Chủ Nhật, 1 tháng 3, 2026

Ngôn ngữ nghệ thuật của Nguyễn Bình Phương - Lời thoại hạng người dưới đáy

Ngôn ngữ nghệ thuật của
Nguyễn Bình Phương - Lời thoại
hạng người dưới đáy

Mỗi lời thoại đều khác nhau giữa các file ghi âm. Khác về giọng điệu, lối kể, thói quen khẩu ngữ, mặc dù về trình độ tư duy hầu hết đều ở mức bình dân dưới đáy. Đây là một dụng công khiến câu chuyện như thực, đằng sau mỗi lời kể là cả một thời họ sống.                                                                   

Trong bài “Thành bại trên hành trình đổi mới tiểu thuyết ở một số nhà văn trẻ”, tôi có viết: “Từ Nguyễn Huy Thiệp đến Nguyễn Bình Phương là bước dài của tiến trình văn học, dầu nó chênh chao lủng củng hơn, đúng hơn là dở hơi hơn, như là chuyện kể của chú Tễu, thằng Bờm. Nguyễn Bình Phương sở hữu một lối văn mà nhân vật, do thiểu năng hay thất học, đã nói lời thoại sai ngữ pháp mà người đọc vẫn hiểu đúng cái tinh thần của mạch văn.” Nguyễn Huy Thiệp gặp nạn khi viết về các danh nhân lịch sử nhưng lại thành công ở các nhân vật bình dân với lời thoại thô sơ mà thăm thẳm sâu ngữ nghĩa, ôm chứa triết luận một thời và một đời. Nguyễn Bình Phương bước qua giới hạn bình dân, đến được tầng lớp thấp hơn, tầng dưới đáy, cắm lều trại ở đấy mà sống với họ, “đi thực tế” về họ và lạ lùng thay, ở đấy ông phát hiện khả năng chứa đựng cái muôn thủa của thời thế. Đây là bí quyết của riêng ông, như thể chỉ xem gót chân mà ra tướng mệnh người đời; bí quyết trở về với cái bản năng thô sơ, với đám đông cơ hàn hoặc thất học hay ít học mà mơ mộng viển vông; là trở về với lối hành văn ngắn, cộc, lấy đủ làm trọng. Cốt chuyện không có gì, rất khó để kể lại, nhưng hấp dẫn, cực hấp dẫn nhờ các chi tiết bản năng người, ác và thiện hay tự nhiên đều hết sức thật, nó vọt ra tạo cảm giác rất gần cái bên trong, nhìn rõ cái bên trong mù mịt của con người. Cái gần, cái nhìn thấy là hiệu quả thẩm mỹ của văn cộc; không bị che lấp bởi vòng vo “làm” văn. Mời đọc một đoạn mẹ chồng Liên cùng ngánh gã đàn ông với con dâu Hiền, chẳng phải vì con dâu và là vì mình:

Nam tranh thủ lúc nghỉ, chuồn về nhà Hiền. Nam đang dớn dác, bà Liên hỏi giật:

– Gì đấy chú?

Nam ngượng bảo bỏ quên đôi quân hàm. Bà Liên chỉ ve áo Nam:

– Nó nhơn nhơn đấy thôi!

Nam chống chế:

– Cháu có hai đôi

Đây nữa, đoạn kể nhân vật nói mà gần như không nói gì nhưng người đọc lại hiểu  đúng điều mà tác giả muốn họ hiểu:

Ông Khoa gặp Nam run run hỏi:

– Tình hình thế nào, chú?

Nam đanh mặt:

– Máu chảy đầu rơi. Chết vô kể, ta thắng địch thua…

Đoạn thứ ba, con người thật cứ phơi ra thông thống:

Bà Liên ngoắt lại:

– Sao hôm nay mày vui thế?

Hiền cúi xuống đập. Bà Liên vẫn gặng. Hiền cắn môi:

– Con mơ

– Thấy gì?

– Có ông đầu vàng rực.

– Có cười không?

– Có!

Bà Liên nhẩy cẩng lên:

– Khốn. Thế mà cũng vui. Nó tán mày đấy

(…) Hiền tìm đến ông Khoa. Hỏi, có việc gì không? Đáp đến chơi. Ông Khoa an ủi. Hiền chỉ tay lên bàn thờ, bảo mình mơ thấy ông này. Ông ta là ai hả bác? Chúa đấy! Hiền hỏi nó có tán tỉnh cháu thật không?

Những đoạn trên đây tôi trích dẫn ở tiểu thuyết Thoạt kỳ thủy, đến Một ví dụ xoàng này, lạ thay tôi vẫn nhận ra hạng người dưới đáy với lời thoại đầy bất ngờ của họ; chỉ khác, họ cũng chuyển động theo dòng thời cuộc, xuất phát ở tầng lớp trên, anh tiến sĩ, bác sĩ, chị giáo viên, ông phó chủ tịch tỉnh… nhưng đã bị số phận xô đẩy, bị cái ác tâm và dục vọng trong chính họ được xã hội với các tập tục thói quen tâm lý yếu hèn dung dưỡng xô đẩy nên đã văng khỏi tầng lớp bình dân mà rơi xuống tầng đáy của thân phận, nhân cách hay suy sụp bệnh hoạn theo tuổi tác.

Một ví dụ xoàng dày 203 trang, chia làm hai phần. Phần I, 74 trang, kể nhiều chuyện oái oăm kỳ quái ở một thành phố bị dân đào vàng tràn qua như những cơn bão dập cho tâm tính dân cư tơi tả. Vàng đã khiến Uyên, vốn ở xóm nghèo Linh Sơn trở thành con dâu rồi thành tình – dục – nhân của ông Chính; kẻ đã sát hại cha cô, người lính kiểm lâm nhằm độc chiếm túi vàng mà cả hai vừa tước đoạt của người đào vàng sau khi đã đẩy ông ta xuống vực. Từ phía khác Sang đến với vàng: Từng du học bên Liên Xô, là tiến sĩ. Do tính cách bộc trực, lại lâm vào hoàn cảnh nghèo túng, Sang văng khỏi tư duy cùng tập quán thời đại, anh ta xin nghỉ dạy đại học để đi đào vàng trên Na Rì. Chỉ sáu tháng sống “dưới đáy”, Sang đã ra ngay một kẻ giang hồ ở cả tư duy lẫn thói quen hành xử. Trong một lần tìm gái, Sang gặp lại Uyên, người tình thời trẻ con của mình, anh ta nảy ra ý khinh khi anh chồng bằng việc “mua” cô và màn mua bán đầy kịch tính diễn ra rõ ràng đến mức Sang nói mà không cần chứng minh: “Nó không xứng làm chồng em đâu.” Phần I kết thúc ở đoạn Sang từ bãi vàng trở lại dạy học, đã có hai con, cô vợ bỏ đi với trai theo tiếng gọi đồng tiền, anh ta phải đi buôn chè để cầm cự cuộc sống. Một lần đi buôn 4 kg chè, anh ta bị đám phòng thuế, công an, kiểm sát viên quân đội vây bắt. Sang vừa chạy vừa vẩy khẩu súng ngắn thể thao về phía sau, trúng vào thùy trán anh bộ đội. Sang bị xử tử.

Phần II, con trai Sang đã trưởng thành, làm nghề viết lách, muốn phục dựng lại hồ sơ vụ án để mường tượng về người cha. Gần 130 trang sách là lời kể của những người tham gia tố tụng, hành quyết, chôn cất Sang cùng các nhân chứng. Phần này viết bằng gỡ băng ghi âm, cái chết của Sang trở đi trở lại theo cách nhìn của người dẫn tù, đào hố chôn cột, đào huyệt, bịt mắt, người bắn, kẻ chôn… thành ra văn bản chồng văn bản. Thủ pháp toán tập mờ gây hiệu ứng nghệ thuật bất ngờ, Sang hiện ra khi thì cực thô sơ, lúc lại hư ảo như một giai thoại, tiến dẫn đến một minh triết về con người – một sinh thể phong phú phức hợp, nó không thể trùng khít với bất cứ nhận định, nhận xét theo quy ước nào một cách võ đoán. Có thể hình dung, với hơn 10 file ghi âm, Sang đã hiện ra qua hơn mười bức chân dung; bức nào cũng chân thực, sống động và cũng khác những chân dung còn lại nhưng thật lạ, chân dung nào cũng là Sang.

Không ai kể về vụ án từng thù oán Sang, có tình ruột thịt hay tình tri kỷ tri âm với Sang. Kể cả Uyên, họ từng lén đi chơi ở chỗ khuất với nhau nhưng chưa một lần quan hệ thân xác; hơn nữa, cái kể của Uyên là tâm sự của một kẻ đã không còn thấy thiêng trong tình yêu, nó bị lẫn vào nhiều mối quan hệ tình dục ê chệ, nhầy nhụa, nhục nhã rồi trộn vào nhau trong một tâm thức chán chường vừa tự khinh vừa khinh bỉ. Đằng khác, tất cả các lời kể đều có độ lùi thời gian khá sâu, tới đến hai chục năm, tuyệt đối không còn vương chút xót thương, căm phẫn tươi nguyên nào. Đây là dụng ý nghệ thuật của Nguyễn Bình Phương, ông muốn vùng thoát khỏi cảm tính dễ dẫn tiến đến thiên vị để đưa câu chuyện lên tầng cao hơn của trần thuật khách quan. Ở Mình và họ, Nguyễn Bình Phương còn cho ma kể chuyện, với xác tín rằng, ma thì không còn cảm xúc như người; lời của ma thật như đời sống, không lấy lòng, tô vẽ hay bôi đen. Nói chung, sự trung thực, sự đứng giữa là điều tối cần để văn chương có được sức thuyết phục khách quan, lâu bền. Đây vốn là cái kỹ thuật dĩ nhiên của tiểu thuyết, cái kỹ thuật xoàng xĩnh khiến nó khác hẳn với sử thi, thực lục. Thật đáng buồn là hôm nay, tôi đưa chúng ra như một ưu điểm của thi pháp tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương.

Mỗi lời thoại đều khác nhau giữa các file ghi âm. Khác về giọng điệu, lối kể, thói quen khẩu ngữ, mặc dù về trình độ tư duy hầu hết đều ở mức bình dân dưới đáy. Đây là một dụng công khiến câu chuyện như thực, đằng sau mỗi lời kể là cả một thời họ sống. Xin đọc thử:

Đây là đoạn kể xen kẽ giữa các nước cờ của hai ông giáo đại học đánh cờ, kể cho khách nghe:

“Đến con vật nó còn sống thuận theo đàn, huống hồ mình là con người. [… ] Kinh nhỉ, định tính nước chiếu độn cơ à. Khép sĩ… [… ] học tiến sĩ mà thành sát nhân.”

“Tôi thì tôi chả thấy có gì lạ. Nói xin lỗi cả nhà chứ, đã ăn hạt mít thì phải đánh rắm thối, có thế thôi. Sống thế, cho nên con vợ nó mới bỏ đi, sống thế cho nên có hai đứa con thì đánh lạc mất một đứa…”

Đây là lời kể của ông chủ quán chè chén, người năm xưa đã bán chè cho Sang:

“Thế hệ chú còn may, như lứa tôi, chỉ vài cân chè mà đi toong hai mạng người [… ] Công nhận người có học họ hiền. Nói ra bảo là bịa, chứ sau hôm bọn chúng nó bắn, tôi có mơ thấy chú ấy về đứng ở đầu giường tôi. Thoạt tiên tôi hoảng, nghĩ bỏ mẹ rồi, có khi mình bị oán rồi, nhưng không phải. Chú ấy nó nhìn tôi cứ hiền hiền, buồn buồn một lúc rồi thì đi mất. Hóa ra là họ đến chào mình. Người tử tế, chết rồi vẫn cứ tử tế.”

Đây là lời kể của người xem [bắn] vô danh:

“Đang chạy, bỗng thằng cả nhà tôi lo lắng bảo mưa thế này chẳng biết họ có hoãn xử bắn cái ông tiến sĩ không. Nếu hoãn thì thật chán. [… ] Tôi quyết định chuyển gia đình đi chỗ khác mặc dù cũng chẳng biết sẽ có thú vui gì cho chúng nó.”

Tôi đặc biệt nhớ hai lời kể, một của ông nguyên trưởng phòng tổ chức của trường đại học. Đang phản biện rất say sưa về cơ chế, chợt ông bảo:

“A, khoan đã, đề nghị đồng chí tắt ghi âm đi. Cứ tắt đi. Nếu muốn tôi nói cho thoải mái phải tắt đi, tôi sẽ nói quan điểm của tôi về bản chất của cái cơ chế này cho mà nghe. Tắt chưa, để tôi nói. [… ] Vấn đề là đừng để bất cứ cái gì nó đi đến cùng quẫn. Cùng quẫn là xảy ra phá liều. Nguyên tắc đơn giản vậy thôi. Sang nó là gương đấy.”

Lời kể thứ hai mà tôi nhớ, lại là của con gái người dẫn tù:

“… giục đi tắm thì chú Sang bảo chú đã tắm sẵn rồi. Bảo viết thư cho gia đình thì chú ấy đáp chú không viết, bảo có dặn gì thì sẽ chuyển lời giúp, chú ấy cũng không dặn gì. Bố chị mới tò mò hỏi sao không dặn dò gì người nhà thì chú ấy nói chú ấy không muốn để lại dấu tích gì về mình. Chú ấy muốn biến mất tăm mất tích luôn, sạch sành sanh luôn.”

