Lịch sử giấy
Ngày nay giấy đối với ta quá bình thường. Ta vò nó trong tay
rồi ném đi không chút thương tiếc bởi ta có biết đâu sau ba ngàn
năm từ ngày có những nét những hình đầu tiên được viết nơi hang động, đất
sét... cho tới cách đây hai ngàn năm mới chế biến được giấy thô sơ và qua
biết bao quá trình, mới trở thành hoàn hảo như ngày hôm nay.
Phát minh giấy viết:
Các khám phá về khảo cổ ở Trung Hoa cộng với phép tính tuổi bằng
carbon phóng xạ chứng minh rằng giấy đã hiện diện từ hai thế kỷ trước
Ts'ai Lun, nhưng người ta vẫn cho Ts'ai Lun là người phát minh ra giấy thực
thụ như ngày nay.
1) Ts'ai Lun
Năm 105, dưới triều Hán, thời hoàng đế Ho Ti bên Trung quốc,
Ts'ai Lun đem mấy mẫu giấy dâng vua, được vua hài lòng và phong tước quý
tộc và cho ông làm quan trong triều đình. Ông là hoạn quan vì phải giữ
tài sản và tiền bạc nhiều trong triều đình. Nhờ chế được giấy, ông trở thành
giàu có. Tuy nhiên sau đó ông bị triều đình âm mưu gây rắc rối nên
sa sút và bị vua ghét bỏ. Ông tắm rửa sạch sẽ, mặc áo quần thât đẹp, uống thuốc
độc rồi lên giường nằm
Ts'ai Lun chế tạo giấy:
Ts'ai Lun lấy bên trong vỏ thân cây dâu tằm và xơ cây
tre đem trộn với nước rồi giã nát với dụng cụ bằng gỗ, xong ông đổ hỗn hợp lên
tấm vải căng phẳng và trải mỏng rồi để ráo nước. Khi đã khô, Ts'ai Lun khám phá
ra rằng có thể viết lên dễ dàng mà lại nhẹ nhàng. Cách chế tạo giấy này đầu
tiên được dùng bên Trung quốc rồi qua Korea, Samarkand, Baghdad và
Damascus.
Cho dù Ts'ai Lun phát minh ra giấy sớm, nhưnh phải hàng ngàn
năm sau người ta mới sản xuất giấy cho khắp Âu Á.
2) Các nước và sự phát minh giấy:
Khoảng năm 400 người Ấn độ đã biết làm giấy
Sau khoảng 500 năm sau, dân Abbasid Caliphate bắt đầu
dùng giấy.
Người theo đạo Islam dùng giấy rất sớm, từ Ấn độ tới
Tây Ban Nha, trong lúc người theo đạo Thiên chúa vẫn còn dùng giấy da
Ảnh hưởng của Arabe tiếp tục trải ra từ Phi Châu tới
Méditerranée: Khoảng năm 650 người Árập xâm nhập Sicile, rồi tràn qua Maroc.
Hai thành phố này sau đó biến thành hai trung tâm văn hóa của Árập truyền bá
truyền thống và tín ngưỡng của mình. Trong những thế kỷ tiếp theo, lãnh thổ Árập
lớn dần, thêm các nước tân tiến như Algérie, Tunisie và Lybie cùng với những lãnh thổ to lớn của Espagne, Portugal và Italie.
Năm 751, dân Arập sống trong thành phố Samarkan, trong
Kasakhstan -khoảng 800 km từ biên giới Trung quốc- bị quân đội Trung quốc tấn
công. Cuộc tấn công bị quân đội Arập không những đẩy lùi mà họ còn bị đuổi
theo. Quân Árập bắt tù binh Trung quốc biết kỹ thuật làm giấy. Để đổi lấy tự
do, người Trung quốc đã truyền lại nghề làm giấy. Người Á rập biết làm giấy
từ đó và cách làm giấy được lan tràn nhanh chóng trong dân Arập.
Vào thế kỷ thứ X, người Árập dùng bông vải để chế giấy để có
loại giấy mỏng tốt.
