Thứ Tư, 16 tháng 3, 2016

Lịch sử bệnh truyền nhiễm

Lịch sử giấy và bệnh truyền nhiễm
Lịch sử giấy
Ngày nay giấy đối với ta quá bình thường. Ta vò nó trong tay rồi ném đi không  chút thương tiếc bởi ta có biết đâu sau ba ngàn  năm từ ngày có những nét những hình đầu tiên được viết nơi hang động, đất sét... cho tới cách đây hai ngàn năm mới chế biến được giấy thô sơ và qua biết bao quá trình, mới trở thành hoàn hảo như ngày hôm nay.
Phát minh giấy viết:
Các khám phá về khảo cổ ở Trung Hoa cộng với phép tính tuổi bằng carbon phóng xạ chứng  minh rằng giấy đã hiện diện từ hai thế kỷ trước Ts'ai Lun, nhưng  người ta vẫn cho Ts'ai Lun là người phát minh ra giấy thực thụ như ngày nay.
1) Ts'ai Lun 

Năm 105, dưới triều Hán, thời hoàng đế Ho Ti bên Trung quốc, Ts'ai Lun đem mấy mẫu giấy dâng vua, được  vua hài lòng và phong tước quý tộc và cho ông làm quan trong  triều đình. Ông là hoạn quan vì phải giữ tài sản và tiền bạc nhiều trong triều đình. Nhờ chế được giấy, ông trở thành giàu có. Tuy nhiên sau đó ông  bị triều đình âm mưu gây rắc rối nên sa sút và bị vua ghét bỏ. Ông tắm rửa sạch sẽ, mặc áo quần thât đẹp, uống thuốc độc rồi lên giường nằm
Ts'ai Lun chế tạo giấy:
 Ts'ai Lun lấy bên trong vỏ thân cây dâu tằm và xơ cây tre đem trộn với nước rồi giã nát với dụng cụ bằng gỗ, xong ông đổ hỗn hợp lên tấm vải căng phẳng và trải mỏng rồi để ráo nước. Khi đã khô, Ts'ai Lun khám phá ra rằng có thể viết lên dễ dàng mà lại nhẹ nhàng. Cách chế tạo giấy này đầu tiên được dùng bên Trung quốc rồi qua Korea, Samarkand, Baghdad và Damascus.
Cho dù Ts'ai Lun phát minh ra giấy sớm, nhưnh phải hàng ngàn năm sau người ta mới sản xuất giấy cho khắp Âu Á.
2) Các nước  và sự phát minh giấy:
Khoảng năm 400 người Ấn độ đã biết làm giấy
Sau khoảng 500 năm sau, dân Abbasid Caliphate bắt đầu dùng giấy. 
Người theo đạo Islam dùng giấy rất sớm, từ Ấn độ tới Tây Ban Nha, trong lúc người theo đạo Thiên chúa vẫn còn dùng  giấy da
Ảnh hưởng của Arabe tiếp tục trải ra từ Phi Châu tới Méditerranée: Khoảng năm 650 người Árập xâm nhập Sicile, rồi tràn qua Maroc. Hai thành phố này sau đó biến thành hai trung tâm văn hóa của Árập truyền bá truyền thống và tín ngưỡng của mình. Trong những thế kỷ tiếp theo, lãnh thổ Árập lớn dần, thêm các  nước tân tiến như Algérie, Tunisie và Lybie cùng với những lãnh thổ to lớn của Espagne, Portugal và Italie.
Năm 751, dân Arập sống trong thành phố Samarkan, trong Kasakhstan -khoảng 800 km từ biên giới Trung quốc- bị quân đội Trung quốc tấn công. Cuộc tấn công bị quân đội Arập không những đẩy lùi mà họ còn bị đuổi theo. Quân Árập bắt tù binh Trung quốc biết kỹ thuật làm giấy. Để đổi lấy tự do, người Trung quốc đã truyền  lại nghề làm giấy. Người Á rập biết làm giấy từ đó và  cách làm giấy được lan tràn nhanh chóng trong dân Arập.
Vào thế kỷ thứ X, người Árập dùng bông vải để chế giấy để có loại giấy mỏng tốt.
