Thứ Tư, 26 tháng 8, 2026

Tiếng phổ thông và ngôn ngữ vùng miền

Tiếng phổ thông và
ngôn ngữ vùng miền

Lắng nghe ý kiến của Thành Lộc, mới thấy băn khoăn về ngôn ngữ lai tạp không chỉ là chuyện của người viết văn viết báo. Đấy là mối quan tâm chung của những nghệ sĩ ưu tư và có ý thức về nghề. Nữa, trước cuộc tạo sinh ra thứ ngôn ngữ con lai thì Sài Gòn cởi mở lẫn Hà Nội thâm trầm đều bối rối tìm cách khắc phục…
1. Văn là người. Đọc văn có thể biết người. Biết tư tưởng tình cảm của người viết. Biết hoàn cảnh xuất thân. Biết cái yêu cái ghét, thậm chí biết cả sở thích ngôn ngữ và quê quán gốc gác của tác giả.
Như thế này là biết đến cả gốc gác của người viết: nhà văn Tô Hoài kể, có lần ông băn khoăn với chữ “áy” trong câu Kiều: Một vùng cỏ áy bóng tà/ Gió hiu hiu thổi một và bông lau. Ông không hiểu chữ áy, nhiều bài viết thì cho rằng đó là tên một loại cỏ, cho đến ngày đi thực tế ở một vùng quê Thái Bình. Dân ở đấy gọi cái gì úa héo là áy, cỏ úa gọi là cỏ áy. Thế mới nhớ ra, quê vợ Nguyễn Du ở Thái Bình. Quê nội thi hào ở Hà Tĩnh thì đã biết rồi, trong Truyện Kiều cũng có một số từ gốc Nghệ Tĩnh đã được giải mã.
Chữ áy này có nghệ sĩ không hiểu, khi lẩy Kiều, vẫn phát âm chệch sang thành cỏ ái.
Chữ áy của Thái Bình thời xưa cho thấy rằng quê hương bản quán của nhà văn có khi in dấu trong chữ nghĩa. Nhà văn nào có ngôn ngữ ấy, nhà văn vùng nào có ngôn ngữ vùng ấy, tất nhiên là nên dùng đủ độ. Cũng như nhân vật nào có ngôn ngữ ấy, tùy thuộc vào thế hệ, tuổi tác, quê quán, học vấn, hoàn cảnh xuất thân… Không thể trong một tiểu thuyết mà già trẻ trai gái trí thức dân cày đều nói cùng một ngôn ngữ.
2. Khó có khả năng một thi hào như Nguyễn Du dùng chữ áy một cách vô tình. Rất có thể ông cài chữ áy vào đấy như một tín hiệu với người đọc cùng thời, và gửi thông điệp cho đời sau. Toàn văn tác phẩm ông dùng giọng chuẩn, nhưng vẫn muốn hé lộ cho người đọc biết rằng quê nội ông ở Hà Tĩnh và quê vợ ở Thái Bình. Đôi ba chữ cài cắm như vô tình vậy thôi, cũng là tạo không khí văn chương xứ Bắc và xứ Nghệ, chứ quyết không đặc sệt thổ ngữ mô tê răng rứa. Phương ngữ khi bị sử dụng quá mức độ thì chỉ gây mệt mỏi chán ngán.
Nói vậy thì thấy thời bây giờ rất khó giải mã xuất xứ của các tác giả. Một tác giả gốc miền Trung ra sinh sống ở Hà Nội. Một tác giả sinh ở Hà Nội nhưng theo cha mẹ vào làm việc ở Vũng Tàu. Khi trở thành tác giả, phải có ý thức lắm thì họ mới có thể giữ cho ngôn ngữ của mình không bị “lai”. Hầu như ngôn ngữ của họ là một thứ con lai không được vùng miền nào thừa nhận. Khi biên tập tác phẩm của bạn văn, tôi thường không thoải mái gặp phải những câu như thế này: “Đi đến ngã tư Giảng Võ, anh quẹo phải”. Đúng ra một người Hà Nội, một người Bắc, lại đang đi trên đường phố Hà Nội, thì không có chữ “quẹo phải”, mà phải viết là “rẽ phải”. Nhân vật trong truyện cũng không phải người Nam để tác giả có thể tạo không khí bằng chữ quẹo. Tôi hỏi, tác giả ngụy biện: Thấy cái chữ thích thì dùng thôi.
Nhà văn không phải cứ thấy thích là dùng. Mặc dù ngồi trước trang giấy thì không còn quy phạm và anh có quyền tự do sáng tác.
Cũng trong cuốn sách của tác giả người Bắc này, tôi nhặt ra vô số phương ngữ Nam bộ mà tôi phải chú giải, gợi ý để bạn ấy chọn cách dùng cho thuần là tiếng phổ thông:
Càm ràm: cằn nhằn, càu nhàu, kèo nhèo.
Ròm: còm, còm nhom, gầy còm.
Gạo cội: cứng cựa, già giơ, có đẳng cấp.
Lãng xẹt: nhạt nhẽo, loãng toẹt.
Bắt mắt: đẹp mắt, được mắt, vừa mắt.
Mãn nhãn: no mắt, ngon mắt, đẹp mắt, ưa nhìn.
Te tua: tơi tả, rách tướp, tan tác, tan tành.
Bự chảng: to tướng, to đùng.
Tầm mười tám: khoảng mười tám, độ mười tám.
Tiệp với: hợp với, hài hòa với, phù hợp.
Ròm: còm, còm nhom, gầy còm.
Gạo cội: cứng cựa, già giơ, có đẳng cấp.
Lãng xẹt: nhạt nhẽo, loãng toẹt.
Bắt mắt: đẹp mắt, được mắt, vừa mắt.
Mãn nhãn: no mắt, ngon mắt, đẹp mắt, ưa nhìn.
Te tua: tơi tả, rách tướp, tan tác, tan tành.
Bự chảng: to tướng, to đùng.
Tầm mười tám: khoảng mười tám, độ mười tám.
Tiệp với: hợp với, hài hòa với, phù hợp.
Ngược chiều với các tác giả Bắc, nhiều tác giả quê Nam mà trong tác phẩm họ lại dùng ngôn ngữ theo kiểu: hay nhỉ, thế đấy, cánh phụ nữ chúng tôi, có phải không ạ?…
Thấy rõ ràng là phần lớn người viết văn viết báo hiện nay không biết gốc gác của từ ngữ mình sử dụng, không biết từ này từ kia nguồn gốc từ đâu. Thích thì dùng. Tức là dùng mà không ý thức được, dùng một cách bản năng, tiện thì dùng, nghe ngồ ngộ lạ tai lạ mắt thì dùng.
Không loại trừ khả năng có một số rất ít thách thức người đọc: tôi dứt khoát không tiết lộ tôi là người vùng nào, tôi xóa mờ gốc tích, tôi thách độc giả nhận ra giọng tôi. Họ muốn đánh lạc hướng của độc giả một cách có chủ ý.
3. Bao lâu băn khoăn về ngôn ngữ vùng miền như vậy, rồi bất chợt gặp được những trăn trở của nghệ sĩ Thành Lộc trong bài đối thoại 61 & 91 ngồi “đếm” Sài Gòn:
“Người Việt mình rất phong phú về lời ăn tiếng nói, mỗi vùng miền đều có cái đặc sắc của ngôn ngữ địa phương, cái đó mình phải giữ và phát huy… Các em diễn viên trẻ bây giờ nói chuyện, từ ngữ và cả giọng điệu bị lai miền Bắc rất nhiều. Có nhiều vở chuyện kịch diễn ra tại Sài Gòn từ trước 1975 nhưng các diễn viên lại dùng từ ngữ và văn phong của Sài Gòn sau 1975, có khi dùng cả từ địa phương miền Bắc rất nhiều nên nó bị “nhiễu” về văn hóa. Ðây thuộc về kiến thức của đội ngũ biên kịch và các em diễn viên trẻ ngày nay không chuyên cần đào sâu một tác phẩm về mọi phương diện. Người dẫn chương trình giải trí trên truyền hình ở Sài Gòn mà cứ “vâng ạ!”, “có được không ạ?” nghe mất hẳn bản sắc vùng miền vốn không hề dở thì thật là uổng, uổng lắm! Trong các vở kịch mà anh làm, bao giờ anh cũng chú ý uốn nắn phương diện này, uốn nắn rất nghiêm chỉnh cho các diễn viên của mình” (Báo Phụ Nữ TP.HCM xuân Canh Tý 2020).
Lắng nghe ý kiến của Thành Lộc, mới thấy băn khoăn về ngôn ngữ lai tạp không chỉ là chuyện của người viết văn viết báo. Đấy là mối quan tâm chung của những nghệ sĩ ưu tư và có ý thức về nghề. Nữa, trước cuộc tạo sinh ra thứ ngôn ngữ con lai thì Sài Gòn cởi mở lẫn Hà Nội thâm trầm đều bối rối tìm cách khắc phục.
4. Nhưng tôi cũng cho rằng nỗi ưu tư của Thành Lộc lẫn của chính mình rốt cuộc chỉ là giữ cho bản thân mình và giữ gìn cho vòng ảnh hưởng của mình mà thôi. Trong rất nhiều quyền con người mà ta đang phấn đấu thực hiện, có quyền tự do đi lại và quyền tự do cư trú. Cuộc di dân thường xuyên giữa các quốc gia giữa các vùng miền có tác động lớn đến ngôn ngữ. Nỗi ưu tư dường như đã dẫn đến một nhận thức rằng đang hưng thịnh một thứ ngôn ngữ không phân biệt vùng miền. Ngôn ngữ của báo chí phương Nam có ảnh hưởng mạnh đến ngôn ngữ miền Bắc. Ngôn ngữ thuyết minh phim trên truyền hình phía Bắc có tác động đến lời ăn tiếng nói phương Nam. Người Nam sẽ quen và sẽ dùng thế đấy, vâng ạ… Người Bắc sẽ thấy thuận tai những từ như mãn nhãn, bắt mắt… Người ta sẽ không thể dùng ngôn ngữ làm phương tiện để giải mã được gốc gác quê quán của nghệ sĩ. Mà hình như nhiều nghệ sĩ cũng muốn xóa nhòa những thứ đó.
Sẽ chỉ còn lại rất ít nhà văn mà đọc ngôn ngữ của họ, người ta biết được tác giả sinh ra ở vùng miền này, hoặc trưởng thành ở xứ sở nọ. Rất ít, nhưng độc giả tinh tế sẽ tìm đến họ để thưởng thức những gì tinh túy và nguyên chất.
21/4/2025
Hồ Anh Thái
Theo https://vanhocsaigon.com/

Ký sự về chiến tranh chống Mỹ - Những giá trị không chỉ một thời

Ký sự về chiến tranh chống Mỹ
Những giá trị không chỉ một thời

Nhìn trong chiều dài của lịch sử văn học dân tộc, chiến tranh luôn luôn là “dòng chảy bền bỉ”, là “ký ức không thể nào quên” của các nhà văn. Ký viết về chiến tranh nói chung, ký sự về chiến tranh chống Mỹ nói riêng trong thời gian gần đây dường như đang sống dậy, đang thu hút độc giả, đang được trân trọng đón nhận phản ánh một thực tế: các cuộc chiến tranh cứu nước đã lùi dần vào dĩ vãng, nhưng nhiều thế hệ bạn đọc vẫn không thể nào quên và không được phép lãng quên…
1. Từ 1954 – 1975, nền văn học Việt Nam phát triển trong một hoàn cảnh đặc biệt: cả nước có chiến tranh, toàn dân ra trận “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, vì mục tiêu “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, thực hiện lý tưởng độc lập, tự do cho dân tộc. Đây cũng là giai đoạn nền văn học cách mạng gặt hái được nhiều thành tựu lớn. Nhiều tác phẩm ký sự được bạn đọc đánh giá cao, không chỉ ghi lại hiện thực khốc liệt một thời, góp phần tố cáo bộ mặt độc ác của kẻ thù, sự tàn bạo của chiến tranh mà còn lưu giữ nhiều giá trị nhân văn cao quý, đề cao tình người, tình đồng chí, đề cao vẻ đẹp và phẩm giá con người Việt Nam, góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, cách mạng cho thế hệ trẻ hôm nay.
Các tác phẩm ký sự được viết ngay trong những thời khắc cuộc chiến diễn ra ác liệt và tiếp tục được sáng tác nhiều năm sau ngày toàn thắng mùa xuân 1975. Có thể kể đến các tác phẩm: Ký sự mặt trận của Võ Trần Nhã(1) (1965), Những người đang chiến đấu(2) của Lê Văn Thảo (1965), Chúng tôi ở Cồn cỏ (3)của Hồ Phương (1965), Ngôi sao trên đỉnh Phú Văn Lâu(4) của Hoàng Phủ Ngọc Tường (1969), Tháng ba ở Tây Nguyên(5) của Nguyễn Khải (1976), Bắc Hải Vân xuân 1975(6) của Xuân Thiều (1977), ký sự Miền đất lửa(7) của Nguyễn Sinh – Vũ Kỳ Lân (1978), Có một con đường mòn trên biển Đông(8) của Nguyên Ngọc (2007), Thánh ca Truông Bồn(9)của Trần Huy Quang (2017)…
2. Trong lịch sử văn học Việt Nam, ký sự xuất hiện khá sớm với các tác phẩm nổi tiếng như Thượng kinh ký sự của Lê Hữu Trác, Vũ trung tùy bút Phạm Đình Hổ… Ký sự Việt Nam đã là thể loại tiên phong, cùng ra trận trong cuộc kháng chiến chống Pháp với Trận phố Ràng, Một cuộc chuẩn bị của Trần Đăng, Ở chiến khu (Nguyễn Huy Tưởng), Trận Thanh Hương của Nguyễn Khắc Thứ, Voi đi (Siêu Hải), Ký sự Cao Lạng của Nguyễn Huy Tưởng…Đến cuộc kháng chiến chống Mỹ, các nhà văn – trong đó có nhiều cây bút chuyên nghiệp, đã có mặt ở khắp các chiến trường nóng bỏng nhất,  và nhiều ký sự đã ra đời, kịp thời phản ánh hiện thực sôi động của cuộc kháng chiến.
Ký sự chiến tranh chống Mỹ trước hết là sự ghi chép, thể hiện một cách trung thực, đầy xúc động cuộc chiến đấu nhiều gian khổ, hy sinh và những  chiến công to lớn của quân và dân ta. Những chiến công ấy được viết bằng máu, bằng sự hy sinh anh dũng của rất nhiều chiến sĩ, đồng bào. Những trang ký sự viết bên chiến hào, giữa các trận bom ác liệt, giữa ranh giới mong manh của sự sống và cái chết…, đến nay đọc lại vẫn thấy thực sự cuốn hút, xúc động. Chỉ có những người trong cuộc mới có thể viết được những trang văn nóng hổi, mỗi câu chữ đầy sức nặng đến thế về sự khốc liệt, dữ dội của chiến tranh, về sự hy sinh, mất mát của đồng đội: “Địch đánh suốt buổi chiều, suốt đêm và cả buổi sáng hôm sau. Tính ra chúng huy động đến 120 lần chiếc máy bay, ném 500 quả bom và hàng vạn quả bom bi, rốc két, pháo bắn hơn 1000 quả đạn. Mười mấy quả đồi tranh trận địa bị đánh trơ trụi, đỏ loét” (Ký sự miền đất lửa, tr. 302, 308);
“Đạn bắt đầu đan trên đầu. Máy bay phản lực, khu trục, trực thăng đổ xô đến như bầy ruồi, trút đạn. Đơn vị phía sau rẽ qua bên phải bọc hậu. Đạn cày trước mặt, bên hông (…). Mấy chiến trực thăng vẫn bám theo, bắn riết. Đạn đại liên nổ chậm rãi, lốp bốp đầy trời như ròng ròng ăn móng” (Những người đang chiến đấu, tr. 213); “Thành phố rung chuyển trong tiếng bom, tiếng đại bác cùng tiếng súng các loại. Đất dưới chân nóng bỏng. Không khí sặc mùi lưu huỳnh. Cửa Đông Ba và con đường Mai Thúc Loan đã trở thành những chốt thép, nơi bộc lộ đến tột cùng lòng quả cảm của chiến sĩ giải phóng. Máu đồng đội chúng tôi đã thấm xuống đường phố Huế” (Ngôi sao trên đỉnh Phú Văn Lâu, tr. 235); “Đánh nhau suốt mấy tháng trong mưa, chân ngâm trong nước, trong bùn đến thối ruỗng, lòi cả xương, phải buộc dẻ chống gậy mà đi, khiêng cõng nhau mà đi” (Tháng Ba ở Tây Nguyên, tr. 72,76)…
Cuộc chiến đương đầu với một kẻ thù tàn bạo, lắm bom, nhiều đạn chắc chắn sẽ không tránh khỏi những tổn thất, đau thương. Ký sự chiến tranh chống Mỹ viết rất nhiều, rất xúc động về sự hy sinh dũng cảm của đồng đội. Có khi chỉ là những câu tường thuật khô khan nhưng nén lại trong đó bao nhiêu xót xa: “Một tiếng nổ, khói đen trùm kín trận địa. Xe chỉ huy vỡ tung. Khi các đồng chí xung quanh nhào đến, Thịnh đã tắt thở, trắc thủ Lê Xuân Mai bị thương nằm ngất lịm bên cạnh. Tiểu đoàn trưởng Sơn bị một mảnh đạn xuyên cánh tay, đại đội Huynh bị thương…”; “Lực lượng sửa chữa đường bị tổn thất nặng, hơn 20 người chết và bị thương”; “Tiểu đoàn 47 bị thương gấp đôi ngày hôm trước. Số quân có thể chiến đấu được chỉ còn lai một phần ba”; “Hơn 50 đồng chí hy sinh và bị thương… số quân của tiểu đoàn hụt mất một phần tư” v.v…
Trong Tháng Ba ở Tây Nguyên, Nguyễn Khải đã phải thốt lên: “Cũng không có gì phải bàn cãi, phải phân vân, tất cả đã rõ ràng: sống hay là chết! Tự do hay nô lệ! Chúng ta làm cách mạng bằng máu, bằng mồ hôi, bằng những nổ lực lớn nhất của sức lực và tài trí. Cách mạng với chúng ta có nghĩa là hy sinh” (tr. 53). Nhưng vượt lên tất cả là ý chí rắn hơn sắt thép, là quyết tâm không gì lay chuyển nổi hướng tới ngày toàn thắng. “Đội viên hy sinh thì A trưởng xông lên, A trưởng hy sinh thì B trưởng xông lên, còn một người của quyết đánh chiếm cho được cột cờ”. Chiến sĩ Tụng bị thương nặng, tự băng bó vết thương rồi lại dẫn anh em lao về phía trước (Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn Lâu); pháo thủ Thái Văn A bị bom dập nát một bên chân vẫn không rời trận địa (Chúng tôi ở Cồn Cỏ). Những người thủy thủ của đoàn tàu không số như Năm Đông, Bông Văn Dĩa, Đặng Văn Thanh, Nguyễn Long An… lao vào biển cả, vào sóng dữ, giữa vòng vây của kẻ thù, hàng ngày, hàng giờ đối diện với cái chết. Khi bị kẻ thù dồn ép, họ sẵn sàng cho nổ tung tàu để xóa dấu vết (Có một con đường trên biển Đông). Những cô thanh niên xung phong như Nguyễn Thị Hoài, Nguyễn Thị Văn, Hoàng Thị Nhung… sẵn sàng ra nơi tuyến lửa và đã hiến dâng cả tuổi trẻ của mình cho Tổ quốc, khi nhiều ước mơ còn dang dở (Thánh ca Trung Bồn)…
Không chỉ có bom đạn, chết chóc, những người lính còn phải chịu dựng biết bao gian khổ: thiếu quân, thiếu đạn, thiếu lương thực, thú dữ tấn công, sốt rét rừng hành hạ… Đây là cuộc đối thoại giữa trận địa còn dày đặc khói bom của một chỉ huy đại đội và người chiến sĩ của mình: “- Hầu hết cơm vắt thiu và nát bét. Coi như ăn không được. Nước, mỗi người nhiều lắm một phần ba bình toong. Các thương binh không có gì cả. Một số anh em còn lại ít cơm khô; – Được rồi, lãnh đạo anh em chia sẻ và thật tiết  kiệm. Mỗi người chỉ ăn một vài nhúm cho lấy có thôi. Dạy anh em cách nhai. Nhai nhai lâu sẽ cảm giác thấy no. Uống từng ngụm thật nhỏ” (Ký sự mặt trận, tr. 188). Còn đây là cái đói của những người lính ở mặt trận Tây Nguyên: “Đói đến cồn cào, đến đau đớn. Nếu để đói hẳn, thì chỉ phải chịu đựng có mấy ngày đầu, sau sẽ mệt lả, sẽ lả đi và rồi không cảm thấy đói nữa. Đằng này, ngày nào cũng được ăn, từ cán bộ trung đoàn đến người lính, bữa sáng một vắt cơm bằng quả cau điếc, chiều đến một lưng lỏng bỏng vừa nước, vừa gạo, vừa rau. Không đói hoàn toàn nhưng chưa bao giờ được lửng dạ, cứ như bị câu nhử, ăn vào tý chút, cái đói càng vật vã, càng cồn cào” (Tháng ba ở Tây Nguyên, tr. 71).
Không phải ngẫu nhiên mà trong ký sự Tháng ba ở Tây Nguyên, trước khi đưa bạn đọc đến với những chiến công vang dội của chiến thắng Buôn Ma Thuột mở màn cho đại thắng mùa Xuân 1975, Nguyễn Khải viết: “Bạn đọc thì muốn được biết ngay những trận đánh vang dội trên chiến trường Tây Nguyên trong tháng Ba, mà người thuật chuyện cố ý nói lảng sang những chuyện khác, những chuyện của sự chuẩn bị, của sự bắt đầu (…). Theo tôi, sự chuẩn bị, những công việc của giai đoạn chuẩn bị là quan trọng nhất, là đáng kể nhất. Nếu nói rằng 30 năm đánh giặc ở miền Nam chỉ là một giai đoạn chuẩn bị dài dằng dặc cho đại thắng mùa xuân 1975” (tr. 61). Vì thế nhà văn đã đưa người đọc theo suốt hành trình gian khổ của công tác chuẩn bị cho chiến dịch, từ chuyện hành quân, làm đường, nghi binh, phát rẫy, lấy gạo, đào hầm…