Hiệu quả bất ngờ của thi pháp mờ chồng văn bản khiến dần dà hé lộ toan tính của ông Chính khiến Sang bị xử bắn vội vã. Đặc biệt thú vị là cả Uyên, cả Quyết cháu gọi ông Chính là bác họ và hầu hết bạn đọc đều ngờ ngợ ông ta do ghen với Sang kẻ ông ta cho là tình địch; nhưng không ai chắc chắn cả. Nó thực như đầy dẫy việc ở ngoài xã hội, ai cũng biết, ai cũng ngờ ngợ nhưng không ai biết chắc chắn cả. Uyên thậm chí còn không biết ông Chính là kẻ sát hại cha mình, còn chọc cho nát bét đôi mắt để trừ hậu họa soi đáy mắt tìm hình ảnh cuối cùng in vào mắt nạn nhân. Vậy rồi bạn đọc sởn gai ốc khi hình dung, đêm đêm lão Chính vẫn vần vò Uyên mà lục sục. Cái ghen đầy bản năng, nó trần trụi mà không thèm mặc bất cứ thứ phục trang nào. Cái cách con dâu cả, Vân vợ Công, nói với bố chồng không đại từ nhân xưng làm chứng rằng chúng đã loạn luân; cái cách Uyên bị lão Chính vờn vò rồi chính cô vờn vò lại lão, ưỡn ngực lên phía ban thờ có 6 tấm ảnh thờ càng tố lên rằng chúng đã tuột khỏi tư cách người mà rơi thẳng xuống vũng bùn nhầy nhụa dưới đáy, nơi các bản năng mặc sức phơi bầy sự sa đọa. Xót xa thay, Sang là tấm tình người may mắn còn sót lại để Uyên bấu víu, vậy mà rồi bị chính cái ghen bản năng của bố chồng đang tâm tăng sức ép, tình người bị tình thú vật gây áp lực xử tử.

Nhân vật chính có tên, nhưng người ta chỉ nhớ nó với cái đại từ khách như một ẩn dụ về nhà văn. Khách xâu chuỗi các sự kiện, gỡ băng ghi âm các nhân chứng của vụ án dẫn đến cái chết của chính cha anh ta. Nhưng, ngay ở cái vai trò rất dễ cảm thán, xúc động này, khách cũng được viết với tất cả kìm nén của ngòi bút tiểu thuyết chân chính. Khách tìm ra mọi lời bào chữa cho cha mình, có vẻ như sẽ dẫn đến một sự phanh phui cả gói về nỗi oan điển hình của một thời. Vậy mà rồi không có thiên phóng sự điều tra nào cả. Nó bị buông lửng đầy ẩn dụ qua lời ông nguyên chánh án –lời thoại duy nhất của tiểu thuyết có tính lương tri của người bình dân đã đi qua cái thời nhí nhố của mình: “Mà này, cái vụ của cậu tiến sĩ ấy mà, xét cho cùng, cũng nhí nhố cả thôi. Nếu mỗi người là một ví dụ, thì cậu ấy nó là cái ví dụ xoàng, hết sức xoàng.”

Thực ra, ngay câu nói đầy lương tri của kẻ nguyên là quan chức này, phần chứa đựng nhiều nhất lại nằm ở ngôn ngữ dưới đáy: “xét cho cùng, cũng nhí nhố cả thôi.” Nó vào hùa với những lời đĩ bợm của con dâu bố chồng Chính, với những tục tĩu của ông bác sĩ Quyết, của thằng cháu nghiện gọi ông ta là cậu khi chửi ông nội mình hay các câu nói của ông Chính ngô nghê khi bệnh hoạn.

Tại sao tôi đánh giá cao ngôn ngữ hạng người dưới đáy và coi lời thoại của hạng người này trong các tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương nói chung, ở Một ví dụ xoàng nói riêng như một lựa chọn tối ưu nghệ thuật? Để trả lời câu hỏi này có lẽ cần một bài viết chuyên biệt, ở đây chỉ xin vắn tắt. Bởi vì, cùng với quá trình phát triển vượt bậc của tiếng Việt khi nó tương tác với tiếng Pháp vào những năm 1930 – 1945; sau đó thì rơi vào khủng hoảng rồi khi chững lại thì đã kịp quan liêu hóa. Trong các bản tin VTV, các trang báo dẫn lời quan chức nghe rất buồn cười trước thực trạng che chắn, che giấu ý nghĩa thực khi hành ngôn trong khi bản chất của ngôn ngữ là truyền thông tin chân thực: Lựa chọn thu giá thay thu phí rồi tiếp theo là lựa chọn học giá; “Nếu chúng ta sai, chúng ta cần xin lỗi nhân dân còn nhân dân sai thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.” Năm 1992 – 1993, là năm mà nhân dân cả nước nức lòng phấn khởi vì được giao ruộng sử dụng lâu dài theo dự luật đất đai, tôi nghe trên VTV có ông cán bộ xã ở Hà Tây trả lời phóng viên rằng, “nhân dân đại đa số muốn trích quỹ đất công tối thiểu 10%” [dự luật 5%.] Đặc điểm lời thoại của tầng lớp cán bộ là nói theo nhau và theo đài báo, họ nhân danh nhân dân nhưng nói cái điều có lợi cho cán bộ hành pháp; lâu dần đã thành tập quán. Tầng lớp trung lưu bao gồm cả trí thức cũng ít nhiều ảnh hưởng trào lưu quan phương, họ khéo léo tránh va chạm, né quy kết. Đọc các bài phê bình văn chương trên báo chí sẽ thấy rõ căn bệnh này. Tiếng Việt của hạng trung lưu trí thức già nua, lười biếng, không chịu lớn. Vậy còn đại đa số nông dân, công nhân thì sao? Xin thưa, từ bé họ học diễn ngôn qua văn mẫu nhà trường và giọng đọc thiếu nhi VTV lên bổng xuống trầm… hệt TV. Xin cứ đọc lời thoại của các em trong các tiểu thuyết ăn khách của Nguyễn Nhật Ánh mà xem, các em già nua sáo mòn. Tôi không chỉ chê tác giả, cả tác giả lẫn học đường đều là nạn nhân của nhau. Bé đã vậy, lớn lên sách không, báo không, chỉ bắt chước VTV mà nói năng cho phải phép. Tôi chỉ còn biết trông chờ vào lớp thanh niên choai hôm nay, vừa nói vừa Rap, vừa tiếng Việt xổi vừa chen tiếng Anh bồi rồi trộn tất cả với miên man tiếng lóng học đường, tiếng lóng đường phố rồi sẽ kết tủa, sẽ định hình một thời kỳ phát triển tiếng Việt mới, thời nó tương tác với đa ngôn ngữ.

Trong bối cảnh ngôn ngữ chung như thế, chỉ còn tiếng Việt của hạng người dưới đáy khả dĩ tin được. Vì họ nói mà không cần giữ ý, không sợ va chạm, sợ quy kết. Họ không ngừng được bổ túc tiếng lóng đường phố qua các trại tù. Họ không biết sợ va chạm, quy chụp vì thiểu năng, thất học, sống với sắn khoai bùn lầy bụi bặm nơi bến xe bến tàu thậm chí là bãi rác. Ở họ, tiếng Việt phát triển tuy chậm nhưng chắc chắn, tự nhiên nên đúng hướng; độ chính xác của ngôn ngữ còn ở mức cao. Cái tính từ “nhí nhố” trong câu “xét cho cùng, cũng nhí nhố cả thôi.” của ông nguyên chánh án chính là sự pha trộn ngôn ngữ của hạng người này với của quan phương nay đã nghỉ hưu làm bật lên nội hàm bung phá của ngữ nghĩa. Chúng ta chỉ cần thay nhí nhố bằng phổ biến [vầy vậy/ chả có gì đặc biệt/ tiêu biểu…] hàm nghĩa sẽ bị co lại, trượt đi vì nó quen.

Vâng, chính nhờ lời của dưới đáy khiến nội hàm mà nó chất chứa văng xa khỏi ngữ cảnh, tạo thành hạt nhân làm bùng nổ cảm xúc nơi người đọc; bùng nổ dây chuyền bừng dậy, râm ran dậy toàn bộ tư tưởng nghệ thuật của Một ví dụ xoàng. Tôi chợt nhớ câu ai đó nói về sân khấu: “Chủ đề kịch không chạy lăng xăng trên sân khấu mà nó theo khán giả từ sân khấu về nhà của họ.” Ở đây, cái không chạy lăng xăng còn là cảm xúc của ngôn ngữ thoại, chủ yếu là ngôn ngữ thoại.

23/7/2022

Văn Chinh

Theo https://vanvn.vn/

Nhà nghiên cứu Vũ Bình Lục: Hành trình giải mã năm thế kỷ văn chương

Nhà nghiên cứu Vũ Bình Lục:
Hành trình giải mã năm thế kỷ văn chương

Sức làm việc, sức đọc, sức viết, khả năng nghiên cứu khoa học, sáng tạo nghệ thuật của nhà nghiên cứu Vũ Bình Lục hơn ba mươi năm qua, với khối lượng công việc ông đã hoàn thành thật đáng khâm phục. Tuy đã bước vào tuổi quá thất thập ông vẫn tráng kiện, tràn đầy năng lượng và hơn hết là sự hấp dẫn của nhân cách bao dung, giàu tính nhân văn.

Di sản thơ ca của dân tộc ta từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX, là một thành tố quan trọng trong cấu trúc của hệ hình văn hóa Đại Việt (giai đoạn hậu kỳ).

Giới nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn ở nước ta thường thống nhất văn hóa Việt Nam đã diễn ra với ba hệ hình văn hóa cơ bản. Thứ nhất là hệ hình văn hóa Đông Sơn và tiếp theo là hệ hình văn hóa Đại Việt, và từ đầu thế kỷ XX, văn hóa Việt Nam được định danh là hệ hình văn hóa Việt Nam. Việc nghiên cứu văn hóa học được tiếp cận trên ba hình thái chủ đạo.

Trước hết là hình thái tiếp cận vĩ mô tổng quát, nhằm đánh giá, phân tích cấu trúc văn hóa Việt Nam được hình thành, phát triển như thế nào trong sự vận động của lịch sử dân tộc ta nói chung. Và hình thái vi mô cụ thể, nhằm khám phá, phân tích lí giải sâu sắc các thành tố văn hóa tương đối độc lập và những biểu hiện chức năng của văn hóa. Hình thái thứ ba là nghiên cứu văn hóa theo hướng phức hợp, xuyên văn hóa, liên văn hóa, nhằm chỉ ra mối quan hệ biện chứng tác động qua lại (giữa cấu trúc, chức năng và các hiện tượng văn hóa đa dạng cùng phát huy tác dụng) trong mối liên hệ phổ biến thống nhất của vật chất.

Trở lại với di sản thơ ca của ông cha ta từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX, từ mấy thế kỷ qua giới nghiên cứu văn học nước ta đã có nhiều cố gắng thám sát giải mã nội dung tư tưởng, hình thức nghệ thuật theo hai xu hướng: Xu hướng thứ nhất nghiên cứu theo mô hình nghiên cứu trung đại, chịu ảnh hưởng và chi phối của các phạm trù mỹ học trung đại mà cơ bản là tư tưởng triết học tam giáo (Nho, Phật, Lão) quy định và điều tiết hệ thức thẩm mỹ xã hội và chủ thể nghiên cứu. Xu hướng thứ hai nghiên cứu văn học (thơ ca) thế kỷ XV – XIX theo mô hình lý thuyết mác xít quy định, nặng về tư tưởng đấu tranh giai cấp nên thường phủ định các giá trị mỹ học trung đại (nhất là các phạm trù chỉ luân lý đạo đức).

Nhằm khắc phục những hạn chế của hai xu hướng nghiên cứu thơ ca trung đại vừa nêu trên, nhà nghiên cứu văn hóa, lý luận phê bình văn học Vũ Bình Lục đã tiến hành nghiên cứu “Giải mã kho báu văn chương Lý Trần” (1226 – 1400) và “Giải mã kho báu văn chương Việt Nam từ thế kỷ XV – XIX” theo mô hình nghiên cứu phức hợp, liên văn hóa, xuyên văn hóa.

Nhà nghiên cứu Vũ Bình Lục đã tiến hành nghiên cứu trường hợp – Nguyễn Trãi; Cao Bá Quát, trong những chuyên luận, chuyên sâu, trước khi bước vào nghiên cứu hệ thống thơ ca Việt Nam từ thế kỷ XV – XIX. Và một số công trình nghiên cứu có liên quan chặt chẽ đến vấn đề thơ văn chữ Hán trên mười thế kỷ của dân tộc Việt Nam, tương ứng với thời kỳ phát triển rực rỡ nhất của hệ hình văn hóa Đại Việt. Và bản chất của việc nghiên cứu giải mã kho báu văn chương mười thế kỷ (thế kỷ X – XIX) thực chất là nghiên cứu trên chất nền ngôn ngữ Hán – Nôm.

Xuất phát điểm của nhà nghiên cứu Vũ Bình Lục vốn đã am hiểu ngôn ngữ, văn hóa Hán – Nôm. Mặt khác Vũ Bình Lục còn là người sáng tác thơ, viết văn xuôi truyện ngắn, bút ký, đa dạng về thể loại sáng tạo nghệ thuật. Dựa trên hai nền tảng vững chắc đó, quả thật hết sức thuận lợi cho việc nghiên cứu, lược dịch thơ ngôn ngữ Hán – Nôm sang ngôn ngữ tiếng Việt hiện đại.