Khoảng năm 1100, Ý và Espagne đuổi dân Arập đi nhưng  ngành sản xuất giấy được giữ vững. Tại Ý, tài liệu cổ xưa nhất được viết trên giấy xưa nhất đã được dâng lên vua Roger của Sicile, ghi năm 1102.
Đầu những  năm 1200 Thiên chúa giáo thống chế người Tây Ban Nha theo đạo Islam, nhờ vậy mà họ học cách làm giấy nơi người đạo Islam. Năm 1250 người Ý bắt đầu học cách làm giấy và bán khắp Âu châu.
Năm 1338 các giáo sĩ Pháp bắt đầu chế giấy lấy. Năm 1411 tức là sau 15 thế kỷ từ khi Ts'ai Lun phát minh ra giấy, người Đức mới bắt đầu sản xuất giấy và nhất là từ năm 1450 ngành báo chí và máy in ra đời do Johannes Gutenberg  thì vélin  và parchemin bị quên hoàn toàn. Rẻ tiền hơn, đồng dạng, giấy trở nên cần thiết cho sự sản xuất lớn mà giấy da thú không thể có đủ điều kiện
3) So sánh hai phát minh của Ts'ai Lun và Gutenberg
Bên Trung quốc, trước Ts'ai Lun, hầu hết sásh vở đều viết bằng tre nên rất nặng và cồng kềnh. Vài quyển sách được viết trên lụa nhưng quá đắt. Bên phương Tây, trước khi giấy ra đời, người ta dùng sách viết trên giấy da làm bằng da cừu hay da bò con. Sau đó loại giấy papyrus được người Hy Lạp, La Mã và Ai cập ưa chuộng. Tuy nhiên giấy da hay giấy papyrus đều quá đắt. Sách vở hay những  tài liệu khác viết bằng giấy ngày nay được chế tạo quá rẻ và nhiều cũng  là nhờ sự hiện hữu của giấy. Thực ra, nếu như không có ngành in ấn thì giấy không  đến  nỗi quá quan trọng như ngày hôm nay. Vậy thì Ts'ai Lun và Gutenberg, ai quan trọng hơn ai? Tuy nhiên nếu xét ra cho cùng ta thấy Ts'ai Lun quan trọnghơn Gutenberg bởi vì ngoài việc dùng để viết, giấy còn  dùng  cho nhiều thứ khác. Ngoài ra nếu chưa có giấy, chưa chắc Gutenberg lại có ý nghĩ làm máy in. Còn như nếu chỉ một trong  hai phát minh  đó xảy ra, thì chắc mà người  ta sẽ dùng bảng kẽm làm sẵn (block printing, đã được dùng trước phát minh của Gutenberg) để in sách trên giấy hơn là dùng bảng  in chữ di động để in trên giấy da.
4) So sánh văn minh Trung quốc và Tây Âu
Hai phát minh của Ts'ai Lun và Gutenberg đúng là hai trong  mười phát minh lớn nhất của lịch sử. Để nói lên sự quan trọng của giấy và ngành in, ta cần nói đến sự phát triển về văn hóa của Trung quốc và các nước phương Tây. Thế kỷ thứ hai văn  minh Trung quốc tiến triển thua các nước phương Tây. Trong  một ngàn năm kế tiếp kỹ thuật của Trung quốc vượt qua các nước Tây Âu và trong một khoảng 7-8 thế kỷ, văn  minh Trung hoa được  xem như tiêu chuẩn đối với các nước tân tiến trên thế giới. Bởi vì chắc chắn là các cuộn papyrus hơn hẳn là sách làm bằng thanh tre hay gỗ. Chính sự việc này đã chướng ngại cho sự phát triển nền văn minh Trung  quốc trước khi có sự phát minh ra giấy. Thử tưởng tượng một học sinh Trung quốc thi thi phải mang  lỉnh kỉnh cả một "núi" sách bằng tre. Và chính quyền muốn hoàn thành công việc hành chánh cũng không phải dễ. Bởi vậy mà sau khi phát minh ra giấy, văn minh Trung quốc  tiến bộ nhanh chóng, chỉ trong năm thế kỷ đã vượt qua các nước Tây Âu. Lẽ đương nhiên sự chia rẽ các nước Tây âu cũng  là nguyên do sự thua sút Trung quốc. Chính Marco Polo cũng đã xác nhận rằng ngay cả ở thế kỷ thứ 13, Trung quốc phồn thịnh hơn Âu châu nhiều. Nhưng tại sao sau đó lại thua Âu châu? Có nhiều giải nghĩa phức  tạp về văn hóa nhưng có lẽ nguyên do dễ hiểu là từ thế kỷ 15, Âu Châu có thiên tài Gutenberg đã phát triển kỹ thuật in hàng loạt lớn. Từ đó văn hóa châu Âu phát triển  nhanh chóng. Vì Trung quốc không có Gutenberg, vẫn còn  dùng lối in bảng kẽm block printing nên văn hóa Trung quốc phát triển chậm dần.