Bên cạnh nghị lực, ý chí, tinh thần thép của bộ đội ta, ký sự chống Mỹ cũng ghi lại những hình ảnh rất đời thường nhưng thật đẹp, thật lãng mạn của người lính. Đó là câu chuyện tình yêu giữa anh thủy thủ Đặng Văn Thanh và người con gái làng biển hẻo lánh vùng quê Cà Ná, là mối tình nảy nở và gắn bó chung thủy giữa chàng trai Tư Thắng và cô gái miền Tây Sáu Thùy đã đùm bọc, chăm sóc anh trong những ngày tàu nằm bờ vì biển động chưa thể ra Bắc (Có một con đường mòn trên biển Đông). Đó là cuộc đoàn tụ lạ kỳ và xúc động giữa anh bộ đội người Ê – Đê Ka Son Chư với gia đình mình ở mảnh đất Cheo Reo vừa giải phóng (Tháng Ba ở Tây Nguyên). Đó là hình ảnh những người chiến sĩ giữa hai trận đánh ác liệt vẫn lạc quan với “những tràng cười giòn như pháo nổ”, “khoan thai ngồi dựa lưng vào ba lô khoan khoái ăn mấy củ mỳ” hoặc giở cuốn sổ làm một bài toán vì “hiện giờ tôi ở bộ binh nhưng sau này tôi muốn được chuyển sang pháo binh” (Những người đang chiến đấu, tr.203). Có những chi tiết thể hiện tình người, tình cảm nhân văn sâu sắc như câu chuyện các chiến sĩ giải phóng giữa làn mưa đạn liều chết xông vào trại lính cứu được một em bé “con bọn lính ngụy còn sống sót sau trận hủy diệt của bom Mỹ” (Những người đang chiến đấu), hay những giây phút sau hiệp định Pa – ri, các chiến sĩ ta “trên những tuyến tiếp xúc, sẵn sàng chia chén nước chè, điếu thuốc với binh lính phía bên kia…” (Bắc Hải Vân Xuân 1975).
3. Là một tiểu loại của ký, “ký sự ghi chép khá hoàn chỉnh một sự kiện, một phong trào, một giai đoạn…Ký sự là bức tranh toàn cảnh, trong đó sự việc và con người đan chéo với nhau, nhưng gương mặt của nhân vật không thật rõ nét”10. Trong kí sự người viết phải tôn trọng tiếng nói khách quan của sự kiện, có thể có thêm những bình luận, phân tích, bộc lộ cảm xúc nhưng chủ yếu vẫn là tiếng nói của bản thân sự sống đang vận động. Ký sự chống Mỹ cũng vậy. Mỗi tác phẩm có một trục sự kiện chính, đồng thời có những mạch rẽ, những câu chuyện, những chân dung được bổ sung khi cần thiết. Chúng tôi ở Cồn Cỏ là cuộc sống, chiến đấu của những chiến sĩ bảo vệ Đảo tiền tiêu – pháo đài trên biển của quân dân Vĩnh Linh. Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn Lâu là cuộc chiến đấu oanh liệt chiếm giữ cột cờ và bảo vệ thành phố Huế trong tổng tấn công Mậu Thân 1968. Ký sự miền đất lửa là cuộc sống, chiến đấu gian khổ, hy sinh của các chiến sĩ và đồng bào Vĩnh Linh, trong đó có các chiến sĩ cao xạ và tên lửa. Tháng Ba ở Tây Nguyên là quá trình chuẩn bị cho chiến dịch Tây Nguyên và sau đó là trận đánh mở màn vào  Buôn Ma Thuột…
Bên cạnh các sự kiện của trục chính, rất nhiều câu chuyện ở các mạch rẽ, mạch ngang. Đó có thể là chân dung hoặc câu chuyện của những con người tham gia hoặc chứng kiến: Người anh nuôi Đinh Kinh, pháo thủ Thái Văn A, Lê Ngọc Vân (Chúng tôi ở Cồn Cỏ); là chân dung những người lính giải phóng như anh Bốn, anh Việt (Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn Lâu); là những thủy thủ dũng cảm của đoàn tàu không số như Năm Đông, Bông Văn Dĩa, Đặng Văn Thanh, Nguyễn Long An…(Có một con đường mòn trên biển Đông). Đó cũng có thể là lời kể của tướng Vũ Lăng, của một vị giáo sư dạy Việt văn ở Sài Gòn, anh Khoát Cục phó Cục hậu cần Quân đoàn 3, của một chiến sĩ người Hà Nội (Tháng Ba ở Tây Nguyên). Đó còn là hình ảnh của nhân dân anh hùng – những con người hữu danh hoặc vô danh góp phần làm nên chiến thắng: những o Dậu, o Em, anh Du, anh D, cụ H…(Ký sự miền đất lửa); là má Mười, chị Thùy, là những người dân miền Nam khắp các bờ biển, bãi sông nơi các con tàu không số cập bến (Có một con đường mòn trên biển Đông); đó là bà má dẫn đường cho các chiến sĩ ra cột cờ Phu Văn Lâu (Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn Lâu)…
Mạch rẽ cũng có thể là những câu chuyện thú vị về cuộc sống gian khổ nhưng cũng nhiều niềm vui của người lính: chuyện đi bắt cua đá cải thiện bữa ăn, chuyện vẽ tranh, cắm hoa, “hái hoa năm mới” trong dịp tết (Chúng tôi ở Cồn Cỏ); Chuyện cậu bé liên lạc Trương Minh Xia vừa kịp bỏ miếng cơm khô vào miệng thì bị hỏa tiễn nổ rất gần, “mặt mũi cậu bé đầy cát nhưng búng cơm khô đang nhai trong miệng cậu ta nhất định không nhả, chỉ lừa lừa vài hạt sạn phun ra, rồi nuốt” (Ký sự mặt trận, tr. 189); Chuyện một anh bộ đội đói quá nhổ một gốc sắn, bị một em bé bắt giữ. Bà mẹ lúi híu chạy ra nhổ thêm 2 gốc nữa dúi vào tay anh bộ đội. Cậu bộ đội lắp bắp;  “Tôi không lấy, tôi không lấy” rồi quay người chạy thắng. Hai mẹ con cầm mấy góc sắn vừa chạy theo vừa hò gọi (Tháng Ba ở Tây Nguyên, tr. 77)…
Các ký sự viết ngay trong những ngày đại thắng mùa xuân 1975 như Tháng Ba ở Tây Nguyên, Bắc Hải Vân Xuân 1975, bên cạnh những bộn bề sự kiện, câu chuyện của phía ta, các tác giả còn đan xen nhiều tài liệu, công điện của phía kẻ thù: điện của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, của Bộ Tổng tham mưu Ngụy, của đại tướng Cao Văn Viên, nhật ký ghi chép của đại tá Cầm – chánh văn phòng Phủ Tổng thống Thiệu, bản thuyết trình của thiếu tướng tướng Phạm Văn Phú về chiến sự vùng 2 Tây Nguyên, bản phúc trình của chuẩn tướng Phạm Duy Tất về việc triệt thoái khỏi Pleiku; và cả những câu chuyện bên lề của đội quân tay sai sống dựa vào viện trợ Mỹ như chuyện về tướng Ngô Quang Trưởng, Lâm Quang Thi, Hoàng Vinh Lạc, chuyện làm giàu của trung tá Phú trông coi việc nhận và phân loại hàng phế bỏ của Mỹ ở Cam Ranh, chuyện chạy chọt lên chức của đại tá Nguyễn Tất Biên…
Ký sự chống Mỹ giàu chất tự sự, cuốn hút bởi mạch truyện luôn đầy ắp sự kiện nhưng cũng không thiếu những trang giàu chất triết lý, chất trữ tình. Các nhà văn còn muốn gửi vào nhiều trang viết sự lý giải sâu sắc về sức mạnh dân tộc, về giá trị của tự do, độc lập, về phẩm giá con người, về vẻ đẹp của con người Việt Nam trong chiến tranh: “Cho đến bây giờ, Di Thiện Tích, người chính trị viên của đại đội Ba ấy vẫn chưa hiểu hết cái sức mạnh nào đã làm cho anh em chiến sĩ trong đơn vị của mình có thể chịu đựng nổi với sắt thép đến như vậy (…). Cái sức mạnh vô địch mà anh muốn tìm hiểu ấy đã dấy lên từ tấm lòng yêu mến quê hương tha thiết, từ lòng căm thù giặc Mỹ đến tận xương tủy! Thứ “sắt thép” trộn lẫn trong máu của các chiến sĩ quân giải phóng miền Nam” (Ký sự mặt trận, tr.198,199). “Anh chợt hiểu vì sao giữa một thành phố mà đồn thù dày đặc như bát úp, quân giải phóng đã có thể tiến vào, trùng trùng điệp điệp, giành lấy chiến thắng nhanh gọn như trở bàn tay. Đúng là vì trận địa Huế không chỉ được chuẩn bị khi mở chiến dịch. Trận địa ấy đã được chuẩn bị một cách thầm lặng từ hơn 20 năm nay, ngay ở lòng địch. Trận địa ấy chính là tấm lòng nhân dân Huế” (Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn Lâu).
Hay tâm sự của người lính tên Hòa về sự trưởng thành của bản thân qua những thử thách ác liệt: “Mỗi một ngày qua, mỗi một buổi sáng dậy là thấy có cái gì mới lạ đến với mình. Cuộc đời nghe cứ thay đổi, nở mãi thêm ra, càng ngày mình càng thấy yêu cuộc sống thêm lên (…). Tự nhiên thấy trong lòng tràn trề tình yêu thương, thấy yêu mến hết mọi người, muốn bắt lấy hết những bàn tay thân thuộc, trẻ trung áp vào tay mình để nghe nhịp máu chảy sôi nổi, ấm áp” (Những người đang chiến đấu, tr. 211, 212). Có những ký sự ở đó mạch cảm xúc trữ tình khá sâu đậm như Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn Lâu của Hoàng Phủ Ngọc Tường, Họ sống và chiến đấu của Nguyễn Khải, Những người đang chiến đấu của Lê Văn Thảo… Trong Họ sống và chiến đấu có rất nhiều những đoạn văn giàu cảm xúc của tác giả viết về cảnh đẹp thiên nhiên của Cồn Cỏ, về tâm trạng xúc động của người lính khi nhận những bức thư của người yêu từ đất liền, niềm vui cùng những đêm văn nghệ của lính đảo, những đau đớn, xót xa khi tiễn đưa một đồng chí của mình hy sinh… Những cảm xúc trữ tình cũng khá dày trong Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn Lâu như cảm xúc về vẻ đẹp của thành phố Huế, của con sông Hương, tự hào về truyền thống cách mạng của người dân Huế, niềm tin vào chiến thắng cuối cùng của cách mạng…
4. Nhìn trong chiều dài của lịch sử văn học dân tộc, chiến tranh luôn luôn là “dòng chảy bền bỉ”, là “ký ức không thể nào quên” của các nhà văn. Ký viết về chiến tranh nói chung, ký sự về chiến tranh chống Mỹ nói riêng trong thời gian gần đây dường như đang sống dậy, đang thu hút độc giả, đang được trân trọng đón nhận phản ánh một thực tế: các cuộc chiến tranh cứu nước đã lùi dần vào dĩ vãng, nhưng nhiều thế hệ bạn đọc vẫn không thể nào quên và không được phép lãng quên. Trong ký sự Có một con đường mòn trên biển Đông, nhà văn Nguyên Ngọc trong vai trò là người dẫn chuyện, trong khi lần tìm về quá khứ để dựng lại dấu tích con đường huyền thoại trên biển Đông, đã cảnh báo chúng ta về sự lãng quên đó. Các ký sự chiến tranh “không chỉ là văn học mà còn là lịch sử, là tư liệu, là hiện vật bảo tàng, còn là một phần đời người viết và cũng là một phần đời của người đọc chúng ta”11 chính là nơi lưu giữ ký ức, là lời nhắc nhở sâu sắc đối với các thế hệ hôm nay.
Chú thích:
1,2,3,4,5,6,7 Bích Thu, Đỗ Hải Ninh (tuyển chọn, giới thiệu), Ký sự chiến tranh, tập 1, 2, Nxb Văn học, Hà Nội, 2006.
8 Nguyên Ngọc, Nguyên Ngọc tác phẩm, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2007.
9 Trần Huy Quang, Thánh ca Truông Bồn, Nxb Phụ nữ, Hà Nội, 2017.
10 Nhiều tác giả, Lý luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2006, tr. 435-436.
11 Vân Trang, Ngô Hoàng, Bảo Hưng (sưu tầm và biên soạn), Văn học 1975 – 1985 Tác  phẩm và dư luận, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 1997, tr. 52.
24/4/2025
Đinh Trí Dũng
Theo https://vanhocsaigon.com/