Khoảng năm 1100, Ý và Espagne đuổi dân Arập đi nhưng
ngành sản xuất giấy được giữ vững. Tại Ý, tài liệu cổ xưa nhất được viết trên
giấy xưa nhất đã được dâng lên vua Roger của Sicile, ghi năm 1102.
Đầu những năm 1200 Thiên chúa giáo thống chế người Tây
Ban Nha theo đạo Islam, nhờ vậy mà họ học cách làm giấy nơi người đạo Islam.
Năm 1250 người Ý bắt đầu học cách làm giấy và bán khắp Âu châu.
Năm 1338 các giáo sĩ Pháp bắt đầu chế giấy lấy. Năm 1411 tức là sau 15 thế kỷ từ khi Ts'ai Lun phát minh ra giấy, người Đức mới bắt đầu
sản xuất giấy và nhất là từ năm 1450 ngành báo chí và máy in ra đời do Johannes
Gutenberg thì vélin và parchemin bị quên hoàn toàn. Rẻ tiền hơn, đồng
dạng, giấy trở nên cần thiết cho sự sản xuất lớn mà giấy da thú không thể có đủ
điều kiện
3) So sánh hai phát minh của Ts'ai Lun và Gutenberg
Bên Trung quốc, trước Ts'ai Lun, hầu hết sásh vở đều viết bằng
tre nên rất nặng và cồng kềnh. Vài quyển sách được viết trên lụa
nhưng quá đắt. Bên phương Tây, trước khi giấy ra đời, người ta dùng
sách viết trên giấy da làm bằng da cừu hay da bò con. Sau đó loại giấy
papyrus được người Hy Lạp, La Mã và Ai cập ưa chuộng. Tuy nhiên giấy
da hay giấy papyrus đều quá đắt. Sách vở hay những tài liệu khác viết
bằng giấy ngày nay được chế tạo quá rẻ và nhiều cũng là nhờ sự hiện hữu của
giấy. Thực ra, nếu như không có ngành in ấn thì giấy không đến nỗi
quá quan trọng như ngày hôm nay. Vậy thì Ts'ai Lun và Gutenberg, ai quan trọng
hơn ai? Tuy nhiên nếu xét ra cho cùng ta thấy Ts'ai Lun quan trọnghơn
Gutenberg bởi vì ngoài việc dùng để viết, giấy còn dùng cho nhiều
thứ khác. Ngoài ra nếu chưa có giấy, chưa chắc Gutenberg lại có ý nghĩ làm máy
in. Còn như nếu chỉ một trong hai phát minh đó xảy ra, thì chắc mà
người ta sẽ dùng bảng kẽm làm sẵn (block printing, đã được dùng trước
phát minh của Gutenberg) để in sách trên giấy hơn là dùng bảng in chữ di
động để in trên giấy da.
4) So sánh văn minh Trung quốc và Tây Âu
Hai phát minh của Ts'ai Lun và Gutenberg đúng là hai
trong mười phát minh lớn nhất của lịch sử. Để nói lên sự quan trọng của
giấy và ngành in, ta cần nói đến sự phát triển về văn hóa của Trung quốc và các
nước phương Tây. Thế kỷ thứ hai văn minh Trung quốc tiến triển thua
các nước phương Tây. Trong một ngàn năm kế tiếp kỹ thuật của Trung
quốc vượt qua các nước Tây Âu và trong một khoảng 7-8 thế kỷ, văn
minh Trung hoa được xem như tiêu chuẩn đối với các nước tân tiến
trên thế giới. Bởi vì chắc chắn là các cuộn papyrus hơn hẳn là sách làm bằng
thanh tre hay gỗ. Chính sự việc này đã chướng ngại cho sự phát triển nền
văn minh Trung quốc trước khi có sự phát minh ra giấy. Thử tưởng tượng một học sinh Trung quốc thi thi phải mang lỉnh kỉnh cả một
"núi" sách bằng tre. Và chính quyền muốn hoàn thành công việc
hành chánh cũng không phải dễ. Bởi vậy mà sau khi phát minh ra giấy,
văn minh Trung quốc tiến bộ nhanh chóng, chỉ trong năm thế kỷ
đã vượt qua các nước Tây Âu. Lẽ đương nhiên sự chia rẽ các nước Tây âu
cũng là nguyên do sự thua sút Trung quốc. Chính Marco Polo cũng đã xác nhận
rằng ngay cả ở thế kỷ thứ 13, Trung quốc phồn thịnh hơn Âu châu nhiều. Nhưng tại
sao sau đó lại thua Âu châu? Có nhiều giải nghĩa phức tạp về văn hóa
nhưng có lẽ nguyên do dễ hiểu là từ thế kỷ 15, Âu Châu có thiên tài Gutenberg
đã phát triển kỹ thuật in hàng loạt lớn. Từ đó văn hóa châu Âu phát triển
nhanh chóng. Vì Trung quốc không có Gutenberg, vẫn còn dùng lối in bảng kẽm
block printing nên văn hóa Trung quốc phát triển chậm dần.
Tới những năm 1800, giấy thủ công là hỗn hợp của cây
chanvre (cây sợi), bông gòn, cây lin (vải gai) và nhiều loai cây khác.
Lúc bấy giờ, Louis Robert, một người làm công cho hãng giấy vùng Essonne, miền
Nam Paris, đã sáng chế ra một nhà máy giấy có thể sản xuấy giấy hàng loạt.
Nhờ đó giấy trở nên rẻ và giấy dư được tích trữ thành cuộn. Với
phát minh này, người ta cần đến bột cây có thớ dài hơn
Năm mươi năm sau, thớ cây được dùng thường xuyên để chế tạo
giấy.
Ngành in lúc bấy giờ bắt đầu phát triển: sach và các
tài liệu quan trọng được sản xuát nhanh chóng. Nhờ phương pháp in ấn
hàng loạt này đã dẫn tới nhu cầu lớn về giấy.
Võ Phan Thanh Bình
Theo http://www.maxreading.com/
Lịch sử bệnh truyền nhiễm
Biểu
tình ở Paris kêu gọi mọi người
mang
khẩu trang (Trích từ quyển Les grandes tragédies)
Đầu thế kỷ 20, đã xảy ra hai
nạn dịch lớn, đậu mùa năm 1913 và dịch cúm Tây Ban Nha năm 1919. Cúm Tây Ban
Nha vào Úc sau khi các binh lính trở về từ Âu châu sau đệ nhất thế chiến đã lây
nhiễm vào dân số. Ở thời điểm cao của bệnh cúm, có đến 36% dân số bị nhiễm,
trong đó gây ra 1.4% bị tử vong. Ở Sydney, chính phủ tiểu bang New South Wales
đã ra lệnh đóng cửa các rạp hát công cộng, dân phải mang khẩu trang trên các
phương tiện chuyên chở công cộng và các công sở. Trường học, quán bia đóng cửa,
ngay cả các lể trong nhà thờ, tổ chức đua ngựa cũng không được tổ chức. Sau dịch
cúm Tây Ban Nha là 2 dịch cúm lớn lan rộng trên thế giới là cúm năm 1957 và
1968, nhưng hệ quả không khốc liệt như dịch cúm 1918. Đây chính là bài học đáng
sợ về dịch tể mà ngày nay các nhà chuyên môn và cơ quan y tế ở nhiều nước trên
thế giới lo ngại là dịch cúm gia cầm lan qua người và trở thành cúm truyền nhiễm
giết người nhanh chóng.
Virus cúm
Các virus cúm được chia ra
ba loại: loại A, B và C. virus loại A, ảnh hưởng đến gà, vịt, heo, cá voi, cũng
như con người là loại nguy hiểm nhất. virus loại A được chia thành nhóm dựa vào
2 loại proteins: haemaglutinin (HA) và neuraminidase (NA) ở chung quanh bề mặt
của virus. Các khoa học gia đã tìm ra 16 loại HA (H1-H16) và 9 loại NA (N1-N6).
Nghĩa là có tất cả 144 tập hợp các loại virus cúm A, nhưng chỉ có 3 loại tập hợp
(H1N1, H1N2, H3N2) biết được hiện nay là nhiễm truyền giữa con người.