Nhà nghiên cứu Vũ Bình Lục bước vào giải mã kho báu văn chương Lý Trần và kho báu văn chương thế kỷ XV – XIX, quả thực là một thử thách mạo hiểm, quả cảm. Bởi vì trước đó đã có rất nhiều nhà nghiên cứu lừng danh triển khai nghiên cứu và có thành tựu nhất định. Tuy nhiên, với lợi thế của người đi sau đã kế thừa được những tinh hoa của người đi trước, và có những kiến giải độc lập sáng tạo, nhà nghiên cứu Vũ Bình Lục đã thổi một luồng sinh khí mới trong sáng, tươi tắn cho thế giới nghệ thuật và tư tưởng nội dung của kho báu văn chương mười thế kỷ của ông cha chúng ta.

Trong công trình “Giải mã kho báu văn chương thế kỷ XV – XIX”, nhà nghiên cứu Vũ Bình Lục đã tiến hành đọc đối chiếu so sánh mấy nghìn văn bản (Hán – Nôm) tài liệu trong nước và nước ngoài để điều tra, phân tích, tổng hợp, nhằm khắc phục điểm khuyết thiếu của các nhà nghiên cứu đi trước do công tác tài liệu hạn chế. Ngoài ra ông còn đọc hàng nghìn tài liệu văn bản tiếng Việt hiện đại để tổng quan tài liệu, viết lịch sử vấn đề nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu của Vũ Bình Lục, xét trên bình diện tổng quát là nghiên cứu phức hợp, xuyên văn hóa, liên văn hóa.

Trong công trình “Giải mã kho báu văn chương thế kỷ XV – XIX”, ông đã đặt kho báu văn chương – thơ ca của ông cha chúng ta trong bối cảnh văn hóa cụ thể của từng thời đại lịch sử, và trong sự phức hợp của vận động tương tác văn hóa giữa cơ cấu nội tại của thơ ca với các thành tố văn hóa khác diễn ra trong cùng một không gian, thời gian nhất định. Xét trên bình diện cụ thể, nhà nghiên cứu Vũ Bình Lục đã tiến hành nghiên cứu tiếp cận văn bản học và tiểu sử học, trong đó nhấn mạnh trực diện vào văn bản tác phẩm thơ ca ngôn ngữ Hán – Nôm.

Về tính chất nội dung nghiên cứu, nhà nghiên cứu Vũ Bình Lục đã nỗ lực giải mã, phân tích cặn kẽ những giá trị biểu đạt của tư tưởng nghệ thuật Phương Đông. Và làm rõ những cặp phạm trù giá trị thẩm mỹ của khung mô hình thẩm mỹ trung đại còn phát huy tác dụng tích cực trong lý tưởng thẩm mỹ hiện đại.

Về công tác tư liệu trích dịch sử dụng trong công trình “Giải mã kho báu văn chương thế kỷ XV – XIX” chủ yếu được dẫn nguồn từ sách Hoàng Việt Thi Tuyển của Bùi Huy Bích và Toàn Việt Thi Lục của Lê Quý Đôn. Điểm đóng góp quan trọng và có ý tưởng mới của nhà nghiên cứu Vũ Bình Lục, ở chỗ ông đã dịch lại toàn bộ các bài thơ, chủ yếu là thơ lục bát, song thất lục bát, đồng thời chú giải bình luận, phân tích văn bản tác phẩm theo nguyên lý phức hợp, xuyên văn hóa, liên văn hóa nhằm giải mã giá trị tư tưởng nghệ thuật của tác phẩm trọn vẹn sâu sắc nhất.

Trong phần tổng quan nghiên cứu ông đã chỉ rõ từ thế kỷ XV, được mở đầu bằng chiến thắng của nghĩa quân Lam Sơn do Lê Lợi và Nguyễn Trãi lãnh đạo. Cuộc kháng chiến chống giặc Minh xâm lược thắng lợi đã mở ra cho dân tộc ta một thời đại mới oai hùng vẻ vang trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, tạo tiền đề cho việc quản trị quốc gia Đại Việt phát triển. Chính tiền đề văn hóa chính trị đó đã làm nền tảng vững chắc cho các hoạt động khoa cử, văn chương nghệ thuật, công thương… phát triển. Nhà nghiên cứu Vũ Bình Lục chỉ rõ: “Nội dung thơ thời kỳ này chủ yếu tụng ca thánh triều hưng thịnh và tài đức của nhà vua, nghệ thuật thơ đạt đến kinh điển nhưng hình thức quan phương, lời lẽ hoa mỹ mà gò bó”. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn có những đại biểu, các nhà nho khác trước tác đậm chất chữ tình bản thể, vừa hiện thực vừa điêu luyện.

Tiếp theo thế kỷ XVI, nhà nghiên cứu Vũ Bình Lục dẫn luận thời đại lịch sử văn hóa trong bối cảnh phân tranh Lê – Mạc. Và thế kỷ XVII là quan hệ Lê – Trịnh; quan hệ phân tranh Trịnh – Nguyễn, dẫn đến khởi nghĩa Tây Sơn… và đầu thế kỷ XIX vua Gia Long thống nhất đất nước.

Tất cả những biến động lịch sử khắc nghiệt như vậy đã tác động rất sâu sắc đến tâm hồn các nhà thơ của dân tộc chúng ta. Hiện thực đi tìm bậc chân chúa, chúa sáng tôi hiền… thờ ai? giết ai? vấn đề nhân tình thế thái, vấn đề tâm thế sĩ phu/Nho sĩ trước trách nhiệm với giang sơn đất nước, với dân tộc, với nhân dân đều được đặt ra.

Trong cấu trúc tổng thể của công trình “Giải mã kho báu văn chương thế kỷ XV- XIX”, nhà nghiên cứu Vũ Bình Lục đã giải mã thấu đáo khoa học, sâu sắc, khách quan, và giàu hàm lượng văn chương trong các đơn vị bài viết, được xem như các bài tiểu luận nghiên cứu khoa học mô phạm. Tuy nhiên, do có thế mạnh của một nhà thơ nên nội lực làm chủ ngôn ngữ và biểu đạt ngôn ngữ văn phong trong nghiên cứu vừa khoa học khách quan, lạnh lùng, nghiêm cẩn, lại vừa nhu nhuyễn, trữ tình bay bổng thấm đẫm chất văn chương, ngọt ngào bản sắc dân tộc, lại có khi chói sáng đanh thép khẩu khí sử thi, sử tính. Nhà nghiên cứu Vũ Bình Lục đã công phu tâm huyết cho hành trình giải mã trọn vẹn năm thế kỷ sinh thành phát triển tỏa sáng di sản văn chương của ông cha chúng ta thuộc hệ hình văn hóa Đại Việt thật kỳ vĩ. Đáng khâm phục và kính trọng biết bao!

Sức làm việc, sức đọc, sức viết, khả năng nghiên cứu khoa học, sáng tạo nghệ thuật của nhà nghiên cứu Vũ Bình Lục hơn ba mươi năm qua, với khối lượng công việc ông đã hoàn thành thật đáng khâm phục. Tuy đã bước vào tuổi quá thất thập ông vẫn tráng kiện, tràn đầy năng lượng và hơn hết là sự hấp dẫn của nhân cách bao dung, giàu tính nhân văn.

Lời tạm đóng, nhưng để cho tình cảm trân trọng của tôi mở ra với nhà nghiên cứu Vũ Bình Lục và đến tất cả những người yên mến quý trọng nhà nghiên cứu Vũ Bình Lục. Ông đã vượt qua thử thách để trau dồi nghị lực bản lĩnh nghiên cứu học thuật và ông đã thành công. Song thành công lớn nhất trong tư cách nhà nghiên cứu của Vũ Bình Lục là ông đã khơi dậy và giải mã được tinh thần văn hiến của ông cha chúng ta để trao truyền cho các thế hệ mai sau, vì một Việt Nam hùng cường thịnh vượng tươi đẹp, vì tương lai văn hóa của dân tộc Việt Nam.

9/5/2022

Nguyễn Văn Sơn

Theo https://vanvn.vn/

Đi tìm cái "Bóng" của Phạm Văn Dũng

Đi tìm cái "Bóng"
của Phạm Văn Dũng

Xưa nay, thơ vẫn là nơi để con người, mà trước hết là nhà thơ, tìm đến để nương náu tâm hồn, hoặc là để tìm lại hồn mình trong những xúc cảm về cuộc đời, trước cuộc đời, và cả khi đối diện với chính mình. Thi sĩ vừa gửi vào thơ những khoảnh khắc của cuộc sống mà tâm hồn mình nắm bắt được, vừa tìm trong thơ một góc riêng để tâm hồn mình trú ngụ. Nhiều khi, giữa cuộc sống với trăm cái bộn bề khó phân biệt của xấu và tốt, cao cả và thấp hèn, của danh và lợi, được và mất, thi sĩ lại tìm vào thơ như người ta thường tìm về với ngôi nhà thời thơ ấu của mình giữa chốn quê hương bản xứ.Nhà thơ Phạm Văn Dũng ở Thanh Hóa

Cầm tập thơ Mình khuất bóng mình của Phạm Văn Dũng, nghe cái tên, tôi chợt nhớ đến mấy ca từ trong một bài hát của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn: “Tôi vui chơi giữa đời, ối a biết đâu nguồn cội/ Cây trưa thu bóng dài, và tôi thu bóng tôi…”. Thấy có chút gì đó như mang màu sắc triết lí, hay ít ra là sự chiêm nghiệm của tác giả về mình và về đời. Nhưng ở đây, tôi không chủ ý đi tìm cái tính triết lí (nếu có) trong thơ Phạm Văn Dũng.

Trước hết, xin được nói rằng trong bài viết này, tôi không có tham vọng đi nhận xét, đánh giá cái hay cái dở về nội dung hay cái mới cái cũ về nghệ thuật thể hiện của tác giả. Việc định giá một tác phẩm nghệ thuật – đứa con tinh thần với biết bao nhiêu tâm huyết của người nghệ sĩ – không phải là chuyện của ngày một ngày hai, ít ra là đối với một người đọc bình thường như tôi. Ở đây, tôi chỉ muốn đi tìm cái “bóng” mà Phạm Văn Dũng muốn “khuất” vào trong tập thơ.

Dễ thấy rằng Phạm Văn Dũng không dựng lên một cái “bóng” mang dáng dấp cây đa cây gạo sống lâu lắm rễ, cũng không phải là cây tùng cây bách hiên ngang giữa cuộc đời giông bão, lại càng không phải cây bồ đề mà nhiều kẻ học đòi mượn nó để giả dạng tu hành. Cái “bóng” của Phạm Văn Dũng, nhìn một cách bao quát thì nó cũng nhỏ bé đơn sơ, nó mộc mạc, mà còn có đôi chỗ cũ kĩ. Bởi vì nó vốn được tạo nên từ những cái nhỏ bé, mộc mạc như chính cái gốc gác và cuộc đời của anh vậy. Nhưng đó lại là cái “bóng” được tỏa xuống từ những cái thuộc về thâm căn cố đế của con người, ít nhất là đối với chính tác giả của nó.

Bài thơ đầu tiên tôi đọc chính là bài cùng tên với tập thơ, Mình khuất bóng mình, một bài thơ ngắn gọn, giản dị nhưng mang ý nghĩa biểu tượng rất rõ về một vòng đời của con người qua hình ảnh cái bóng cây ở những thời điểm khác nhau trong một ngày. Bốn dòng đầu là hình ảnh cây thấy bóng mình vào lúc bình minh và lúc hoàng hôn:

Mặt trời khi bình minh

Cây thấy mình đổ bóng lổn nhổn vào hang đá

Mặt trời khi hoàng hôn

Cây thấy mình đổ bóng loằng ngoằng vào khe suối

Đó là bóng cây nhưng cũng là hình ảnh phản chiếu đời người. Hai hình ảnh cây “đổ bóng lổn nhổn vào hang đá” và cây “đổ bóng lằng ngoằng vào khe suối” cho ta liên tưởng đến con người nương tựa vào gia đình, quê hương, nguồn cội khi còn thơ trẻ và cũng trở về với gia đình, quê hương, nguồn cội khi đã về già. Còn đây là hình ảnh bóng cây lúc buổi trưa và sự phản chiếu hình ảnh con người khi đã trưởng thành bước sang tuổi trung niên:

Mặt trời khi tròn bóng

Cây chẳng thấy mình nơi đâu

Gió rung sợi tóc nâu

Chấm buồn đôi giọt lệ

Đó là hình ảnh con người tự lập, con người độc lập giữa cuộc đời, cũng là con người khi cảm nhận thấm thía sự cô đơn, con người chỉ còn biết tự nương tựa vào mình, chẳng còn biết và cũng chẳng thể đổ bóng vào đâu. Bên trong hình ảnh cái cây không có bóng ấy, ta thấy một con người từng trải và trưởng thành giữa biết bao vui buồn và những thăng trầm của cuộc sống. Đó cũng là khi tác giả nhận thức trong một chiêm nghiệm giản đơn mà không kém phần sâu sắc:

Chợt nghĩ ra

Cũng có khi mình khuất bóng mình

Dễ hiểu.

Đọc cả tập thơ với số lượng lên tới 87 bài, tôi thấy Phạm Văn Dũng viết về nhiều đề tài, kí thác tâm tình vào nhiều đối tượng (cũng dễ hiểu, vì tròn 20 năm kể từ ngày Cánh thơ nâu được xuất bản từ thời còn là cậu sinh viên năm thứ 2, tác giả mới cho ra mắt tập thơ này). Trong Mình khuất bóng mình, Phạm Văn Dũng nói về nhiều chuyện: từ những cảm xúc tâm tình, những kỉ niệm của tuổi học trò cách đây đã hai mươi năm đến những chuyện làng quê, chuyện trường lớp; từ những kỉ niệm và tình cảm gia đình, thầy cô hay những cảm nhận và suy tư về dòng chảy của thời gian, cuộc sống và con người, đến cả chuyện về danh nhân, lãnh tụ… Nói chung là nhiều và rộng. Nhưng điều đó không có nghĩa là Phạm Văn Dũng có tham vọng nói về những cái cao siêu, to tát. Trong cái nhiều và rộng về mặt thi đề ấy, tôi thấy tác giả chủ yếu lượm lặt những cái rất gần gũi, thân thuộc; và cái bóng mà tác giả muốn tìm vào để “khuất bóng mình” – trong những cái gần gũi, thân thuộc ấy – cũng khá phong phú, cũng với muôn hình muôn vẻ và có những kích cỡ khác nhau. Tất nhiên, theo tôi thì với Phạm Văn Dũng, không phải cái gì được viết cũng có thể là “bóng mình”.

Tôi thấy có một cái bóng của quê hương và gia đình hằn đậm trong hồn thơ Phạm Văn Dũng, dù số lượng bài thơ về chủ đề này không nhiều. Tập thơ có 11 bài viết về quê hương và gia đình ( trong đó có 5 bài viết về quê hương và 6 bài viết về gia đình). Nhưng chừng đó cũng đủ để thu lại trong tâm hồn tác giả những gì là gắn bó nhất về làng quê thân thuộc và máu thịt nhất về gia đình thân thương. Viết về làng quê, Phạm Văn Dũng không khai thác nhiều những cái là bản sắc mà cái chủ yếu là đi tìm lại tình quê giống như người con xa xứ tìm về để nương náu sau những mệt mỏi trên đường đời:

Về làng để khỏi lẻ loi

Bao năm chìm khuất cõi đời phù hoa

Giữa ngàn khói sóng bao la

 Hạt bụi tôi chẳng tách ra khỏi làng.

(Về làng)

Phạm Văn Dũng là người yêu làng, hiểu làng và rất tự hào về làng quê của mình. Nhưng trong những bài thơ viết về làng quê, tác giả chủ yếu nói về sự vận động, sự đổi thay của quê hương theo sự đắp đổi của thời gian. Tác giả kể chuyện Bảy dòng họ trong làng là để gửi vào đó một nhận thức và quan niệm về cái còn cái mất, về những thăng trầm trong cuộc sống; kể chuyện về Pho sử sống của làng là để thể hiện niềm tiếc nuối về những giá trị cũ xưa đang vơi dần trong tiềm thức của lớp người đương đại; tả cảnh Đồng quê chiều mưa bay là để nói về những nhọc nhằn gian khổ và để tôn vinh công sức của con người; viết về lễ hội thuyền Rồng (Anh có về lễ hội?) là để nói lên sự ngóng đợi trong mòn mỏi của người góa phụ và sự mong manh của kiếp người giữa cái bao la vô tận nơi biển khơi. Mới đọc những bài thơ viết về làng, tôi tưởng như Phạm Văn Dũng nhằm dụng ý đơn thuần là phác họa bức tranh về quê hương mình, song ngẫm kĩ thì không phải chỉ có thế: Phạm Văn Dũng đi tìm quy luật của cuộc sống.

Cảm hứng về gia đình đã trở nên là một nguồn sống trong thơ Phạm Văn Dũng. Từ Cánh thơ nâu đến Mình khuất bóng mình, anh luôn dành cho gia đình một tình cảm đặc biệt. Tôi rất ấn tượng với hình ảnh người cha mà anh đã khắc họa từ hơn hai mươi năm trước:

Cha ngồi rít điếu cày trên chõng nhỏ

Khói thuốc lào bay lẫn với hoàng hôn.

(Quê nghèo- Cánh thơ nâu)

Ở tập thơ này, Phạm Văn Dũng viết về cha như một cách để ôn lại bài học từ buổi thiếu thời những lời cha răn dạy, những lời tâm huyết mà cha đã đúc rút cả cuộc đời và dốc hết ruột gan để nói với con. Tác giả mượn lời của cha, nhắc lại lời cha và cũng là tự răn mình. Đó là một cái “bóng” để Phạm Văn Dũng khuất vào giữa những cám dỗ, những bon chen:

Những lời cha khuyên con có chịu nhớ không

Hay vẫn cứ hão huyền mơ này ước nọ

Hãy gắng học, đấy là tương lai tiền đồ con đó

Vì, hãy nghe cha: chẳng ai sống hai lần

(Lạy con hãy biết vâng lời)

Trong 6 bài thơ viết về gia đình thì có 5 bài viết về những người phụ nữ thân yêu và quan trọng nhất trong cuộc đời tác giả (viết về vợ, về mẹ và người bà ngoại mà tác giả đã chịu ơn suốt cả cuộc đời và hết mực yêu kính). Theo tôi, đây chính là những cái “bóng” gần gũi, thân thương và tươi mát nhất mà Phạm Văn Dũng tìm được cho mình. Viết về mẹ, tác giả tìm về kỉ niệm của những hi sinh tần tảo, những hao mòn theo năm tháng để nuôi những ước mơ, để gieo mầm hi vọng (Tranh mùa đông, Mẹ của chúng con); cùng với đó là những tình cảm yêu thương ngọt ngào trong những câu hát ru được cất lên từ một tấm lòng bao dung vô hạn:

Tự bao giờ, mãi truyền đời

Mẹ là biển cả trào sôi tấm lòng

(Mẹ)

Viết về vợ, Phạm Văn Dũng tìm thấy ở người bạn đời một sự giao cảm, sự đồng điệu trong một niềm hạnh phúc hết sức bình dị đời thường. Tác giả bộc bạch những lời tâm sự rất mộc mạc, chân thành mà hóm hỉnh:

Anh là gã lực điền

Chỉ biết yêu em

Như đường cày dài vô tận

Như gieo lúa trồng khoai

Cho mãi lên xanh

(Tình yêu gã lực điền)

Đi tìm “cái bóng” của Phạm Văn Dũng trong Mình khuất bóng mình, đôi khi tôi có cảm tưởng như anh muốn nương mình vào tất cả những gì là kỉ niệm, những gì thuộc về kí ức mà anh đã trải qua và lưu giữ trong tâm hồn. Tôi thấy “bóng” một người thầy như một “thiên thần tuyệt đẹp” trong sự ngưỡng mộ thành kính của tác giả (Thầy tôi hồi còn trẻ); tôi thấy “bóng” những người bạn thời sinh viên luôn trong cái cảnh “Tiền nhẵn ruột bao mà chuyện thì bốc lửa”,  cố thể hiện cái cốt cách “như tao nhân một thuở” để sống những tháng ngày “lãng mạn và mộng mơ” vẫn thường hiện hữu trong một bờ kí ức bâng khuâng mà tươi mát (Đi qua giảng đường, Chỉ còn là kỉ niệm, Đặt tên cho mùa, Hoài niệm…); tôi thấy “bóng” của những người con gái thoáng đi qua như “nàng tiên trắng muốt” trong một giấc mơ xa xăm mà trong trẻo, trong một niềm tiếc nuối nhẹ nhàng (Hẹn mùa sau, Hạ đến, Gửi em lời chia biệt, Tìm lại giấc mơ mình, Gửi đến miền em…). Những cái “bóng” ấy xuất hiện nhiều và cứ trở đi trở lại trong hồn thơ Phạm Văn Dũng đã cho thấy anh là người rất trân trọng kỉ niệm, trân trọng những khoảng thời gian sống mà mình đã đi qua, những con người đã từng để lại dấu ấn trong cuộc đời. Và đó là điều mà tôi thấy trân trọng tác giả của tập thơ.

Có thể Phạm Văn Dũng còn muốn “khuất mình” vào với những triết lí, những chiêm nghiệm về cuộc sống và con người trong những suy tư của anh về trời đất, về thời gian, về cây lá bốn mùa, về trăng về sao, về người điên hay người nghệ sĩ…, và có thể đó mới chính là cái “bóng” mà trong sâu thẳm nhất tâm hồn tác giả muốn hướng tới. Tập thơ có nhiều bài thể hiện điều đó: Đừng, Đêm linh diệu, Bóng thời gian, Uống rượu với người điên, Nhập cùng dòng chảy, Sự kỳ diệu của con người, Những điều đã qua đều vô giá… Tuy nhiên với tôi, tôi thấy những cái “bóng” ấy có phần xa xôi, và thành thật mà nói thì tôi thấy nó chưa thật sự là “cái tạng” của tác giả. Có thể tôi chưa thẩm hết được những ẩn triết sâu xa mà tác giả muốn chia sẻ, hoặc cũng có thể là tôi chưa thấy hứng thú với những điều đó. Tôi sẽ còn tiếp tục đọc và suy ngẫm về nó, và có thể sẽ giải mã trong một bài viết khác. Nhưng với những điều đã cảm nhận được (hãy cứ tạm coi như là bề nổi của tập thơ), tôi có thể nói rằng Phạm Văn Dũng đã tìm được một “cái bóng” rất hợp để hồn thơ anh “khuất” vào, vì nó chính là anh.

Hai mươi năm cho một tập thơ! Đó không còn là sự bồng bột, sự bốc đồng của tuổi trẻ. Đó hẳn là sự lắng đọng, sự chiết xuất rất kĩ lưỡng những tinh túy nhất của một hồn thơ. Và ở đây, Mình khuất bóng mình, là một hành trình đi tìm lại cái bản thể của mình, tìm về chính mình và sống với những gì là của mình. Phạm Văn Dũng đã nói lên những cái nhân văn, nhân bản trong những cái bình dị của riêng anh.

25/7/2022

Nguyễn Ngọc Dũng

Theo https://vanvn.vn/

Nhấm nháp "Chỉ là vậy thôi" cùng Lê Văn Nghĩa

Nhấm nháp "Chỉ là vậy thôi"
cùng Lê Văn Nghĩa

“Có thể nói với “Chỉ là vậy thôi” ngắn gọn, súc tích nhà văn Lê văn Nghĩa đã hóm hỉnh dựng lên một chân dung từ thiện rất tự nhiên mang đậm kiểu thiện nguyện con người Sài Gòn. Âm thầm làm, lặng lẽ sẻ chia, miễn là việc làm kia có ý nghĩa thiện lương thì cần chi ồn ào giải thích”. Nhân kỷ niệm tròn 1 năm (25.7.2021-2022) ngày nhà văn Lê Văn Nghĩa từ giã cõi đời, Vanvn.vn trân trọng giới thiệu bài viết của Khang Quốc Ngọc về truyện ngắn của ông.

Trong cái xô bồ tả bí lù quá trời các kiểu viết truyện ngắn hiện nay thì cách viết hóm hỉnh, tự nhiên dung dị nhưng vẫn ra truyện, cho dù truyện ông viết thường rất ngắn, của nhà văn Lê Văn Nghĩa cho người đọc một cái nhìn thú vị và thâm trầm về cuộc đời.

Câu chuyện trong“Chỉ là vậy thôi” xoay quanh việc nhân vật “anh” mỗi sáng mua tặng chiếc bánh mì bì cho anh chị em cùng cơ quan. Khi thì là cô thường trực, khi là ông trưởng phòng tổ chức, khi thì cô văn thư văn phòng, lúc lại là cô phục vụ căn tin… Kiểu mua tặng cho ấy của nhân vật “anh” đã khiến người nhận dấy lên những mối nghi ngờ. Một sự ngộ nhận gắn liền với yếu tố thực dụng rất đời khiến cho câu chuyện như một đường ray dẫn lối người đọc, người đọc không hề có một sự nghi ngờ nào khác với nghi ngờ kia của những nhân vật được tặng bánh mì bì. Do vậy, độc giả bị cuốn theo câu chuyện.

Cái hay của nhà văn là ở chỗ này. Ông kể chuyện tự nhiên và hầu như diễn biến câu chuyện ông nhường hẳn cho từng nhân vật. Khi nhận được bánh mì bì, người nhận lập tức đẩy mình vào trung tâm câu chuyện mà không hề đặt ra một thắc mắc nào như vốn dĩ nó phải thế! Cô gái nghĩ chắc anh ấy mê mình, nên mình cần phải đi sửa lại cái này cái kia để cho ảnh mê hơn; xếp trưởng phòng tổ chức thì nghĩ chắc cu cậu kia là tay chuyên SBS (săn bắt sếp) rồi thì thủng thẳng nhận mà không mảy may suy nghĩ khác, lại còn mỉa mai theo kiểu quy đổi giá trị đổi chác tầm thường theo lối dung tục nữa. Thế là, câu chuyện cứ thế chảy theo dòng chảy tự nhiên của cuộc sống thực dụng đương thời mà hầu như không có lấy một dấu hiệu gì đó của tình người cho dù là nhỏ nhoi. Phải chăng, qua sự vụ này nhà văn muốn chuyển đến chúng ta một thông điệp, con người đương thời đã và đang bị cái bản ngã, cái thực dụng lôi đi quá xa? Do đâu ra nông nỗi ấy? Phải chăng chúng ta đang bị cái phiến diện một chiều áp đặt nên lúc nào con người cũng cho rằng suy nghĩ của ta là duy nhất đúng?

Cho nên có thể nói rằng, nhân vật được tạo ra từ “Chỉ là vậy thôi” là những nhân vật được kích lên từ những món mồi nhử, rồi bộc lộ tính cách phẩm chất con người mình qua cái món mồi nhử ấy. Ông trưởng phòng tổ chức phải là người hiểu lắm cái món “săn bắt sếp” nên mới có thể nghĩ rất bài bản về nhân vật “anh”. Những nhân vật như cô thư kí, cô thường trực, cô phục vụ căn tin càng làm thêm cho cái xã hội chỉ biết nghĩ một chiều kia sống động và hấp dẫn hơn.

Giọng kể tự nhiên hóm hỉnh như càng làm tăng sức hấp dẫn cho câu chuyện.

Chương trình tưởng nhớ nhà văn Lê Văn Nghĩa diễn ra tại khuôn viên Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong (tức Trường PTTH Petrus Ký ở Sài Gòn ngày xưa ông theo học) vào 24.7.2022.

Câu chuyện tưởng rằng cực kì đơn giản ấy sẽ không có gì để nói nếu như người viết không bật ra một chi tiết mở nút ở cuối truyện “bây giờ anh không mua bánh mì bì cho ai nữa vì gánh bánh mì bà lão lưng còng đã không còn ở đầu hẻm mỗi buổi sáng như ngày xưa”. Người đọc cảm thấy được vỡ lẽ mọi thứ khi đọc đến chi tiết này. Nên có thể nói, truyện “Chỉ là vậy thôi” của Lê Văn Nghĩa hấp dẫn người đọc ở yếu tố bất ngờ hàm súc kiểu ngụ ngôn. Tất cả đã được nhà văn gói lại cho thật chặt và chỉ mở nút ra cho đến khi kết thúc truyện.

Câu chuyện ngắn gọn, kiệm lời nhưng lại có sức bật khá mạnh. Nhân vật “anh” là một con người chân thật, sống có tình người. Thì kia, hành động anh mua bánh mì bì cho bà cụ bán bánh mì ở đầu ngõ là hành động thương người của một con người chuyên làm việc thiện nguyện. Bánh mì rẻ lắm, 5000 đồng một ổ. Nhưng khi được anh mua thì cái bánh mì kia không còn là bánh mì của người nghèo nữa mà nó là chiếc bánh mì đẫm đặc tình nghĩa sẻ chia. Nhà văn đã rất khéo léo khi để cho nhân vật “anh” nghĩ ra mình sẽ tặng luân phiên cho từng người trong cơ quan, vừa cho khỏi ngán vừa cho có thông điệp hãy ăn đi, cho dù là bánh của người nghèo, nhưng là cái bánh chất lượng, ăn là ghiền. Ghiền là tìm đến mua, lại ăn. Ý nhân văn thoát ra theo chi tiết này. Làm việc thiện cũng thế, hãy tích cóp duy trì ngay từ những việc làm rất nhỏ, rồi sẽ có lúc tâm thiện lành nở bung ra, lo gì không có được con người thiện lương, lo chi không có xã hội từ tâm lương thiện? Hãy cứ làm đi, cho là nhận. Việc làm thiện lương bắt nguồn từ tâm thiện nên có thể vượt qua mọi rào cản bên ngoài, giúp con người có sức mạnh vượt thoát mọi trớ trêu, phải chăng đó là thông điệp nhân văn mà nhà văn Lê Văn nghĩa muốn gửi đến độc giả ở phần kết thúc truyện?

Có thể nói với “Chỉ là vậy thôi” ngắn gọn, súc tích nhà văn Lê văn Nghĩa đã hóm hỉnh dựng lên một chân dung từ thiện rất tự nhiên mang đậm kiểu thiện nguyện con người Sài Gòn. Âm thầm làm, lặng lẽ sẻ chia, miễn là việc làm kia có ý nghĩa thiện lương thì cần chi ồn ào giải thích. Văn của ông quý ở chỗ ấy, nó rất giàu giá trị nhân văn mà không tô vẽ phô trương, phết phẩy vạc đẽo thôi mà rõ mà đậm chất con người. Bởi thế có thể nói nhà văn Lê Văn Nghĩa là nhà văn của hóm hỉnh tình người.

25/7/2022

Khang Quốc Ngọc

Theo https://vanvn.vn/

Nghệ thuật là sự kỳ thú

Nghệ thuật là sự kỳ thú

Nghệ thuật là gì? Đọc sáng tác của Nguyễn Tuân, tôi thấy có thể gói gọn khái niệm nghệ thuật vào một chữ “thú”. Nghệ thuật là sự kì thú.

(Đời văn Nguyễn Tuân chỉ xoay quanh bốn câu chuyện: “kì nhân”, “kì thú”, “kì quan” và “quái nhân”. “Kì nhân” là truyện kể về nghệ sĩ. “Kì thú” là truyện kể về nghệ thuật. Hai truyện kể này khép lại văn nghiệp của Nguyễn Tuân trước 1945.

Năm 1945, Nguyễn Tuân viết “Lột xác”. Từ đây, ông chỉ kể chuyện “kì quan” và “quái nhân”. “Kì quan” là truyện kể về miền Bắc xây dựng Chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, đất nước đâu đâu cũng đẹp như một “Tờ Hoa”. “Quái nhân” là truyện kể về bọn phong kiến đế quốc sài lang.

Tuy hai loại truyện “Kì quan” và “Quái nhân” giờ thấy ít người đọc và chưa biết  lịch sử sẽ xếp vào đâu, nhưng chắc chắn hai loại truyện trước sẽ sống mãi với lịch sử văn học dân tộc. Nguyễn Tuân trở thành đại bút nhờ hai loại truyện kể này. Năm 2014, tôi viết “Nguyễn Tuân – Nhà văn của hình dung từ” nhằm làm nổi bật cái ý ấy. Đây là câu chuyện về sự “Kì thú” như là hiện thân của nghệ thuật trong sáng tác của Nguyễn Tuân trước 1945 – LN)

Tính từ Chùa đàn trở về trước, cùng với kì nhân, kì thú  là truyện kể trung tâm trong sáng tác của Nguyễn Tuân. Nó là truyện kể về nghệ thuật. Gọi đó là truyện trung tâm, vì  nó vừa là sự tiếp tục mạch truyện kì nhân, nghệ sĩ, vừa mở nhiều nhánh truyện mới về kì duyên, kì ngộ, chí thành, chí tình như những bình diện khác nhau làm nên bản chất của nghệ thuật.

Nghệ thuật là gì? Đọc sáng tác của Nguyễn Tuân, tôi thấy có thể gói gọn khái niệm nghệ thuật vào một chữ “thú”. Nghệ thuật là sự kì thú.

Trước hết, “thú” là sợi dây nối kết các tâm hồn nghệ sĩ. Nhiều khi “thú” tạo nên những cuộc “kì ngộ” thoáng chốc giữa những kẻ đa tình ngay trong một đám đông vô danh. Tôi muốn nhắc tới truyện Một ngày một đêm cuối năm (Một chuyến đi). Truyện kể lại cuộc dạo chơi bất đắc dĩ và buổi tối ngắm chợ hoa của nhà văn trong ngày áp tết ở Hương Cảng. Bao trùm toàn bộ tác phẩm là tâm trạng chán nản, u ám của vị khách tha hương “Rũ áo phong sương trên gác trọ. Lặng nhìn thiên hạ đón xuân sang”. Có cảm giác như đó là văn bản không có truyện kể. Sự kiện truyện kể chỉ thực sự xuất hiện khi nhà văn yêu hoa, đi ngắm chợ hoa, bất chợt đụng phải người thiếu phụ Trung Hoa “mặt đỏ bừng, tay nâng cao củ thuỷ tiên”. Chợ đông như kiến cỏ. Hai bên đường là hai dòng thác người, một dòng ngược, một dòng xuôi. Đang bị chen lấn, xô đẩy giữa dòng thác người ấy, “chỉ kịp nhìn nàng hé một nụ cười”, nhà văn, người ngắm hoa, liền tự nguyện làm nhiệm vụ của kẻ mở đường. Một cảnh tượng diễn ra thật thú vị: “Nàng đẩy tôi, tôi lại đẩy những người phía trước. Và cứ thế chúng tôi trôi trên con đường, trôi trong lòng con sông đào. Hai bờ hoa đào!  Thỉnh thoảng, liếc ngang sang dòng người đi ngược bên phía tay phải, tôi đón nhận được bao nhiêu nụ cười của những giai nhân không quen biết. Những đoá hoa hàm tiếu kia chỉ hiện ra trong khoảnh khắc, nhanh như một tia sáng. Những hình ảnh ấm áp tươi tỉnh ấy hiện ra cho tôi đủ thì giờ để thêm tiếc, rồi lại mờ ngay, rồi lại lẩn ngay vào cái vô danh của đêm hội” (Một ngày một đêm cuối năm.- I, 21). Bị xô đẩy giữa thác người vô danh trong đêm hội, để rồi khắc tạc mãi trong dạ “nụ cười của những giai nhân không quen biết”! Chẳng lẽ, đó không phải là duyên kì ngộ?  Tác phẩm được khép lại bằng đoạn triết lí trữ tình thế này: “…Trong cuộc sống, người ta thường đi qua cuộc đời nhau và trong cái nhanh chóng của tình cờ gặp gỡ, người ta đã có sẵn nhiều thiện cảm đối với nhau. Để rồi sau này, không có lúc nào gặp nhau lần nữa. Để rồi chỉ nhớ tiếc nhau trong hình ảnh lờ mờ, để rồi chỉ chờ đợi nhau trong một buổi tái ngộ không bao giờ đến. Giống đa tình hay vướng phải thứ tình cảm không có hậu” (Một ngày một đêm cuối năm.- I, 21).

Trong thiên tự truyện Chiếc lư đồng mắt cua, Nguyễn Tuân kể: “Mười năm trước, tôi là một người đi tù về […]. Ở tù ra, vẫn lại chẳng biết nên làm gì cho phải cả, tôi đâm đầu đi làm thư kí cho một hãng điện khí […]. Ấy thế rồi cái duyên nơi hàng viện đã cho tôi gặp một người. Một người đàn ông đã có tuổi và hiện bấy giờ đứng làm chủ một nhà hát. Ấy là ông Thông Phu” (Chiếc lư đồng mắt cua.- I,175. Chữ in đậm do tôi nhấn mạnh.- LN). Ở đây, nguồn cội của “duyên” là “thú”. Cái “thú” xoá bỏ cả khoảng cách xã hội, lẫn khoảng cách thế hệ, tuổi tác, đưa một chàng trai, một kẻ vừa mãn hạn tù, một công chức con nhà “gia thế” đến với một người luống tuổi, ông chủ nhà hát, và một đám “xướng ca vô loài”. “Duyên hàng hiệu” mà Nguyễn Tuân nói ở đây thực sự là truyện kể về kì thú, kì duyên.

Chữ người tử tù chính là truyện kể về một mối kì duyên, kì thú. Nội dung truyện kể lộ ra ở “cảnh cho chữ”. Cảnh ấy hiện lên như một bức tranh giàu chất tạo hình:“Trong một không khí khói toả như đám cháy nhà, ánh sáng đỏ rực của một bó đuốc tẩm dầu rọi lên ba cái đầu người đang chăm chú trên một tấm lụa bạch còn nguyên vẹn lần hồ” (Chữ người tử tù.- I, 91). Nhà văn sử dụng triệt để nguyên tắc tương phản của bút pháp lãng mạn để tô đậm tính chất kì lạ, khác thường, hi hữu của nó.  Trước hết là sự đối lập giữa hình ảnh ngục quan và hình ảnh tử tù. Ngục quan là kẻ “xin”. Tử tù là người “cho”, người “ban”. Cổ đeo gông, chân vướng xiềng, tử tù vẫn hiện lên như một kì nhân, ung dung, sang trọng, khí phách ngang tàng, trái ngược với sự “khúm núm”, “sợ hãi” của ngục quan. Thứ nữa là sự tương phản giữa “cảnh cho chữ” với địa điểm diễn ra cảnh ấy. Một bên là hiện thân của cái tài, cái đẹp, của khí phách và khát vọng tự do. Một bên là nhà tù, nơi giam cầm tự do của con người, là “buồng tối chật hẹp, ầm ướt, tường đầy mạng nhện, tổ rệp, đất bừa bãi phân chuột, phân gián”. “Cho chữ” trong hoàn cảnh ấy, với những con người như thế, quả là một sự kì duyên, kì ngộ, một “cảnh tượng xưa nay chưa từng có” mà hạt nhân nối kết của nó là kì thú.

Trong “Tâm sự của nước độc”, kì thú cũng là sợi dây nối kết của truyện kể về kì duyên, kì ngộ như vậy. Không phải ngẫu nhiên, tác phẩm được mở ra bằng câu đề từ: “Ai hay hát mà ai hay nghe hát”. Không có sự gặp gỡ giữa người “hay hát” và người “hay nghe hát” sẽ không có màn “tam tấu” đầy phấn khích và bi tráng ở cuối thiên truyện.

Kì thú không chỉ là sợi dây nối kết các tâm hồn nghệ sĩ, mà là hạt nhân làm nên bản chất của nghệ thuật. Lần theo mạch truyện của Nguyễn Tuân, ta thấy cái kì thú hiện lên như một hình tượng với ba đặc điểm sau đây:

Thứ nhất: nó là cái chí linh, tuyệt linh. Cho nên, Nguyễn Tuân bao giờ cũng mô tả cái kì thú như một lễ nghi trang trọng, đầy bí ẩn. Nghệ thuật thật ra là một nghi lễ tuyệt linh, chí linh. Hãy xem, trong Chữ người tử tù, “cảnh cho chữ”, nơi thể hiện đầy đủ nhất cái kì thú của việc chơi chữ, được Nguyễn Tuân mô tả như một cuộc hành lễ có cả vái lạy theo đúng nghĩa đen của nó. Nghe Huấn Cao khuyên phải bỏ nghề dơ bẩn rồi hãy nghĩ tới chuyện chơi chữ, “Ngục quan cảm động, vái người tù một vái, chắp tay nói một câu mà dòng nước mắt rỉ vào kẽ miệng làm cho nghẹn ngào: “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh”” (Chữ người tử tù.- I, 92).

Ai đã một lần đọc “Tâm sự của nước độc” đều nhận ra ngay, màn tam tấu đàn – hát – phách giống hệt một giá “ốp đồng”, cả Bá Nhỡ, cô Tơ và cậu Lãnh đều bị “đồng ốp” trong một bầu không khí mê man, bí ẩn, kinh dị, đầy phấn khích. Ngay cả chuyện ăn uống, như ăn phở, uống rượu, uống trà, hay hút thuốc phiện, nếu là cái kì thú, cũng được Nguyễn Tuân mô tả như một nghi lễ tuyệt linh, chí linh như vậy. Hãy xem “tiệc trà” ăn xin của một lão ăn mày với đầy đủ lễ nghi trang trọng:“Hắn ngỏ ý […] muốn được uống nguyên một ấm trà mới kia. Hắn nói xong, dở cái bị ăn mày của hắn ra, cẩn thận lấy ra một cái ấm đất độc ẩm. Thấy cũng vui vui và là lạ, mọi người lại đưa cho hắn mượn cả khay trà và phát than tàu cho hắn đủ quạt một ấm nước sôi […]. Hắn xin phép đâu đấy rồi là ngồi bắt chân chữ ngũ, tráng ấm chén, chuyên trà từ chén tống sang chén quân, trông xinh đáo để. Lúc này không ai dám bảo hắn là ăn mày, mặc dầu quần áo hắn rách như tổ đỉa. Uống một chén thứ nhất xong, uống đến chén thứ nhì, bỗng hắn nheo nheo mắt lại, chép môi đứng dậy, chắp tay vào nhau và thưa với chủ nhà… […]. Hắn lạy tạ, tráng ấm chén, lau khay hoàn lại nhà chủ. Lau xong cái ấm độc ẩm của hắn, hắn thổi cái vòi ấm kỹ lưỡng cất vào bị, rồi xách nón, vái lạy chủ nhân và quan khách, cắp gậy tập tễnh lên đường” (Những chiếc ấm đất.- I, 45 – 46).

Vì kì thú là cái chí linh, nên trước cái kì thú, người ta phải chí thành và chí tình. Ngôi mả cũ là câu chuyện về sự chí thành. Nhờ có sự chí thành mà cô Tú và cậu Chiêu thỉnh được cụ Hồ về nhà đặt lại mộ huyệt cho cha, thoả được ý nguyện của mình. “Tâm sự của nước độc” chủ yếu là câu chuyện về sự chí tình. Ở đây, vừa có sự chí tình trong tình yêu chồng vợ giữa cậu Lãnh và mợ Lãnh, cô Tơ và chánh Thú, vừa có sự chí tình trong tình tri ngộ giữa Bá Nhỡ và cậu Lãnh, giữa chủ và tớ, giữa kẻ làm ơn và kẻ hàm ơn. Bao trùm lên tất cả còn là sự chí tình trong tình yêu vô bờ đối với sự sống, với nghệ thuật. Màn tam tấu ở cuối tác phẩm là bản tráng ca về sự chí tình ấy. Trong Chữ người tử tù vừa có sự chí tình, vừa có sự chí thành. Chí tình là tình yêu vô bờ bến của con người với cái đẹp và cái tài:“Biết đọc vỡ nghĩa sách thánh hiền, từ những ngày nào, cái sở nguyện của viên quan coi ngục này là có một ngày kia được treo ở nhà riêng mình một đôi câu đối do ông Huấn Cao viết […] Viên quản ngục khổ tâm nhất là có một ông Huấn cao trong tay, dưới quyền mình mà không biết làm thể nào mà xin được chữ. Không can đảm giáp mặt một người cách xa y nhiều quá, y chỉ lo mai mốt đây, ông Huấn bị hành hình mà không kịp xin được mấy chữ, thì ân hận suốt đời mất” (Chữ người tử tù.- I, 90). Chí thành là sự lễ phép, cung kính nhất mực trước cái tài và cái đẹp. Ta hiểu vì sao, trước thái độ “khinh bạc đến điều” của Huấn Cao, nghe Huấn Cao bảo không muốn gặp mặt viên quản ngục, ngục quan vẫn“lễ phép lui ra với một câu: “Xin lĩnh ý”. Không chỉ rất mực “lễ phép”, nhìn cảnh tử tù “cho chữ”, mà cả quản ngục, lẫn thơ lại, kẻ khúm núm, người sợ hãi: “Một người tù cổ đeo gông, chân vướng xiềng, đang đậm tô nét chữ trên tấm lụa trắng tinh căng phẳng trên mảnh ván. Người tù viết xong một chữ, viên quản ngục lại vội khúm núm cất những đồng tiền kẽm đánh dấu ô chữ đặt trên phiến lụa óng. Và cái thầy thơ lại gầy gò, thì run run bưng chậu mực” (Nhtr. 91.- Chữ in đậm do tôi nhấn mạnh.- LN). Trong ngữ cảnh ở đây, các chữ “run run”, “khúm núm” không có nét nghĩa nào khác, ngoài sự “cung kính”. Mà cung kính chẳng qua là biểu hiện của sự chí thành.

Thứ hai: kì thú không chỉ xoá bỏ khoảng cách xã hội và sự khác biệt thế hệ. Nó còn vượt lên trên sự đối lập thiện – ác, vươn ra ngoài mọi ràng buộc của luân lí quan phương. Trong Một đám bất đắc chí, Bá Huần, Cai Xanh, Phó Kình, Lý Văn là những tay “anh chị”, “trộm cướp” khét tiếng. Bát Lê trong Bữa rượu máu là một tên đao phủ. Bá Nhỡ trong Tâm sự của nước độc là kẻ giết người tìm đến ấp Mê thảo lẩn tránh. Thế mà Nguyễn Tuân mô tả đầy hứng khởi những “ngón nghề” tuyệt kĩ của họ để gợi dậy ở người đọc khoái cảm kì thú về cái tuyệt mĩ.

Trong sáng tác của Nguyễn Tuân, Chữ người tử tù có lẽ là nơi các đường ranh giới đối lập thiện – ác được giăng ra nhiều nhất. Bản thân mối quan hệ giữa Huấn Cao với ngục quan đã có tới hai lần đối lập. Nhìn từ phía này, ngục quan là mệnh quan triều đình, đại diện cho trật tự, luân lí và đạo đức, Huấn Cao là tử tù, giặc của triều đình, kẻ bất trung, vô đạo. Nhìn từ phía khác, từ lí tưởng thẩm mĩ của nhà văn, Huấn Cao là bậc kì tài, cũng là trang anh hùng đội trời đạp đất, khí phách ngang tàng, cuộc đời như được bao bọc trong một thiên huyền sử. Nói cách khác, ông là hiện thân của cái tận mĩ, chí thiện. Trong khi đó, quản ngục và thơ lại chỉ là lũ phàm phu, bọn tiểu tốt vô danh, đại diện cho trật tự thối tha mà Huấn Cao chống lại. Chúng là hiện thân của cái xấu, cái ác. Đối lập gay gắt nhất vẫn là đối lập giữa giữa một bên là cái “thiên lương” không hề suy suyển ở những kẻ như thày Bát, viên thơ lại và quản ngục, với một bên là “hoàn cảnh đề lao”, nơi “người ta sống bằng tàn nhẫn, bằng lừa lọc”. Không phải ngẫu nhiên, Nguyễn Tuân gọi tấm lòng của viên quan coi ngục là “một thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn xô bồ” (Chữ người tử tù.- I, 87). “Cảnh cho chữ” trong Chữ người tử tù là cảnh tượng chiến thắng huy hoàng của khoái cảm kì thú trước cái đẹp và cái tài như là sự biểu hiện chính yếu của nó.

Trong sáng tác của Nguyễn Tuân có hai đề tài quan trọng: thú ăn chơi tao nhã và thú xê dịch giang hồ. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, viết về những đề tài ấy, Nguyễn Tuân muốn đối lập chúng với đời sống tẻ nhạt của thời đại máy móc, hoặc sự xô bồ, hỗn độn đầy chất văn xuôi của xã hội đô thị đương thời. Tôi nghĩ, ý nghĩa tư tưởng của những tác phẩm viết về thú xê dịch và thú ăn chơi của Nguyễn Tuân không phải là ở đấy. Bởi vì, Nguyễn Tuân không chỉ là tác giả của Vang bóng một thời.  Ông còn là chủ nhân của một loạt tác phẩm: Chiếc lư đồng mắt cua, Ngọn đèn dầu lạc, Tàn đèn dầu lạc…  Ông không chỉ viết về những cái thú của lớp người thất thế thuộc vể thời đã qua như trồng hoa cây cảnh, làm đèn kéo quân, đánh cờ, uống trà, “đánh thơ”, “thả thơ”, mà còn viết cả về thú uống rượu, hút thuốc phiện, thú nhà trò, con hát, thú “hàng viện” của người đương thời. Chỉ cần đọc mấy tác phẩm, ví như Chiếc lư đồng mắt cua, Cửa Đại, hay Chiếc va li mới, ta sẽ nhận ra ngay trục đối lập của Nguyễn Tuân. Ở những tác phẩm ấy, ông thường đối lập hai thế giới: trong này và ngoài kia. Trong này là thế giới của khuôn viên, nhà cửa; ngoài kia là thế giới của thiên nhiên bao la, xã hội rộng lớn. Trong này là thế giới của công sở, của gia đình, cha mẹ, vợ con; ngoài kia là thế giới của nhà hát, “hàng viện”, cao lâu, tửu quán, của nhân tình, nhân ngãi. Mỗi thế giới có không gian riêng, luân lí riêng. Trong này là thế giới của bổn phận, ngoài kia là thế giới của những cuộc kì duyên, kì ngộ, thế giới tri kỉ, tri âm, “biệt nhỡn liên tài”. Trong này là thế giới tri thức kinh viện chết cứng của nhà phê bình, ngoài kia là cuộc đời sống động, kì thú của nghệ sĩ. Có thể khái quát, trong này là thế giới chính thống, quan phương, ngoài kia là vương địa của cái ngoại biên, bên lề. Không phải ngẫu nhiên, trong Chiếc lư đồng mắt cua, Nguyễn Tuân gọi thế giới gia đình, thế giới trong nhà là ban ngày, còn thế giới ngoài kia, thế giới cao lâu, nhà trò, tửu quán thuộc về ban đêm. “Ban đêm” là cả một thế giới sống động. “Ban ngày” chỉ là thế giới đông lạnh, chết cứng.

Tôi cho rằng, trong văn học trước 1945, đề tài về những người dưới đáy là phát hiện riêng của văn học hiện thực phê phán. Nguyễn Tuân có công đi đầu, mở ra đề tài về kẻ bên lề, dân ngoại biên. Gần như không có ngoại lệ, thế giới nhân vật đông đúc của ông đều là dân cư của vùng ngoại biên, bên lề. Trong sáng tác của ông, chỉ ở thế giới bên lề mới có các bậc kì nhân, kì tài, những người chí thành, chí tình, mới diễn ra những chuyện kì duyên, kì ngộ. Quan trọng hơn, chỉ khi nào phiêu dạt sang bên lề, ra ngoại biên, sáng tạo nghệ thuật mới tìm thấy sự kì thú để thăng hoa.

Thứ ba, và đây là điểm quan trọng nhất, kì thú là một “khoái cảm đau đớn”. Chỉ có “khoái cảm đau đớn” mới sinh ra nghệ thuật đích thực. Bởi vì, trong nghệ thuật, kì thú chứa đựng trong bản thân sức mạnh sinh thành. Trong Chiếc lư đồng mắt cua, Nguyễn Tuân kể rằng, “mươi năm về trước, tôi là một người đi tù về”. Vì đi tù, bị đẩy sang thế giới bên lề, “không được biết đến cái thú đèn sách nhà trường, cái thú đi thi nữa, tôi bèn tìm đến cái thú giang hồ”.(Chiếc lư đồng mắt cua.- I, 175.- Chữ in đậm do tôi nhấn mạnh – LN). Hãy xem thế giới “ban đêm” khơi dậy cảm hứng và “thú giang hồ” đã truyền cho nghệ sĩ sức mạnh sinh thành như thế nào: “Lâu nay, tôi không chịu sống ban ngày, hình như chỉ ở được đêm tối thôi. Tôi thích đêm tối lắm. […] Ban ngày, tôi thường lừ đừ, tối thì tôi lại trở nên nhanh nhẹn. Đến như câu chuyện trao đổi, bất cứ là ai cũng vậy. Ban ngày, tôi nói chuyện uể oải, nhát gừng dở dở ương ương […]. Tôi nghiệm ra tôi chỉ say đắm những lời tôi nói vào lúc đã lên đèn rồi. Câu chuyện của tôi trình gửi với chung quanh chỉ có duyên, có lễ độ, có thuỷ chung, có mạch lạc, dưới một cái ánh đèn thôi. […] Hình như trong người tôi có hai cái tôi.  Một cái bản ngã khác thuộc về phần đêm. Nếu ban ngày tôi đã thờ ơ lửng khửng, e lệ, chán mỏi thì từ buổi tối trở đi, tôi lại nhanh nhẹn, thiết tha ham sống và cười đùa luôn luôn. Chừng như chỉ có đêm hôm và bóng tối mới là cái hoàn cảnh vững chắc cho tâm thần bất định của tôi […] Trời ơi, cuộc sống tình cảm của tôi về phần đêm sao giàu có đến thế được nhỉ”(Chiếc lư đồng mắt cua.- I, 188 – 189). Trong “Tâm sự của nước độc” có một tình tiết rất đáng lưu ý. Sau khi người vợ yêu quí tử nạn, Lãnh Út đoạn tuyệt với đời sống “văn minh” cơ giới và mọi thứ sinh thú. Y hoá dại, chỉ còn là cái xác không hồn. Bá Nhỡ tìm mọi cách thoả mãn tất cả các ước muốn phi lý nhất của cậu chủ, khơi dậy ở y những si mê đã chết, từ nhục cảm của một tửu đồ, đến khoái cảm tinh thần của một gã “hay nghe hát” và tay trống sành sỏi. Để làm gì? Để cậu chủ “tục huyền” với đời sống.

Là sức mạnh sinh thành, kì thú cao hơn sự sống. Cho nên, mới có kẻ không màng tới sự sống, từ bỏ “người bạn đạo đức khô khan” để đến với đam mê và lạc thú. Ở phương diện này, kì thú là sức mạnh huỷ diệt. Nó buộc người ta phải “phóng túng hình hài”. Nó đưa người ta tới chỗ tha hoá. Nó khiến người ta tan xương, nát thịt, vắt kiệt máu huyết, nhục thể phân rã. Đây là thân hình Bá Nhỡ khi y đê mê trong tiếng đàn: “Máu chảy ra nhiều quá. Toàn thân Bá Nhỡ đỏ ngòm. Áo quần màu trắng của Bá Nhỡ vụt trở nên một vóc đại hồng. Người Bá Nhỡ là một cái vại đựng chất lỏng có nhiều chỗ rò rỉ. Máu trong cơ thể Bá Nhỡ cứ đều đều một dòng tuôn mà thẩm lậu ra ngoài” (Tâm sự của nước độc.- I, 368).  Biểu hiện cao nhất của sự tha hoá là cái chết. Khi bản “tam tấu” kết thúc, “Bá Nhỡ chỉ còn là một cái bóng […] Như một thứ keo, máu cũ khô quánh đã gắn chặt mười đầu ngón tay Bá Nhỡ vào mấy sợi tơ đỏ xẫm và mặt tang ngô đồng hoen ố. Mười ngón như một đã bị đóng đinh liền vào phím cây đàn. Máu đã tuôn hết chất nồng và chỉ còn toả ra một mùi tanh nhạt. Bá Nhỡ gục vào đàn, nách cắp lấy thành đàn mà nhoài ra thành giường…”  (Tâm sự của nước độc”.- I, 368). Tàn đèn dầu lạc, Ngọn đèn dầu lạc là những nghĩa địa đầy xác chết. Trong Vang bóng một thời, Chiếc lư đồng mắt cua, Chùa đàn cũng có rất nhiều cái chết, cái chết nào cũng là vật hiến tế của đam mê, lạc thú. Gọi kì thú là “khoái cảm đau đớn” với ý nghĩa như vậy.

Mọi khoái cảm sẽ tự nó cất lên tiếng hát. Nhưng “khoái cảm đau đớn” không thể cất tiếng hát véo von, hay khúc ca hùng tráng. Nó chỉ có thể là tiếng “rên”, ở cực này, hoặc tiếng thét điên dại, si mê đau đớn, ở cực kia. Tàn đèn dầu lạc, Ngọn đèn dầu lạc, Vang bóng một thời, Thiếu quê hương, Tóc chị Hoài, Chiếc lư đồng mắt cua… đều là những tiếng “rên” khoái thú với tất cả sự trái khoáy của nhục cảm. Yêu ngôn, “Tâm sự của nước độc”, nhất là khúc “tam tấu” trong tác phẩm này, thực sự là tiếng thét đau đớn, điên dại, si mê.

Nghệ thuật là sự thăng hoa của kì thú. Nó là khoái cảm thiêng liêng, là một thứ nghi lễ tôn giáo mà đám con nhang, đệ tử là kẻ chí thành, chí tình. Nó vượt ra ngoài mọi giới hạn thiện – ác và sự trói buộc của các tín điều luân lí khô cứng. Nó nẩy nở ở thế giới ngoại biên, bên lề, và chỉ ở đó nó mới có sự thăng hoa. Nó chứa đựng bên trong xung đột giữa sự siêu thoát tinh thần và sự giằng xé nhục cảm. Nó là “khoái cảm đau đớn”. Nó khiến nghệ thuật lúc thì cất lên thành tiếng “thét” si mê, khi thốt ra tiếng “rên” đầy khoái thú âm thầm. Thế giới nghệ thuật mà Nguyễn Tuân mô tả trước 1945 đã toát lên một quan niệm mĩ học như thế. Tôi nghĩ, tầm vóc tư tưởng của nhà văn là ở đó.  Đây là cơ sở để nhiều tác phẩm của ông trở thành những kiệt tác như là kết tinh của chủ nghĩa hiện đại ở giai đoạn phát triển nhất của nó.

Trong sáng tác của Nguyễn Tuân trước 1945, kì thú còn có ý nghĩa quan trọng như một phạm trù thi pháp học. Nó là “điểm nhãn” trong kết cấu truyện kể của ông. Gọi nó là “điểm nhãn” trước hết vì nó là điểm tựa, là “đầu mối” nối kết các nhân vật trong sáng tác của ông. Trong mỗi truyện kể của Nguyễn Tuân, các nhân vật thường được kết nối với nhau bằng một cái “thú” nào đó. Trong Chữ người tử tù, các nhân vật nối kết với nhau bằng thú chơi chữ.  Thú “hàng viện” là đầu mối nối kết các nhân vật trong Chiếc lư đồng mắt cua. Đầu mối nối kết các nhân vật trong “Tâm sự của nước độc” lộ ra ngay ở tên của nhân vật chính và đề từ của tác phẩm. Tôi ngờ, đặt tên nhân vật là Bá Nhỡ, Nguyễn Tuân muốn người đọc liên tưởng tới Bá Nha. Trong truyện cổ, Chung Tử Kì chết, Bá Nha đập đàn vì không có tri âm. Trong truyện của Nguyễn Tuân, đàn tự vỡ, Bá Nhỡ thoát xác vì chàng tự nguyện đánh đổi mạng sống để lấy tiếng đàn.“Ai hay hát mà ai hay nghe hát…” là đề từ của tác phẩm. Trong truyện cổ, Bá Nha đập đàn, tức là tự mình giết chết thú đàn. Trong tác phẩm của Nguyễn Tuân, sự kì thú  của việc “hay hát” và “nghe hát” đã nối kết các nhân vật Bá Nhỡ – cô Tơ – cậu Lãnh – Chánh Thú, cũng là nối kết âm – dương, người sống với người chết làm thành bản tam tấu vang mãi thanh âm bất tử của nghệ thuật.

Gọi kì thú là “điểm nhãn” kết cấu truyện kể của Nguyễn Tuân còn vì nó còn là “điểm vàng” trong mỗi truyện kể của ông. Khái niệm “điểm vàng” truyện kể do V.I. Chiupa, nhà tự sự học người Nga, đưa ra khi ông đến giảng bài tại khoa Ngữ Văn Đại học Sư phạm Hà Nội mà tôi có ngồi nghe. Theo ông, truyện kể là sự nối kết của nhiều phần, nhiều tiết, nhiều đoạn, nhiều cảnh theo một kiểu cấu hình nào đó. Giữa các phần, các tiết như thế, thể nào cũng có một đoạn, hay cảnh đầu mối, nó làm cho các phần, các đoạn, các cảnh có vẻ như rời rạc nối kết với nhau thành chỉnh thể. Nó bộc lộ toàn bộ tư tưởng, chủ đề của tác phẩm. Nó khiến người ta nhận ra, tác phẩm chỉ là văn bản tầm thường, hay một kiệt tác. Ông gọi cái “cảnh” ấy, “phần” ấy là “điểm vàng”. Kết cấu truyện kể của Nguyễn Tuân thoạt nhìn có vẻ rất tản mạn, vì ông thường viết rất tự do, phóng túng. Nhưng nếu đọc kĩ, ta thấy, đúng là những tác phẩm hay nhất của ông thường là những tác phẩm có một “điểm vàng”. “Điểm vàng” này không phải ở đâu khác, mà chính là cái cảnh, cái đoạn ông mô tả sự thăng hoa của kì thú. Chẳng hạn, “cảnh cho chữ” là “điểm vàng” trong Chữ người tử tù. Màn tam tấu đàn – ca – trống là “điểm vàng” trong “Tâm sự của nước độc”.

Để khép lại phần này, xin nói thêm một ý. Việc xác định “điểm vàng” này khiến tôi hoài nghi cái cách mà giới nghiên cứu, phê bình vẫn thường sử dụng khi phân tích một số tác phẩm của Nguyễn Tuân. Chẳng hạn, tôi không hoàn toàn tin, rằng Nguyễn Tuân viết Tàn đèn dầu lạc, hay Ngọn đèn dầu lạc chỉ là để tỏ sự “hoài nghi tất cả những giá trị được coi là truyền thống, lật mặt trái của đạo đức dưới các dạng cửa thiền, để trình bày một không khí cạm bẫy phù dung mà âm dương không khác biệt, tu tục nằm chung, thiện ác mù mờ dưới ánh đèn dầu lạc”. Tôi cũng không thật tin, rằng Nguyễn Tuân viết Vang bóng một thời là để tỏ “thái độ phủ nhận, bất hợp tác với chế độ thực dân và xã hội phàm tục, vụ lợi đương thời”. Hoặc, khi phân tích Chữ người từ tù, giới nghiên cứu, phê bình thường xem Huấn Cao là nhân vật chính và dựa vào đấy để xác định chủ đề của tác phẩm. Nhưng căn cứ vào điểm “đầu mối” và “điểm vàng” kết cấu của thiên truyện, tôi thấy quản ngục mới thực là hình tượng trung tâm và cần phải dựa vào đấy để nêu chủ đề của Chữ người tử tù.

Đồng Bát, 25/9/2014

Lã Nguyên

Nguồn: Trích “Nguyễn Tuân - Nhà văn của hình dung từ”

Theo https://vanvn.vn/

Hồn Việt và những giá trị nhân bản trong thơ Trần Quang Quý

Hồn Việt và những giá trị nhân bản
trong thơ Trần Quang Quý

“Giọng thơ của Trần Quang Quý trầm bổng cùng gió qua những vòm lá. Nó không nao núng và biết được sức mạnh của chính mình. Nó tự cất lên tiếng hát: “Anh nguyên vẹn bằng trái tim không đổi khác/Em lại đến thế là anh lại hát/ Một nồng nàn vồng ngực tặng em đây” (Quà tặng). Những bài thơ của Trần Quang Quý làm cân bằng cánh đồng nơi loài người tồn tại bằng cách đặt lên trên cùng một mặt đất bình đẳng tất cả những con người mà nó nắm bắt được – xấu xa và tốt đẹp, tàn tạ và kiêu hãnh, bị ruồng bỏ và đầy hy vọng”.

Biết tin nhà thơ Trần Quang Quý đang phải trải qua những thử thách về sức khỏe, tôi lặng người ngồi đọc lại những bài thơ của anh. Tôi mong anh sẽ vượt qua bạo bệnh và tiếp tục sáng tác những vầng thơ hào sảng. Xin được giới thiệu bài viết của nhà thơ Jennifer Fossenbell vào năm 2009 về tài năng thơ Trần Quang Quý. (Nguyễn Phan Quế Mai)

Có thể lắm, nếu Walt Whitman được sinh ra một thế kỷ rưỡi sau ngày sinh của ông, và ở địa điểm cách nơi ông sinh nửa vòng trái đất, ông sẽ viết những bài thơ rất giống thơ Trần Quang Quý. Giọng thơ của Trần Quang Quý trầm bổng cùng gió qua những vòm lá. Nó không nao núng và biết được sức mạnh của chính mình. Nó tự cất lên tiếng hát: “Anh nguyên vẹn bằng trái tim không đổi khác/Em lại đến thế là anh lại hát/ Một nồng nàn vồng ngực tặng em đây” (Quà tặng). Những bài thơ của Trần Quang Quý làm cân bằng cánh đồng nơi loài người tồn tại bằng cách đặt lên trên cùng một mặt đất bình đẳng tất cả những con người mà nó nắm bắt được – xấu xa và tốt đẹp, tàn tạ và kiêu hãnh, bị ruồng bỏ và đầy hy vọng. Giống như thơ của Whitman, đó là một hành động bình đẳng thông qua thơ ca. Vì thế, nhân phẩm và nỗi đau thẳm sâu của những người lao động có được sức sống, như thể những bài thơ “rỉ rả về những phận người quanh năm lấm láp”. Từ trong thơ của Trần Quang Quý, “chính khúc bi ca người cất lên”. Bằng những cách kể trên, thơ của Trần Quang Quý phảng phất vẻ cổ điển, nhưng không bao giờ dập khuôn, không bao giờ cứng nhắc.

Có lẽ Trần Quang Quý được ban tặng tài năng của tầm nhìn tia X. Vì thế dường như đôi khi trong sức mạnh xuyên suốt của sự quan sát, thơ Trần Quang Quý vừa sát thực, vừa thăng hoa. Những vần thơ đưa độc giả qua những phong cảnh gợi cảm của trí tưởng tượng, thu hút tất cả mọi giác quan và mọi hình thức cảm quan: chờ đợi, hy vọng, yêu thương, nhung nhớ, hối hận và mất mát. Đôi mắt thấu đáo của Trần Quang Quý nắm bắt được hồn vía của cái xấu và vẻ đẹp – hình ảnh những dòng sông và những cánh rừng, những mặt người, những cánh đồng lúa, những con đường làng, những người phụ nữ và đàn ông nông thôn, và tập hợp những mảnh ghép lộn xộn của cuộc sống thành thị. Qua tập thơ Cánh đồng người, tập thơ song ngữ Việt – Anh của Trần Quang Quý, người đọc có thể tạm mượn đôi mắt của nhà thơ, để nhìn thấy được những gì ông nhìn thấy, từ vị trí nơi ông quan sát chúng.

Nhìn về phương diện sử học, thật diệu kì khi 35 năm có thể đem lại sự thay đổi lớn lao đến thế. Đối với thế hệ trẻ hiện nay, dường như thật khó để nhận thức được đầy đủ ý nghĩa của sự thay đổi này. Chỉ cách đây một thế hệ, sự hợp tác giữa một nhà thơ Mỹ và hai nhà thơ sống ở Hà Nội để cho ra đời một tuyển tập thơ song ngữ là điều không thể nghĩ tới. Bây giờ, khi độc giả quốc tế và độc giả Mỹ cầm trên tay những bài thơ này, sự tiến bộ kỳ diệu đã và đang xảy ra sau năm 1975 sẽ tiếp diễn. Kỷ nguyên của xung đột dường như lùi thành những con sóng xa để nhường chỗ cho những khối nước văn hóa nhân loại vĩ đại hơn tìm đến và vỗ vào chân chúng ta. Nhưng chiến tranh đã hằn vào con người những vết sẹo mà chúng ta không thể và không muốn xóa nhòa, ít nhất một cách hoàn toàn. Dường như Trần Quang Quý gợi ý rằng, dù chiến tranh có thể thay đổi trí nhớ của con người, nó không thể thay đổi tâm hồn:

“Anh đây

Em đừng lạ và em đừng nhìn vậy

Nếu vết thương anh có thể trên mình

Anh nguyên vẹn bằng trái tim không đổi khác”

(Quà tặng)

Chiến tranh không thể vươn tay trở lại quá khứ và thay đổi nơi sinh, hoặc những điều tổ tiên chúng ta răn dạy. Chiến tranh là thời kỳ đen tối, để lại những dấu ấn không thể gột sạch trong tâm khảm rất nhiều người, từ nhiều quốc gia khác nhau, nhưng khi chúng ta nâng niu những bài thơ này trên lưỡi của mình, và trên tay mình, chúng ta hãy nhớ rằng trên thực tế, đã có sự hàn gắn giữa các quốc gia và những con người thiếu may mắn của các quốc gia đó. Minh chứng cho sự thật đó chính là thân thể của những bài thơ này, những bài thơ đầy vết sẹo, mạnh mẽ và tốt đẹp, nay được thay xiêm y bằng ngôn ngữ tiếng Anh.

Nhìn thế giới qua đôi mắt của Trần Quang Quý là chấp nhận sự tương phản với lòng khoan dung. Trần Quang Quý nắm bắt được những yếu tố của linh hồn con người gắn liền với đất nước, quê hương, ngôn ngữ, văn hóa cũng như những yếu tố không giới hạn bởi không gian và thời gian. Có những việc dường như phi lý được hội tụ một cách tự nhiên. Dường như những điều đã là hai mặt của một đồng xu đối với chúng ta, nhưng theo Trần Quang Quý, chúng là hai mặt tương phản của viên ngọc nhiều mặt. Trong thơ Trần Quang Quý, sự bao quát và chi tiết, sự kiên định và mỏng manh, sự trừu tượng và tính hiện thực cùng gây ảnh hưởng như nhau và khẳng định uy lực như nhau. Thơ Trần Quang Quý là những bài thơ vừa hiện đại, vừa phi thời gian, 100% nhân bản đồng thời 100% hồn Việt.

Trong một bài thơ, Trần Quang Quý đã xác nhận di sản của mình trong khi tiếp thu sự giao thoa văn hóa do cộng đồng quốc tế mang tới “đem cái Tây kia pha vào ta Việt/thế là thành văn hóa giao thoa” (Phố cổ). Chỉ bằng một chuỗi hình ảnh, tác giả đã bắt giữ được sự mâu thuẫn rõ nét trong quá trình hiện đại hóa của một đất nước vốn rất trân trọng di sản truyền thống: “Hy vọng được trộn với ny lông, giấy vụn, sắt gỉ và đồ hộp/Như thế họ đi mót lại những cánh đồng/Nơi chính họ đã từng bán rẻ” (Những phụ nữ quê vào thành phố). Trong thời điểm thế này, nhà thơ dường như đang đặt câu hỏi về cái giá phải trả cho sự phát triển. Dường như có lúc những con người đáng được trân trọng bởi nhân cách và đáng được đền ơn lại bị bán rẻ và bỏ mặc, để họ phải mót lại những đống rác của thành phố.

Trong những bài thơ về làng quê của Trần quang Quý, sự cô đơn và phẩm giá của việc làm lụng cực nhọc kiếm sống luôn luôn thao thức. Nó bền bỉ và cổ xưa như chính công việc đồng áng. Trong những nhân vật thơ của Trần Quang Quý – ông bà, cha mẹ, những người phụ nữ quê – những người đã bị lao động làm cho xiêu vẹo, chúng ta có được cái nhìn thoảng qua về gánh nặng không ơn huệ của sự sinh tồn nông thôn.

“Tôi đã mở cuộc đời ra

Trên lưỡi cày cha lầm lũi

Và sâu thẳm trong tôi một cánh đồng thiêng không mùa vụ”

(Cánh đồng)

Mặc dù thế, bức tranh tổng thể của những nhân vật này phác thảo lên một khung cảnh đồng nhất. Con người bị ràng buộc chặt chẽ với nhau bởi công việc và mồ hôi của họ “như hạt giống nối luống cày thế hệ”.

Quan hệ giữa con người và đất đai liên tục chiếm lĩnh thơ Trần Quang Quý. Cả hai, qua đôi mắt thơ của Trần Quang Quý, phải được hết sức trân trọng. Thế giới của con người và thế giới của đất đai cùng hòa quyện nhưng thực ra cũng đối kháng. Những bài thơ của Trần Quang Quý thường hỏi, nếu con người và đất đai đọ sức, ai sẽ chiến thắng? Và rồi câu trả lời vọng về, kiên định, rằng trong khi con người để lại những di sản quý báu, đất đai mạnh mẽ hơn chúng ta. Vì thế người nông dân phải chấp nhận số phận, “đành một ngày mục nát dưới kỷ nguyên của nấm” (Giấc mơ hình chiếc thớt). Trong sự hình thành của thế giới, cánh đồng trở thành chủ ngữ và người nông dân là vị ngữ, bị tác động: “tất cả đều hái gặt trên cánh đồng này/Và cánh đồng đã hái gặt họ” (Cánh đồng). Hình ảnh của một người mẹ không rõ mặt cũng xuất hiện như một dụng cụ cùn “Gió lạnh ngày đông thổi cùn lưng mẹ”. Rồi mẹ lại xuất hiện không gì rõ ràng hơn, ngoài một đôi tay và như một cái bóng “bao nhiêu trái ngọt bàn tay dâng hết/Bao nhiêu mùa hái gặt trên bóng mẹ gầy” (Hát gọi hạt giống).

Thiên nhiên vừa là một ý tưởng trừu tượng, vừa là một chủ thể sống và thở trong thơ Trần Quang Quý. Những vần thơ tung tẩy tôn vinh sự huyền diệu của thế giới tự nhiên nơi con người đang sống. Vì thế dòng sông mênh mang, bất tận như người bạn trong một cuộc rượu “Nào rượu! Nào rượu! Ta với sông Đà/Nâng một chén nghìn sau còn chảy” (Với sông Đà) trong khi hạt gạo trở thành người bạn thân để người nông dân dốc bầu tâm sự về những ước vọng và sợ hãi sâu thẳm nhất của mình:

“Cựa mình, hạt ơi!…

Mà nghe mẹ thở nghẹn từng âu lo

Hãy mọc lên nào đừng im lặng thế

Kẻo mà hy vọng mãi là trong đất

Kẻo mùa hái gặt mãi là trong mơ…”

(Hát gọi hạt giống)

Trong các bài thơ về tình yêu, Trần Quang Quý cho ta sự trải nghiệm cuộc sống, cho ta phiêu lưu từ sầu muộn, khát khao, hạnh phúc, đến đau khổ, như chính cuộc đời của mỗi chúng ta. Ta cảm nhận bất chợt “mùa thu xa nhau mùa thu rất rộng”, để rồi “rót bao nhiêu thương nhớ cũng không đầy” (Mùa thu xa).

Người đời đã châm biếm rằng địa ngục đầy rẫy những kẻ dịch thơ. Nhưng những người yêu thơ biết rõ nhu cầu cần phải chuyển ngữ thơ, và việc chuyển ngữ này là một sự nỗ lực không hoàn mỹ. Điều đó giống như ngôn ngữ, và cũng giống như loài người vậy. Thơ Trần Quang Quý là những ghi nhận trạm trổ tinh xảo về sự không hoàn thiện cũng như sự lộng lẫy của loài người. Toàn bộ cỗ máy con người trong thế giới hiện đại len lỏi vào những câu thơ dào dạt, hùng vĩ, đa chiều của ông. Một khi bạn đã tiếp cận chúng, thơ Trần Quang Quý dường như đã luôn tồn tại. Và vì thế, bạn chợt không thể nào tưởng tượng được một phần của thế giới thơ ca không có thơ Trần Quang Quý. Chúng nhắc nhở chúng ta lý do loài người cần tới thơ ca, và tại sao con người chúng ta cần nhau. Thông điệp nhất quán của Trần Quang Quý bao trùm không gian và thời gian “xanh lên xanh lên niềm tin cỏ biếc/phiêu diêu dằng dặc cánh-đồng-người”.

Chú thích:

1. Tập thơ Cánh đồng người do Nguyễn Phan Quế Mai và J. Fossenbell tuyển chọn và chuyển ngữ, và được NXB Hội Nhà Văn phát hành tháng 12.2009, sau đó được nhà xuất bản Word Palace Press phát hành tại Mỹ vào năm 2017.

2. J. Fossenbell là nhà thơ nước ngoài duy nhất được nhận tặng thưởng của cuộc thi thơ “Thơ về Hà Nội” do Báo Văn Nghệ, và Đài Phát thanh Truyền Hình Hà Nội tổ chức (2008-2010). Làm thơ từ năm 7 tuổi, J. Fossenbell đã nhận được Học bổng Thơ từ trường Đại học Colorado (2001). Nhiều bài phê bình thơ của cô đã được đăng trên các tạp chí quốc tế, với bài phê bình về thơ Carolyn Forché được trao Giải thưởng phê bình xuất sắc của trường Đại học Colorado (2003).

3. Ảnh chụp tôi cùng nhà thơ Trần Quang Quý và Jennifer Fossenbell ở hiên nhà tôi trên đường Đặng Thai Mai, Tây Hồ, Hà Nội. Để dịch thơ Trần Quang Quý, tôi và Jennifer đã gặp gỡ tác giả nhiều lần và hỏi rất nhiều câu hỏi để bản dịch của chúng tôi có thể bảo tồn được linh hồn và các thông điệp của tác phẩm gốc. Tôi và Jennifer đã dịch vì tình yêu thơ ca và tình yêu tiếng Việt và không nhận bất cứ thù lao nào cho dự án dịch này.

27/7/2022

Nguyễn Phan Quế Mai và J. F0ssenbell dịch

Theo https://vanvn.vn/

Ngôn ngữ nghệ thuật của Nguyễn Bình Phương - Lời thoại hạng người dưới đáy

Ngôn ngữ nghệ thuật của Nguyễn Bình  Phương - Lời thoại hạng người dưới đáy Mỗi lời thoại đều khác nhau giữa các file ghi âm. Khác về giọn...