Hiện thực chiến tranh cách mạng trong hợp tuyển văn xuôi Hải Dương

Hiện thực chiến tranh cách mạng
trong hợp tuyển văn xuôi Hải Dương

Xưa nay, trong văn học nhân loại, chiến tranh luôn là một đề tài lớn, một “siêu đề tài”, một đề tài thường trực có ý nghĩa trung tâm không thể thay thế.
Soi chiếu vào lịch sử văn học Việt Nam thế kỷ XX, ta có thể thấy sự hiện diện đậm nét của đề tài này bởi sự song hành với lịch sử và vận mệnh dân tộc và gắn với các cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại. Đó là bốn cuộc chiến tranh lớn: chống Pháp, chống Mỹ, chống bành trướng Bắc Kinh ở biên giới phía Bắc và chống bọn Pôn Pốt ở biên giới Tây Nam. Cùng với dòng chảy của văn học dân tộc, văn xuôi Hải Dương hơn nửa thế kỷ qua đã có nhiều tác giả, tác phẩm viết về đề tài chiến tranh cách mạng đáng ghi nhận.
1. Đội ngũ tác giả
Hợp tuyển có 32 tác giả đủ mọi lứa tuổi, ít nhất cũng có hai thế hệ cầm bút. Sinh trước năm 1975 gồm 23 người (sớm nhất là nhà văn Nguyễn Luận sinh năm 1925). Họ là những tác giả “chủ lực” của cuốn sách bởi những trải nghiệm thực tế đã sống trong chiến tranh, xúc cảm cùng chiến tranh, nhìn và viết về chiến tranh thường với cảm hứng sử thi. Sinh sau năm 1975 gồm 9 người (muộn nhất là nhà văn Huy Hải sinh năm 1994). Họ là thế hệ cầm bút trẻ, mới mẻ, không trải qua chiến tranh nhưng qua những hồi ức chiến tranh được nghe kể, đọc; họ chiêm nghiệm chiến tranh từ lăng kính nhân văn, nhân bản gắn với những giá trị phổ quát của nhân loại.
2. Đề tài chiến tranh cách mạng ở từng giai đoạn
Ở từng giai đoạn mỗi chặng đường, đề tài chiến tranh của văn xuôi Hải Dương được khai thác, tiệm cận và phản ánh ở nhiều góc độ, theo những cảm hứng khác nhau.
Ba mươi năm 1945- 1975 là giai đoạn kháng chiến trường kỳ chống Pháp và Mỹ. Đây là giai đoạn văn xuôi Hải Dương mang âm hưởng sử thi với cảm hứng chủ đạo là ngợi ca. Ở đấy là những sự kiện lịch sử, những chiến công hiển hách, những chí khí anh hùng.
Sau năm 1975, văn xuôi Hải Dương chuyển sang một diện mạo mới. Mặc dù vẫn còn có cảm hứng sử thi (khi viết về cuộc chiến tranh Biên giới ở phía Bắc và Tây Nam, xa hơn là cuộc kháng chiến chống Mĩ và chống Pháp) nhưng giờ đây văn học đã chuyển sang giai đoạn mang cảm hứng thế sự, đời tư. Văn học giai đoạn này hiện diện với một sắc diện, cảm quan không giống trước. Đó là nói đến những mất mát hy sinh, những buồn vui của cuộc sống thường nhật và quan tâm đến số phận con người. Những tác phẩm viết về đề tài này sau chiến tranh đã có những xu hướng viết về sự thật đời sống, về sự ác liệt gian khổ của chiến tranh, những nỗi buồn thời hậu chiến. Sau chiến tranh, với độ lùi cần thiết văn xuôi giai đoạn này đã dần chuyển sang một âm điệu mới: không chỉ có hào hùng mà cả bi thương, không chỉ có chiến trường mà cả hậu phương, bên cạnh những con người anh hùng còn có những số phận bi kịch.
3. Hiện thực chiến tranh cách mạng
Hợp tuyển giới thiệu 32 tác phẩm của 32 tác giả ở nhiều thể loại: tiểu thuyết (trích), truyện ngắn, truyện ký, bút ký. Trong bài viết này, người viết xin giới thiệu một vài tác phẩm tiêu biểu.
Về cảm hứng sử thi
Trước hết là tiểu thuyết Tấn công (bản thảo) của tác giả Phù Thăng.
Nói đến truyện là phải nói đến nhân vật, tuyển tập có nhiều nhân vật đã để lại ấn tượng sâu đậm, thậm chí ám ảnh trong lòng người đọc. Trong tiểu thuyết “Tấn công”  có cả một tập thể anh hùng ở một khu du kích sát đường 5 năm 1957. Nổi bật là nhân vật chính trị viên tiểu đoàn trưởng đã hy sinh anh dũng. Anh như “một tia chớp sáng lòa rực rỡ”, và “Bây giờ ngôi mộ của anh đầy hoa, những bông hoa của vườn cây và đồng nội”.
Trong tiểu thuyết ‘’Bông cúc trắng’’ của tác giả Nguyễn Thị Bích có một nhân vật gây ấn tượng đó là nữ anh hùng liệt sĩ Bùi Thị Cúc- người ở ngoài đời đã được Bác Hồ truy tặng danh hiệu “Sống anh dũng, chết vẻ vang”. Người nữ du kích ấy bị giặc hành hình khi mới tròn hai mươi tuổi. Hình ảnh người nữ anh hùng trong phút cuối cùng của đời mình đầy bi tráng đã làm xúc động người đọc: “ Người con gái đứng dựa lưng vào thành hố, đầu ngả ra bờ đất mới đào nham nhở, hăng nồng hơi cỏ dập nát, đôi mắt vẫn mở trừng trừng nhìn lên bầu trời cao rộng mà như nhìn đôi cánh tay mình còn treo lơ lửng trên cột…”
Rồi hình ảnh cô thanh niên xung phong phá bom trong truyện ngắn ‘’Nữ thần chiến thắng’’ của tác giả Văn Duy: “Một cô gái gầy nhom, trần như nhộng, đầu bịt khăn đỏ, tay giơ cái bộ phận gây nổ, tròn như ống cân đong gạo…nhảy lên bờ hố gào to: Chúng bay ơi, thắng rồi, thắng rồi”. Người cô trần như nhộng bởi trước khi nhảy xuống hố bom làm nhiệm vụ, cô đã cởi hết để lại cho đồng đội xấp quần áo với tờ giấy nguệch ngoạc mấy chữ: “Nếu tao bị, cho cái Liên quần con, áo con, tặng chị Hạ chiếc quần to. Còn cái áo cho con Tí. Chào”. Cô gái đó đã bước vào cái chết thật nhẹ nhàng. Cảm phục thay mà cũng xót xa, thương cảm thay. Tuyển tập đã có bao truyện làm lay động tâm cam người đọc như thế.
Rồi những con đường ra chiến trường sau nhiều trận oanh tạc hủy diệt của B52 “đã biến thành sa mạc chỉ có đất cát tời bời, những gốc cây bật trơ và đá ngổn ngang, không một ngọn cỏ, không một lá cây”.
Rồi khung cảnh tuyến lửa những năm 70 của thế kỉ trước thật náo nức: “Dọc đường không biết bao nhiêu là văn công, họa sĩ, cán bộ tuyên truyền, đơn vị bộ binh, công binh, pháo binh, xăng dầu, thanh niên xung phong, nườm nượp vào Nam”.
Chiến trường đã mang hai vẻ mặt đối lập: vừa “bi” vừa “tráng”.
Về cảm hứng thế sự, đời tư
Chiến tranh kết thúc, hòa bình trở lại, nhưng cuộc sống thời hậu chiến đâu phải chỉ có niềm vui. Bao “nỗi buồn chiến tranh” như một di chứng để lại với những người sống.
Truyện ‘’Góc khuất chiến tranh’’ của tác giả Nguyễn Thanh Cải đã viết về những cuộc ngóng đợi, kiếm tìm những người con, người chồng đi lính không trở về. Ở truyện có hình ảnh cô Xuân – vợ liệt sĩ “bền bỉ với cuộc hành trình Tây Nguyên, Lâm Đồng, Minh Hải, Kiên Giang, Côn Đảo, không quản ngại nơi chân trời góc bể…” để tìm chồng. Trớ trêu thay, người lính đã mãi mãi không trở về nhưng con riêng của anh với một người phụ nữ khác đã có công cứu sống anh lại trở về.
Truyện “Những tán bằng lăng xanh ngắt” của tác giả Nguyễn Đình Giao (Ban Thơ) cũng là một câu chuyện cảm động thời hậu chiến. “Người lính Vị Xuyên” (Hà Giang) trước khi nhập ngũ đã để lại giọt máu của mình cho người anh yêu- một cô giáo cấp 1. Lời hứa trầu cau với cô gái ấy anh chưa thực hiện được. Rồi người mẹ đơn thân lại ra đi sau một tai nạn để lại đứa con bé bỏng côi cút. Kết thúc truyện là lời tán thán của tác giả: “Là người một nhà sao không có duyên cùng nhau hưởng phúc?…Chiến tranh đã cướp đi của mọi người nhiều quá, cả máu xương, danh dự và hạnh phúc của người lính”.
Truyện ngắn ‘’Trong một khoang tàu’’ của tác giả Lê Ngưng lại kể chuyện sáu con người trong một khoang tàu. Sáu con người, sáu số phận, sáu tính cách khác nhau, trong đó có một người đàn bà đi tìm hài cốt chồng là một người lính ở vùng cực nam Tây Ninh và một người lính trở về nhưng do hậu quả của chiến tranh nên đã bất lực trong sinh hoạt vợ chồng. Có một điểm giống nhau ở họ là: “những vết thương chiến tranh vẫn còn ngấm đau trong lòng mỗi người, nhất là những người có chồng con đã mất”.
Truyện ngắn ‘’Khúc ru vườn cũ’’ của tác giả Nguyễn Hải Yến lại là cả một nỗi đau buồn thấm thía từ cảnh vật đến cõi lòng người. Đó là nỗi buồn của người thân ra đi mãi mãi, của chờ đợi, ngóng trông, của những ước mong đến mòn mỏi: mong được gặp lại những người thân yêu đã chết trong chiến tranh, dù chỉ là một cái bóng (ma) thoáng qua. Rồi đau đáu những ước mơ hết chiến tranh, ước mơ hòa bình:” giá đừng đánh nhau…” của nhân vật. Những ước mơ ấy là tiếng nói mới mẻ, đầy nhân văn trong văn học thời hậu chiến.
Còn nhiều truyện khác như: “Ông lão và cây hương’ (Nguyễn Luận), “Mùa thu đang tới” (Đỗ Hiền Hòa), ‘’Khúc sông xưa’’ (Nguyễn Tố Hiệu), ‘’Cô Son’’ (Nguyễn Phong Sơn), ‘’Nụ hôn đầu’’ (Nguyễn Sĩ Đoàn), ‘’Thương những mùa trăng’’ (Trần Thúy Lành)…Bao nhiêu số phận khác nhau nhưng vẫn một “Nỗi buồn chiến tranh” như thế với rất nhiều nước mắt. Rõ ràng, văn xuôi Hải Dương thời hậu chiến đã cởi mở hơn khi nói về “thân phận con người”.
Nhưng sau chiến tranh không chỉ có nước mắt buồn mà còn có cả những giọt nước mắt vui: nước mắt của Bắc Nam thống nhất, của trở về, của sum họp. Rồi hòa giải dân tộc. Rồi xóa bỏ hận thù của những người thuộc chiến tuyến khác nhau. Rồi phát triển…Văn xuôi thời hậu chiến cũng có nhiều niềm vui, những bức tranh tươi sáng. Truyện ‘’Bánh đúc làng Gianh’’ (Nguyễn Thu Hằng) là câu chuyện của hóa giải hận thù giữa người chiến thắng và kẻ chiến bại. Trong truyện ‘’Người ở lại Tây Nguyên’’ (Đỗ Tuấn Tơn) có người đại đội trưởng C15 trinh sát thuở nào nay làm kinh tế giỏi trở thành tỷ phú trên đất Tây Nguyên. Bút ký ’’Nơi tận cùng của tình yêu Tổ Quốc’’ (Vũ Tuyết Mây) viết về đồn biên phòng Sì Lở Lầu ở Phong Thổ, Lai Châu. Trong chiến tranh biên giới phía Bắc, cán bộ chiến sĩ của đồn hầu như hy sinh hết, nhưng nay cũng trên mảnh đất ấy có một đồn biên phòng mới với các cán bộ, chiến sĩ hết lòng bảo vệ biên cương, canh giữ từng tấc đất nơi địa đầu Tổ Quốc.
Ký ức về “một thời đạn bom, một thời hòa bình”.
Từ xưa đến nay, văn học luôn là kho lưu giữ ký ức không chỉ của cá nhân mà còn của cả nhóm, cộng đồng, dân tộc và cả nhân loại. Có thể thấy, hợp tuyển văn xuôi này đã lưu giữ một phần ký ức của người Hải Dương mà khi đọc độc giả Hải Dương không khỏi trân trọng và biết ơn.
Đó là đường 5 anh hùng thời kỳ chống Pháp trong tiểu thuyết ‘’Tấn công’’ tác giả Phù Thăng; là câu chuyện về ‘’Đêm trước 30.10.1954 – ngày giải phóng thị xã Hải Dương’’ của tác giả Nguyễn Thế Trường; là một thị xã Hải Dương “cổ bình yên có từ gần hai trăm năm trước” trong truyện ngắn ‘’Nụ hôn đầu’’ của tác giả Nguyễn Sĩ Đoàn; là cầu Lai Vu, cầu Phú Lương, cầu phao ở xã Cộng Hòa, Nam Sách nơi con đường 5B chạy qua năm 1967 mà máy bay Mỹ ném bom rất ác liệt trong truyện ‘’Giữ cho đường thông xe, đồng xanh lúa’’ của tác giả Hồ Duy Khuông; là cầu Ràm nơi mùa đông năm 1949 quân Pháp đánh tới trong truyện ‘’Khúc sông xưa’’ của tác giả Nguyễn Tố Hiệu, là ngã Ba Hàng, dòng Lai Vu, sông Kinh Thầy, núi đá Kinh Môn, Đông Triều trong ‘’Khúc ru vườn cũ’’ của tác giả Nguyễn Hải Yến…Tất cả, đã trở thành một phần ký ức của người dân Hải Dương trong những năm đánh thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.
Lời cuối: Với hơn 400 trang viết của 32 tác giả, Hợp tuyển “Văn xuôi Hải Dương viết về chiến tranh cách mạng” đã phản ảnh chân thực, sinh động, cảm động về hiện thực chiến tranh cách mạng của đất nước và tỉnh nhà. Cuốn sách không chỉ giúp người đọc tăng thêm nhận thức về lịch sử hào hùng nhưng cũng rất bi thương của dân tộc mà còn giáo dục tình yêu quê hương đất nước, trân trọng biết ơn sự hy sinh của các thế hệ đi trước với thế hệ trẻ ngày nay. Đó là giá trị đáng quý của Hợp tuyển.
25/4/2025
Nguyễn Thị Lan
Theo https://vanhocsaigon.com/