Tới những  năm 1800, giấy thủ công là hỗn hợp của cây chanvre (cây sợi), bông gòn, cây lin (vải gai) và  nhiều loai cây khác. Lúc bấy giờ, Louis Robert, một người làm công cho hãng giấy vùng Essonne, miền Nam Paris, đã sáng chế ra một nhà  máy giấy có thể sản xuấy giấy hàng loạt. Nhờ đó giấy trở nên rẻ  và giấy dư  được tích trữ thành cuộn. Với phát minh này, người ta cần đến bột cây có thớ dài hơn
Năm mươi năm sau, thớ cây được dùng thường xuyên để chế tạo giấy.
Ngành in  lúc bấy giờ bắt đầu phát triển: sach và các tài liệu quan trọng được sản xuát nhanh chóng. Nhờ phương pháp in ấn hàng  loạt này đã dẫn tới nhu cầu lớn về giấy.
Võ Phan Thanh Bình
Theo http://www.maxreading.com/
Lịch sử bệnh truyền nhiễm
Biểu tình ở Paris kêu gọi mọi người
mang khẩu trang (Trích từ quyển Les grandes tragédies)
Đầu thế kỷ 20, đã xảy ra hai nạn dịch lớn, đậu mùa năm 1913 và dịch cúm Tây Ban Nha năm 1919. Cúm Tây Ban Nha vào Úc sau khi các binh lính trở về từ Âu châu sau đệ nhất thế chiến đã lây nhiễm vào dân số. Ở thời điểm cao của bệnh cúm, có đến 36% dân số bị nhiễm, trong đó gây ra 1.4% bị tử vong. Ở Sydney, chính phủ tiểu bang New South Wales đã ra lệnh đóng cửa các rạp hát công cộng, dân phải mang khẩu trang trên các phương tiện chuyên chở công cộng và các công sở. Trường học, quán bia đóng cửa, ngay cả các lể trong nhà thờ, tổ chức đua ngựa cũng không được tổ chức. Sau dịch cúm Tây Ban Nha là 2 dịch cúm lớn lan rộng trên thế giới là cúm năm 1957 và 1968, nhưng hệ quả không khốc liệt như dịch cúm 1918. Đây chính là bài học đáng sợ về dịch tể mà ngày nay các nhà chuyên môn và cơ quan y tế ở nhiều nước trên thế giới lo ngại là dịch cúm gia cầm lan qua người và trở thành cúm truyền nhiễm giết người nhanh chóng.
 Virus cúm
Các virus cúm được chia ra ba loại: loại A, B và C. virus loại A, ảnh hưởng đến gà, vịt, heo, cá voi, cũng như con người là loại nguy hiểm nhất. virus loại A được chia thành nhóm dựa vào 2 loại proteins: haemaglutinin (HA) và neuraminidase (NA) ở chung quanh bề mặt của virus. Các khoa học gia đã tìm ra 16 loại HA (H1-H16) và 9 loại NA (N1-N6). Nghĩa là có tất cả 144 tập hợp các loại virus cúm A, nhưng chỉ có 3 loại tập hợp (H1N1, H1N2, H3N2) biết được hiện nay là nhiễm truyền giữa con người.
Cúm gia cầm thuộc loại virus H5N1, các nhà khoa học lo ngại là loại virus H5N1 sẽ gia nhập danh sách virus truyền nhiễm giữa con người. Loại cúm gia cầm này xuất hiện lần đầu năm 1997 ở Hong Kong, giết chết cả ngàn gà và 6 người nạn nhân. Sau khi chính quyền thiêu hủy hơn 1.5 triệu gà, nạn dịch chấm dứt nhưng virus gia cầm H5N1 vẫn còn lưu hành. Tháng 2 năm 2004, một người đàn ông chết vì cúm gia cầm ở Hong Kong, sau đó vào tháng 1/2004, dịch cúm gia cầm xảy ra giết chết gà ở Nam Hàn, Việt Nam, Nhật, Thái Lan. Cuối tháng 2/2004, tổng cộng có 28 người bị nhiễm cúm H5N1 trong số đó chỉ có 7 người là sống sót. Cúm gia cầm nhanh chóng lan qua Cambodia, Lào và Indonesia.. Qua các loài chim di cư từ nơi này sang nơi khác bị nhiễm cúm, dịch cúm gia cầm đã lan đi nhanh chóng. Cuối năm 2005 đã lan qua Thổ Nhĩ Kỳ, và mới đây trong tháng 1,2/2006 lan qua Nigeria (Phi Châu), Bungary, Pháp. 
Cúm gia cầm H5N1 có thể thành nạn dịch chết người như cúm Tây Ban Nha 1918?
Virus cúm Tây Ban Nha thuộc 1 loại biến thể của virus H1N1. Hiện nay người ta được biết là virus Tây Ban Nha là từ chim nhảy qua người qua công trình nghiên cứu mới nhất gần đây (1). Hệ di truyền của virus Tây Ban Nha đã được giải mã (sequence) cho thấy là hệ di truyền của virus cúm gia cầm hiện nay ở Á châu có những thay đổi di truyền rất giống virus Tây Ban Nha đã gây truyền nhiễm chết người rất nhanh chóng. Chỉ một vài các protein đặc biệt trên hệ protein của virus là chuyển virus thành virus giết người. Virus Tây Ban Nha  rất khác với virus cúm thường là nó nhiễm vào các tế bào ở tận sâu trong phổi và các tế bào phổi chung quanh các bao chứa không khí, mà thông thường không bị tấn công ở các virus cúm thường. Trong phòng thí nghiệm, khác với virus thường, virus Tây Ban Nha và virus gia cầm phát trên người hiện nay giết chết chuột khi chúng bị nhiễm. Tuy vậy hiện nay virus cúm gà chưa truyền nhiễm được từ người sang người.
Năm 1995, nhà khoa học Taubenberger thuộc khoa bệnh lý phân tử thuộc Viện Bệnh lý quân đội (Mỹ) có ý tưởng tìm ra lại virus Tây Ban Nha để nghiên cứu, ông hy vọng là virus 1918 sẽ cho thấy những thay đổi di truyền làm sự truyền nhiễm từ người sang người xảy ra được, từ đó giúp con người tìm ra biện pháp ngăn chặn nạn dịch trước khi chúng phát tán khắp nơi. Đây là công trình nghiên cứu khoa học hết sức quan trọng để tìm ra virus nguy hiểm va phương pháp để làm chúng hết hiệu lực. Năm 1918, virus chưa được khoa học khám phá. Làm sao các nhà khoa học ngày nay có thể tìm ra lại virus Tây Ban Nha và kiến tạo lại cấu trúc di truyền của nó?.
Ông JefferyTaubenberger nhớ lại là viện của ông đang làm có một nhà kho chứa các tế bào từ khám nghiệm tử thi, được thiết lập dưới thời tổng thống A. Lincoln, người đã ra lệnh là mỗi khi một bác sĩ quân y chẩn bệnh và lấy các mô tế bào, thì một mẫu tế bào đó cũng phải được gởi tới và chứa tại Viện Bệnh lý quân đội. Ông Taubenberger muốn biết là ông có thể tìm được tế bào phổi từ binh lính đã chết trong dịch cúm 1918 và từ đó lấy ra được virus để nghiên cứu. Ông đã tìm được mô tế bào từ 2 người lính, mẫu mô phổi của họ ngâm với formalin (formol, formaldehyd) nằm trong các khối sáp.