Cúm gia cầm thuộc loại virus
H5N1, các nhà khoa học lo ngại là loại virus H5N1 sẽ gia nhập danh sách virus
truyền nhiễm giữa con người. Loại cúm gia cầm này xuất hiện lần đầu năm 1997 ở
Hong Kong, giết chết cả ngàn gà và 6 người nạn nhân. Sau khi chính quyền thiêu
hủy hơn 1.5 triệu gà, nạn dịch chấm dứt nhưng virus gia cầm H5N1 vẫn còn lưu
hành. Tháng 2 năm 2004, một người đàn ông chết vì cúm gia cầm ở Hong Kong, sau
đó vào tháng 1/2004, dịch cúm gia cầm xảy ra giết chết gà ở Nam Hàn, Việt Nam,
Nhật, Thái Lan. Cuối tháng 2/2004, tổng cộng có 28 người bị nhiễm cúm H5N1
trong số đó chỉ có 7 người là sống sót. Cúm gia cầm nhanh chóng lan qua
Cambodia, Lào và Indonesia.. Qua các loài chim di cư từ nơi này sang nơi khác bị
nhiễm cúm, dịch cúm gia cầm đã lan đi nhanh chóng. Cuối năm 2005 đã lan qua Thổ
Nhĩ Kỳ, và mới đây trong tháng 1,2/2006 lan qua Nigeria (Phi Châu), Bungary,
Pháp.
Cúm gia cầm H5N1 có thể
thành nạn dịch chết người như cúm Tây Ban Nha 1918?
Virus cúm Tây Ban Nha thuộc
1 loại biến thể của virus H1N1. Hiện nay người ta được biết là virus Tây Ban
Nha là từ chim nhảy qua người qua công trình nghiên cứu mới nhất gần đây (1). Hệ
di truyền của virus Tây Ban Nha đã được giải mã (sequence) cho thấy là hệ di
truyền của virus cúm gia cầm hiện nay ở Á châu có những thay đổi di truyền rất
giống virus Tây Ban Nha đã gây truyền nhiễm chết người rất nhanh chóng. Chỉ một
vài các protein đặc biệt trên hệ protein của virus là chuyển virus thành virus
giết người. Virus Tây Ban Nha rất khác với virus cúm thường là nó nhiễm
vào các tế bào ở tận sâu trong phổi và các tế bào phổi chung quanh các bao chứa
không khí, mà thông thường không bị tấn công ở các virus cúm thường. Trong
phòng thí nghiệm, khác với virus thường, virus Tây Ban Nha và virus gia cầm
phát trên người hiện nay giết chết chuột khi chúng bị nhiễm. Tuy vậy hiện nay
virus cúm gà chưa truyền nhiễm được từ người sang người.
Năm 1995, nhà khoa học
Taubenberger thuộc khoa bệnh lý phân tử thuộc Viện Bệnh lý quân đội (Mỹ) có ý
tưởng tìm ra lại virus Tây Ban Nha để nghiên cứu, ông hy vọng là virus 1918 sẽ
cho thấy những thay đổi di truyền làm sự truyền nhiễm từ người sang người xảy
ra được, từ đó giúp con người tìm ra biện pháp ngăn chặn nạn dịch trước khi
chúng phát tán khắp nơi. Đây là công trình nghiên cứu khoa học hết sức quan trọng
để tìm ra virus nguy hiểm va phương pháp để làm chúng hết hiệu lực. Năm 1918,
virus chưa được khoa học khám phá. Làm sao các nhà khoa học ngày nay có thể tìm
ra lại virus Tây Ban Nha và kiến tạo lại cấu trúc di truyền của nó?.
Ông
JefferyTaubenberger nhớ lại là viện của ông đang làm có một nhà kho chứa
các tế bào từ khám nghiệm tử thi, được thiết lập dưới thời tổng thống A.
Lincoln, người đã ra lệnh là mỗi khi một bác sĩ quân y chẩn bệnh và lấy các mô
tế bào, thì một mẫu tế bào đó cũng phải được gởi tới và chứa tại Viện Bệnh lý
quân đội. Ông Taubenberger muốn biết là ông có thể tìm được tế bào phổi từ binh
lính đã chết trong dịch cúm 1918 và từ đó lấy ra được virus để nghiên cứu. Ông
đã tìm được mô
tế bào từ 2 người lính, mẫu mô phổi của họ ngâm với formalin (formol,
formaldehyd) nằm trong các khối sáp.
Các mô tế bào phổi này đã được chứa và
chưa ai dùng đến đã gần 80 năm, tuy vậy trong đó có virus đã bị gãy và xuống cấp,
chỉ còn lại vài phân tử virus. May mắn hơn, ông lại có thêm một mô tế bào thứ
ba, từ một người đàn bà đã chết ở vùng lạnh Alaska khi cúm lan đến làng của bà,
giết chết 72 người lớn chi còn lại 5 người sống sót. Tất cả nạn nhân đều được
chôn ở một mồ tập thể dưới tầng đất bị đóng băng vĩnh cửu (permafrost). Ông
John Holtin, nhà bệnh lý học đã về hưu, khi nghe biết công trình ông
Taubenberger đang nghiên cứu, đã tự bỏ
tiền ra từ San Francisco nơi ông ở đến tận mồ chôn ở Alaska và với sự chấp thuận
của làng này, lấy mẫu tế bào phổi còn đông lạnh, gởi đến ông Taubenberger. Nhóm
ông Taubenberger trong gần 10 năm đã lấy và cấu tạo lại các gene của virus Tây
Ban Nha. Họ đã công bố dãy di truyền của 8 gene virus trên các tạp chí khoa học
Nature và Science.
Tháng 8, năm 2005, ông
Terrence Tumpeyvà các đồng nghiệp ở Trung tâm Kiểm chặn bệnh tật (Center
of Disease Control) đã dùng thông tin từ các gene mà ông Taubenberger đã công bố
để cấu tạo lại virus 1918. Họ tự hỏi là điều gì sẽ xảy ra nếu các chuột trong
phòng thí nghiệm và mô phổi ở người bị nhiễm virus 1918 mà họ cấu tạo lại. Các
nhà khoa học đã hết sức cẩn thận, họ dùng phòng thí nghiệm đặc biệt để bảo vệ
các nhà nghiên cứu và phòng ngừa sự phát tán của virus 1918 được cấu tạo lại. Họ
cũng đặt câu hỏi là có chăng virus 1918 vẫn còn gây chết người nếu họ thay một
số gene trong 8 gene cấu tạo lại của virus 1918 với gene của viruscúm thông thường
hiện nay.
Nạn
nhân của dịch cúm 1918 tại bệnh viện ở Camp Funston, Fort Riley, Kansas
(National Museum of Health & Medicine), bệnh cúm này đã làm chết từ 20 đến
40 triệu người thế thế giới lúc bấy giờ.
|
Các nhà khoa học đã bắt
đầu khám phá những bí mật của virus 1918. Trong các thí nghiệm trao đổi
gene, họ thay gene hemagglutini từ virus 1918 với gene hemagglutini từ virus
cúm gần đây nhất trên người. Kết quả bất ngờ là virus 1918 được cấu tạo lại
không còn phát sinh ở phổi chuột và giết chuột nữa. Và chúng không thể bám vào
mô tế bào phổi ở người trong phòng thí nghiệm. Quan trọng nhất là protein trên
gene hemagglutini của virus 1918 chết người chỉ khác protein của cúm gia cầm ở
hai amino acids. Điều này cho thấy sự nguy hiểm và tác hại không lường của
virus cúm gia cầm hiện nay nếu gene hemagglutini trên virus gia cầm biến dạng
qua đột biến hay trao đổi gene với virus cúm khác trên người để trở thành gene
hemagglutini trên virus 1918.
