách cá nhân…. Đặc biệt là thể hiện nổi bật chính kiến và cá tính tác giả… Cũng có thể hiểu đây là loại văn thủ thỉ tâm tình, kể những chuyện tai nghe mắt thấy, nhờ thế mà nới rộng ranh giới thể loại và làm phong phú đề tài, chủ đề.

 

Tính trữ tình cao, kết cấu tự do cùng chính kiến và cá tính tác giả là đặc điểm của tản văn Nguyên Du. Tiếp nhận 3 tập sách một cách nghiêm túc, tôi nhận ra, người viết hết sức tâm huyết với trang văn của mình, thì người đọc cũng sẽ giải mã nó bằng cách nào đó để cùng đồng cảm, thể nghiệm… và làm “sống dậy” cái điều mà tác giả muốn nói.

 

Mỗi chuyện anh kể đều có sự cẩn trọng trong tìm tòi tư liệu, có trí nhớ cực tốt và đặc biệt là cảm xúc neo đậu trong mỗi tình tiết chuyện, khiến cho mỗi trang tản văn như có hồn, mỗi dòng chữ như là “mỹ văn”. Ấn tượng đầu tiên của tôi là về giọng văn của anh, giọng chủ đạo là giọng thủ thỉ tâm tình khi kể lại những chuyện tai nghe mắt thấy, hoặc tỏ ra thương cảm khi nghe “người ta nói lại”;  giọng trữ tình chứa đựng cả tâm tình, hoài niệm; đặc biệt là giọng điệu miêu tả khi bước chân anh lang thang trên mỗi góc phố, mỗi địa danh, mỗi câu chuyện; tâm tưởng anh nhớ kĩ từng câu chuyện với những chi tiết cụ thể, rõ ràng … Lối kể chuyện khiến người đọc xúc động bởi cái tình khảm vào trong mỗi chuyện, bởi kí ức được đánh thức trong vô thức, tiềm thức và ý thức. Để có giọng trữ tình thì đối tượng trữ tình trong anh luôn là “em”, em từ những rung động đầu đời cho đến khi đã yên bề gia thất; “em” là cái cớ để anh nhớ chuyện xưa, để anh tìm tòi trong kho kí ức của mình những giọt sương mai còn đọng lại, lấp lánh cả niềm vui và nỗi buồn. Cảm giác như những bóng hồng thoáng qua đời anh là một mạch nước ngầm gợi trong cảm thức của anh những tiếc nuối ngọt ngào, vì thế giọng trữ tình gần như quán xuyến suốt cả mấy tập tản văn. Tôi nghĩ rằng viết tản văn mà thiếu đi những bóng hồng cũng như người làm thơ vẫn chưa tìm ra đối tượng trữ tình vậy. Đa tình và si tình cũng là những nét biểu hiện tích cực của một con người đam mê và thiết tha với cuộc sống. Với anh, những trò chơi thuở ấu thơ thường gắn với những kỉ niệm về cây trái, về địa danh, về bè bạn; tư chất của cậu bé có thể chất, là “trùm xóm” thể hiện trong những câu chuyện ngộ nghĩnh: hái cắp trái đào, ăn trái vả với muối ớt chờ cơm… cũng có lúc mơ màng (tr.60, 61 – Bí bầu lớn xuống); có vẻ như sự hoang nghịch tuổi ấu thơ là xuất phát từ tư chất thông minh, sáng tạo. Mỗi khúc tản văn gắn với những kí ức của tuổi thơ được viết bằng cái nhìn của người từng trải; sự đan chéo, hòa quyện này trong tâm thức sáng tạo đã tạo nên hiệu ứng nghệ thuật cao, bởi sức hấp dẫn và cuốn hút trên mỗi khúc tản văn.

 

2. “Tiếng dạ tiếng thương” - “Tình Huế”, “Giọng Huế”, “Vị Huế”, “Chuyện Huế”.

Tập tản văn này như một lời mời gọi với những ai đã, đang và sẽ thưởng lãm những địa danh trên đất Huế, tìm hiểu về văn hóa Huế. Những nét chấm phá trên mỗi khúc tản văn khiến người đọc dừng lại, vừa đọc bằng mắt - văn bản, vừa đọc bằng tâm – kí ức. Ở khúc “Tình Huế”, cùng với những câu chuyện về “tà áo dài, hương quế, miền gái đẹp, dốc nghiêng, làng thêu thuở ấy, Đồng Khánh ngày sau…” là cái tôi đa tình trong cái nhìn đa chiều, với cây bút tài hoa của anh. Mỗi câu chuyện kể là một vùng kí ức, mỗi vùng kí ức là nỗi nhớ về “một bóng hồng” nào đó.

 

Người ta nói, viết tản văn không giành cho người trẻ. Đúng vậy, nếu lúc bạn đang trải nghiệm qua câu chuyện đó, viết ngay thì làm sao có những lắng đọng để suốt đời phải day dứt như trong câu chuyện “Tình chị” của anh. Cũng như chưa trải qua thời gian, làm sao tỉ mẩn kể lại ấn tượng của mình về chiếc áo dài của nữ sinh, về cái bảng tên thêu trên áo bằng những màu chỉ khác nhau. Cảm giác như anh già dặn hơn bởi cái nhìn thấu tỏ những nét điểm xuyết về văn hóa của đất thần kinh từ mỗi địa danh, đến “một miền gái đẹp”. Bây giờ, người ta có thể sử dụng nhiều cách khác nhau để làm bảng tên, chứ cái thời trước, không chỉ với tác giả, mà ngay cả với tôi cũng là một ám ảnh. Tôi đi làm suốt ngày, các con tôi đều là con trai, còn nhỏ, chúng phải tự mình thêu lấy bảng tên; đi làm về thấy con nghẹo đầu, nhíu mắt, mặt dán chặt vào cái bảng tên đang thêu lòng tôi chợt tan chảy. Còn anh, có bạn gái thêu dùm, bạn gái lại khéo tay, thì độ tan chảy trong lòng anh còn lớn hơn tôi rất nhiều, vì mỗi ngày đến trường cái bảng tên nhắc anh nhớ người bạn đã tỉ mẩn thêu bảng tên cho anh, anh còn so sánh những bạn học cùng lớp thêu không đẹp bằng. Câu chuyện thêu bảng tên là nguyên cớ đưa đẩy một câu chuyện văn hóa khác: “làng thêu thuở ấy”. Huế đang muốn khôi phục lại môn học “nữ công gia chánh” trong nhà trường bởi đây cũng là cách giáo dục toàn diện về văn hóa ứng xử của phụ nữ Huế. Từ giọt nước nhìn ra biển cả. Thấm đượm trong tập tản văn “Tiếng dạ tiếng thương” của anh là hình ảnh người con gái Huế trong trắng, dịu hiền (Áo trắng thiên thần, Đồng Khánh ngày sau); khéo léo, tinh tế (Một miền gái đẹp, Tình chị, Em gái quê hương…); đằm thắm, nhẹ nhàng, nhẫn nại mang hết nhọc nhằn chịu đựng về mình (Mệ Quảng, Áo dài của mẹ, Câu chuyện về mẹ,Mạ đầu con thứ).  

 

Tản văn mang tính chất chấm phá, nhưng đó là nơi để người viết thể hiện cái nhìn đa chiều, bộc lộ cốt cách cá nhân… Tôi sống ở nơi mà ngòi bút Nguyên Du đang lướt qua như đám mây cầu vồng - “Dốc nghiêng” – (tr.19 – tr.23), và cũng là lần đầu tiên tôi biết được rõ ràng về con đường có ngôi nhà của mình suốt mấy chục năm qua (tr.20). Chỉ tiếng gọi “mạ” thôi mà anh lý giải rành rẽ cách sử dụng từ này từ Bắc chí Nam (Câu chuyện về mạ); từ những tiếng cùng nghĩa khác âm, anh đã góp phần làm rõ hơn sự phong phú về ngôn ngữ; đó cũng là thế mạnh của anh khi sử dụng tiếng Huế, giọng Huế trong viết tản văn. Tôi rất thích khúc tản văn “Mạ đầu con thứ” (tr.80 -84), anh đã kể khá tường tận chuyện “vợ đầu con thứ”, là chuyện nhà mà đọc cứ như là gia cảnh của mỗi một ai đó, khi rơi vào hoàn cảnh tương tự. Ngoài cảm xúc trữ tình của bản thân, tri thức lịch sử, văn hóa được anh đưa vào thật tự nhiên mà có sức lan tỏa, đó cũng là nét ưu trội trong tản văn của anh. Tôi nghĩ anh là một “nhà Huế học” am hiểu khá tường tận về con người Huế, văn hóa Huế. Vẫn là giọng nhẩn nha, anh tỉ mỉ liên tưởng từ “mạ”, “má” – gieo mạ, gieo má, lúa má… để rồi đi đến câu chuyện giàu cảm xúc khi được gọi là Mạ - với người vợ đầu của ba. Khúc tản văn “Con yêu bánh nậm” đã có những lý giải khá rõ ràng về ý nghĩa của cụm từ cố định – phương ngữ Huế: ghép 2 từ tương phản: “con yêu” – tinh quái với “bánh nậm” – một loại bánh ngon (tr.87); nhờ đọc tản văn của anh mà tôi đã không còn có ấn tượng không hay về cụm từ này. Trong “Lời nói thân thương”, tiếng “bụ” trong văn của anh đọc lên cứ thấy thân thương mà không thấy dung tục. Anh viết về “bụ”, “mụ”, “dái”… không chỉ để tìm về phương ngữ, mà là tìm về địa danh, về mỗi dấu tích văn hóa, gợi về một vùng đất, một đặc sản. Văn học liên quan mật thiết với văn hóa cũng từ đó. Văn học gắn với quảng bá du lịch cũng từ đó. Bạn muốn ăn bánh tét làng Chuồn, uống rượu làng Chuồn, bánh khoái cá kình làng Chuồn ngon có tiếng, nhớ là có đi qua cầu Lu Bụ (ngày xưa có bà nấu rượu, làm bánh tét chiều mô cũng ra tắm trần ở cái hói đầu làng, bụ to dài như cái lu nên đặt là cầu Lu Bụ - tr.90; phồn thực đến thế thì hay quá chứ sao). Tôi thích cách lý giải từ “mụ” thân thương của người Huế, bởi từ trường nghĩa quen thuộc, anh lại gợi nhớ về một địa danh (tr.92); từ dã sử, từ dân gian… mà thành lối kể tỉ mỉ, tường tận. Người ta vẫn nói nhiều về tiếng Huế, giọng Huế; cũng đã có nhiều hội thảo khoa học về tiếng Huế, giọng Huế; là một người có thâm niên làm việc ở truyền hình, anh tản mạn đôi điều về giọng Huế trong phim thật thuyết phục - “Tiếng Huế trong phim” (tr.93). Nói đúng âm vực, đúng giọng Huế phải là người Huế gốc, nhưng lập luận của anh lại là: “Đặc trưng về ngữ âm làm hạn chế khả năng diễn đạt của tiếng Huế…”, cho nên Huế vẫn là một phim trường hấp dẫn, nhưng “không cần thiết nhân vật phải nói giọng Huế” (tr.97). Lý giải tiếng Huế, giọng Huế chịu ảnh hưởng bởi dòng sông, bởi sự giao thoa pha trộn, những dòng văn của anh chứa đựng trí tuệ và sự am hiểu tường tận về lý do vì sao người Huế “dạ thưa lại trìu mến, thân thương bởi âm sắc đầu môi như tâm hồn sâu lắng, nhẹ nhàng…” (tr.108). Cũng có lẽ vì thế mà khi tiếp xúc với ai, tôi thường lắng nghe cái giọng để nhận ra cái hay trong giọng nói mỗi vùng miền. Tôi vẫn lắng nghe giọng một người bạn thân bởi các âm vực được phát âm tròn vành rõ tiếng, các phụ âm vừa rền, vang, nảy… nghe thật thích; bởi vậy khi đọc “Giọng Huế của tôi” (tr.116), tôi nhận ra Nguyên Du đã có một ân huệ trời ban đó là anh nói đúng “giọng Huế”, dù chỉ đọc trên đài phát thanh 1 năm, mà mấy chục năm sau những người buôn bán bình thường vẫn nhớ anh… Biên thư hay viết, chép, ghi… - “Thời ấy biên thư” (tr.98); vì sao có thành ngữ “Bolero chợ Nọ” (tr.104) là cũng bởi thể tản văn tái hiện được các hiện tượng giàu ý nghĩa xã hội… ý nghĩa liên văn bản cũng chính là ở đây, mỗi khúc tản văn của anh như một tấm khảm mới được dệt bằng kí ức, văn hóa, cái nhìn riêng tư chứa đựng trầm tích của các nguồn tư liệu được anh khai thác có dụng ý. Nhờ vào đặc trưng thể loại tản văn là loại văn tự do mà mạch cảm xúc của anh có thể chuyển động linh hoạt, để mỗi văn bản là một nguồn thông tin có giá trị. Nhẹ nhàng mà ngấm sâu vào tâm thức người đọc.

 

Trong “Vị Huế” mỗi khúc tản văn như là điểm nhấn cho một món ăn, một địa danh, một địa chỉ: “Bánh ướt Kim Long, Bánh khoái Thượng Tứ, Quán vịt Thuận, Chè mụ Lệ, thuốc lá Cẩm Lệ…” Bạn tôi đã xa Huế hơn mấy chục năm, điện thoại về hỏi tôi: Bánh khoái Thượng Tứ giờ còn không? Tôi chỉ muốn gửi những trang văn này đến bạn tôi, bởi cách miêu tả của Nguyên Du khiến tôi đây cũng muốn đi ăn vào dịp cuối tuần để ngắm nhìn, lắng nghe và thưởng thức (tr. 143). Không chỉ ăn bánh khoái mà còn hiểu biết về những chủ nhân của quán Lạc Thiện là những người không nói được bẩm sinh từ nhỏ - “rứa thôi, như sông Hương của Huế có nói chi mô mà ai cũng muốn ngày đêm tự tình, nhung nhớ, yêu thương” (tr.145).

 

Trong 11 khúc tản văn ở mục “Chuyện Huế”, đọc vào vừa thấy quen, vừa thấy lạ; quen là vì mình cũng đã từng chứng kiến, từng trải qua; lạ là vì có chuyện đã từng chứng kiển, trải qua mà chưa bao giờ tìm hiểu cho tường tận. Từ chuyện thiên tai “Nam lửa đổ khô cây”, “Dòng sông nổi giận”, đến chuyện ngủ đò “Đò trên sông Huế”, “Chuyện ngủ đò” hay là chuyện ma “Chuyện đồn đêm phố”, “Con ma Ơi”; chuyện đôi lứa “Chuyện ở phủ Thủ Hiến”, “Lời nguyền đôi lứa”… tôi tin là ai đã đọc qua sẽ có cảm giác “giật mình” bởi như “đốn ngộ” thêm một điều gì đó.

 

3. “Bí bầu lớn xuống” - “Ký ức vườn Huế”; “Sắc hương của phố”; “Một thời đi học” - “Tôi vào đời không từ cây cao bóng cả, mà chỉ từ bóng trứng cá năm nào…” (tr.53 – Bí bầu lớn xuống)

Người ta nói Huế là thành phố xanh, xinh đẹp như một lẵng hoa; để biết thêm thành phố xinh đẹp này, chúng ta cùng rong ruổi với Nguyên Du trong “Bí bầu lớn xuống”. Chỉ với “Hương ổi” (tr.27) mà sự nhận biết và quan sát của anh khá tỉ mỉ, đọc những dòng văn này lòng tôi chợt chùng xuống, năm nay tôi không được nhìn những bầy chim về ăn quả xoài trên cây xoài cao to che bóng hết nửa mảnh vườn, không được nhìn thấy bầy chim sẻ chuyện trò trên cây trứng cá… nhà tôi được ra mặt tiền, mở đường, con đường 26 mét, con đường mà lúc còn sống ba tôi hằng mơ ước. Quá trình đô thị hóa sẽ thu nhỏ những mảnh vườn và cũng mất đi những mảnh vườn đầy kí ức tuổi thơ.

 

Có những khúc tản văn của anh giàu vốn từ vựng ngữ nghĩa (Câu chuyện của mít, tr.33). Viết về cây trái mà cũng lẩy ra được nét Huế, con người Huế, thế cũng là tài: Dù bây giờ, vải Huế đem đi không cạnh tranh nổi với vải Lục Ngạn nhưng mấy mụ Huế cũng ra vẻ mần đày: “Nì! Vải Huế là vải trạng, vải ngự, vải tiến vua nì, ui chao ngon chi lạ hí” (tr.67). Tôi vẫn thường bắt gặp nét “kiêu căng” đó của người Huế khi bán cây trái vườn nhà như quả thanh long, quả vú sữa, quả chôm chôm, trái măng cụt… những loại quả này quả nhỏ, nhiều khi không ngọt bằng cây trái miền Nam mà người Huế nói ra vẻ ta đây lắm: Của vườn Huế đó, cây sạch, quả sạch… “Cây vả góc vườn” (tr.22) gợi lên trong tôi nỗi nhớ khó quên trong gần 2 năm đi công tác, lưu trú ở nhà công vụ, ăn cơm căn-tin và những trái vả Huế đã giúp tôi “trắng da dài tóc”…

 

Huế đang từng bước hiện thực hóa, xây dựng thành phố bốn mùa hoa, đọc “Sắc hương của phố” bạn sẽ gặp hình ảnh những loài hoa đài các sang trọng, những loài hoa thân quen gần gũi tuổi học trò, những loài hoa giản dị khiêm nhường… trên mỗi góc phố, mỗi con đường, trong mỗi mùa… qua giọng văn miêu tả của Nguyên Du trôi chảy, ngọt ngào trong tản văn. Càng đọc càng muốn đến Huế, hoặc đang ở Huế thì cũng muốn đến những con đường trên trang văn của anh để nghe cây cối trò chuyện, tìm lại kỉ niệm ngọt ngào của chúng ta trong mỗi khoảng thời gian đáng nhớ.

 

4. “Nhất Huế, nhì Sịa” - “Phố xá thân quen”; “Miền ngoại ô”; “Về quê”

“Nhất Huế, nhì Sịa” không chỉ là địa danh, dấu tích, lịch sử, văn hóa… mà còn lồng ghép trong đó chuyện họ hàng, quê hương, gia đình, tình yêu; tất cả hòa quyện trong mỗi trang tản văn dung dị, đời thường mà thân quen quá đỗi. Theo bước chân của Nguyên Du tôi đi loanh quanh mấy con đường, nhà ga, bến sông, những cây cầu… nơi tôi ở bằng chữ nghĩa. Đọc tản văn anh tôi biết rõ hơn từng cái dốc, từng tiếng còi tàu, từng quán xá… Anh như một nhân chứng sống kể tỉ mỉ từng dấu tích, từng địa danh, càng đọc tôi càng thấy mình lơ ngơ, như chưa từng sống mấy chục năm ở thành phố này vậy. Có biết bao người đang sống trong thành phố mà “lơ ngơ” như tôi; có bao nhiêu người am tường như anh; nhưng chắc chắn là khi đọc tản văn của anh cũng là lần đầu tôi biết Nhà Thiếu nhi Huế vốn là Dinh Tỉnh trưởng, bãi cỏ phía bên kia đường là nơi để máy bay trực thăng đỗ… (Dinh Tỉnh trưởng Thừa Thiên, tr.38); mỗi ngày tôi vẫn đi qua, đi về nơi đây mà cứ mặc nhiên nhi nhiên vậy, thật là cảm ơn Nguyên Du. Điều thú vị trong câu chuyện này là cậu học trò tiểu học Nguyên Du lúc ấy có những mơ ước thật là lãng mạn (tr.39, 40). Phải chăng trí nhớ, cùng ước mơ và trí tò mò thuở nhỏ đã mang lại năng lượng cũng như sức nặng cho những trang tản văn của anh, để khi đọc bài nào, trang nào cũng thấy thấp thoáng cái tôi của tác giả cùng biết bao dự định, biết bao ước mơ, và đặc biệt là rất trữ tình, bởi luôn luôn có hình ảnh những bóng hồng thoáng qua, lưu lại hay là mãi mãi gắn bó cùng nhau. Có những dòng tản văn lãng đãng, đọc xong rồi mơ màng nhớ lại một thời vụng dại, một thời say mê (Bên đường đi bộ, tr.44). Cũng có những khúc tản văn gợi thật nhiều liên tưởng: “Một thời tinh hoa” (tr.74), “Hồn phố Gia Hội” (tr.79), “Ngã giữa nơi nào” (tr.83), “Bạch Hổ - Dã Viên” – (tr.91).

 

Đến Huế không ai lại không dừng lại bên cây phượng “quốc dân” bên cầu Trường Tiền để chụp ảnh. Một công đôi việc, bức ảnh vừa có hình ảnh “cây phượng huyền thoại”, vừa có mấy nhịp cong cong của cây cầu Trường Tiền, thì khi đọc tản văn “Dáng phượng bên sông”; “Mấy nhịp Trường Tiền” của Nguyên Du hẳn sẽ vô cùng thú vị, cảm xúc sẽ thăng hoa cùng văn chương và bức ảnh đó sẽ có thêm hồn Huế, để rồi mãi luyến lưu.

 

Theo chân Nguyên Du đến “Miền ngoại ô”, tôi như được mở mang trí tuệ, phải nói là những địa danh liên quan đến dấu tích lịch sử nếu chỉ học trong môn Lịch sử, có thể khó nhớ, nhưng đọc trong tản văn của anh lại khiến mình nhớ lâu, lại muốn rong ruổi cùng anh để vừa thưởng ngoạn, vừa ngấm vào mình những cảm nhận bắt đầu từ trang văn của anh – giàu hình ảnh. Bạn muốn biết thêm về các di tích “Voi ré”, “Hổ Quyền” thì hãy đọc “Huyền tích Long Thọ”; biết thêm về câu thơ của Cụ Đồ Chiểu trong truyện “Lục Vân Tiên” đánh cướp cứu Kiều Nguyệt Nga ở đồi Hà Khê thì đọc khúc tản văn “Nguyệt Biều Lương Quán bao xa” (tr.116)...

 

Có biết bao “em” trong cả 3 tập tản văn dìu dịu, mơ màng, nhớ thương trong trái tim Nguyên Du, như lời anh chuyện trò với tôi: anh yêu nhiều, nhưng vẫn chỉ chung thủy với người vợ thùy mị nết na của mình (tr. 121, 122). Trong “Một bờ sông trắng” (tr.128) dù tác giả chưa đưa ra một kết luận nào về bài thơ “Lá diêu bông” của Hoàng Cầm hay “Mùa xuân chín” của Hàn Mặc Tử, nhưng chỉ vài trang ngắn ngủi anh đã cung cấp thật nhiều tư liệu về hai bài thơ này, đó cũng là lợi thế của thể loại tản văn, gợi nhiều hơn tả, kể mà như không kể… để rồi kết lại vẫn là câu văn mơ mơ hồ hồ “bờ sông trắng cũng rất mơ hồ”.

 

5. Viết tản văn ngoài cảm hứng, kí ức, kỉ niệm còn là sức đọc và khả năng nắm bắt tư liệu của tác giả; am hiểu tường tận về một nơi nào đó, hẳn anh không chỉ đi, chỉ nhìn, và kể mà còn đọc nhiều thì mới có một khúc tản văn “Đập Đá màu lũ” có sức nặng về tri thức và thông tin. Có những dòng văn đọc lên như là tiếng thở dài của người viết và sự đồng cảm của độc giả: “Huế cũng nghèo như sông, không lắm phù sa để nuôi người nên bao người đã bỏ cố xứ mà đi đến với những chân trời thoáng đạt, màu mỡ phù sa, cơ hội kim tiền, cũng có thể là một tình duyên không đi đến bến bờ” (tr.140)

 

Tôi thích hình ảnh “thằng Bù phệ” thấp thoáng trong cả 3 tập truyện, đặc biệt là trong tập Bí bầu lớn xuống. Đó là cậu bé hoang nghịch mà có bản lĩnh nên mới làm thủ lĩnh – “Nghịch đùa hoa cỏ” (tr.99); cũng là cậu bé nghèo khổ, giản, dị, chân thật đã hơn một lần không được nhận phần thưởng danh dự bởi vì cậu chỉ đi đôi giày rọ heo trắng ngà - “Cây mức guốc mộc” (tr.103); và cũng có lúc chịu lạnh co ro vì bạn bè chê áo này áo nọ, đọc “Chuyện tình đan áo” (tr.195), bất giác lòng mình thấy rưng rưng… Cậu bé có trí nhớ tốt và tài quan sát tất cả cảnh vật, con người, sự việc, nên “Một thời đi học” hiện về trên trang văn của anh thật giản dị, dễ thương, gợi lên nhiều nỗi nhớ trong lòng độc giả. Và trái tim thì hết sức đa cảm, lớn hơn chút nữa lại đa tình, cái tình theo anh suốt bao năm tháng để rồi đọng lại trên những trang tản văn thấm đẫm chất trữ tình – “Nhớ cà rem”, “Trò chơi thơ ấu” (“Thương nhất là Nhung bởi một mắt khóc nghiêng” – tr.214 – sao lại có câu văn hay thế nhỉ)  – là những khúc tản văn thật xúc động, tôi thích kiểu tiếc nuối ngọt ngào theo năm tháng như thế, có lẽ vì thế mà tâm hồn con người đẹp hơn, da diết hơn dù cuộc sống biết bao bộn bề lo toan.

Huế, 15/4/2021

Hoàng Thị Thu Thủy
Theo https://www.vanchuongviet.org/

Tái sinh - Biển vẫn hát cùng anh

Tái sinh - Biển vẫn hát cùng anh

(Đọc tập thơ TÁI SINH của Nguyễn Tiến Nên, NXB Hội nhà văn 2020)

Từ cây bút viết báo, viết ký, viết về văn hóa quê hương Cảnh Dương - Quảng Bình, nhà văn Nguyễn Tiến Nên đã có hai tác phẩm thơ Bến (2018), Hơn cả tình yêu (2020). Cùng đó là Xuân đường thi (2019 - in chung), lần này anh lại tiếp tục xuất bản tập thơ Tái sinh. Đọc tập thơ Tái sinh tôi nhận ra, khi ngôn ngữ cất lời hóa vần thơ sẽ là nơi mà cái tôi thi nhân gửi gắm tâm hồn mình và tìm sự đồng điệu tâm hồn cùng độc giả. Những vần thơ trong Tái sinh được viết trên những nẻo đường nhà thơ đi qua, trong cảm xúc từ những cảm nhận về thiên nhiên và con người, là những suy tư từ cuộc đời dâu bể… Anh giải bày về niềm tin cùng thơ ca với cái nhìn rất thật: thế kỷ trước/ anh đâu dám mơ làm chủ một phần mềm/ ngu ngơ trước chat game/ dọc ngang ngoài phố/ vài chục năm trước/ anh còn vểnh tai bởi nickname password/ nói gì tới iphone smartphone/ sành điệu vuốt ve/ thuở ấy anh chưa từng nghĩ mình sẽ làm thơ/ lóng ngóng trắc bằng/ ngữ ngôn thực luận/ mơ ước một câu thơ neo vào lòng biển/ đóng cuốn vở thật dày mang theo lúc ra khơi/ ở tuổi cổ lai hy/ anh trở thành chủ nhân bàn phím/ những destop laptop/ oshin tận tụy/ vẫn không dễ dàng có một câu thơ/ như ý/ nhưng anh tin khi hóa thành loài nhạn trắng/ biển sẽ hát cùng anh (Tin). Tôi biết có nhà thơ quan niệm, thơ ca là quý phái, nên cảm nhận thơ ca cũng như cảm nhận cái đẹp phải bước qua cái “mơ mơ hồ hồ” để hiểu hết ý tứ của một câu thơ, một bài thơ hay; tôi cũng biết có nhiều người đọc lên câu thơ thấy hay mà vẫn không biết vì sao hay, xem như là nghịch lý, nhưng đó mới là thơ. Cho nên, nhà thơ Nguyễn Tiến Nên dẫu biết vẫn không dễ dàng có một câu thơ/ như ý, nhưng anh vẫn viết, viết khi rong ruổi dặm dài qua mỗi địa danh, mỗi chứng tích, để rồi khi ngoái lại Tái sinh đã khá dày dặn với số lượng trên 60 bài.

      Ra mắt trong thời điểm lũ bão ở miền Trung dồn dập, Tái sinh như thức tỉnh tình yêu cuộc sống trong mỗi con người: hạt mưa ấy nằm đâu trong cơn lũ/ ngọn gió ấy nằm đâu trong bão dữ/ biển xanh nhường kia/ vẫn giấu mặt tử thần/ thương một thời những cặp mắt bồ quân/ hau háu xét dò/ ngậm đũa/ người lớn cay mắt nhìn nhau... (Thương); anh ngồi tính sổ với tháng Mười/ đâu có nợ nần gì nhau sao mặt mày dằn dữ/ đâu có bội bạc gì nhau sao ạt ào/ cuồng nộ/ lấy của đời bao nước mắt/ làm sông (Nước mắt tháng Mười). Mỗi bài thơ như là những bản “tốc kí tâm trạng” trong thời khắc cả tỉnh Quảng Bình đang chìm trong cơn “đại hồng thủy” - một đại họa chưa từng xảy ra, lúc này thơ ca kiêm luôn cả tính phóng sự, báo chí; âu đó cũng là nét riêng của thơ Nguyễn Tiến Nên.

Tập thơ tập hợp nhiều bài thơ ghi lại tâm trạng của thi nhân khi anh đi và đến những nơi, những địa danh bằng cái nhìn từng trải, cái nhìn mang xúc cảm thơ ca, đó là những bài: Bến K15; Bên cầu Thạch Hãn; Những chân hương cũ; Rau má ơi!; Cho em vào đời; Trước tượng đài Vua Quang Trung; Nhớ Cát Bà; Nỗi nhớ tàu bay… Tôi đã từng giật mình trước hình ảnh những em bé vùng cao trên trang thơ của anh, dường như tứ thơ đã hình thành trong cái nhìn tâm cảm, và cũng nhờ thơ anh tôi biết thêm một vùng đất, nơi đó trẻ em còn ngơ ngác, dường như văn minh chưa chạm đến đây: những ánh mắt vô hồn/ cái nhìn lấm lét/ cánh tay khạo khờ/ rụt rè đưa lên/ để làm gì - chẳng hiểu/ khô khan nụ cười/ hiếm hoi tiếng hát/ em bé Bản Troi/ gieo vào tôi/ con sóng/ neo vào tôi/ những dấu chấm hỏi... (Em bé Bản Troi).

      Có lúc ta bắt gặp tứ thơ khá bất ngờ ở những nơi mà nhà thơ chỉ một thoáng dừng chân: từ làng chài/ chuyển nước dời non/ đẩy lùi ngọn sóng/ sinh nở/ sinh tồn.../ tôi ém vào hành lý/ một thoáng Singapore! (Một thoáng Singapore) - chỉ một thoáng thôi mà con người làng chài, người thơ làng chài như muốn thu vào tầm mắt, thu vào nỗi nhớ cảm xúc choáng ngợp trước một đất nước có nền văn minh gần như bậc nhất ở vùng Đông Nam Á.

Anh đã từng say sưa nghiên cứu về truyền thống học hành khoa bảng, truyền thống yêu nước, truyền thống văn hóa để ra cuốn sách Cảnh Dương - tình đất - tình người (Nxb Thuận Hóa, 2020), nên anh đã có những vần thơ thật gan ruột với chính mảnh đất mình đang sống: Ai gom nắng sau cánh rừng/ trang điểm cặp má chiều bừng đỏ/ tôi với đá vẫn dùng dằng lần lữa/ biển Lý Hòa rờ rỡ trước mắt tôi/ Ngọn nồm về se sẽ vuốt ve/ dây muống biển mon men tình tự/ triều dìu dặt điệu “van” êm nhẹ/ đá mộng du/ hào phóng/ phăm phăm/ Bao lứa đôi vào độ tròn trăng/ vùi nụ hôn ngọt ngào trong hoa sóng/ đàn nhạn si tình say giỡn bóng/ Đá Nhảy chiều vừa “thế” vừa “tiên”/ Ân ái cùng em dẫu bấy nhiêu/ thêm mê đắm những/ thăng trầm/ mòi mặn/ Xin gửi hồn tôi/ vào bến bờ/ cánh chim/ cỏ cây/ gió nắng/ bức tranh muôn đời/ đằm thắm tình em… (Bức tranh chiều Đá Nhảy). Âu đây cũng là cái tình, cái tài của thi nhân khi sử dụng tứ thơ và thi ảnh để hoàn thiện bức tranh phong cảnh hữu tình về Đá Nhảy - một tuyệt tác điêu khắc của biển. Viết về biển, thơ anh phóng khoáng tự nhiên như chính tâm hồn của người con mang nặng tình đất, tình người Cảnh Dương: Sóng vẫn vồ vập hôn/ dềnh dàng ve vuốt/ lối tỏ tình/ dữ dội đắm say/ Bản tình ca thời gian/ chát nồng của máu/ mòi mặn xa khơi/ đắng đót bao đời… (Bản tình ca thời gian). Bài thơ ẩn chứa cảm xúc trữ tình lãng mạn của cái tôi thi nhân, và đó cũng là cảm xúc thơ khá nhuần nhị, mượt mà. Có những bài thơ được anh viết ra thật tự nhiên, thể thơ mới và hay: tháng năm/ vừa rít ngang hè/ tôi bồi hồi/ kéo chăn che/ nửa lòng/ thương sao/ cánh én bao đồng/ nỉ non chi/ suốt ngày không/ bạn bầu/ xoan đà phủ tím ngõ dâu/ gạo tưng tức vỏ/ nhỉ nhàu con tim/ tôi xin khăn gói đi tìm/ tháng năm cho những/ bóng hình/ cút côi... (Tháng năm).

Là người viết báo, nghiên cứu về văn hóa, nên cái nhìn của anh về tha nhân luôn hướng thiện, dẫu lời thơ có thật thà, hình ảnh thơ chưa bóng bẩy, nhưng đó cũng là cách thể hiện tâm hồn với vẻ đẹp nhân văn bằng thơ: tôi cắt lớp chiêm bao/ nhưng chúng cố tình ghép lại/ chim sáo hồn nhiên/ ríu rít cõi mơ/ sau nếp gấp vô thức/ những kịch bản ngược/ tôi - niềm tin cố hữu/ ngày tích thiện/ đêm chuyển duyên lành/ giấc mơ đẹp/ tạo sinh niềm vui/ con suối bộn bề/ ung dung nhập hòa/ sông biển/ không đơn thuần mộng mị/ nơi trút bỏ ưu phiền/ thai nghén ước mơ/ thánh thiện (Mơ). Ngôn ngữ thơ anh trở nên sắc nhọn trong cái nhìn chuyển đổi từ thời gian, đến không gian và con người; lòng thánh thiện phút chốc giông bão khi chứng kiến những kẻ “đồ tể” đang tàn sát “rừng”: buổi sáng/ gã thợ săn/ chào tôi/ nụ cười mùi thịt nướng/ buổi trưa/ ánh mắt khác/ nhìn tôi/ bằng màu đỏ tiết canh/ buổi chiều/ phố chợ/ ngập ngụa/ nước mắt rừng.../ đêm/ ác mộng (Rừng). Thơ viết như dao chém đá, vạch mặt kẻ tội đồ, nhịp thơ gấp gãy như tiếng thở dốc của con người hướng thiện cảm thấy bất lực trước cái ác, cái phi nhân tính…

Lấy tên tập thơ là Tái sinh, nhà thơ như muốn gửi gắm vào đó những ước mơ, những hi vọng cho những tháng ngày sắp đến trước bước đi âm thầm và quyết liệt của thời gian, tứ của bài thơ Tái sinh cũng thật mới, hình như anh đã bắt đầu bước vào lằn ranh giữa hiện đại và hậu hiện đại: chính là nó/ dù hữu hình - vô hình cũng đích thị nó/ nó sống bất phân định tĩnh - động/ đồng hiện - bất đồng hiện/ nó ra đời sau tôi phù thủy hơn tôi thích làm sư phụ tôi/ tôi thấy mình như ký sinh cùng nó trên một con nộm/ khi nó dư dật thể xác dư dật mọi thứ/ tôi trở nên giàu có dèm pha và dị nghị/ khi nó ngày càng mởn mơ thì tôi càng nhom nheo còm cõi/ khi nó bị phỉ báng thì chính tôi cũng chịu trăm nỗi đau hành hạ/ tôi đã vô tình để nó sống tầm gửi khác nào ốc tha gỗ mục/ nó khoác lác rằng chính nó mới cực nhọc tha tôi/ tôi cố tình tống khứ kẻ bần tiện/ ai - tha - ai?/ tự biết.../ tôi ngộ ra khi không còn nó/ tôi từ kiếp nộm tái sinh (Tái sinh).

Như anh từng viết: ở tuổi cổ lai hy/ anh trở thành chủ nhân bàn phím (Tin), đến với văn chương hơi muộn so với tuổi đời, nhưng dẫu ở độ tuổi nào thì văn chương luôn mới mẻ, là điểm tựa tâm hồn cho con người vượt qua bão giông. Với thơ, cảm xúc cái tôi trữ tình luôn là niềm hưng phấn, nét tươi vui mỗi ngày, và đó cũng là lý do để có tập Tái sinh, tập thơ thứ ba của anh đến với độc giả, như nhà thơ Nguyễn Ngọc Hạnh khi giới thiệu bài thơ Vịn của anh đã viết: Biết vịn vào đâu giữa đôi bờ hư thực, giữa mênh mông đất trời cho hồn thơ thanh thoát, Nguyễn Tiến Nên chỉ còn “vịn lấy chiều quê” để nghe “bóng đời mình rơi chậm” giữa buồn vui tràn trề...”([1]).

Chú thích:

([1]) Vịn (15/12/2018), http://cadn.com.vn/

Huế, 1/11/2020

Hoàng Thị Thu Thủy
Theo https://www.vanchuongviet.org/

Cái nhìn tham chiếu về văn học Việt Nam đổi mới của Phan Tuấn Anh


Cái nhìn tham chiếu về văn học Việt Nam đổi mới của Phan Tuấn Anh

7 chuyên đề trong cuốn “Văn học Việt Nam đổi mới – từ những điểm nhìn tham chiếu” của TS. Phan Tuấn Anh thực sự gây hứng thú cho người đọc bởi cái nhìn khoa học thẳng thắn, trực diện vào thực tiễn văn học Việt Nam đương đại về: Lý luận phê bình (LLPB) Văn học Việt Nam đổi mới – cấu trúc tam tài; LLPB trẻ hiện nay – thế hệ F, thực trạng và những soái ca; Văn học trẻ Việt Nam giai đoạn đổi mới; Văn học dành cho độc giả trẻ Việt Nam – cách tân và đặc điểm tư duy hậu hiện đại; tiểu thuyết giai đoạn đổi mới về đề tài chiến tranh biên giới – từ diễn ngôn dân tộc đến diễn ngôn nghệ thuật; nghiên cứu liên ngành trong nghiên cứu văn học (hậu) hiện đại – từ thế giới đến Việt Nam; sự vận động hệ hình của thơ ca cố đô Huế trong giai đoạn đổi mới (1986 – 2016). Mỗi điểm nhìn tham chiếu là một chuyên luận dày dặn từ cơ sở lý luận đến cơ sở thực tiễn. Về phương diện lý luận, tài liệu cung cấp cho người đọc cái nhìn thấu đáo về bước chuyển mình giữa các loại hệ hình văn học, văn học hậu hiện đại. Về mặt thực tiễn: giới thiệu khá toàn diện những tác gia, tác phẩm có ảnh hưởng đến nền văn học Việt Nam đương đại. Hệ thống tài liệu được sử dụng trong cuốn sách có độ tin cậy cao, vừa khoa học, vừa hiện đại; thể hiện cái nhìn đa chiều, biện chứng; tư duy lý luận, tư duy khoa học hiện đại. Đây là một hành trình nghiên cứu không mệt mỏi của tác giả Phan Tuấn Anh về một chặng đường văn học có nhiều đổi mới, còn nhiều ngổn ngang và cũng còn nhiều điều cần bàn luận, đó là một sự dấn thân cho khoa học đáng trân trọng.

1. Cấu trúc tam tài trong lý luận phê bình văn học đổi mới, tác giả chia các chặng đường LLPB thành 3 điểm nhấn: 1975 – 1986 – hướng thiên; 1986 – 1999 – quy địa; 1999 – 2016 – trọng nhân. Tác giả khái lược khá trọn vẹn từng chặng đường văn chương và những đổi thay của LLPB trong mỗi chặng đường đó. Ưu điểm của người nghiên cứu là ở năng lực nắm bắt tư liệu và tìm ra những nét cơ bản của các tài liệu LLPB liên quan mỗi giai đoạn văn chương, thể hiện năng lực đọc và thẩm thấu từng điểm nổi trội của LLPB trên mỗi chặng đường cũng như những gương mặt tiêu biểu trong LLPB ở mỗi chặng đường với tên tuổi của những nhà nghiên cứu văn học: Trần Đình Sử, Trương Đăng Dung, Phương Lựu, Huỳnh Như Phương…

 

2. Lý luận phê bình trẻ hiện nay, tác giả đã sử dụng các thuật ngữ “thế hệ F, những soái ca”. Có thể khi sử dụng thuật ngữ “soái ca” người đọc “khó tính” sẽ chưa đồng thuận, tôi cho rằng, tác giả muốn định danh cho một thế hệ có nhiều người vượt trội trong nghiên cứu và bình phẩm văn chương, và cũng là cách nói của thế hệ F. Tác giả cũng là “soái ca”, bởi anh thuộc thế hệ 8x mà có cả bề dày các giải thưởng: 5 giải thưởng từ năm 2007 – 2015 về nghiên cứu khoa học, văn học nghệ thuật, tác phẩm xuất sắc… Tác giả cũng thuộc thế hệ F, nên sự am hiểu về công nghệ, mạng xã hội và ý nghĩa của những trang mạng LLPB đã được tác giả phân tích, nhận định, đánh giá mang tính khả thủ (tr.51). Người viết cũng chỉ ra những hạn chế và thuận lợi của văn học mạng, đặc biệt là phân tích khá kỹ về sự đối mặt của thế hệ F với “những con thủy quái khổng lồ Loch Ness”. Nghiên cứu về những hạn chế hoặc khó khăn của những nhà LLPB thế hệ F, tác giả đã đưa ra những lập luận, những con số thống kê khá thuyết phục về chương trình học, về công việc, và lối viết sự vụ khiến cho người nghiên cứu khó có thể có những công trình dài hơi, mang tính học thuật cao; theo tôi, còn liên quan đến vấn đề in ấn và xuất bản. Với lối viết nhìn điểm và diện, tác giả giới thiệu khá sắc sảo một số công trình của một số nhà LLPB hiện nay.

 

3. Văn học trẻ Việt Nam giai đoạn đổi mới, Phan Tuấn Anh đã có những lý giải và đóng góp mới của mình khi chỉ ra “ba bước chuyển hệ hình trong văn học Việt Nam và vai trò của các nhà văn trẻ”, “thơ trẻ Việt Nam – nhìn từ những cách tân theo hệ hình hậu hiện đại”. Phát huy thế mạnh của người nghiên cứu về văn học hậu hiện đại, lại là nhà thơ từng có giải thưởng về tác phẩm thơ; tác giả đã có những trang viết thật hay, thật thuyết phục khi phân tích, lý giải khá tường tận về các cách thức: thơ như là trò chơi ngôn ngữ; thơ như là sự phì đại ngôn ngữ; thơ như là sự cực hạn ngôn ngữ; (tr.106-121). Theo anh thì nhà văn trẻ bởi họ nhạy cảm với cái mới, hoặc nhờ phẳng hóa thế giới của công nghệ số mà hội nhập với hơi thở của nghệ thuật đương đại… Họ có điểm mạnh trong sáng tác, lại có điểm yếu trong tiếp cận với độc giả, điều này khá dễ hiểu, khi mà tác phẩm của họ viết ra khó có chỗ đứng trên thị trường in ấn.

 

Ở mục này, tôi thấy, ở bước chuyển hệ hình thứ nhất, lưu ý 3 thập niên đầu của thế kỷ XX. Bước ngoặt tư duy thơ theo hệ hình hậu hiện đại có cả những bậc lão thành có cả hành trình sáng tác với những cách tân không ngừng nghỉ. Tiêu chí xác định nhà văn trẻ, nhà phê bình trẻ, chắc sẽ có nhiều tranh luận tiếp theo. Theo tôi, dù sáng tác theo hệ hình nào mà hay thì vẫn dễ dàng đến với độc giả. Ví dụ, cuộc ra mắt sách về tiểu thuyết “Cô độc” của Uông Triều, hoặc là cuộc tranh luận về thơ tân hình thức (Vũ điệu không vần – Khế Iêm, Tiểu luận thơ), thì cuối cùng điểm đến vẫn là độc giả có tiếp nhận hay không.

 

4. Văn học dành cho độc giả trẻ Việt Nam… tác giả đã có những phân tích, đánh giá khá lý thú về các tác phẩm của nhà văn Cù Đình Tú và nhà văn Văn Thành Lê. Với tư duy lý thuyết hệ hình hậu hiện đại, với cách cảm thụ văn chương vừa mẫn cảm, vừa khoa học, anh đã chỉ ra được thành tựu và hạn chế của cả hai nhà văn với hai tác phẩm “Chú bé đeo ba lô màu đỏ” và “Không biết đâu mà lần”. Phan Anh Tuấn đã có những trang viết đậm chất lý luận với các lý giải, thuật ngữ khá chính xác trong loại hình văn học hậu hiện đại. Anh phân tích các tác phẩm vừa có lý luận thi pháp, vừa có cái nhìn khoa học khi vận dụng lý thuyết hậu hiện đại. Lối phân tích thật hay trong từng luận đề, trong từng quan điểm. Chỉ ra được vị trí, đối tượng bạn đọc của hai tác phẩm: thiếu niên và thanh niên. Ở chương này còn thể hiện nhiệt huyết của người nghiên cứu về một nền văn học đích thực của Việt Nam dành cho thiếu nhi (đây là điểm mà chúng tôi vẫn trăn trở khi giảng dạy mảng văn học này ở trường Sư phạm). Chuyên đề này ngoài tính lý luận còn là định hướng chiến lược trong tiếp nhận văn bản đối với bạn đọc.

 

5. Tiểu thuyết giai đoạn đổi mới về đề tài chiến tranh biên giới… Tiểu thuyết về nhiều phương diện đã và đang báo trước sự phát triển tương lai của toàn bộ văn học. Khi nghiên cứu về thể loại này tác giả đã chỉ ra những điểm mới khá thú vị: những thập niên cuối của thế kỉ XX, số lượng tác phẩm tiểu thuyết chưa nhiều và cùng với sự chuyển biến về tình hình chính trị khu vực và thế giới thì sang thế kỷ XXI đã tăng số lượng tác phẩm viết về đề tài chiến tranh biên giới; những nhà văn thành danh với mảng đề tài này là những sĩ quan quân đội, nắm giữ các chức vụ lãnh đạo trong Tạp chí Văn nghệ Quân đội; tuy là ở ngoại biên, nhưng đã tìm được sự khẳng định nhiều phía trong văn học nước nhà qua một số giải thưởng văn học trong những năm gần đây. Khi lý giải: Tiểu thuyết viết về chiến tranh biên giới như là diễn ngôn chủ nghĩa dân tộc, người viết đã phân tích những ví dụ tiêu biểu trong các tác phẩm Hoang tâm, Xác phàm (Nguyễn Đình Tú), Miền hoang (Sương Nguyệt Minh) để chỉ ra tội ác man rợ của bọn Khmer Đỏ đối với nhân dân ta và với cả nhân dân Campuchia. Tác giả đã chỉ ra hình tượng người lính được xây dựng trong các tiểu thuyết vẫn chưa vượt thoát khỏi ấn tượng sử thi và lãng mạn. Từ góc độ diễn ngôn nghệ thuật, cái nhìn tham chiếu của người viết để lại nhiều đóng góp về mặt học thuật qua các phạm trù mang tính lý luận thi pháp hậu hiện đại: diễn ngôn tính dục, diễn ngôn chấn thương, diễn ngôn huyền ảo, diễn ngôn đa thanh… Ví dụ, trong tiểu thuyết Xác phàm, nhà văn Nguyễn Đình Tú đã không tránh né khi viết về đồng tính, chuyển giới; trong Mình và họ, hay Miền hoang nhà văn không ngần ngại khi viết về các chấn thương về tinh thần và thể xác, bởi vì đó mới là hiện thực khốc liệt của chiến tranh. Cái huyền ảo trong Miền hoang tô đậm thêm cái hiện thực chiến tranh và nỗi đau tinh thần của người lính, cũng nhờ thế mà văn học gần gũi hơn với đời sống con người. Diễn ngôn đa thanh đã cách tân kết cấu tiểu thuyết theo hướng mê lộ và liên văn bản. Những phân tích, lý giải sắc sảo của nhà nghiên cứu cũng là định hướng mới cho tiếp nhận tác phẩm tiểu thuyết về đề tài chiến tranh biên giới.

 

6. Nghiên cứu liên ngành trong nghiên cứu văn học (hậu) hiện đại… là một định hướng đúng trong học thuật. Tôi thực sự hứng thú khi đọc chương này, cái nhìn của người nghiên cứu vừa đa chiều, vừa trí tuệ; trong anh có cả hệ thống lý luận vững chắc bởi khả năng tổng hợp, khái quát nhiều lý thuyết, nhiều hệ hình phê bình văn học, đặc biệt là lý thuyết văn học hậu hiện đại để lý giải tính liên ngành trong học thuật, nghiên cứu. Đọc chương này, hẳn nhiều người giật mình, vì xưa nay mãi thâm canh trên một cánh đồng, ngỡ là mình siêu việt, có biết đâu rằng việc đó sẽ trở nên lạc hậu và kéo lùi xu hướng toàn cầu hóa của văn chương.

 

Từ cơ sở triết – mỹ học, (tr. 190), xu hướng toàn cầu hóa, phổ cập hóa tri thức thông qua quá trình lớn mạnh không ngừng của mạng internet và các phương tiện truyền thông kỹ thuật số đa phương tiện; xu hướng nghiên cứu chuyển sang hướng liên văn hóa, liên dân tộc và liên quốc gia. Người viết đã nhấn mạnh vai trò của văn học so sánh;  với những nhận định về văn chương mang bản chất là một siêu hệ thống, nó là thành viên của tổng thể văn hóa (tr.200). Nền tảng thúc đẩy cho hướng tiếp cận liên ngành trong khoa nghiên cứu văn học là sự xuất hiện của lý luận văn học hậu hiện đại, triết học hậu hiện đại là triết học đa bội… Ở đề mục này tác giả đã thuyết phục người đọc bởi hệ thống lý luận sắc sảo cùng những tài liệu sử dụng làm dẫn chứng. Ở mục Nghiên cứu liên ngành khoa học xã hội trong nghiên cứu văn chương được khảo cứu trên các lĩnh vực: triết học, xã hội học, tâm lý học, ngôn ngữ học. Ở mỗi mối quan hệ, người viết đã phân tích, lý giải và đi đến những kết luận sáng rõ, khoa học. Lấn sang địa hạt khoa học tự nhiên: vật lý học, y học và sinh học, khoa học môi trường, tác giả đã làm sáng rõ thêm đặc tính, đa bội, lai ghép của tư tưởng nghệ thuật hậu hiện đại.

 

7. Sự vận động hệ hình của thơ ca cố đô Huế… Điều khiến cho người đọc hứng thú ở điểm nhìn tham chiếu này là cái nhìn của người nghiên cứu thật sâu sắc về diện mạo văn học Huế từ 1945 đến nay, anh vừa có cái nhìn toàn diện về vị trí, sự thay đổi, bước thụt lùi của nền lý luận, phê bình, sáng tác ở Huế; vừa phân tích khá thấu đáo từng chặng đường văn chương ở Huế, sự thay đổi hệ hình sáng tác về thơ ở Huế, chân dung các nhà thơ cùng những đóng góp, cách tân của họ đều được giới thiệu gọn gàng, sắc nét, chặt chẽ, mang tính lý luận và thực tiễn cao. Một bản tổng kết xứng tầm của một Tiến sĩ tài năng với bề dày văn chương ở đất Cố đô. Đọc Đoản khúc của Phan Tuấn Anh bạn đọc sẽ nhận ra cảm thức thơ hậu hiện đại viết theo lối liên văn bản của anh.

 

Với “Văn học Việt Nam đổi mới – từ những điểm nhìn tham chiếu”, bạn đọc sẽ như được tiếp thêm lửa, bởi cái nhiệt tình, cái hăm hở của tác giả được viết ra trên nền tảng tư duy lý luận hiện đại, tư duy khoa học sắc sảo mang tính bao quát, tổng kết khá toàn diện về văn học Việt Nam đổi mới. Mỗi điểm nhìn tham chiếu là một điểm khai mở cho độc giả, để từ đó bạn đọc có thêm tri thức, hiểu biết và có cả bàn luận cùng tác giả.

Huế, 27/12/2019

Hoàng Thị Thu Thủy
Theo https://www.vanchuongviet.org/

Thơ chọn Đặng Nguyệt Anh


Thơ chọn Đặng Nguyệt Anh

Tôi nhận được tập thơ chọn 101 bài của nữ thi sĩ Đặng Nguyệt Anh trong những ngày cả nước thực hiện lệnh “giãn cách xã hội” bởi đại dịch Covid-19, một đại dịch chưa từng có, đã và đang xảy ra trên toàn cầu. Cầm tập sách, cảm xúc thật trân quý, bởi may mắn là mùa hè năm 2019, tôi gặp chị tại Tp. Hồ Chí Minh trong thời khắc tuy vội vã mà chân tình, thương mến. Tôi quyến luyến chị bởi sự nhẹ nhàng, mềm mại, chân tình và tôi đã từng viết về thơ chị “Nét duyên thầm trong lục bát tôi”, đúng là ở chị có nét duyên thầm khiến người khác lưu luyến.

Người con gái sông Ninh đã từng định danh, định tính bằng thơ “Ngày đi xa/ ta gửi lại vầng trăng dưới đáy sông Ninh/ gửi lại nửa đời con gái/ gửi lại dấu chân ta thơ dại/ trên bãi cói phù sa/ con cáy, con còng chui vào làm tổ” (Sông Ninh); người con gái ấy dám băng mình vào Trường Sơn, vượt lên bao gian khổ: “Ngày ấy/ Trường Sơn… bàn chân nhỏ đạp bằng đá núi/ Ơi Trường Sơn diệu vợi” để rồi “Cơn sốt rừng theo em về phố” (Ngày ấy); chị đã sinh con ngay nơi chiến trường bom đạn “Rừng miền Đông/ là nơi chôn rau cắt rốn của con/ là trang lý lịch đầu đời của con” (Rừng miền Đông và con gái tôi)… Không thể tin nổi, người con gái liễu yếu đào tơ, cô giáo dạy văn thân thương ấy dám vượt suối băng rừng tham gia chiến trận, cùng đồng hành với người chồng chiến sĩ, cùng nếm trải những gian khó, hiểm nguy nơi tuyến đầu, người con gái ấy có tâm hồn thơ dạt dào, ghi lại những cảm xúc rung động của lòng mình trong những đêm thao thức, những ngày hành quân mệt nhọc. Thơ như là nơi trao gửi, chứng kiến; là cứu cánh để nuôi dưỡng nghị lực, và đó là nghị lực phi thường, bởi chị đã can trường đối mặt cùng bom đạn. Tâm hồn người con gái ấy thật đẹp: “mẹ ơi lòng dạ bồn chồn/ phía sau đỉnh núi/ trăng non lên rồi/ con nhớ không nguôi/ mái trường xưa lưu luyến/ các em nhỏ nhìn con trìu mến/ mắt đen tròn long lanh” (Đêm Trường Sơn).

 

Tôi đã từng xúc động khi đọc bức thư của chị Dương Thị Xuân Quý gửi cho con khi ra chiến trường, cũng từng đọc “Bài thơ về hạnh phúc” của nhà thơ Bùi Minh Quốc (Dương Hương Ly), nên càng thấu hiểu xúc cảm thơ của chị Đặng Nguyệt Anh trong những năm tháng ở chiến trường.

 

“Nhà văn phải đau ở đâu đấy viết mới hay”, với nữ thi sĩ Đặng Nguyệt Anh, không phải là “đau” mà là trải nghiệm, trải nghiệm ở chiến trường khốc liệt đã giúp chị hiểu ra nhiều điều, và chắc chắn khi trở về đứng trên bục giảng dạy văn, chị sẽ dạy cho học trò thấu cảm những áng văn chương giàu giá trị nhân văn. “Em đã qua một thời bão lửa/ lớn lên cùng đất nước chiến tranh/ ai cũng nghe như Tổ quốc gọi tên mình: đánh Mỹ/ tuổi trẻ ra đi hồn nhiên giản dị/ em đã đi dọc Trường Sơn một trăm ngày đêm/ mới hiểu câu ca: chân cứng/ đá mềm” (Thơ viết tuổi 45).

 

Tôi đã từng viết: “Thi phẩm “Lục bát tôi” đã định hình, định danh cho một phong cách thơ của Đặng Nguyệt Anh, nữ tính, dịu dàng, đằm thắm, mang nét duyên thầm của người con ở quê hương Nam Định – mảnh đất khoa bảng, mảnh đất có nhiều thi nhân nổi tiếng xưa nay”([1]).

 

“Bao giờ cho đến ngày xưa/ để cho người ấy đón đưa tôi về/ cơn mưa run rẩy màu hè/ đan thành kỷ niệm chở che hai người/ Thế rồi năm tháng dần trôi/ Và tôi cứ lớn bên người. Hồn nhiên/ biết đâu là nợ là duyên/ nào ai có dám hẹn nguyền gì đâu/ vậy mà lại dở dang nhau/ để heo may thổi bạc đầu mùa thu/ người về ôm kỉ niệm xưa/ lục bình ai thả bơ vơ giữa dòng/ Thế rồi chết một mùa đông/ tôi đi lấy chồng. Người ấy ngẩn ngơ/ bao giờ lại đến ngày xưa...” (Bao giờ lại đến ngày xưa).

 

Những vần thơ lục bát tài hoa của chị như níu kéo tâm hồn người đọc về với những vần thơ lục bát trong ca dao, như đưa tâm hồn mình trở về với hiện tại, rồi tiếc nuối, rồi day dứt, rồi tơ tưởng, rồi nhớ nhung và rồi khao khát bởi “Và tôi cứ lớn bên người. Hồn nhiên”, cũng bởi “tôi đi lấy chồng. Người ấy ngẩn ngơ”...

 

Tôi rất thích cái chất dân gian trong tứ thơ “Khúc hát sông Cầu” của chị: “Vôi nồng vẫn nhớ trầu cay/ Để cho anh tiếc cái ngày còn không/ Lơ thơ nước chảy đôi dòng/ Bắc cầu dải yếm/ Qua sông/ đưa người”. Ca dao có câu “Ước gì sông rộng một gang, bắc cầu dải yếm để chàng sang chơi”, nữ thi sĩ đã làm mới tín hiệu thẩm mĩ về “cây cầu, dòng sông”, về lời hát trong “Quan họ Bắc Ninh”, nhờ thế mà bài thơ mượt mà, níu kéo, trôi chảy trong cảm xúc người đọc. Sông Ninh đi vào thơ chị như là cố tri: “Ngày đi sông hãy còn trinh/ nay về hát khúc huê tình tặng sông... Xa xôi mấy cũng tìm về/ để thương con sóng... vỗ về sông ơi” (Sông Ninh ơi). Ra chiến trường, nhớ mẹ, nhớ quê là nhớ sông. Sống xa quê, mỗi khi cảm xúc dâng trào lại nhớ sông, đó là dòng cảm xúc ký ức đẹp trong thơ chị.

 

Là thơ chọn, là tuyển tập, nên có nhiều bài thơ ghi dấu những nơi chị từng đến và gửi lại trong thơ cảm xúc của mình. Chỉ dừng chân hai ngày với Huế mà chị có những câu thơ mang hồn vía của Huế, cứ như là Huế có trong tâm thức chị tự bao giờ: “Thướt tha áo tím qua cầu/ Huế trong huyền thoại sắc màu lung linh/ ngàn xưa đã tạc dáng hình/ Hương Giang soi bóng ngự Bình thông reo/ Huế đằm thắm biết bao nhiêu/ Huế kiêu hãnh những vương triều cố đô/ thủy chung là Huế đợi chờ/ Huế bình thản trước bốn mùa gió mưa” (Với Huế). Đọc bài thơ này, khiến tôi suy nghĩ về hành trình sáng tạo của nhà thơ, thơ ca không phải có cảm xúc bất chợt là viết, mà phải có độ chín trong cảm xúc, đặc biệt là phải tìm cho được tứ thơ, với tứ thơ “với Huế”, thì không thể chỉ là thi ảnh thoáng qua trong hai ngày, mà thi ảnh và ngữ liệu đó đã đằm sâu trong tâm tưởng, để rồi khi viết ra nó như là máu thịt, như là lắng sâu, như là suy tưởng, có như thế thì độc giả sẽ neo đậu trong trí nhớ về cái nhìn của thi nhân về một vùng đất văn hóa, vùng đất đã khiến bao tao nhân mặc khách lưu luyến khi đến Huế.

 

Chị đi được nhiều nơi trong nước và trên thế giới, đó cũng là may mắn của chị, không ai dễ gì có những chuyến đi hạnh phúc như chị. Đọc những bài thơ viết về những nơi nữ thi sĩ từng đi qua, mới thấy đi du lịch cùng vốn văn chương từ trong các bộ tiểu thuyết đồ sộ của văn học thế giới, mà chiêm ngưỡng và trải nghiệm quả là hạnh phúc lớn lao của con người. Khi đọc bài thơ “Vạn Lý Trường Thành”: “Ta đâu mơ hảo hán/ Vẫn lên Vạn Lý Trường Thành/ Để được gần trời xanh, mây trắng/ Đón gió bốn phương lồng lộng thổi về/ Để chiêm ngưỡng công trình vạn kỷ”, bất giác tôi như gặp được trong thơ chị cái chí của người quân tử, cái chí mà người xưa từng viết: “Hữu thì trực thướng cô phong đính/ Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư” (Ngôn hoài - Không Lộ thiền sư) – (Có khi xông thẳng lên đầu núi/ Một tiếng kêu vang lạnh cả trời – bản dịch Kiều Thu Hoạch).

 

Nữ thi sĩ dọc ngang muôn dặm trên đường đời, viết nên bao nhiêu vần thơ nặng tình với những người thương yêu, với quê hương, với bè bạn, cũng có lúc nhìn thẳm sâu vào cái tôi phận nữ: “Người đàn bà/ lặng im/ tựa vào đêm/ mông lung hoang tưởng/ nghe chập chờn/ tiếng thời gian vọng về/ nàng là ai?/ Có phải ngày xưa/ nàng là trinh nữ? Có phải ngày xưa/ nàng là quận chúa? Bao nhiêu hoàng tử/ quỳ dưới chân nàng!/ Đêm bàng hoàng/ Người đàn bà choáng váng/ Nỗi cô đơn vực nàng dậy/ Người đàn bà im lặng/ tựa vào đêm” (Người đàn bà). Những câu hỏi tu từ nối tiếp nhau bộc lộ lòng trắc ẩn, sự cảm thông trong cái nhìn thi sĩ.

 

Với nhà thơ Đặng Nguyệt Anh, thơ sáng tác theo thể lục bát vẫn là quen thuộc, bởi có những câu thơ của chị lênh đênh cùng năm tháng, cùng biết bao tuyển tập rồi trở về với chị trong vẹn nguyên một thi tứ: “Nếu anh biết được…/ chiều nay/ gió từ đâu thổi/ để gầy nhành mai/ Một đời/ gió có vì ai/ xô nghiêng chiều tím/ ra ngoài hoàng hôn” (Nếu anh biết được...). Đặng Nguyệt Anh đã làm mới câu thơ lục bát bởi nhịp điệu biến thiên trong mỗi bài thơ, nhờ thế mà sáng tạo của chị luôn mới, không nhàm chán, vẫn hiện đại bởi cái nhịp điệu vượt thoát đó: “Từ em/ gọi nguyệt về trăng/ là khi tôi đã gọi rằm/ sang đêm/ Hoang sơ/ một lối cỏ mềm/ cháy lên em… thắm sáng miền nhân gian” (Cháy lên em…)

Thơ là hình thái nghệ thuật cao quý và tinh vi, nữ thi sĩ Đặng Nguyệt Anh đã làm tròn sứ mệnh cao cả của mình với thơ, bởi chị có một hành trình thơ dày dặn, với những tác phẩm thơ để lại nhiều ấn tượng với người đọc. 101 bài thơ chọn cũng là cách ghi nhớ và lưu trữ hành trình sáng tạo không ngừng nghỉ của chị, ngoài những cố gắng vượt thoát, làm mới thơ ca trong thể loại, nhịp điệu, ngôn ngữ, cấu tứ; thơ chị còn bộc lộ tài thơ qua những vần thơ dung dị, nhẹ nhàng như nét dịu dàng dễ thương của người con gái kinh Bắc: “Tôi còn một chút hồng hoang/ thì xin em cứ địa đàng trăm năm/ Tôi còn một chút xa xăm/ xin em đừng khép mình trong ngục tù/ Tôi còn một bến hoang vu/ lênh đênh tôi kẻ lãng du giữa đời/ Tôi còn một chút tôi thôi/ xin em gìn giữ luân hồi có nhau/ Tím xưa dù có bạc nhàu/ đường xưa dù có lỗi câu hẹn thề/ Tôi còn một trái tim mê/ cõi em xin được đi về ngàn năm” (Tôi còn).

Chú thích:

([1]) Tạp chí Hồn Việt, số 135, tháng 4/2019, tr.56 - 58

Huế, 14/4/2020

Hoàng Thị Thu Thủy
Theo https://www.vanchuongviet.org/

Chúng ta không cần phải đẹp lắm - Một bài thơ hay


Chúng ta không cần phải đẹp lắm - Một bài thơ hay

Để yêu nhau chúng ta không cần phải đẹp lắm

Phải giỏi giang hơn mọi người, phải biết nấu ăn ngon

Không phải lúc nào em cũng cần phấn son

Để yêu nhau chúng ta còn nhiều việc phải làm

 

Khi nửa đêm trời sao tối dần, sương mù

Rơi lặng lẽ, bầy ngỗng trời bay qua

Cất tiếng kêu, tiếng chúng không hay lắm

Buồn rầu, cô quạnh, khàn khàn, xa vắng

Không cần phải ngọt ngào, cũng làm anh thức giấc, ngồi lên

Nhìn đăm đăm vào tường, ra mở cửa sổ, nhìn xuống vườn

Bóng của chúng bay lướt qua, một con bay sau cùng

Lạc trong sương mờ tối, như ngày ấy

Anh bỏ rơi em

 

Để yêu nhau em không cần phải xinh đẹp lắm

Không cần phải bay đến chốn vô cùng

Không cần quá thông minh và đi chân đất

Không cần phải sexy và bận đồ nóng nhức mắt

Không cần phải hát hay, để yêu một người đàn ông

Em chỉ cần bay qua mái nhà lúc nửa đêm

Trong giấc mơ của anh

Bay chậm lại, bay sau cùng

Như một cánh chim lạc bầy, như ngày ấy

Khi em bỏ rơi anh

Nguyễn Đức Tùng

 

Thật hữu duyên, khi tôi đọc được bài thơ Chúng ta không cần phải đẹp lắm trên trang “Thơ tình thứ bảy” của nhà thơ Nguyễn Đức Tùng; bài thơ có thi tứ độc đáo, góc nhìn riêng, tôi có cảm nhận thơ anh rất mới. Bài thơ như là sự cô đặc và nén chặt của một cuốn tiểu thuyết có nhiều phân mảnh, nhiều trường đoạn, mà trong đó cái tôi trữ tình như tự soi chiếu và cảm nhận sự mất mát, tiếc nuối khi mất đi tình yêu.

“Để yêu nhau chúng ta không cần phải đẹp lắm” – tứ của bài thơ thật bất ngờ khiến người đọc như giật mình, đốn ngộ, và bài thơ như chạm vào cái tôi thẳm sâu trong trái tim đang yêu và khao khát một tình yêu. Kết từ “để” đặt ở đầu câu, nói rõ mục đích của sự việc: “để” “yêu nhau” thì “không cần phải đẹp lắm” – nghĩa là có đẹp, phải đẹp, nhưng “không cần phải đẹp lắm” – phụ từ “lắm” là mức độ được đánh giá là cao, nhưng đã có từ phủ định: “không cần phải”. Lập tứ bằng một câu thơ có sự sắp xếp chặt chẽ của ngôn từ như thế là đã gây ấn tượng đến tâm thức của người đọc, bởi lối tư duy vốn đã quen thuộc trong chúng ta là đã yêu thì phải “Dịu dàng quá, dịu dàng không chịu nổi” (Olga Berggoltz), hoặc phải “Dữ dội và dịu êm” (Xuân Quỳnh)… Nguyễn Đức Tùng đã lập tứ bằng cái nhìn trung tính, trầm tĩnh, chứa đựng chiều sâu của triết lý “Để yêu nhau chúng ta không cần phải đẹp lắm”. Cái tôi của thi nhân phân thân trong cái nhìn sâu vào kí ức, hòa quyện giữa vô thức, tiềm thức và ý thức của cả anh và em.

 

“Khi nửa đêm trời sao tối dần, sương mù/ Rơi lặng lẽ, bầy ngỗng trời bay qua/ Cất tiếng kêu, tiếng chúng không hay lắm/ Buồn rầu, cô quạnh, khàn khàn, xa vắng…”. Thời gian để anh lắng nghe anh là lúc “nửa đêm”, không gian vào lúc này thanh tĩnh đến mức anh nghe tiếng kêu của “bầy ngỗng trời” – nghệ thuật dùng động tả tĩnh khá quen thuộc trong thơ trung đại “Một tiếng trên không, ngỗng nước nào?” – (Thu vịnh – Nguyễn Khuyến); mà đặc biệt là tiếng kêu của chúng không hay, khàn khàn –  không ngọt ngào, không lãng mạn… thế mà “cũng làm anh thức giấc, ngồi lên”, hư từ “cũng” là điểm nhấn của câu thơ, như ngầm chỉ về sự giống nhau của hiện tượng, trạng thái. Nghe tiếng kêu của đàn ngỗng trời bay qua mà anh hình dung “một con bay sau cùng” cũng như nỗi xót xa, nẫu ruột, đớn đau trong anh, bởi ngày ấy “Anh bỏ rơi em”. Hai dòng thơ cuối ở khổ thơ thứ hai như lạc nhịp, phá bỏ lối diễn đạt thông thường: “Lạc trong sương mờ tối, như ngày ấy// Anh bỏ rơi em” – 5/ 3// 4; trạng ngữ chỉ thời gian “như ngày ấy” đặt vào cuối dòng thơ thứ nhất, ngắt giữa 2 dòng thơ tạo thành sự đứt gãy nhịp điệu của cả câu thơ, nhấn mạnh sự việc “Anh bỏ rơi em”. Kết từ “như” trong cụm từ “như ngày ấy” đã biểu thị sự so sánh giữa tiếng kêu của bầy ngỗng trời, cùng cánh chim của con bị lẻ đàn đuối sức, với chuyện “anh bỏ rơi em” – cái nhìn của thi nhân đã soi chiếu đến tận cùng của nỗi đau vì sự mất mát, tiếc nuối; đó cũng là lối sử dụng biểu tượng nhằm tri giác cái bất khả tri giác. Thi ảnh dịch chuyển cùng cái nhìn của cái tôi thật nhiều luyến tiếc, bởi ngày ấy “anh bỏ rơi em”. Hình ảnh “một con bay sau cùng” cùng cánh chim lạc lối ấy như soi tỏ trong tâm thức anh một nỗi đau không biết tự bao giờ, nỗi đau không chỉ xuất hiện một lần, mà nhiều lần, bởi vì khi đàn ngỗng trời bay qua… anh đã thức giấc, thời gian câu thơ đã viết rõ là “nửa đêm”, và còn ẩn ngầm thêm cả thời gian mùa – bầy ngỗng trời thường bay đi khi chuyển mùa từ thu sang đông… Tự thú nhận “anh bỏ rơi em”, và từ đó biết bao lần lúc nửa đêm anh nghe tiếng ngỗng trời mà bật dậy? Sự luyến tiếc lớn đến chừng nào, bởi vì lúc “anh bỏ rơi em” là lúc anh chưa ngộ ra rằng: “Để yêu nhau chúng ta không cần phải đẹp lắm”.

 

“Để yêu nhau em không cần phải xinh đẹp lắm” – cái nhìn về em trìu mến, bao dung làm sao. Không cần em là người đẹp, người tài, người nổi bật, mà chỉ cần tâm hồn em quấn quít lấy anh, mãi ở bên anh. Nên “Em chỉ cần bay qua mái nhà lúc nửa đêm/ Trong giấc mơ của anh” – giấc mơ vi diệu về một tình yêu thật giản dị, ngay cả “Khi em bỏ rơi anh”. Thời gian vẫn là nửa đêm, không gian không xa xôi cùng cánh ngỗng trời mà gần gũi đến mức ngỡ như chạm vào được “Em chỉ cần bay qua mái nhà” – chỉ cần có em, ngôi nhà sẽ bình yên (trong nhà có em là bình yên)…

Hai khổ thơ đăng đối nhau về ý tứ: “Anh bỏ rơi em”… “Khi em bỏ rơi anh” – bỏ rơi – bỏ lại phía sau rất xa, coi như không còn quan hệ. Cả hai cùng bỏ rơi nhau – ẩn ngầm một chút kiêu hãnh của cái tôi tình yêu khi bị phụ bạc; riêng ý thơ viết về em thì có thêm hư từ “khi” – bỗng dưng, không rõ lí do – “em bỏ rơi anh” – diễn đạt nỗi đau trong dự cảm mơ hồ, bởi vẫn không rõ lý do vì sao “em bỏ rơi anh”. Hình ảnh sử dụng trong mỗi khổ thơ đều có dụng ý, anh thức giấc lúc nửa đêm bởi có tiếng kêu đàn ngỗng trời bay qua; và em trở về trong giấc mơ anh cũng vào lúc nửa đêm – đó là khoảng không gian, thời gian yên tĩnh, lắng sâu cho một nỗi đau, một sự day dứt, tiếc nuối… Không gian và thời gian trong bài thơ không còn là những đại lượng vật lý bên ngoài, mà là những không gian, thời gian đã thấm vào tâm thức, cảm xúc tác giả; biểu hiện cái nhìn của tác giả về sự mất mát trong tình yêu thật da diết và đớn đau.

 

Điệp ngữ “như ngày ấy” trong hai câu thơ ở hai khổ thơ: “Lạc trong sương mờ tối, như ngày ấy”/ “Như một cánh chim lạc bầy, như ngày ấy” đã khắc ghi trong tim khoảng thời gian cả hai đã bỏ rơi nhau, vì khi bỏ rơi nhau là khi họ chưa hiểu rằng: “Để yêu nhau chúng ta không cần phải đẹp lắm” mà “Để yêu nhau chúng ta còn nhiều việc phải làm”. Cái hay của thi tứ được biểu đạt bằng cái nhìn đằm sâu với lối diễn đạt độc đáo, mới lạ, riêng biệt của nhà thơ Nguyễn Đức Tùng đã thực sự gây ấn tượng trong tâm hồn chúng ta; bởi để ngộ ra một điều tưởng chừng rất giản dị là “Để yêu nhau chúng ta không cần phải đẹp lắm” thì con người cũng đã phải trải qua những nỗi buồn không thể diễn tả bởi những mất mát, day dứt khôn nguôi.

Huế, 19/7/2020

Hoàng Thị Thu Thủy
Theo https://www.vanchuongviet.org/

Tinh thần hòa giải và yêu thương trong thơ Trần Nhân Tông

Tinh thần hòa giải và yêu thương trong thơ Trần Nhân Tông

Viện Trần Nhân Tông (Trần Nhân Tông Academy) thành lập tại thành phố Boston, Hoa Kỳ do một nhóm các nhà nghiên cứu tại trường Đại học Harvard, và Giáo sư Thomas Petterson làm chủ tịch. Viện Trần Nhân Tông đề ra nhiều mục đích nghiên cứu. Và Giải thưởng quốc tế Trần Nhân Tông về Hòa giải và Yêu thương hằng năm (giai đoạn 2012 – 2017) tổ chức vào ngày 21/9/2012 đã trao cho Tổng thống Myanmar, ông U Thein Sein và Chủ tịch Đảng đối lập NLD – bà Aung San Suu Ky. Bà Ann Mc Daniel – Phó Chủ tịch Washington Post đã đánh giá cao vai trò của hai nhân vật được nhận giải thưởng này, vì đó là cách để cho thế giới biết về những gì đã và sẽ diễn ra ở đất nước Myanamar. Ngày hội lớn tôn vinh tinh thần Hòa Giải cũng là tôn vinh Phật Hoàng Trần Nhân Tông đã quy tụ nhiều nhân vật danh tiếng đến từ năm châu.

 

Những thông tin trên cho thấy vị trí, tầm vóc của một thiên tài, một anh hùng, một nhà văn hóa vĩ đại Trần Nhân Tông. “Trở về với vị phật hoàng nổi tiếng Trần Nhân Tông, tôi nghĩ rằng có rất nhiều khía cạnh trong nhân cách của ông mà các học giả hôm nay đã nhắc đến. Điều đầu tiên gây ấn tượng với tôi nhất là bản lĩnh của một con người đã nắm giữ một quyền lực và quyền uy tuyệt đối và rồi cuối cùng lại sẵn sàng từ bỏ nó để sống cuộc đời của một vị tu hành… Một khía cạnh khác của con người ông cũng vô cùng đáng học hỏi là ông vừa có thể thực hiện quyền uy của một vị vua, áp đặt quyền lực của mình lên những nơi cần thiết để đoàn kết vương quốc của mình, huy động nguồn lực ấy chống lại những kẻ xâm lăng, đồng thời ông cũng là con người của lòng yêu thương, vị tha và thấu hiểu cho mọi con người… Khía cạnh thứ ba trong nhân cách của Trần Nhân Tông khiến tôi rất hứng thú là kĩ năng của ông như một lãnh tụ quân sự và ngoại giao và đời sống tinh thần mạnh mẽ mà cuối cùng đã đưa ông đến với cuộc sống của một nhà tu hành… (Cựu Tổng thống Latvia, Tôi sẽ đồng hành và cống hiến nhiều hơn nữa cho Giải thưởng và Viện Trần Nhân Tông, Trần Nhân Tông, vi.wikipedia.org/wiki/)

 

Thời đại nhà Trần (1225 – 1400) với hào khí Đông A mãi lưu danh sử sách đã xây dựng một nền tảng văn hóa vững chắc cho Đại Việt với tên tuổi của nhiều học giả, nhiều nhà văn hóa nổi tiếng như Lê Văn Hưu, Mạc Đỉnh Chi, Chu Văn An, Trần Quốc Tuấn, Hàn Thuyên, các vua Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông, Anh Tông, Minh Tông…

 

Trần Nhân Tông (1285 – 1308) làm vua 15 năm (1278 – 1293), làm Thái Thượng hoàng 15 năm, hai lần thắng quân Nguyên – Mông (1285, 1288) và là người thành lập thiền phái Trúc Lâm (thống nhất ba dòng thiền: Thảo đường, Vô Ngôn Thông, Tì-ni-đa-lưu-chi).

 

Danh nhân văn hóa Trần Nhân Tông tinh thông, mưu lược trong chính trị, quân sự, ngoại giao… tỏa sáng trong sự nghiệp xây dựng đất nước và phát huy truyền thống văn hóa của dân tộc. Khi ông gả con gái Huyền Trân cho Chế Mân có biết bao lời đàm tiếu, kể cả lịch sử sau này cũng chê bai… Nhưng ông đặt vận mệnh của dân tộc lên trên quyền lợi cá nhân. Và từ trong tư tưởng của ông không có sự kì thị dân tộc.

 

Khi sự nghiệp xây dựng đất nước đến thời thịnh trị, thì vua Trần Nhân Tông đã nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông (1293). Đến năm 1294, Thượng hoàng đi chơi ở Vũ Lâm (xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình) và quyết định xuất gia. Trần Nhân Tông là vị vua anh minh có nhân cách vĩ đại, khi ông đang đứng ở giữa dòng chảy của lịch sử, ở vị trí cao nhất của quyền uy và quyền lực mà vẫn sẵn sàng làm Thái Thượng hoàng, nhường ngôi cho con. Bản lĩnh và nhân cách này mãi mãi là tấm gương sáng cho người đời sau noi theo. Ông vừa là tấm gương sáng trong tinh thần hòa giải và yêu thương, vừa là người góp công đưa văn hóa Lý Trần lên đỉnh cao với tinh thần Phật giáo Cư trần lạc đạo…

 

Danh nhân văn hóa Trần Nhân Tông còn để lại cho đời những sáng tác văn chương như thơ, phú, bài giảng, ngữ lục, văn xuôi và văn thư ngoại giao. Những tác phẩm văn chương của Trần Nhân Tông đảm đương hai sứ mệnh lịch sử to lớn của đất nước: hưng văn trị, định vũ công.

 

Tìm hiểu tinh thần yêu nước, tinh thần hòa giải và yêu thương trong số 30 bài thơ và đoạn thơ của Trần Nhân Tông ta thấy niềm tin mãnh liệt của ông vào sự trường tồn vĩnh viễn của dân tộc: Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã, Sơn hà thiên cổ vạn kim âu (Xã tắc hai phen bon ngựa đá, Non sông nghìn thuỡ vững âu vàng). Hai câu thơ đã tạc vào lịch sử niềm xác tín bất di bất dịch về ý thức độc lập tự cường của dân tộc, hai câu thơ này được ông viết ra khi đến bái yết lăng tẩm ông nội, giữa lúc hậu quả chiến tranh vẫn còn ngổn ngang.

 

Hai câu thơ được tạc vào tượng đồng bia đá, mà người viết ra nó đã từng hết sức lo lắng trước những đợt tấn công của quân giặc. Con người đó cũng từng viết vào đuôi thuyền những câu thơ trấn an quân lính khi vận mệnh dân tộc đang ở thời điểm ngàn cân treo sợi tóc: Cối Kê cựu sự quân tu ký, Hoan, Diễn do tồn thập vạn binh (Cối Kê việc cũ người nên nhớ, Hoan, Diễn còn kia mười vạn quân). Sử dụng điển tích từ Việt Vương Câu Tiễn vào đúng thời điểm quân ta phải chạy ra Đông Hải tránh sự tấn công của giặc, và các cánh quân của Trần Quốc Tuấn vừa nhóm họp lại, mới thấy tinh thần tự chủ kì lạ của đấng quân vương trụ cột triều đình. Truyền niềm tin vào quân sĩ, nhân dân bằng thơ ca chứ không bằng chiếu lệnh, Trần Nhân Tông đã thổi hồn vào dân tộc nguồn cảm hứng lãng mạn của một thi nhân và tầm nhìn của một triết nhân trong hoàn cảnh rối bời của chiến tranh, đó chính là sức mạnh của văn chương.

 

Trong những ngày rong ruổi đánh giặc, Trần Nhân Tông đã viết những vần thơ thể hiện sự trăn trở trong những đợt chinh phạt ở phía Tây, luyến tiếc những tháng năm nhàn nhã nơi cung điện: Cảm phàm khinh sấn lãng hoa khai, Bồng để yêm yêm thủ bất đài, Tam giáp mộ vân vô nhạn đáo, Cữu Than minh nguyệt hữu long lai. Thê lương hành sắc thiêm cung mộng, Liêu loạn nhàn sầu đáo tửu bôi, Hán Vũ phiên chiêu cùng độc báng, Nam nhi cấp cấp nhược vi tai. (Tây chinh đạo trung – Trên đường Tây chinh: Buồm gấm vèo bay hoa sóng tung, Đầu nghe mỏi mệt dưới mui bồng, Mây chiều Tam Giáp trong: không nhạn, Trăng sáng Cửu Than thấy: có rồng. Quạnh quẽ dặm xa mơ điện cũ, Vấn vương sầu lắng thấm ly nồng. Hán hoàng mang tiếng say chinh chiến, Lật đật nam nhi có uổng công)

 

Với ý chí và nguyện vọng của một bậc vua anh minh mong muốn xây dựng và bảo vệ hòa bình cho dân tộc, những bài thơ chữ Hán của ông vừa mang hào khí Đông A trong cuộc chiến tranh vệ quốc, vừa mang vẻ đẹp của mĩ học Thiền.

 

Hào khí Đông A với tinh thần hòa giải và yêu thương trong những bài thơ tặng và tiễn sứ có giọng điệu thủy chung ân cần, đôn hậu: Thiều tinh lưỡng điểm chiếu thiên Nam, Quang dẫn thai triều dạ nhiễu tam. Thượng quốc ân thâm tình dị cảm, Tiểu bang tục bạc lễ đa tàm. (Tống Bắc sứ Ma hợp, Kiều Nguyên Lãng – Trời Nam sao cứ chiếu hai ngôi, Dẫn lối ba vòng, đêm sáng soi. Bên ấy, ơn sâu tình cảm động, Nơi đây lễ bạc, thẹn sơ sài). Đế quốc phương Bắc thường trực âm mưu thôn tính Đại Việt nhưng Trần Nhân Tông vẫn dùng lời lẽ đôn hậu chân tình đối đáp nhằm giữ yên hòa hiếu hai nước, và không hề tỏ ra khiếp uy thiên triều.

 

Năm 1291, Thượng thư Trương Hiển Khanh sang sứ Việt Nam nhằm dụ vua Trần sang chầu, và nếu vua Trần không sang thì Hốt Tất Liệt sẽ động binh lần thứ tư. Trần Nhân Tông vẫn khước từ, và đã tìm cách hóa giải cơn giận của thiên triều trong cuộc tiếp đón nồng hậu sứ Tàu cùng tặng một bài thơ ý nhị: Giá chi vũ bãi thí xuân sam, Huống trị kim triêu tam nguyệt tam. Hồng ngọc đôi bài xuân thái bính, Tòng lai phong tục cữu An Nam (Quỹ Trương Hiển Khanh xuân bính – Tặng bánh ngày xuân cho Trương Hiển Khanh: Múa giá chi rồi, thử áo xuân, Hôm nay hàn thực, buổi thanh thần. Bánh rau, xuân sắc đầy mâm ngọc, Nước Việt tục này theo cổ nhân). Khiêm nhường mà không nhún nhường, tiếp đón thật ân cần, không gian lễ hội rực rỡ, vui tươi ẩn vào từng câu chữ và câu cuối của bài thơ kín đáo nhắc nhở cho sử Tàu biết về phong tục cổ truyền của nước Việt, về bề dày văn hóa Đại Việt – nước nào sao nấy, sao có thể bắt bí nhau được. Trương Hiển Khanh họa đáp nhà vua bằng những câu thơ đầy thán phục: An Nam tuy tiểu văn chương tại, Vị khả khinh đàm tỉnh để oa (Nước An Nam tuy nhỏ nhưng có văn chương, chưa thể nói một cách nông cạn họ là ếch ngồi đáy giếng – Theo An Nam chí quyển XVII).

Trần Nhân Tông có những vần thơ bay bổng khi tiễn sứ Bắc Lý Trọng Tân, Tiêu Phương Nhai: Khảm khảm linh trì noãn tiễn diên, Xuân phong vô kế trụ quy tiên, Bất tri lưỡng điểm thiều tinh phúc, Kỷ dạ quang minh chiếu Việt thiên (Sâu thẳm Linh trì, nồng rượu tiễn, Gió xuân không giữ được người về, Nào hay sao sứ hai ngôi phúc, Còn chiếu trời Nam mấy khúc khuya). Bài thơ thể hiện những thắng lợi của nhà vua trong ngoại giao, mềm mỏng, tình cảm, đôn hậu...

 

Thơ Trần Nhân Tông giản dị mà súc tích, hình ảnh thơ vừa thể hiện chiều sâu văn hóa vừa thể hiện tài thơ và nhân cách của nhà thơ và có lẽ vẻ đẹp của mĩ học Thiền tập trung trong những bài thơ viết về mùa xuân, về Thiên Trường. Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên, Bán vô bán hữu tịch dương biên, Mục đồng địch lý quy ngưu tận, bạch lộ song song phi hạ điền (Thiên Trường vãn vọng – Xóm trước, thôn sau tựa khói lồng, Bóng chiều dường có lại dường không, Mục đồng sáo vẳng trâu về hết, Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng). Cảnh vật trong cả bài thơ chỉ là ở một làng quê hết sức bình thường. Nhưng trong cái tưởng như bình thường đó lại chứa đựng cả một quan niệm về thế giới của tác giả: Cái có lại chuyển dần thành cái không, cái không lại xuất hiện cái có (Tất cả nằm giữa hai bờ hư thực, vừa mờ ảo như được phủ trong khói, vừa rõ ràng đến mức trông thấy cả đôi cò đáp xuống cánh đồng mênh mông).

 

Tìm hiểu tinh thần hòa giải và yêu thương trong thơ Trần Nhân Tông chúng tôi mới nhìn từ ánh hào quang của hào khí Đông A, còn mĩ học Thiền sẽ là một thế giới thơ cần được nghiên cứu một cách cặn kẽ để nhận ra vẻ đẹp đắm say, sự tươi tắn nồng nàn trong mỗi vần thơ của bậc thi nhân tài hoa Trần nhân Tông.

 

Một danh nhân văn hóa, một bản lĩnh kiên cường, một tâm hồn sâu sắc, một tình cảm nhân ái... là những gì mà bài viết này muốn hướng đến bắt đầu từ những bài thơ của vị Vua, vị Thái thượng hoàng, nhà thơ Trần Nhân Tông.

18/2/2020

Hoàng Thị Thu Thủy
Theo https://www.vanchuongviet.org/

Sức hấp dẫn trong tản văn Nguyên Du

Sức hấp dẫn trong tản văn Nguyên Du 1. Cầm trên tay ba tập sách anh tặng “Nhất Huế nhì Sịa, Bí bầu lớn xuống, Tiếng dạ tiếng thương”, tôi đã...