Các mô tế bào phổi này đã được chứa và chưa ai dùng đến đã gần 80 năm, tuy vậy trong đó có virus đã bị gãy và xuống cấp, chỉ còn lại vài phân tử virus. May mắn hơn, ông lại có thêm một mô tế bào thứ ba, từ một người đàn bà đã chết ở vùng lạnh Alaska khi cúm lan đến làng của bà, giết chết 72 người lớn chi còn lại 5 người sống sót. Tất cả nạn nhân đều được chôn ở một mồ tập thể dưới tầng đất bị đóng băng vĩnh cửu (permafrost). Ông John Holtin, nhà bệnh lý học đã về hưu, khi nghe biết công trình ông Taubenberger đang nghiên cứu, đã tự bỏ tiền ra từ San Francisco nơi ông ở đến tận mồ chôn ở Alaska và với sự chấp thuận của làng này, lấy mẫu tế bào phổi còn đông lạnh, gởi đến ông Taubenberger. Nhóm ông Taubenberger trong gần 10 năm đã lấy và cấu tạo lại các gene của virus Tây Ban Nha. Họ đã công bố dãy di truyền của 8 gene virus trên các tạp chí khoa học Nature và Science.
Tháng 8, năm 2005, ông Terrence Tumpeyvà các đồng nghiệp ở Trung tâm Kiểm chặn bệnh tật (Center of Disease Control) đã dùng thông tin từ các gene mà ông Taubenberger đã công bố để cấu tạo lại virus 1918. Họ tự hỏi là điều gì sẽ xảy ra nếu các chuột trong phòng thí nghiệm và mô phổi ở người bị nhiễm virus 1918 mà họ cấu tạo lại. Các nhà khoa học đã hết sức cẩn thận, họ dùng phòng thí nghiệm đặc biệt để bảo vệ các nhà nghiên cứu và phòng ngừa sự phát tán của virus 1918 được cấu tạo lại. Họ cũng đặt câu hỏi là có chăng virus 1918 vẫn còn gây chết người nếu họ thay một số gene trong 8 gene cấu tạo lại của virus 1918 với gene của viruscúm thông thường hiện nay.
Nạn nhân của dịch cúm 1918 tại bệnh viện ở Camp Funston, Fort Riley, Kansas (National Museum of Health & Medicine), bệnh cúm này đã làm chết từ 20 đến 40 triệu người thế thế giới lúc bấy giờ.
  Các nhà khoa học đã bắt đầu khám phá những bí mật của virus 1918. Trong các thí nghiệm trao đổi gene, họ thay gene hemagglutini từ virus 1918 với gene hemagglutini từ virus cúm gần đây nhất trên người. Kết quả bất ngờ là virus 1918 được cấu tạo lại không còn phát sinh ở phổi chuột và giết chuột nữa. Và chúng không thể bám vào mô tế bào phổi ở người trong phòng thí nghiệm. Quan trọng nhất là protein trên gene hemagglutini của virus 1918 chết người chỉ khác protein của cúm gia cầm ở hai amino acids. Điều này cho thấy sự nguy hiểm và tác hại không lường của virus cúm gia cầm hiện nay nếu gene hemagglutini trên virus gia cầm biến dạng qua đột biến hay trao đổi gene với virus cúm khác trên người để trở thành gene hemagglutini trên virus 1918. 
Các bệnh truyền nhiễm từ thú vật qua người
Jared Diamond cho thấy rằng khi con người thuần hóa thú vật thành gia súc, sự tiếp súc gần gũi này đã gây ra nhiều bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn, virus từ thú vật thích ứng với môi trường mới ở người. Đậu mùa và lao phổi là do vi khuẩn từ bò sang người thích ứng với môi trường truyền từ người sang người. Bệnh AIDS do virus bắt đầu từ khỉ biến thái nhảy sang người, bệnh sốt rét do sinh vật protozoa Falciparum malaria gây ra bắt nguồn từ protozoa tương tự ở chim.
Khảo sát các bệnh từ thú sang người cho thấy có bốn giai đoạn tiến hóa của các virus, vi khuẩn gây bệnh ở người (4). Giai đoạn đầu ta có thể thấy là các bệnh mà hiện nay thỉnh thoảng ta bị nhiễm trực tiếp từ gia súc như bệnh sốt từ vết cào của mèo, sốt leptospirosis từ heo, chó, mèo, sốt psittacosis từ gà và chim két. Những vi khuẩn này vẫn còn ở trạng thái mới bắt đầu trong sự tiến hóa đến vi khuẩn truyền ở người, chúng chưa trực tiếp truyền từ người này sang người kia. Giai đoạn thứ hai, vi khuẩn tiến hóa đến mức chúng có thể trực tiếp truyền nhiễm giữa người và gây ra bệnh dịch truyền nhiễm. Tuy nhiên sau đó một số các bệnh dịch truyền nhiễm này biến đi bởi các lý do như bệnh bị chăn đứng bởi y học hiện đại hoặc chấm dứt khi nhóm người đã bị nhiễm được miễn nhiễm hay đã chết hết không truyền được ra khỏi nhóm. Thí dụ như vào năm 1959 ở Đông Phi, một bệnh sốt chưa bao giờ được biết đến gọi là sốt Ónyong-nyong đã lan nhiễm vài triệu người. Bệnh này có thể bắt nguồn từ virus ở khỉ và truyền qua người từ muỗi. Do bệnh nhân hồi phục nhanh và trở thành miễn nhiễm nên bịnh mới này biến mất nhanh chóng. Giai đoạn thứ ba trong sự tiến hóa của các bệnh truyền nhiễm bởi những vi sinh vật từ thú là chúng đã có mặt trong loài người và chưa biến mất, có thể tái phát truyền nhiễm rất nhanh chưa biết lúc nào. Như sốt Lassa giết người chắc hẳn gây ra bởi virus từ chuột, đã phát tán rất nhanh ở Nigeria năm 1969 đến nổi các bệnh viện phải đóng cửa chỉ cần có một trường hợp bệnh nhân nhập viện. Giai đoạn tiến hóa sau cùng là các bệnh truyền nhiễm đã xảy ra ở người nhiều lần và vẫn còn đó, chúng đã thiết lập chắc chắn trong xã hội người sau khi đã trãi qua nhiều giai đoạn tiến hóa nhảy từ thú sang người và tự phát sinh từ người qua người.  
Đối phó và phòng ngừa bệnh cúm gà

Bản đồ thế giới những nước bị nhiễm virus H5N1, ngày 1/4/2006 (trích từ fr.wikipedia) 

→ màu đó: những nước có chim hay gà vịt bị nhiễm H5N1

→ Màu nâu: những nước người dân bị nhiễm virus H5N1
Trong một nghiên cứu mới nhất đăng trên tạp chí Viện Hàn Lâm Khoa Hoc ở Mỹ, sau khi phân tích di truyền các loại virus H5N1 từ gia cầm, chim ở Trung quốc cho thấy là virus đã có mặt và phát tán ở nam Trung Quốc từ cả một thập niên trước đây (5). Vì vậy có thể đoan chắc rằng Nam Trung Quốc là nơi khởi thuỷ, phát sinh ra bệnh cúm gia cầm H5N1.
Các nhà khoa học cũng cho thấy là các loài chim di cư đã đóng một vai trò quan trọng trong sự truyền bá và phát tán virus gia cầm trên thế giới. Ở Nam Trung Quốc, nhiều gia cầm khoẻ mạnh đã được miễn nhiễm nhưng vẫn còn mang virus. Đây là vấn nạn lớn phải giải quyết để khỏi lan ra các gia cầm chưa bị bệnh ở những nơi khác. Sau khi phân tích dãy di truyền của cá loại virus H5N1 trên chim trời, gà ở đầm lầy Hong Kong, hồ Phổ Dương ở miền đông Trung Quốc và các chợ gà vịt ở Nam Trung Quốc, các nhà nghiên cứu đã cho thấy, qua các biểu đồ liên đới giữa các virus, là gia cầm từ Nam Trung Quốc đã nhiễm vịt trời đầu năm 2005. Các vịt trời này đã mang virus đến hồ Phổ Dương ở đông Trung Quốc, và từ đó đã đến hồ Thanh Hải, miền tây Trung Quốc, cách đó hơn 1700km giết chết rất nhiều chim ở khu trú ẩn và được bảo vệ này. Từ hồ Thanh Hải, virus được truyền đến Nga và các nước khác ở Trung Đông, Mông Cổ và Âu Châu.
Từ Nam Trung Quốc, đã có nhiều lần các đợt truyền nhiễm quan nước láng giềng Việt Nam và xa hơn (Indonesia). Ở các nơi đấy, virus thiết lập nơi cư trú mới và gây trầm trọng thêm biện pháp phòng ngừa ngăn chặn dịch cúm gia cầm nhảy sang người. Vì thế muốn ngăn chặn và kiểm soát dịch cúm, cần phải phong tỏa bao vây nguồn dịch ở Nam Trung Quốc trước nhất.
Ở Saigon và nhiều tỉnh, tôi để ý thấy có nhiều bích chương, biểu ngữ thông báo cho dân chúng biết về hiểm hoạ dịch cúm gia cầm có thể lan sang người va cách đề phòng, từ những thông tin cơ bản như nấu chín kỹ thịt gà, dịch cúm H5N1 khi lan qua người và truyền nhiễm sẽ giết đến 2 triệu người ở Việt Nam, phương tiện vận tải chở gia cầm phải tránh giờ cao điểm lưu thông và có đường đi nhất định. Phải nói là ở Việt nam có sự thực hiện tích cực ngăn chận dịch cúm gia cầm. Tổ Chức Y tế thế giới (World Health Organisation) đã đánh giá cao thành quả của Việt Nam trong sư đối phó với dịch cúm gia cầm và xem Việt nam là một mô hình cho các nước phát triển thực hiện theo.
Cũng theo công trình nghiên cứu đề cập ở trên (5), phân tích di truyền của các họ virus cho thấy có nhiều loại khác nhau ở trên chim trời và gia cầm, trong khi phân tích virus trước đây trên người bị nhiễm chỉ cho thấy hai loại khác nhau. Thuốc phòng ngừa và chữa bệnh cho một loại virus có thể chỉ có chút hay không hiệu nghiệm với loại virus khác. Các nhà nghiên cứu đề nghị là một số các loại thuốc khác nhau được chế tạo và dự trữ trước để sẵn sàng khi có dịch phát tán lan truyền trên thế giới ở con người. Hiện nay các nước trên thế giới đã và đang sản xuất hay mua sẵn các loại thuốc cúm như Tamiflu (chỉ có hiệu nghiệm cầm chừng) phòng sẵn khi dịch cúm gia cầm nhiễm lên người và lan rộng. Một hiểm họa có thể xảy ra bất cứ lúc nào. 
Tham khảo
(1) Dobson, A., What links bats to emerging infectious diseases, Science, 28 Oct 2005, Vol 310, p. 628-629
(2) Normile, D., Are wild birds to blame, Science, 21 Oct 2005, Vol 310, p. 426-428.
(3) Butler, D., Wartime tactic doubles power of scarce bird-flu drug, Nature, Nov 2005, Vol 438/3, p. 6.
(4) Diamond, J., Guns, germs and steel, Vintage, London, 2005.
(5) H. Chen, G. J. D. Smith et al., Establishment of multiple sublineages of H5N1 influenza virus in Asia: Implications for pandemic control, Proceeding of the National Academy of Sciences, 2006, 103: 2845-2850.
Nguyễn Đức Hiệp
Theo http://www.maxreading.com/


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Nguyễn Huy Thiệp và một chiến lược kể chuyện khác

Nguyễn Huy Thiệp và một chiến lược kể chuyện khác Trong cơn gió văn chương lan theo chiều rộng thì truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp là một lốc...