Nhà văn đọc văn, sống văn, viết văn

Nhà văn đọc văn, sống văn, viết văn

Nhà văn đương nhiên là đọc mọi thứ. Bởi văn chỉ tràn ra trong nhà văn khi mà cái sống đã thật đầy. Mà lưng túi vốn sống của nhà văn thì phải là một khối tổng hòa nhuyễn gộp: vốn trải nghiệm thực tế, sức hư cấu tưởng tượng, và vốn đọc. Đọc là con đường ngắn nhất, là phương cách tối ưu để bổ khuyết những hụt lẹm, để vượt thoát những giới hạn nơi cái sống của một chủ thể sống.
Thông tin, tri thức, nếu lắng lọc, thì không gây bội thực, mà chuyển hóa thành sự uyên bác, thông tuệ, sự hiểu biết, lịch duyệt, đẩy xả những u tối vô minh. Có nghĩa, đọc để thanh tẩy, để nới giãn, để được trong sạch và phong phú hơn. Một chủ thể sống bất kỳ đều thế, huống gì là một nhà văn – chủ thể sống đồng thời là chủ thể viết.
Pablo Neruda (Nobel văn chương 1971) tuyên bố: “Tôi ăn tạp mọi thứ. Tôi muốn nuốt chửng quả đất. Tôi muốn uống cạn biển cả”. Lê Quý Đôn khẳng quyết, trong bụng không có ba vạn quyển sách, trong mắt không có núi sông kỳ vĩ thì không thể làm thơ được. Roz Morris ví đọc sách giống như nhìn vào kính thiên văn, giúp con người khám phá toàn bộ vũ trụ, có thể leo lên đỉnh núi cao nhất, lặn xuống biển sâu nhất.
Nhà văn phải thâu nạp bách khoa tri thức đông tây kim cổ, để có thể trở thành một người chữ, nơi mà đến lượt, từng con chữ được chiết xuất ra đều đẫm trĩu hàm lượng thông tin, tri thức. Họ đọc thế giới nói chung, đọc thế giới các loại hình nghệ thuật nói riêng, nhưng, như một tất nhiên tất yếu, lực hấp dẫn thường hút cái đọc của họ về phía văn chương.
Olga Tokarczuk (Nobel văn chương 2018) phát biểu, văn chương là phương cách an toàn để vượt qua mọi ranh giới, mà đời người tựa hồ cuộc hành trình đến tận cùng thế giới. Phải, không gì có thể làm thỏa mãn cái ham hố phiêu lưu, khám phá, cái thèm khát được đi xa hơn ra khỏi chính mình của nhà văn bằng văn chương. Văn chương với họ là ma lực, đọc văn chương với họ là lạc thú. Nhà văn đọc văn, sống văn, để viết văn.
Orhan Pamuk (Nobel văn chương 2006) chia sẻ, để vui sống, hằng ngày ông phải dùng một liều văn chương; không gì làm ông vui sướng hơn, không gì ràng buộc ông vào cuộc đời chắc chắn hơn bằng việc đọc một đoạn văn sâu sắc và cô đọng trong một cuốn tiểu thuyết, bằng việc bước vào thế giới đó và tin rằng nó là thực.
Stephen King quả quyết: “Tôi thật khó tin rằng những người đọc ít hoặc hoàn toàn không đọc văn lại có thể cho ra những tác phẩm xuất sắc và mong đợi mọi người thích những gì họ viết. Hãy nhớ rằng, đọc văn chính là trung tâm sáng tạo trong cuộc đời các nhà văn”.
Nhà văn đọc văn là đọc thế giới từ bản chất bên trong, từ tầng đáy rộng rinh và thẳm sâu nhất của nó, để kháng cự lại cái thế giới nóng vội, nông cạn bề ngoài mà ồn ào này. Ngôn từ là tấm lụa bạch đón hứng và lưu giữ ký ức linh hồn nhân loại, là chứng nhân cho hành trình truy cầu tinh thần của lớp lớp thế hệ nhà văn. Đọc văn là chìm đắm tuyệt đối vào tâm hồn của tác phẩm, là đọc tha nhân, là gặp nhân quần, để tự huyễn hoặc, rằng thì ra ta không hề cô đơn.
“Dăm pho sách cũ bên đầu/ Ngỡ như còn gối mối sầu cổ nhân” (Hồng Nguyên). John Updike nói, một cuốn sách (giấy) thật kỳ diệu vì nó chứa đựng bao nhiêu sự ly kỳ và cảm xúc, nó có thể theo chúng ta lên giường, gần gũi và tin cậy, nó mở ra cả một nền văn minh.
Nhà văn đọc văn cũng là đọc thông tin tri thức, nhưng không phải là thông tin tri thức kiểu thông tấn, mà là thông tin tri thức thẩm mỹ, đã được cá thể hóa cao độ thông qua những chỉnh thể nghệ thuật tác phẩm. Có nghĩa, nhà văn đọc văn là để học hỏi cái cách mà nhà văn khác xử lý thông tin tri thức, hay nói cách khác là để học bài học về nghệ thuật nghe nhìn, thưởng thức và tái sáng tạo, tái cấu trúc thế giới.
Bởi, đúng như Orhan Pamuk nói, tác phẩm văn chương không phải kể về thế giới, mà là nhìn thế giới bằng ngôn từ; chủ thể sáng tạo đã đào sâu vào ngôn từ để tìm ra giọng điệu của riêng họ. Tựu trung, nhà văn đọc văn là để học viết văn. Trịnh Y Thư giãi bày, đối với riêng ông, Kundera là người thầy dạy ông viết văn, mặc dù ông chưa bao giờ có cơ hội gặp Kundera ngoài đời; ông sẽ không cảm thấy một chút mặc cảm nào nếu có ai đó bảo ông viết giống Kundera, lý do dễ hiểu, ông đọc gần như toàn bộ sáng tác của Kundera, tiểu thuyết cũng như tiểu luận, và đã bỏ thời gian dịch ra Việt ngữ hai tác phẩm của Kundera là “Đời nhẹ khôn kham” và “Cái cười & sự lãng quên” cùng nhiều bài tiểu luận khác của Kundera.
Như vậy, nhà văn đọc văn không chỉ để thưởng văn đơn thuần, mà còn là để làm nghề, tức đọc để viết. Vậy nên, càng ngày, khi mà phông nền chung trong họ đã đủ rộng dày, thì họ thiên về cái đọc vị lợi. Một nhà văn hải ngoại chia sẻ, hồi nhỏ, ông đọc tất cả những gì ông có; lớn lên, ông đọc những gì ông thích; sau này, khi ông viết nhiều, hầu như ông chỉ đọc những gì mình cần.
Jon Fosse (Nobel văn chương 2023) cho hay, thường khi đọc một cuốn sách, ông dùng bút chì đánh dấu những ý tưởng quan trọng và ghi chép bên lề sách; những ghi chú này đến một lúc nào đó sẽ rất được việc; chẳng hạn như tập thơ mới đây của ông – Thơ. Theo mô-típ của Henrik Wergeland được hình thành từ những ghi chú như vậy bên lề tập thơ của chính Henrik Wergeland.
Nhà văn đọc văn vị lợi, thực dụng, ấy là chỉ chọn đọc những thứ văn đáng đọc, tức là những tác phẩm lớn, những tác phẩm được xem như những điển phạm trong phạm vi toàn cầu. Sự tiến bộ của các nhà văn phụ thuộc rất nhiều vào việc họ đọc những cuốn sách tốt. Ta dễ nhận ra, các tác phẩm của các nhà văn lớn như Fitzgerald hay Carver có ý nghĩa nâng đỡ cho sáng tác của Murakami rất nhiều. Jon Fosse thì cảm thấy “vui mừng và biết ơn” tất cả những tác phẩm văn học thực sự có giá trị mà những người khác đã viết, vì chúng mở rộng và làm giàu cuộc sống của ông và của tất cả những người quan tâm tới văn học.
Nhà văn đọc văn vị lợi, thực dụng, ấy là không chỉ đọc văn sáng tác, mà còn đọc cả văn phê bình. Bởi, càng ngày, nhà văn càng bớt cả tin vào cái gọi là tài năng thiên bẩm, hay cái gọi là cơn lên đồng trời cho. Thay vào đó, họ quan tâm nhiều hơn đến các phạm trù như nghệ thuật viết, kỹ thuật viết, chiến lược viết, quy hoạch sự viết. Nguyễn Thị Từ Huy cho rằng: “Nếu nhà văn coi viết là một nghề, một nghề chuyên môn hóa như bất kỳ nghề nào khác, họ sẽ coi trọng tất cả những gì liên quan đến kỹ năng nghề nghiệp, và lúc đó họ sẽ có nhu cầu tìm đọc các nhà phê bình”.
Khi đồng thời là một nhà phê bình, tức một “người đọc lý tưởng”, thì đến lượt, nhà văn sẽ có khả năng rẽ văn để thâm nhập vào tác phẩm của người khác, tức có khả năng đọc vỡ chữ, đọc thủng văn, tiệm cận “hồng tim” tác phẩm, kể cả đó là tác phẩm được coi là khó đọc. Dương Tường chia sẻ, sau khi bản dịch “Cái trống thiếc” của Gunter Grass do ông thực hiện ra mắt, có nhà văn trẻ nói với ông là “đọc nặng quá”, lại có nhà văn khác điện cho ông nói “lạ quá, mới quá”, ông đi đến cảm thán: “Thật là buồn, một cuốn sách ra đời ngót nửa thế kỷ mà nhà văn Việt Nam vẫn còn thấy mới, thấy lạ”.
Harold Pinter (Nobel văn chương 2005) nói, thế giới của ông luôn được bao bọc bởi các tác giả khác – đó là một điều tuyệt vời. Phải, các nhà văn thường chịu ảnh hưởng qua lại theo cách này hay cách kia, như không khí chúng ta thở không bao giờ đứng im ở một nơi, như lửa không bao giờ bất động tại một chỗ. Raymond Carver chân thành: “Chúng ta viết và hy vọng sách của mình tìm đến độc giả tốt. Nhưng tôi còn nghĩ mình viết là để cho những nhà văn khác đọc – cho những nhà văn quá cố đã từng là thần tượng của mình, cho những nhà văn còn sống mà tác phẩm của họ mình yêu quý”.
Nhà văn đọc thiên kinh vạn quyển, sống chữ, sống văn, để viết văn, điều này là hiển nhiên, tất yếu. Song le, lý tưởng nhất có lẽ là, đọc để quên. Có nghĩa, khi viết thì mọi cái đọc đều đã chuyển hóa tan hòa vào cái sống, thành hơi thở, thành máu thịt của người viết. Lúc này, nói như Lão Tử là, “khoáng hề kỳ nhược cốc”. Trống không như hang núi. Hang núi trống không nhưng mang đội cả ngọn núi.
Mỗi nhà văn đều có hàng tá nhà văn khác ảnh hưởng lên, nhưng họ không viết cuốn sách của bất kỳ nhà văn nào cả, mà là tự viết cuốn sách của mình. Viết là sáng tạo. Sáng tạo ra tác phẩm. Sáng tạo ra thế giới. Và sáng tạo ra chính nhà văn.
27/4/2025
Hoàng Đăng Khoa
Theo https://vanhocsaigon.com/

Cái nhìn về chiến tranh trong thơ vùng đô thị miền Nam giai đoạn 1954-1975

Cái nhìn về chiến tranh trong thơ
vùng đô thị miền Nam giai đoạn 1954-1975

Do thời cuộc chiến tranh, đất nước bị chia cắt, đa số các nhà thơ sáng tác trong vùng đô thị miền Nam giai đoạn 1954 – 1975 đều đã từng bị bắt buộc tham gia cầm súng cho “phía bên kia”. Tuy nhiên, họ đều là những trí thức, có tinh thần tự tôn dân tộc, chán ghét chiến tranh, căm thù ách ngoại bang; vì thế, họ nhận thức rất sâu sắc về bản chất của cuộc chiến tranh. Cầm súng tham gia cuộc chiến, nhưng họ biết đó là một cuộc chiến phi nghĩa, nên có một cái nhìn về chiến tranh hoàn toàn khác với những nhà thơ – chiến sĩ của dòng thơ ca cách mạng, kháng chiến (cầm súng với ý thức tự giác, đánh đuổi ngoại xâm, thống nhất nước nhà với một niềm tin tất thắng dù biết sẽ trải qua nhiều gian khổ, hy sinh).
Nhìn về cuộc kháng chiến chống Mỹ của toàn dân tộc, các nhà thơ – chiến sĩ của thơ ca cách mạng, kháng chiến phản ánh rất rõ nỗi đau thương do kẻ thù gây ra, đi liền với lòng căm thù giặc và một lý tưởng chiến đấu bất di bất dịch. Ở phía ngược lại, các nhà thơ vùng đô thị miền Nam thể hiện nỗi đau chiến tranh qua nỗi buồn thế cuộc cùng với cái nhìn chán chường, bế tắc.
Hướng tới tổng kết 50 năm văn học Việt Nam sau ngày đất nước thống nhất (1975 – 2025), trên tinh thần hòa giải, hòa hợp, gạn đục khơi trong, khơi tìm di sản, chúng ta cùng đọc lại những vần thơ được viết nên bởi chính nỗi đau của những người trong cuộc ấy.
Trong Kế hoạch số 390-KH/BTGTW ngày 15.11.2023 của Ban Tuyên giáo Trung ương về “Tổ chức các hoạt động Tổng kết 50 năm nền văn học, nghệ thuật Việt Nam sau ngày đất nước thống nhất (30.4.1975 – 30.4.2025)” gọi bộ phận văn học, nghệ thuật vùng đô thị miền Nam giai đoạn 1954 – 1975 là “di sản văn học, nghệ thuật miền Nam Việt Nam”. Ở đây, trong bài viết cụ thể này, tôi xin vẫn được gọi là “vùng đô thị miền Nam” để có sự khu biệt giữa dòng văn học giải phóng miền Nam của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam trong cùng giai đoạn đó.
1. Cái nhìn đau buồn về cuộc chiến
Sau thắng lợi vĩ đại của chiến dịch Điện Biên Phủ (1954), ta đánh bại cuộc xâm lược gần 100 năm của chủ nghĩa thực dân cũ, Hiệp định Giơnevơ được ký kết, đất nước phải chia làm hai miền. Miền Bắc hòa bình, bắt đầu công cuộc dựng xây đất nước và chi viện cho miền Nam làm cuộc kháng chiến chống Mỹ. 21 năm chia cắt, người Việt cả hai miền đều đau buồn, đều hướng về nhau. Trong khi các nhà thơ miền Bắc dù đau thương vẫn vững tin về một non sông thống nhất, vẫn phân định rõ ràng hai màu cờ của đất nước cắt chia:
Trời vẫn xanh một màu xanh Quảng Trị
Tận chân trời mây núi có chia đâu
Cờ Tổ quốc gọi tâm hồn trong gió
Như mặt trời rực đỏ như lấp lánh sao vàng
Bên kia sông không ra vàng ra đỏ
Cờ ba que hoen ố cả không gian
(Tế Hanh – Nói chuyện với sông Hiền Lương).
Thì các nhà thơ vùng đô thị miền Nam cũng buồn đau trước cảnh chiến điêu tàn khi đứng bên bờ giới tuyến. Nhưng cũng chỉ dừng lại ở “đôi lá cờ phơ phất đôi bờ sông” và cái vạch cắt phân chia giới tuyến đớn đau trên “nhịp cầu vĩ tuyến”. Cờ chẳng buồn bay, cả đất trời tê tái:
Quảng Trị buồn vào giấc ngủ đêm đông
Với thành quách điêu tàn phơi gạch nát
Đường ra Hiền Lương mịt mù gió cát
Đôi lá cờ phơ phất đôi bờ sông
Tôi đến đây nhìn nước chảy một dòng
Màu xanh đỏ phân nhịp cầu vĩ tuyến
Gót độc hành đến đây nửa chuyến
Nửa con đường chữ S dứt nơi đây
Gió không lên cờ chẳng buồn bay
Cho tê tái đất trời bỡ ngỡ
(Kiên Giang – Nửa con đường chữ S).
Trong mắt nhìn của các thi sĩ miền Nam, sự cách chia hiện lên với tất cả những buồn thương, tang tóc, nhắc đến quê hương, chỉ nghe tiếng lòng thổn thức:
Quê hương mơ hồ mắt mỏi trông
Vì sao thổn thức mãi trong lòng
Chín năm đã quá nhiều tang tóc
Anh bên này em bên kia sông
      (Hoàng Bảo Việt – sao là nhớ).
Cũng là đường ra trận, nhưng đường ra trận của người lính “phía bên kia” xơ xác lá vàng, heo may rét buốt, bóng dáng xanh xao của những em bé và mẹ già đang run sợ dưới những tràng súng nổ:
tôi cũng đang đi đây
ôi đường dài xơ xác!
lá vàng, heo may
bóng dáng xanh xao
những em bé ăn mày
những người anh
máu chảy cả đôi tay
chiều chiến tranh
những mẹ già run sợ
vì tiếng súng cối xay
(Quách Thoại – những buổi chiều Việt Nam).
Hoàn toàn khác với tiếng hát lạc quan trên con đường ra trận của đoàn quân giải phóng:
Cùng mắc võng trên rừng Trường Sơn
Hai đứa ở hai đầu xa thẳm
Đường ra trận mùa này đẹp lắm
Trường Sơn Đông nhớ Trường Sơn Tây
(Phạm Tiến Duật – Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây).
Dù không trực tiếp ra trận, nữ thi sĩ Tuệ Mai vẫn “xót quê hương mây sầu vây bốn hướng” (hào quang tri kỷ) và chua chát“cười trong thấu suốt đau thương” khi cảm nhận về nỗi sầu đau của chiến tranh:
Như thế đấy, trong vỏ sầu ngơ ngác
này thịt da! Sao chửa giã từ xương
ai cười đó, trong niềm vui đổi chác
tôi cười đây, trong thấu suốt đau thương
(Tuệ Mai – nỗi hờn trổi dậy).
Trong khi người chiến sĩ – thi sĩ Giải phóng quân tình nguyện xung phong vào cuộc kháng chiến chống Mỹ với tất cả niềm tin và nhiệt huyết của tuổi trẻ cùng nhịp bước hành quân rất trữ tình:
Rất trữ tình là nhịp bước hành quân
Vần thơ xung phong là vần thơ chơn chất
Thời đánh Mỹ là thời tươi đẹp nhất
Tỏa nắng cho thơ là triệu ánh mắt anh hùng
(Dương Hương Ly)
thì con đường ra “trận mạc” của những thi sĩ trong vùng đô thị miền Nam tràn ngập nỗi buồn với điêu tàn lá rụng cùng những giòng lệ khô vì đã chảy hết theo “giòng lưu lạc”:
Quê hương buồn trận mạc
Mùa thu rụng điêu tàn
Mắt khô giòng lưu lạc
Người đi còn quá quan
(Mặc Tưởng – người đi).
Chiến tranh hiện lên trong “giấc sầu cô miên” của người lính cộng hòa là những âm thanh chết chóc của tiếng trống di quan cùng hình ảnh những lá cờ tang, màu đỏ quan tài và di hài người chết:
Nằm ôm giấc mộng thâu canh
rêu um lối nhện mốc xanh âm hồn
Trăng xiêm ngãi, gió buồn nôn
đã nghe kỳ tử trống dồn bên tai
Sơn bôi mực đỏ quan tài
ngàn sương rú hẹn tiếng dài chim âu
Buông đôi tay rỗng sọ đầu
mi xuôi mắt ngủ giấc sầu cô miên
(Cung Trầm Tưởng – Ngủ).
Trong cảm nhận của các nhà thơ đô thị miền Nam, chiến tranh cùng lệnh giới nghiêm của chính quyền Sài Gòn đã biến cuộc sống ở đô thị miền Nam trở nên ngột ngạt, tăm tối, trở thành những thành phố chết:
“Cửa đóng lại từ chín giờ”
Như sự chết đột ngột đến chiếm thể xác
Tất cả đều ngừng thở
Ngừng hơi thở và nhắm mắt
Đóng lại từ chín giờ
Đêm tăm tối bắt đầu xuống thành phố
Đêm tăm tối làm sao nhìn thấy nhau
(Đỗ Quý Toàn – Giới nghiêm).
Người lính cộng hòa hiếm hoi được nghỉ phép về thăm quê vào dịp cuối năm cũng rợn ngợp nỗi cô đơn vì chẳng có ai đón đợi, chỉ có mình tự nhìn bóng mình “mặt mũi tiêu điều” soi xuống nước sông, phũ phàng trôi xuôi theo dòng nước:
Có ai đợi ta trên còn đò cuối năm
Ôi, chỉ bóng ta chao bóng nước xuôi dòng
Mặt mũi tiêu điều theo phần đời gió nổi
Cái đời buồn như nước chảy trăm năm
(Nguyễn Đông Giang – Ngày về, qua đò chiều cuối năm).
Nhìn chung, cuộc chiến tranh 21 năm chia cắt đất nước được các nhà thơ vùng đô thị miền Nam nhìn nhận bằng tất cả nỗi đau buồn thế cuộc: đau thương, tan nát, cách chia.
2. Cái nhìn bế tắc, chán chường về cuộc chiến
Xin được mở đầu bằng tư thế cùng những ngẫm suy về bản chất chiến tranh của người lính cộng hòa tham gia cuộc chiến. Họ hoàn toàn bế tắc, chán chường về thân phận lính của chính mình:
Tao đi lính được bốn năm
Mày nghe chuyện lính tưởng rằng tao gân
Tưởng tao trấn thủ lưu đồn
Một tay cờ kiếm anh hùng chí cao
Bốn năm Đỗ Phủ nằm khoèo
Rượu say thơ cũng mệt nhoài tứ chi
Mười phương vẫn một bọn hề
Những thằng bưng điếu vác cờ chạy quanh
Tao nhìn chẳng thiết nói năng
Miệng cười nước mắt lưng tròng gió đưa
(Nguyên Sa – Thư cho bạn).
Trong khi các nhà thơ – chiến sĩ Giải phóng quân đi vào chiến tranh một cách tự nguyện, hiến dâng tuổi 20 của mình choTổ quốc như một lẽ đương nhiên:
chúng tôi đã đi không tiếc đời mình
(nhưng tuổi 20 làm sao mà không tiếc)
nhưng ai cũng tiếc tuổi 20 thì còn chi Tổ quốc?
cỏ sắc và ấm quá, phải không em…
(Thanh Thảo – Những người đi tới biển)
thì các nhà thơ vùng đô thị miền Nam xem tuổi thanh xuân của thế hệ mình khi chia tay trong kỳ Hè họp lớp cuối cùng để “lên đường” vào cuộc chiến, chính là bước vào “một cuộc chơi kỳ cục”:
Cuộc hội họp đã tàn
Những con ve đã chết
Và tất cả bạn bè anh
Đều đã lên đường
Vào chung một cuộc chơi kỳ cục
(Trần Dạ Từ – mùa hè 1965).
“Nửa đêm thức giấc”, ngẫm thân phận mình, họ nhận ra: mang vác trên đôi vai mình không phải sứ mạng của tuổi thanh xuân mà là mang vác trên vai một thế kỷ đau buồn, không còn quá khứ, không có tương lai:
Vai mang thế kỷ buồn đau
Ngày xưa đã mất ngàn sau có còn
(Hoài Khanh – nửa đêm thức giấc).
Chính vì vậy, bước vào cuộc chiến, họ xem như mình đang đi trên chuyến xe lao vào hố thẳm, đi đến ngày “tận số”, bước đường “mạt vận” của kiếp người:
Xe hiện tại dẫn ngày mai xuống hố
Đời hi vọng mà vẫn tin tận số
Ô hô hô! mạt kiếp vận người!
(Quách Thoại – như băng trường tình).
Hoàn toàn khác với tư thế đầy lạc quan của những người chiến sĩ giải phóng khi bước ra chiến trường. Ngồi đợi giờ nổ súng dưới chiến hào, cũng là lúc thấy lòng càng thêm yêu Tổ quốc và quyết hi sinh cả cuộc đời vì Tổ quốc thiêng liêng:
Khi ta cắt rào thép gai
Khi ta ngồi dưới chiến hào đợi giờ nổ súng
Hơn bao giờ, ấy là lúc ta yêu Tổ quốc
Xin hiến dâng người cả cuộc đời ta
(Trần Vũ Mai – Ngày mai).
Tuổi thanh xuân lẽ ra phải là tuổi của khát vọng và lý tưởng hiến dâng sức mình cho tương lai đất nước, nhưng trong thơ các nhà thơ vùng đô thị miền Nam, tuổi trẻ nơi đây hoàn toàn không nhận ra ánh sáng tương lai, tất cả đều là mờ mịt:
Ta nằm đây trong lòng thế hệ
Ngửa mặt đòi xin ánh mặt trời
(Chế Vũ – trong lòng thế hệ).
Chiến tranh hiển hiện trong thơ họ là những bóng dơi chết chóc, những mái đầu phủ trắng khăn sô cùng một tâm hồn mốc ẩm với nỗi sầu âm dương cách biệt:
Ngồi trong vút bóng chim dơi
Mà ghê lạnh cả đất trời thâm sâu
Sương khăn sô, tấm phủ đầu
Che hồn ẩm mốc nỗi sầu âm dương
(Cung Trầm Tưởng – nghĩa địa).
Mỗi mùa xuân phải trực chiến không về quê thăm mẹ, tự thấy mình “già thêm một đỗi”, lòng dạ héo hon, buồn hơn cả nỗi buồn của Chúa:
Thêm một mùa xuân ta già thêm một đỗi
Tim phổi héo hon theo ngày tháng vô tình
Cũng gắng quay về nằm trên đất Mẹ
Chúa đã buồn nhưng ta lại buồn hơn
(Nguyễn Đông Giang – Ngày về, qua đò chiều cuối năm).
Người trở về thăm được cố hương thì quê hương cũng buồn hiu hắt. Muốn bước lên đò thì chiến tranh níu rị, quê mẹ vẫn mãi mãi cách xa:
Tôi trở lại với niềm đau cố xứ
Bến sông chiều Vĩnh Điện hắt hiu mưa
Muốn đi lên nhưng súng vọng đôi bờ
Nguồn với biển trở thành xa cách quá
(Tường Linh – Vọng tình chim).
Nỗi chán chường khi nghĩ đến tương lại mờ mịt. Muốn thoát khỏi hiện thực máu lửa, đi tìm tương lai, thì càng đi càng lạc sâu vào “hoang địa”. Vòm trời chỉ còn là một cổ áo quan:
Tôi trang bị hoài nghi mà thám hiểm tương lai, ngày một lạc sâu thêm vào hoang địa nỗi chán chường cứ trải rộng ra.
Và vòm trời như nắp áo quan bằng cẩm thạch
(Tô Thùy Yên – Lễ tấn phong tình yêu).
Hiện tại là đói khổ chiến tranh, tương lai là sự chết, nên thanh niên miền Nam khi bước vào đời chính là chôn đời vào cổ áo quan:
Đói khổ chiến tranh
Tương lai sự chết
Người đi vào đời
Áo quan chôn vùi
(Ninh Chữ – bài thơ đen).
Trong khi thơ tình của các nhà thơ chống Mỹ, tình yêu và hạnh phúc mỗi con người gắn liền với hạnh phúc chung của cả dân tộc. Họ bước vào cuộc chiến bảo vệ non sông chính là “đi vào hạnh phúc”, buộc cái chết phải cúi đầu cho tình yêu lên tiếng:
Ta nắm tay nhau vào cuộc chiến đấu này
Như đi vào hạnh phúc
Ta nắm tay nhau bao lần đạp qua cái chết
Cái chết cúi đầu
Tình yêu cất lời ca
(Dương Hương Ly – Bài thơ tình yêu)
thì trong thơ miền Nam, tình yêu cũng mong manh vì cuộc chiến, người lính cộng hoà bước ra chiến trường là tự nguyện gửi lại cho người yêu tất cả những lời thề hẹn:
Mai tôi đi tình này xin gửi lại
Gửi lại tình này xin người nhận đón hai tay
Đường ra chiến trường ai dám nói hay
Nên người chớ bắt tôi đành tâm hò hẹn
(Du Tử Lê – tâm sự người lên mặt trận).
Tặng vật tình yêu không phải là những kỷ vật thông thường, thơ mộng mà chỉ toàn là những tặng vật đưa về từ chiến trường, toàn là những sản phẩm của chiến tranh: “Tặng cho em cuộn dây thép gaiThứ dây leo của thời đại mớiĐang leo kín tâm hồn ta hôm nayĐó là tình yêu ta, em nhận đi, đừng hỏi”. Kể cả gông cùm, hầm chông, vòi rồng của những cuộc trấn áp biểu tình mà những thanh niên vùng đô thị miền Nam gửi về từ nhà lao và những cuộc đàn áp, khủng bố dã man:
Ta còn đó em ơi biết bao tặng vật
Còng sắt đeo tay, bao cát gối đầu
Hầm chông nhọn gãi lưng, xe vòi rồng rửa mặt
Biết chọn cái nào để gửi cho nhau
Mà gửi mãi tới bao giờ cho xuể
(Trần Dạ Từ – Tặng vật tỏ tình).
Chiến tranh “dẫm nát tâm hồn” đã biến tuổi trẻ miền Nam thành những “phế binh”, thành những “gã lính canh thô bạo”:
Có thể đời đã để sau lưng tôi chiến tranh mù mịt
Cuộc sống đổi màu trong nước mắt phế binh
Hay ở quanh tôi những đồn phòng ngự
Ðã biến tôi thành một gã lính canh thô bạo
Ði giầy đinh dẫm nát tâm hồn
(Nguyên Sa – Hai mươi).
Có thể nói, cái nhìn bế tắc, chán chường về chiến tranh của các nhà thơ vùng đô thị miền Nam đã thể hiện khá rõ sự nhìn nhận về bản chất phi nghĩa của cuộc chiến mà họ đang tham gia. Từ đó nẩy sinh tâm trạng bi quan, lòng bi phẩn, dẫn đến tư tưởng phản chiến cùng nỗi khát khao về một ngày hòa bình, thống nhất Bác Nam.
3. Tư tưởng phản chiến và khát vọng hoà bình, thống nhất
 Tư tưởng phản chiến được thể hiện đầu tiên trong sự hoang mang trước hiện thực lịch sử: đó là nỗi sầu cắt chia đất nước: “Lịch sử những hoang mangVới mối sầu chia cắt” cùng sự can thiệp của “Lũ thực dân đế quốc” xâm lược: “Khi anh em giết nhau ngoài phốVới lưỡi dao giấu lén sau lưngLũ thực dân đế quốcGiương cặp mắt tráo trân”. Chính vì âm mưu xâm lược của ngoại bang đã gây ra cuộc chiến tranh vô nghĩa mà họ phải cầm súng tham dự: “Bắn vào trán chúng taNhững viên đạn vô hìnhCho anh em giết nhauRồi cười lên thú dữ”. Họ cảm thấy “ăn năn” vì đã phải tham gia chiến cuộc, họ chối từ chiến tranh bằng những lời “nguyền rủa”:
bài tình ca hôm nay
là những ăn năn nguyền rủa
(Vương Tân – Đoạn khởi đầu của một bản tình ca).
Họ nhận chân ra được bộ mặt thật của chính quyền miền Nam tay sai với tất cả những lời phĩnh dụ, những khẩu hiệu hô hào vô nghĩa lý:
Sự ngưỡng mộ tôi ném vào các anh
Khi các anh ném vào tôi những câu hỏi ban ngày:
Khẩu hiệu nào hô to thì tổ quốc phì nhiêu?
Câu thần chú nào đọc lên thì đất nước bình yên?
Lời nói thần thánh nào cất lên thì tâm hồn đam mê tôi nằm yên
Nghe hòn đá trẻ thơ hát ở đáy giếng ngoan?
(Nguyên Sa – Đạn đạo).
Cho nên, những tuyên ngôn thơ của Nguyên Sa phủ nhận hiện thực cuộc sống, lên án chiến tranh, trả thơ về với sứ mạng thiêng liêng “màu nhiệm”… chính là bản thể của tư tưởng, ý thức phản chiến:
Anh từ chối chiếc bánh còn thừa, tự do hứa hẹn, chân lý lưỡi lê và những lời an ủi
(Nguyên Sa – Bài giã biệt).
Từ những nhận thức ấy, họ “kêu lên căm thù” trước âm mưu cắt chia đất nước mình của lũ ngoại bang:
ta kêu lên hờn căm
khi quá thể chúng cắt tình ruột thịt
hỡi mẹ hiền nhìn mẹ rưng rưng
yêu chẳng được yêu khóc không dám khóc
(Thanh Tâm Tuyền – Phiên khúc 20).
Họ trực tiếp cầm súng chiến đấu, nhưng vì hiểu được “tuần tự lớp lang” của vở hài kịch lịch sử mà mình tham gia, nên tự mình “treo khí giới”, bỏ súng trở về:
Tôi òa khóc những chiều mây xuống thấp
Treo khí giới trên cành tìm hiểu những ngôi sao
Lịch sử vốn tuần tự lớp lang của hành trình vạch sẵn
Thôi tôi trở về nhà tay trắng cả say mê
(Tô Thùy Yên – Người yêu dấu).
Bị bắt buộc tham gia vào cuộc chiến tranh phi nghĩa nên những người lính cộng hòa xót xa, không nỡ cầm súng bắn “đối phương” dù đạn đã lên nòng:
Hình như cây súng con lạ lắm
sao nó run lên khi đạn lên nòng
tâm hồn nó như tâm hồn con vậy
một kẻ nằm, kẻ đứng, xót xa không?
(Nguyễn Dương Quang – Đêm cuối năm viết cho má).
Nghĩa là, những nhà thơ miền Nam đã nhìn khá rõ sự vô nghĩa của cuộc chiến mà chính họ đang can dự với tất cả nỗi đau, lòng hận thù đối với những kẻ chủ mưu cùng tâm trạng chán chường của người cầm bút:
Niềm đau đất nước mỗi ngày một đau
Câu hỏi đã lớn mỗi ngày một lớn
Những đứa sát nhân, vu oan giá họa
Những đứa chụp mũ, chụp mũ, chụp mũ
Mỗi ngày một tăng theo cấp số nhân
Bạn bè dần hết theo tỷ lệ nghịch
Chán cả làm thơ, chán cả ngâm thơ
(Nguyên Sa – Bao giờ).
Từ nhận thức bản chất cuộc chiến, từ lòng hận thù âm mưu gây nên chiến tranh, chia cắt của ngoại bang; họ bỏ ngũ, cổ vũ và tham gia vào các cuộc “xuống đường” biểu tình phản đối chiến tranh, lên án bọn tay sai bán nước “dâng linh hồn cho giặc”, “quên cốt nhục” anh em:
hôm nay ta xông ra ngoài phố
ngày 20
nắm tay tròn cáu giận
má phừng lửa yêu thương
môi bỏng niềm tủi cực
đêm qua ai thét giữa đêm dài
tỉnh dậy ôi nao nức
ấy là tiếng hét trong hồn ta
ngã xuống ngã xuống
những kẻ dâng linh hồn cho giặc
những kẻ tối tăm quên cốt nhục
những kẻ bán đứt quê hương
ngã xuống ngã xuống
chân dậm chật đường
kéo về khắp ngả
phá cho tan hoang
nổ tung căm phẫn
(Thanh Tâm Tuyền – Phiên Khúc 20).
Họ mơ ước ngày hòa bình sớm về trên quê hương, đất nước để nghe tiếng trẻ vui cười trên những “đồng lúa xanh bát ngát”; được sống hồn nhiên như cây cỏ giữa thiên nhiên; ngày không nghe tiếng máy bay rải bom, đêm không còn nghe tiếng súng:
Con sẽ lớn lên trong tiếng vui cười
Cùng với đồng lúa xanh bát ngát
Cùng với cỏ cây con sống giữa thiên nhiên
Ngày không nghe máy bay, đêm không nghe súng nổ
(Trần Đức Uyển – thơ viết cho đứa con tương lai).
Ngày mai ấy, vũ khí sẽ trở thành lưỡi cày, lúa tròn mẩy hạt, đồng quê ríu rít tiếng chim, vui say trong làn gió thanh bình:
Lúa có nghĩ rằng ngày mai sẽ khác?
súng sẽ dùng để đúc lưỡi cày
mỗi ba trăng lúa vàng tròn hạt
chim sẽ ca và gió thổi lúa say
(Nguyễn Dương Quang – Đêm kích dưới chân đồi Pá).
Khi chiến tranh chấm dứt, họ sẽ “giã từ vũ khí” trở về dựng lại mái nhà, khoác áo nâu ra đồng làm ruộng hay “trở về thay vợ giữ con”. Kết thúc chiến tranh là “nắm hạnh phúc trong bàn tay còn lại” và “chan yêu thương cho tất cả tâm hồn”:
Ngày nào đó cuộc tương tàn chấm dứt
Làng hoang vu người trở lại dựng nhà
Tôi mặc áo nâu trở về làm ruộng
Tôi trở về làm lại kiếp người ta
Ngày nào đó không còn nghe tiếng súng
Tôi trở về thay vợ giữ con
Nắm hạnh phúc trong bàn tay còn lại
Chan yêu thương cho tất cả tâm hồn
(Nguyễn Đông Giang – Cho Tương Lai Bắt Gặp).
Giấc ngủ chập chờn trong thời chiến sẽ thay bằng giấc ngủ say. Tro bụi tàn cũng sẽ “kết trái đơm bông” và những dòng “mưa ngọt” sẽ thay cho những dòng nước mắt:
Quê hương thoát khỏi cảnh tàn phá
Hạnh phúc đo bằng giấc ngủ say
Những người đã khuất không xao nhãng
Tro bụi còn kết trái đơm bông
Những người sống sót thêm tin tưởng
Mưa ngọt thay vì lệ trẻ thơ
(Hoàng Bảo Việt – thèm đi).
Nỗi đau cắt chia đất nước đã tạo nên một “vết rạn” trong lòng, vì thế, họ luôn khát khao đợi chờ ngày thống nhất non sông:
Chao ôi vết rạn trong lòng Việt
Đã bón bao nhiêu máu giống nòi
Chừ vẫn còn chia Nam, Bắc mãi
Bao giờ cho mặn miếng trầu cay?
(Thanh Việt Thanh – bâng khuâng hồn lạc vào xuân mộng).
Dù có phải “buồn thắt ruột” vì chiến tranh, chia cắt; dù phải sống trong bế tắc, chán chường; họ luôn khát vọng: đợi chờ ngày hòa bình, thống nhất để được “đi tàu suốt” cho “Bắc với Nam má tựa vai kề”:
Nghĩ đến quê hương buồn thắt ruột
Biết bao lâu con mới được về?
Biết bao giờ con đi tàu suốt
Bắc với Nam má tựa vai kề?
(Trần Đức Uyển – Thư gửi mẹ).
Họ chất chứa trong lòng nỗi đau thương trước thân phận của quê hương, của những người “con một mẹ” Việt Nam bị chiến tranh chia cắt. Họ “hát lên to lớn” như một lời khẳng định để “con cháu ngày sau nghe rõ”: Người Việt dù ở miền Bắc hay miền Nam “cùng là con một mẹ”; nước Việt Nam là một, chẳng kẻ thù nào có thể cắt chia:
ta hát lên to lớn
con cháu ngày sau còn nghe rõ
mà nhớ
đất ta là của ta
đừng ai hòng cắt xẻ
chúng ta thương yêu nhau
cùng là con một mẹ
chiếm lại trọn đất đai
xóa sạch oán thù
(Thanh Tâm Tuyền – Phiên Khúc 20).
Cùng một cuộc chiến tranh, nhưng cái nhìn về chiến tranh trong thơ ca của văn học cách mạng và kháng chiến là một cái nhìn vừa hiện thực vừa lãng mạn cách mạng. Người chiến sĩ Giải phóng quân ra trận với quan điểm, niềm tin và lý tưởng rõ ràng: Vượt qua gian khó, hi sinh, bền gan chiến đấu để giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà. Còn cái nhìn về chiến tranh của thơ ca vùng đô thị miền Nam là một cái nhìn hoàn toàn đau buồn, chán chường, bế tắc. Vì vậy, người lính cộng hòa trong thơ miền Nam (kể cả bản thân nhà thơ), do bị bắt buộc cầm súng và hiểu rõ bản chất “lính đánh thuê” của cuộc chiến tranh mà mình can dự, nên không hề có lý tưởng chiến đấu; từ đó nẩy sinh tư tưởng và hành động phản chiến cũng như khát vọng về một ngày hòa bình, thống nhất Bắc Nam.
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN:
– Trần Tuấn Kiệt. 1967. Thi ca Việt Nam hiện đại (1880-1965), Nhà sách Khai – Trí xuất bản. thivien.net (Một vài trích dẫn thơ đô thị miền Nam khác)
– Một số tác giả, tác phẩm thơ cách mạng, kháng chiến được trích từ các tập thơ của các tác giả.
28/4/2025
Mai Bá Ẩn
Theo https://vanhocsaigon.com/

Tiếng phổ thông và ngôn ngữ vùng miền

Tiếng phổ thông và ngôn ngữ vùng miền Lắng nghe ý kiến của Thành Lộc, mới thấy băn khoăn về ngôn ngữ lai tạp không chỉ là chuyện của người...