Các bệnh truyền nhiễm từ thú
vật qua người
Jared Diamond cho thấy rằng
khi con người thuần hóa thú vật thành gia súc, sự tiếp súc gần gũi này đã gây
ra nhiều bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn, virus từ thú vật thích ứng với môi trường
mới ở người. Đậu mùa và lao phổi là do vi khuẩn từ bò sang người thích ứng với
môi trường truyền từ người sang người. Bệnh AIDS do virus bắt đầu từ khỉ biến
thái nhảy sang người, bệnh sốt rét do sinh vật protozoa Falciparum malaria gây
ra bắt nguồn từ protozoa tương tự ở chim.
Khảo
sát các bệnh từ thú sang người cho thấy có bốn giai đoạn tiến hóa của các
virus, vi khuẩn gây bệnh ở người (4). Giai đoạn đầu ta có thể thấy là các bệnh
mà hiện nay thỉnh thoảng ta bị nhiễm trực tiếp từ gia súc như bệnh sốt từ vết
cào của mèo, sốt leptospirosis từ heo, chó, mèo, sốt psittacosis từ
gà và chim két. Những vi khuẩn này vẫn còn ở trạng thái mới bắt đầu trong sự tiến
hóa đến vi khuẩn truyền ở người, chúng chưa trực tiếp truyền từ người này sang
người kia. Giai đoạn thứ hai, vi khuẩn tiến hóa đến mức chúng có thể trực tiếp
truyền nhiễm giữa người và gây ra bệnh dịch truyền nhiễm. Tuy nhiên sau đó một
số các bệnh dịch truyền nhiễm này biến đi bởi các lý do như bệnh bị chăn đứng bởi
y học hiện đại hoặc chấm dứt khi nhóm người đã bị nhiễm được miễn nhiễm hay đã
chết hết không truyền được ra khỏi nhóm. Thí dụ như vào năm 1959 ở Đông Phi, một
bệnh sốt chưa bao giờ được biết đến gọi là sốt Ónyong-nyong đã lan nhiễm vài
triệu người. Bệnh này có thể bắt nguồn từ virus ở khỉ và truyền qua người từ muỗi.
Do bệnh nhân hồi phục nhanh và trở thành miễn nhiễm nên bịnh mới này biến mất
nhanh chóng. Giai đoạn thứ ba trong sự tiến hóa của các bệnh truyền nhiễm bởi
những vi sinh vật từ thú là chúng đã có mặt trong loài người và chưa biến mất,
có thể tái phát truyền nhiễm rất nhanh chưa biết lúc nào. Như sốt Lassa giết
người chắc hẳn gây ra bởi virus từ chuột, đã phát tán rất nhanh ở Nigeria năm
1969 đến nổi các bệnh viện phải đóng cửa chỉ cần có một trường hợp bệnh nhân nhập
viện. Giai đoạn tiến hóa sau cùng là các bệnh truyền nhiễm đã xảy ra ở người
nhiều lần và vẫn còn đó, chúng đã thiết lập chắc chắn trong xã hội người sau
khi đã trãi qua nhiều giai đoạn tiến hóa nhảy từ thú sang người và tự phát sinh
từ người qua người.
Đối phó và phòng ngừa bệnh
cúm gà
Bản
đồ thế giới những nước bị nhiễm virus H5N1, ngày 1/4/2006 (trích từ
fr.wikipedia)
|
Trong một nghiên cứu mới nhất
đăng trên tạp chí Viện Hàn Lâm Khoa Hoc ở Mỹ, sau khi phân tích di truyền các
loại virus H5N1 từ gia cầm, chim ở Trung quốc cho thấy là virus đã có mặt và
phát tán ở nam Trung Quốc từ cả một thập niên trước đây (5). Vì vậy có thể đoan
chắc rằng Nam Trung Quốc là nơi khởi thuỷ, phát sinh ra bệnh cúm gia cầm H5N1.
Các nhà khoa học cũng cho thấy
là các loài chim di cư đã đóng một vai trò quan trọng trong sự truyền bá và
phát tán virus gia cầm trên thế giới. Ở Nam Trung Quốc, nhiều gia cầm khoẻ mạnh
đã được miễn nhiễm nhưng vẫn còn mang virus. Đây là vấn nạn lớn phải giải quyết
để khỏi lan ra các gia cầm chưa bị bệnh ở những nơi khác. Sau khi phân tích dãy
di truyền của cá loại virus H5N1 trên chim trời, gà ở đầm lầy Hong Kong, hồ Phổ
Dương ở miền đông Trung Quốc và các chợ gà vịt ở Nam Trung Quốc, các nhà nghiên
cứu đã cho thấy, qua các biểu đồ liên đới giữa các virus, là gia cầm từ Nam
Trung Quốc đã nhiễm vịt trời đầu năm 2005. Các vịt trời này đã mang virus đến hồ
Phổ Dương ở đông Trung Quốc, và từ đó đã đến hồ Thanh Hải, miền tây Trung Quốc,
cách đó hơn 1700km giết chết rất nhiều chim ở khu trú ẩn và được bảo vệ này. Từ
hồ Thanh Hải, virus được truyền đến Nga và các nước khác ở Trung Đông, Mông Cổ
và Âu Châu.
Từ Nam Trung Quốc, đã có nhiều
lần các đợt truyền nhiễm quan nước láng giềng Việt Nam và xa hơn (Indonesia). Ở
các nơi đấy, virus thiết lập nơi cư trú mới và gây trầm trọng thêm biện pháp
phòng ngừa ngăn chặn dịch cúm gia cầm nhảy sang người. Vì thế muốn ngăn chặn và
kiểm soát dịch cúm, cần phải phong tỏa bao vây nguồn dịch ở Nam Trung Quốc trước
nhất.
Ở Saigon và nhiều tỉnh, tôi
để ý thấy có nhiều bích chương, biểu ngữ thông báo cho dân chúng biết về hiểm
hoạ dịch cúm gia cầm có thể lan sang người va cách đề phòng, từ những thông tin
cơ bản như nấu chín kỹ thịt gà, dịch cúm H5N1 khi lan qua người và truyền nhiễm
sẽ giết đến 2 triệu người ở Việt Nam, phương tiện vận tải chở gia cầm phải
tránh giờ cao điểm lưu thông và có đường đi nhất định. Phải nói là ở Việt nam
có sự thực hiện tích cực ngăn chận dịch cúm gia cầm. Tổ Chức Y tế thế giới
(World Health Organisation) đã đánh giá cao thành quả của Việt Nam trong sư đối
phó với dịch cúm gia cầm và xem Việt nam là một mô hình cho các nước phát triển
thực hiện theo.
Cũng theo công trình nghiên
cứu đề cập ở trên (5), phân tích di truyền của các họ virus cho thấy có nhiều
loại khác nhau ở trên chim trời và gia cầm, trong khi phân tích virus trước đây
trên người bị nhiễm chỉ cho thấy hai loại khác nhau. Thuốc phòng ngừa và chữa bệnh
cho một loại virus có thể chỉ có chút hay không hiệu nghiệm với loại virus
khác. Các nhà nghiên cứu đề nghị là một số các loại thuốc khác nhau được chế tạo
và dự trữ trước để sẵn sàng khi có dịch phát tán lan truyền trên thế giới ở con
người. Hiện nay các nước trên thế giới đã và đang sản xuất hay mua sẵn các loại
thuốc cúm như Tamiflu (chỉ có hiệu nghiệm cầm chừng) phòng sẵn khi dịch cúm gia
cầm nhiễm lên người và lan rộng. Một hiểm họa có thể xảy ra bất cứ lúc
nào.
Tham khảo
(1) Dobson, A., What links
bats to emerging infectious diseases, Science, 28 Oct 2005, Vol 310, p. 628-629
(2) Normile, D., Are wild
birds to blame, Science, 21 Oct 2005, Vol 310, p. 426-428.
(3) Butler, D., Wartime
tactic doubles power of scarce bird-flu drug, Nature, Nov 2005, Vol 438/3, p.
6.
(4) Diamond, J., Guns, germs
and steel, Vintage, London, 2005.
(5) H. Chen, G. J. D. Smith
et al., Establishment of multiple sublineages of H5N1 influenza virus in Asia:
Implications for pandemic control, Proceeding of the National Academy of
Sciences, 2006, 103: 2845-2850.













Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét