Cao Bá Quát và
Lý Bạch: Tương đồng kỳ lạ
Cao Bá Quát (1809 – 1855) và Lý Bạch (701 – 762) đều là
thi sĩ cổ điển nổi tiếng trong hai nền văn học Việt Nam và Trung Quốc. Tên tuổi
và gia tài văn chương của hai ông là niềm tự hào của mỗi dân tộc.
Cùng sống trong chế độ phong kiến, nhưng hai thi sĩ có niên đại
cách nhau tới 1100 năm. Tuy vậy, gần đây, khi đọc lại tiểu sử và tác phẩm của
Cao Bá Quát, tôi bỗng nhận ra có nhiều điểm tương đồng/gặp gỡ kỳ lạ về cuộc đời
và tác phẩm so với Lý Bạch. Năm nay, nhân vừa tròn 210 năm ngày sinh của Cao Bá
Quát, xin được cùng nhớ tới hai ông qua bài viết nhỏ này.
Cùng múa kiếm và uống rượu
Từ xưa đến nay, trong lịch sử hai nền văn học Việt Nam và
Trung Quốc, rất hiếm những thi sĩ có khả năng dùng kiếm thuật, giỏi về võ nghệ.
Thế nhưng cả Lý Bạch và Cao Bá Quát đều có một tinh thần võ học. Lý Bạch học
múa kiếm từ năm 10 tuổi và cả tài thơ lẫn tài múa kiếm được coi là ngang ngửa
như nhau.
Năm 22 tuổi (723), Lý Bạch mặc áo trắng, đeo một bầu rượu lớn,
chống kiếm lên đường viễn du. Các tác phẩm của ông có nhiều câu nói tới việc
dùng đao kiếm: Đình bôi đầu trợ bất năng thực/ Bạt kiếm tứ cố tâm mang nhiên [Dằn
chén ném đũa nuốt không được/ Vung gươm bốn phía lòng mênh mang] (Hành lộ
nan), Trừu đao đoạn thủy, thủy cánh lưu/ Cử bôi tiêu sầu sầu cánh sầu [Rút
đao chém nước, nước chảy mạnh/ Nâng chén tiêu sầu càng sầu thêm] (Tuyên Châu Tạ
Diểu lâu tiễn biệt hiệu thư Thúc Vân).
Cao Bá Quát cũng được coi là người văn võ song toàn. Chất võ học trong ông thậm chí còn biểu hiện quyết liệt đến mức chiêu binh mãi mã chống lại triều đình. Ông từng trực tiếp đem quân tấn công nhiều huyện lỵ như phủ Ứng Hòa, huyện Thanh Oai, huyện thành Tam Dương, phủ Quốc Oai và rồi cuối cùng trúng đạn chết giữa trận tiền.
Trong tác phẩm, Cao Bá Quát cũng để lại những câu thơ thật
hay về kiếm: Ỷ chẩm khan trường kiếm/ Hô đăng kiểm tệ cừu [Tựa gối
nhìn thanh kiếm dài/ Gọi đèn xem lại áo bông rách] (Độc dạ cảm hoài), Trường
giang như kiếm lập thanh thiên [Sông dài như kiếm dựng trời xanh] (Hiểu
quá Hương giang), Trượng phu án kiếm khứ tiện khứ/ Kỳ lộ vô vi nhi nữ sầu [Trượng
phu chống kiếm đi thì đi/ Đừng buồn như đàn bà trong lúc phân ly] (Trà Giang
thu nguyệt ca)
Cả Lý Bạch và Cao Bá Quát đều là những người hay rượu. Lý Bạch
nổi tiếng về rượu đến độ cùng 7 người bạn khác lập thành nhóm Tửu trung bát
tiên.
Khi được Đường Minh Hoàng mời vào cung, ông say sưa suốt ngày
đến nỗi khi vua có việc sai người đến gọi mà Lý Bạch vẫn còn đang say: Thiên
tử hô lai bất thượng thuyền/ Tự xưng thần thị tửu trung tiên [Vua cho thuyền
tới đón mà không chịu lên/Còn nói rằng mình là vị tiên say rượu] (Ẩm trung bát
tiên ca – Đỗ Phủ).
Khi rời khỏi cung vua để tiếp tục ngao du giang hồ, Lý Bạch
không nhận tiền bạc, chỉ xin vua ban cho quyền uống rượu miễn phí ở bất cứ quán
rượu nào mà ông đi qua, tiền rượu sẽ do ngân khố nhà nước thanh toán sau. Trong
gia tài 1.800 bài thơ để lại, Lý Bạch có rất nhiều bài thơ về uống rượu và đa số
trong đó đều là kiệt tác.
Có thể kể tới các bài điển hình như: Tương tiến tửu, Bả tửu vấn
nguyệt, Nguyệt hạ độc chước (4 bài), Xuân nhật độc chước, Đối tửu… Còn Cao Bá
Quát cũng có rất nhiều những câu thơ, bài thơ tả về việc uống rượu.
Nếu như Lý Bạch từng cất chén mời trăng sáng trong bài Nguyệt
hạ độc chước thì Cao Bá Quát cũng có câu: Cử bôi thí yêu nguyệt/ Nguyệt nhập
bôi trung hành (Cất chén thử mời trăng/ Trăng đi vào trong chén).
Nếu như Lý Bạch nhìn nước sông Hoàng Hà như từ trên trời đổ
xuống mà cảm khái thành bài Tương tiến tửu thì Cao Bá Quát cũng muốn mời
ngọn sóng Hồ Tây một chén rượu: Khuyến nhĩ trừng ba tửu nhất chi/ Thiếu
niên dư tối giải nhân di [Mời sóng vì ta cạn chén đưa/Tuổi xanh ta chỉ
thích vui đùa] (Du Tây Hồ bát tuyệt).
Lý Bạch có những người bạn uống rượu như Sầm Phu tử, Đan Khâu
sinh và đưa luôn tên bằng hữu vào những bài thơ uống rượu thì Cao Bá Quát cũng
có những người bạn để uống rượu thật say với nhau (thống ẩm) như ông Vũ Hoài Phủ,
Bùi Nhị Minh.
Cao Bá Quát còn khác Lý Bạch ở chỗ, thơ ông có cả những chén
rượu buồn bã, xót xa: Lệ tận tôn nhưng lục/ Tâm hôi chúc tự hồng [Nước
mắt dù cạn, bình rượu vẫn còn/ Lửa lòng đã tắt, ngọn đèn cứ cháy] (Du Hội An
phùng Vị Thành ca giả), Thư thành hận tự không đề huyết/ Tửu túy ly bôi tức
mộng hồn [Dòng thơ oán hận lệ hòa máu/Chén rượu phân kỳ lòng dễ say] (Ký hận).
Cùng ngồi tù
Trong cuộc đời, cả Lý Bạch và Cao Bá Quát đều hơn một lần vướng
vòng lao lý. Khoảng năm 756, Tiết độ sứ Vĩnh Vương Lân đến tận núi mời Lý Bạch
về phủ chơi.
Sau đó Lân làm phản, Lý Bạch cũng bị bắt và khép vào án tử
hình. Lúc sắp bị hành hình, may sao có hai viên quan quý trọng tài thơ Lý Bạch
là Tuyên úy đại sứ Thôi Chí Hoán và Ngự sử trung thừa Tống Nhược Tư đem giấu
đi.
Lý Bạch nhân đó trốn thoát nhưng một năm sau (757) lại bị triều
đình bắt lại. Lúc này, người từng được ông cứu năm xưa là Vương Chí Hoán ra sức
gỡ tội cho ông, Lý Bạch được giảm án xuống thành tội đi đày. Còn Cao Bá Quát
cũng bị ngồi tù gần 3 năm (từ 1841 đến 1843) vì tội dùng son với muội đèn chữa
một số bài thi bị phạm trường quy.
Cao Bá Quát cũng bị khép vào tội tử hình (trảm quyết) nhưng
sau giảm án xuống còn ngồi tù (giảo giam hậu). Nhiều sử liệu ghi lại, suốt thời
gian bị giam cầm, Cao Bá Quát chịu nhiều nhục hình tra tấn. Cuối năm 1843, ông
thoát tù nhưng bị đày đi dương trình hiệu lực (tức phục dịch để lấy công chuộc
tội) tận Indonesia.
Nhiều bài thơ nổi tiếng đã được Cao Bá Quát sáng tác trong lúc bị giam cầm như Trường giang thiên (Bài ca cái gông dài, 3 bài), Đằng tiên ca (Bài ca cái roi song), Bệnh trung (Trong lúc ốm), Tội định (Khép tội), Chính nguyệt nhị thập nhất nhật di tống thừa thiên ngục tỏa cấm (Ngày hai mốt tháng giêng, bị giải sang giam ở ngục Thừa Thiên)…
Cùng chết bi tráng khác thường
Lý Bạch và Cao Bá Quát còn giống nhau ở chỗ đều để lại trong
dân gian vô số những giai thoại, những câu chuyện được truyền tụng, những điển
tích văn chương. Nổi bật trong số đó phải kể tới những giai thoại xoay quanh
cái chết của hai ông.
Về Lý Bạch, tương truyền một đêm ông say rượu, nhìn trăng đáy
nước đẹp quá, bèn nhảy xuống bắt trăng mà chết đuối. Địa điểm này được coi là ở
ghềnh Thái Thạch, huyện Đang Đồ, tỉnh An Huy trong một đêm rằm.
Về sau tại nơi này, người ta dựng lên một cái đài lấy tên là
Tróc nguyệt đài (Đài bắt trăng). Mười thế kỷ sau, Trương Trào trong kiệt tác U
mộng ảnh hạ bút một câu: “Hoa không nên thấy rụng, trăng không nên thấy chìm, mỹ
nhân không nên thấy chết yểu” chính là một phần nhớ về cái chết của Lý Bạch được
tương truyền trong dân gian.
Cũng có giai thoại cho rằng, Lý Bạch đã tự tử mà chết. Còn với
Cao Bá Quát, các tài liệu sử chính thống ghi rằng ông bị suất đội Đinh Thế
Quang bắn chết tại trận vào tháng Chạp năm Giáp Dần (1854), dương lịch là tháng
Một năm 1855.
Các giai thoại trong dân gian thì kể rằng, ông bị giam trong
nhà ngục trước khi hành hình. Lúc ngồi chờ án, ông có hai câu tức cảnh đầy khí
phách: Một chiếc cùm lim chân có đế/ Ba vòng xích sắt bước thì vương.
Trước lúc hành hình, ông tiếp tục đọc hai câu thơ cuối
cùng: Ba hồi trống giục đù cha kiếp/ Một nhát gươm khua bỏ mẹ đời. Cả Lý Bạch
và Cao Bá Quát đều được dân gian phong là tiên, thánh. Lý Bạch được mệnh danh
là Thi tiên còn Cao Bá Quát được mệnh danh là Thánh Quát.
Nếu như Lý Bạch được vua Đường Huyền Tông vô cùng ưu ái thì
vua Dực Tông cũng không tiếc lời khen ngợi bốn tay cự phách trên thi đàn đương
thời: Văn như Siêu, Quát vô Tiền Hán/Thi đáo Tùng, Tuy thất Thịnh Đường.
Cùng có gia tài thi ca đồ sộ và những cảm hứng tương đồng
Di sản thi ca của Lý Bạch và Cao Bá Quát để lại đều là những
con số vô cùng đồ sộ, tính bằng đơn vị nghìn bài.
Nếu như Lý Bạch được coi là đã để lại cho đời khoảng 1.800
bài thơ thì di sản Cao Bá Quát còn lại cũng lên tới con số 1.353 bài thơ và 21
bài văn xuôi. Cả hai ông đều được coi là đã thất lạc một số lớn các tác phẩm.
Lý Bạch thất lạc tác phẩm vì không chịu lưu giữ còn Cao Bá Quát thất lạc tác phẩm
do lệnh của triều đình bắt thiêu hủy, không cho phép tàng trữ.
Thế nhưng chỉ với những gì còn lại cũng đủ để tên tuổi hai
ông trở thành bất tử trong hai nền văn học. Thơ ca của Lý Bạch và Cao Bá Quát đều
có chất hào hùng, khí phách, cảm hứng thi ca khi thì mênh mông rộng lớn, lúc lại
lắng đọng tình cảm.
Cả hai đều có những vần thơ “đăng cao” bát ngát: Chúng
điểu cao phi tận/ Cô vân độc khứ nhàn (Độc tọa Kính Đình san – Lý Bạch); Ngã
dục đăng cao sầm/ Hạo ca ký vân thủy [Ta muốn lên đỉnh núi/Hát vang gửi nước
mây] (Quá Dục Thúy sơn – Cao Bá Quát).
Cả hai đều có những câu thơ thể hiện tình cảm nhớ thương đôi
lứa, ân tình phu thê, nhung nhớ quê hương: Thiên trường lộ viễn hồn phi khổ/
Mộng hồn bất đáo quan sơn nan (Trường tương tư – Lý Bạch), Cử đầu vọng
minh nguyệt/ Đê đầu tư cố hương (Tĩnh dạ tư – Lý Bạch), Nhân quân phỏng
gia thất/ Phong vũ cộng triêm khâm [Nhân tiện nhắn bác hỏi thăm nhà tôi/
Trong buổi gió mưa này, ai mà chẳng nước mắt thấm áo] (Vãn lưu nguyệt trì Bắc
hành – Cao Bá Quát)
Sức sống và giá trị các tác phẩm của Lý Bạch và Cao Bá Quát
là điều đã được khẳng định. Cả hai đều là những tên tuổi lớn còn sống mãi trong
nền văn học của mỗi dân tộc. Chỉ khác một điều, Lý Bạch vẫn còn lưu lại được những
hậu duệ của mình cho đời sau; còn với Cao Bá Quát, ông đã bị triều đình tru di
tam tộc, không còn hậu duệ.
Nhưng nói theo cách của Trúc Khê Ngô Văn Triện khi viết về Cao Bá Quát thì: “Người đời chỉ biết Chu Thần gây ra cái họa diệt tộc, làm toàn họ Cao phải chết. Nhưng ít ai nghĩ được rằng, chính ông chứ không phải ai khác đã làm họ Cao sống mãi”.
31/7/2022
Đỗ Anh Vũ
Theo https://vanvn.vn/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét