|
Chuyến bay Sài
Gòn - Hà Nội chậm gần năm tiếng đồng hồ.
Ba thằng mệt mỏi, ủ ê ở nhà ga. Cái nhà ga là nơi đưa đón
những số phận. Hẹn hò ngày gặp lại. Chia tay rồi mãi mãi xa nhau? Tôi đã đi
qua những nhà ga thế này, có những lần hớn hở vui, có những khi u uất, buồn,
lòng trĩu nặng.
Cả ba thằng chúng tôi đều rỗng túi sau chuyến đi dài lăn
lóc qua Cần Thơ, Đất Mũi, Rạch Giá, Phú Quốc… Chặng đường phía trước thăm thẳm.
Ai biết trước được điều gì sẽ xảy ra khi con chim sắt chứa trong bụng nó mấy
trăm người bỗng dưng trở chứng.
Máy bay đến khoảng Tây Nguyên thì mưa to và gió lớn. Lắc
kinh khủng. Tròng trành. Hành khách náo loạn, hoảng sợ. Một bà già lẩm nhẩm,
cầu trời khấn phật. Một anh chồng điện thoại cho vợ, sám hối, nhận lỗi về mối
tình vụng trộm và xin nàng tha thứ. Một cô gái trẻ sợ quá ngất đi. Một cô vợ
điện thoại cho chồng biết khoản vốn riêng phòng thân mấy cây vàng chôn giấu ở
chân giường và khóc lóc xin chồng ở vậy nuôi con, đừng lấy vợ…Hoang mang, hoảng
sợ, không ai kiểm soát được ai. Tôi hoàn toàn không tự kỷ ám thị về sự nguy
hiểm, mà thực sự trứng đang treo đầu đẳng. Thôi đành phó thác cho số phận.
Vậy mà, tai qua nạn khỏi. Cứ y như là giấc mơ khủng khiếp vừa
trôi qua. Nhưng, cái chết vẫn theo đuổi ám ảnh tôi. Xuống sân bay, tôi mới biết
mình còn sống.
Hà Nội không hề có mưa. Đúng tối Noel, trời rét, nhưng khô
ráo. Ở nhà chờ, người ta dựng cây thông Noel có dễ cao đến bốn mét, điện màu
nhấp nháy, lấp lánh giấy tráng kim. Đêm Giáng sinh đã thực sự đến với mọi người.
Nhà ga, vẫn những cuộc đón đưa. Ai sẽ cười? Ai đang khóc? Cái dòng đời vô tận
này ai sẽ hạnh phúc hơn ai?
Cuối cùng, tôi cũng về đến nhà sau chuyến đi nhọc nhằn, và
một chuyến bay trục trặc, đầy hiểm nguy.
Vợ tôi mở cửa. Con bé giúp việc đang sới cơm. Con gái đang
so đũa. Con trai bé ngồi vào mâm, vẫn dán mắt vào chuyện tranh. Vợ tôi bảo:
“Anh vào ăn cơm. Các con đang đợi”
Con gái bảo:
“Bố vào ăn cơm, con còn đi chơi Giáng sinh.”
Con trai bảo:
“Bố vào ăn cơm để con còn chơi game.”
Sao vợ tôi không hỏi: “Anh đi đường có mệt không?” Sao con
gái không bảo: “Con thấy bố bơ phờ, mất hồn, người gầy đi đến mấy cân.” Sao
con trai tôi không hỏi: “Bố có mua gì cho con không?” Hoặc ít ra, chúng nó giận
dỗi, trách cứ bố điều gì đó, để tôi có cớ thanh minh, xin lỗi. Hoặc ít ra, vợ
tôi cũng tỏ ra coi thường cái thằng chồng vô tích sự, hay kém
hấp dẫn, để tôi phải cun cún khép nép trong nỗi mặc cảm, sợ hãi.
Tôi thả cái samsonai bên chân cầu thang. Tôi bước vào phòng
vệ sinh. Tôi muốn khóc quá mà không khóc được. Cái mặt méo xệch trong gương.
Bữa cơm nhiều món ăn. Nhà tôi, ăn theo khẩu vị, không bắt
buộc ai ăn giống ai để chiều lòng nhau. Vợ tôi thích xúc xích Đức, nàng vẫn
thường mua vài cân để trong tủ lạnh, ăn dần. Con gái lớn bốn mùa ăn thịt thăn
quay. Con trai bé quanh năm ăn thịt gà luộc. Tôi toàn thích món ăn nhà quê. Tối
nay, vợ tôi bày ra món thịt lợn ba chỉ chấm mắm tép và canh cua cà pháo. Tôi
bảo:
Chẳng có ai trả lời. Mọi người lầm lũi ăn. Tôi hỏi vợ:
“Em ở nhà thế nào?”
Nàng bảo:
“Bình thường, anh ạ”
Tôi lại hỏi:
“Thi hết học kỳ một thế nào con gái?”
“Bình thường, bố ạ”
Tôi lại hỏi con trai:
“Còn con?”
“Bình thường, bố ạ.”
Bình thường! Cuộc sống bây giờ “gạo châu củi quế”, bó rau
muống mùa đông héo quắt: 6000 đồng, cân thịt bò: 100 000 đồng, lạng thịt lợn
ba chỉ: 5000 đồng…, vớ được hai chữ bình thường đã là hạnh phúc lắm.
Bình thường! Thời buổi này đầy bất trắc, bất ổn, ra đường sợ
tầu xe đâm, đến cơ quan nhìn
cái bản mặt nào cũng thấy tối tăm, đầy toan tính, về nhà thấy nước da con cái
không bợt bạt, tóc tai không bù xù, mồm miệng không ngáp vặt, chảy nước dãi…
là mừng. Mong ước giản dị được hai chữ bình thường coi như cuộc sống hạnh
phúc, yên ổn.
Nhưng, hai chữ bình thường từ miệng vợ con tôi có bình thường
không? Hững hờ, vô tình hay vô cảm?
Tôi hỏi con bé giúp việc:
“Cháu thấy nhà chú thế nào?”
“Cháu chịu thôi. Nhà chú chẳng ai nói với ai. À quên, có
nói có hỏi nhưng ít lắm; có ngày không quá ba câu.”
“Cháu có nói vống lên không?”
“Thật đấy. Hôm ấy mà nói đến câu thứ tư thì không chết người
cũng động đất núi lửa. Chỉ có chú là hay chuyện thôi.”
Tôi buồn lặng. Con bé này nói đến thế, mà vợ con tôi cũng
không phản ứng. Như nhà khác thì con ô sin này đã bị đuổi ra đường. Ba mẹ con
vẫn lẳng lặng ăn. Mỗi người theo đuổi một ý nghĩ xa xôi ở chân trời góc bể
nào đó.
Tôi gác đũa nhìn vợ. Xa lạ quá. Nàng như không còn là vợ
tôi nữa. Ngày trước, Noel tôi đã từng đưa nàng lang thang trên những con phố
đêm đến nhà thờ xứ đạo Hà Đông, nhà thờ Nam Đồng,
nhà thờ Cửa Bắc, nhà thờ Lớn Hà Nội…, cũng vài lần về quê đi xuống tận nhà thờ
đá Phát Diệm. Lãng mạn, chân thành và nỗi niềm tâm sự muộn phiền sâu lắng nhất
là đêm Giáng sinh ở Sa Pa mù sương. Những ngọn đèn đường màu
vàng ệch và nến thắp sáng lung linh trong nhà thờ đã giảm bớt cái lạnh lẽo của
phố khuya. Những ngọn núi hình răng cưa và thửa ruộng bậc thang chìm vào đêm
đông lạnh lẽo. Sương mù như tấm voan mỏng nhẹ trắng đục trùm lên nhà thờ đá cổ Sa Pa rêu
phong, tôi vẫn nhận ra màu xám bạc và vẻ trầm tư đến cô độc. Nàng dịu dàng
khoác tay tôi, khe khẽ hát Bài Thánh ca buồn:
… Rồi những đêm thánh đường đón Noel/ Lang thang qua miền
giáo đường dấu yêu/ Tiếng thánh ca ngày xưa vang đêm tối/ Nhớ quá đi thôi giọng
hát ai buồn...
Thảng thốt, tôi giật mình. Nàng đang hát cho nàng? Hay nàng
hát cho tôi và Tê rê xa ngày xưa? Lòng chợt se lại. Bất chợt tôi bắt gặp những
bước chân trần của người dân tộc Mông, Giáy… ở các bản Tả Phìn, Lao Chải, Cát
Cát, Mường Hoa cũng vừa từ nhà chánh xứ bước ra, bắt đầu tản dần trên đường
phố nhỏ ngoằn ngoèo heo hút. Tôi và nàng dùng bữa Reveillon ngay trên con dốc
phố núi có những bậc đá lát cũ màu xanh. Bếp than hồng ấm sực, rượu thóc San
Lùng thơm lừng, thịt lợn cắp nách nướng và ngô bắp cũng nướng. Bỗng dưng, nhớ
món bánh bột lọc và cá chép nấu cháo đêm Giáng sinh năm xưa, miệng tôi chợt đắng
ngắt. “Em không ăn được nữa” - nàng bảo. “Sao vậy em?” Tôi cảm thấy như mình
có lỗi, ái ngại hỏi. Nàng ngần ngừ một lát rồi bảo: “Anh nhìn kìa. Những đứa
bé người Mông mặc quần áo đen hơn màn đêm, bước chân trần trên đường nhựa buốt
giá.” Tôi lặng im. Nàng thương bọn trẻ người Mông đến giờ này còn phải đi bán
khăn thổ cẩm và sợi chỉ màu buộc tay kiếm từng đồng bạc lẻ? Hay nàng buồn vì
đọc được nỗi lòng trĩu nặng của tôi đang trào dâng ký ức xưa cũ? Tôi nhận ra,
nàng và tôi ấm áp, gần gũi, tin cậy biết bao nhiêu...
Vậy mà, bây giờ, cái gì đã làm cho vợ tôi lột xác, đổi
thay? Nàng không còn nhớ hay không muốn hát Bài Thánh ca buồn nữa.
Đến nỗi buồn còn không có chỗ cư trú thì con người nàng đang rỗng. Tôi hỏi:
“Em làm sao thế? Hay anh có lỗi gì à?”
Nàng lắc đầu:
“Không. Em có phàn nàn gì đâu.”
Tôi lại hỏi:
“Các con này, hay bố có lỗi gì với các con?”
Con gái bảo:
“Việc bố làm, con không quan tâm.”
Con trai bảo:
“Con chẳng để ý gì.”
Tôi lắc đầu ngao ngán.
Bữa ăn vẫn diễn ra đều đều, có phần tẻ nhạt. Không hào hứng.
Không ồn ào. Không suýt xoa khen ngon. Không phàn nàn mặn, nhạt. Không kêu
ca, cay đắng. Tôi kể:
“Máy bay bố đi đến vùng trời Tây Nguyên thì gặp thời tiết xấu.
Chòng trành. Lắc. Rung. Bố bị ù tai, hoa mắt, chóng mặt. Có lúc máy bay qua
chỗ không khí loãng, rơi tụt xuống cả trăm mét...”
Đứa con gái không nói gì. Thằng con trai im lặng. Vợ tôi bảo:
“Khiếp! Anh kể nghe rợn tóc gáy. Ghê chết đi được.”
“Ừ. Sợ lắm! Anh cứ tưởng không về được với mẹ con em.”
Con gái lên tiếng:
“Máy bay mình không hiện đại bằng máy bay Tây, bố ạ.”
Con trai vẫn vừa ăn vừa dán mắt vào truyện tranh Đô rê mon,
thủng thẳng nói:
“Hôm nào, bố cho con đi để con thử cảm giác mạnh.”
Vợ tôi bảo:
“Em nghe nói. Máy bay rơi, mỗi người chết được đền bù 60
000 đô la. Nhà nào túng bấn cũng đỡ một phần, anh nhỉ?”
Họng tôi nghẹn cứng. Không nuốt được. Tôi bỏ đũa, đứng dậy.
Con gái hỏi:
“Bố thôi ạ?”
Vợ tôi bảo:
“Chắc đi đường mệt. Bố ăn ít.”
Tôi bước vào phòng ngủ. Đóng ập cửa lại. Tôi ngó quanh.
Súng không có. Dao, kiếm cũng không. Tôi nằm vật xuống giường. Sao cái nhà
này chẳng có ai hiểu tôi? Giá có khẩu súng, chưa biết số phận tôi đã ra sao.
Tôi biết mình khốn nạn trong nhà từ lâu, nhưng chưa bao giờ
hình dung ra nông nỗi này. Lúc ngồi vạ vật ở sân bay, thằng A thằng Z, đứa
nào cũng mong ngóng về nhà nhanh. Con người có cái nhà cũng như con chim có
cái tổ trú ngụ lúc gió mưa, giá rét. Cái nhà y hệt cái hầm trú ẩn cuối cùng.
Khi xênh xang mũ áo, lúc sa cơ lỡ bước, thất thế ngoài đời không còn đường
thoát cũng phải quay về nhà tránh nạn.
Về nhà, lúc ấy mỗi thằng một tâm trạng…
Thằng A ngồi xao xuyến nhớ ba đứa con trai còn ở tít tận
Tây Nguyên chưa tha ra Hà Nội được. Ôi trời! Một năm hai lần nhảy ô tô cỏ về
đất đỏ bazan thăm nhà. Vợ chồng chưa kịp ôm hôn, quấn quýt đã giận nhau. Giận
bóng. Giận gió. Giận hờn. Giận rỗi. Giận vì những chuyện chẳng đâu vào đâu. Để
rồi xa nhau lại ò e í e điện thoại nước mắt ngắn nước mắt dài. Thương thương.
Nhớ nhớ… Vợ nó sai thằng lớn điện thoại: “Bố ơi! Về nhà đi. Chúng con nhớ bố
lắm.” Con nhớ bố hay vợ nhớ chồng? Hắn nghĩ: Giá mà bây giờ được về nhà ôm thằng
cu bé nhất, vục mặt vào háng nó, ngậm miệng vào chim nó. Bốn bố con đùa nghịch
cười như nắc nẻ thì sung sướng biết bao. Thằng này, bất giác bật lên một câu
thơ:Vợ dại con thơ L… một cái/ Nhà tranh vách đất DÁI tám hòn. Rồi cười như…
mếu.
Thằng Z lại nghĩ, về đến nhà có cách gì để làm đẹp lòng vợ.
Cả tuần đi công tác, gã ăn uống kiêng khem, món ăn nào ảnh hưởng đến tình dục
là chừa ra, chỉ sợ về nhà mất sức chiến đấu, vợ nó chì chiết cho thì khổ. Thằng
này nghĩ: ào vào phòng khách thế nào cũng thấy chị giúp việc (còn gọi là ô
sin) đang ẵm con bé. Thằng này chằm bặp ôm đứa con bé bỏng vào lòng. Cũng định
vục mặt vào háng đứa bé hôn hít, nhưng chợt giật mình nhớ ra đứa con thân yêu
của mình là… gái. Đã là bé gái thì không thể úp mặt vào háng hôn hít như thằng
A ngậm chim con được. Thằng này hôn chùn chùn vào má con bé khiến nó sợ khóc
thét lên. Cô vợ trẻ đưa mắt lườm chị giúp việc. Biết ý chủ nhà, chị vội vàng ẵm
lấy đứa bé: “Thôi, thôi để chị bế sang “hàng xóm” chơi, chú đi đường bụi bặm,
tắm táp, nghỉ ngơi đi.” Chị ô sin tay phải ẵm đứa bé, tay trái lôi sềnh sệch
đứa lớn đang nhai kẹo dừa Bến Tre cùng đi, rồi khuất hẳn. Thằng này mừng rơn.
Bất chợt, gã bắt gặp cái nhìn thèm khát của cô vợ trẻ cao một mét bẩy hai, to
lừng lững, béo trắng như lợn cạo đã tắm rửa sạch sẽ, sức nước hoa đang sốt ruột
chờ. Má rừng rực đỏ, cháy bỏng, khát thèm, muốn. Không còn biết trời đâu đất
đâu. Thằng này rúc vào nách vợ. Nắng lâu, dưa ngấu. Lần này, thì cô vợ mặt nở
hoa, mãn nguyện. Hạnh phúc quá trời! Tối đêm, gã ghi vào sổ: Vợ đẹp con
khôn L… ba cái/ Nhà cao cửa rộng Dái hai hòn.
Thằng A, thằng Z, mỗi đứa một hoàn cảnh, nhưng đứa nào cũng
ngời ngời đầy ắp hạnh phúc. Ấm áp. Da diết. Xao xuyến. Run rẩy. Cứ y như thời
đang yêu đằm thắm say mê. Cứ y như tuần trăng mật. Cứ y như tháng trăng mật.
Cứ y như trái đất này chỉ có hai ta và những đứa con bé bỏng.
Còn thằng tôi, tôi đã hình dung ra một cái ao tù đọng ngay
trong nhà mình. Máy bay có chậm giờ đổi chuyến. Máy bay có dừng
bay hôm nay, ngày mai, mãi mãi cũng chẳng làm tôi sốt ruột, mong ngóng. Nếu
có chút lo lắng, chỉ là nỗi sợ mất việc làm. Ước mong một cái nhìn đằm thắm của
vợ, một cử chỉ suồng sã hay quấn quýt đầm ấm của con vẫn xa vời. Có khi sợ về
nhà. Lâu ngày, ngụp lặn trong lạnh lùng, vô cảm; sống cũng quen dần.
Một lúc sau.
Tôi ngóc đầu dậy. Con gái vừa đánh răng xong, đang mặc thêm
áo ấm.
“Con đi ô tô hay mẹ?”
“Mẹ đi.”
“Con không đi cùng mẹ?”
“Không! Con muốn đi một mình.”
Một mình. Sao các người lúc nào cũng muốn một mình? Con gái
tôi lặng lẽ ra khỏi cửa. Cái lưng nó như còng xuống. Sao già sớm thế hả con?
Con gái đẩy chiếc xe Dyland mới mua hơn trăm triệu đồng ra sân. Khổ thân, nhà
có túng thiếu gì đâu mà con bé gầy mảnh; cái xe thì to nặng.
Vợ tôi đang trang điểm. Nàng tô thêm son lên làn môi đỏ
chót. Nàng thay cái nhẫn vàng mặt lá cỏ bằng cái nhẫn mặt đá hồng ngọc. Nàng
khoác áo choàng lông thú màu đỏ cổ viền trắng. Nàng quay lưng lại mặt gương,
hỏi:
“Anh có đi nhà thờ với em không?”
Tôi lắc đầu, đột nhiên lỡ lời:
“Anh muốn ở nhà một mình.”
Nàng dường như chẳng nghe, hoặc nghe nhưng không phàn nàn
trách móc, thản nhiên, bảo:
“À quên. Lúc tối, có anh bạn gì làm nghề đánh cá, cùng học
phổ thông với anh, điện thoại ra bảo không liên lạc được với anh.”
“Chắc lúc đó anh đang trên máy bay. Tắt di động. Anh ấy bảo
sao?”
“Bảo anh về dự khánh thành nhà thờ đạo mới xây, tiện thể dự
lễ Giáng sinh luôn. À, em bảo này: Nếu về quê, anh cứ khóa cửa ngoài, lúc nào
về em tự mở.”
Nàng đi xuống cầu thang. Cái áo choàng lông thú màu đỏ mất
hút vào đêm mùa đông. Tiếng xe ô tô Camry 3.5 rì rì nhỏ dần rồi im bặt. Nàng
đi, khoảng trống sau lưng nàng và tôi cứ rộng hoác ra.
Đêm Giáng sinh. Tôi bơ vơ, cô độc như con sói lạc đàn. Thà
rằng bị giận hờn, trách móc như thằng A! Thà rằng thấp thỏm âu lo “đóng thuế”
cho vợ và tràn trề thỏa mãn như thằng Z! Chúng nó có khuyết thiếu chỗ này, có
vênh váo cập kênh chỗ kia, nhưng vẫn sẵn nơi để nhớ để mong, vẫn sẵn người chờ
đợi, vẫn sẵn kẻ khát thèm. Còn tôi, tôi không có chốn dung thân ngay trong
nhà của mình.
Căn biệt thự nhiều phòng rộng. Vắng vẻ. Quạnh hiu. Tôi muốn
đập phá quá. Bom bay hoặc tên lửa Tô ma hốc của Mỹ phóng đến cái nơi ở u uất
này cũng được; nó sẽ vỡ tung ra, biến mất.
Bỗng dưng tôi nhớ đến con trai đang ở nhà. Vẫn còn hai thằng
đàn ông trong cái không gian chật hẹp, tù đọng, bức bối này. Mọi muộn phiền,
đơn độc, uất ức dịu hẳn.
Tôi vào phòng con trai. Thằng bé chơi game xong đã nằm lăn
ra ngủ. Đầu nó nghẹo sang một bên. Thương quá! Thằng bé lạnh lùng ngay từ
trong bụng mẹ. Suốt chín tháng mười ngày không hề quẫy đạp. Lỳ lợm không thèm
đếm xỉa gì đến chiến tranh, giá cả leo thang, thời tiết nóng lạnh ở bên
ngoài. Tôi vành tai úp vào bụng mẹ nó, nghe tim thai. Im ỉm. Lặng phắc. Lúc đẻ
nó ra, vợ tôi thiếu sữa, phải nuôi bộ. Mười hai giờ đêm, mắt vẫn thao láo thức.
Nóng sốt. Sài đẹn. Tôi ôm ấp, ẵm bế, chăm chút như người mẹ. Con vàng con bạc,
con hồng ngọc, con kim cương của tôi.
Tôi nhấc đầu thằng bé, tuồn cái gối bông gạo xuống gáy. Rồi
nhẹ nhàng nằm xuống bên ôm lấy con trai. Lòng rưng rưng, da diết. Có nỗi niềm
máu mủ ruột thịt nào hơn. Tôi thức đêm thức hôm kẻ vẽ viết, làm dự án kiếm tiền
cho vợ con. Tôi đi công tác chắt chiu từng đồng tiền thanh toán, chỉ tiêu đồng
lẻ cũng vì vợ con.
Mái tóc thằng bé nhuộm hoe hoe vàng, xịt keo thẳng đứng. Áo
thổ cẩm xám xịt. Mồ hôi thằng bé chua chua. Tôi nhận ra mùi mồ hôi mình. Cha
nào con nấy. Tình thương yêu ruột thịt trỗi lên thật mãnh liệt. Tôi kéo đầu
thằng bé vào lòng mình.
“Bố!”
Thằng bé gạt tay tôi ra khỏi bụng nó. Tôi nhẹ nhàng, âu yếm:
“Ừ. Bố đây. Cho bố ngủ với con một lúc với.”
Thằng bé đẩy tôi ra:
“Bố về phòng bố đi để con ngủ.”
“Con đuổi bố đấy à?”
“Không! Con chỉ muốn một mình.”
Lại “một mình”, nhà này ai cũng một mình! Lâu lắm rồi, tôi
chưa được ôm thằng bé vào lòng. Tôi năn nỉ:
“Bố muốn ngủ với con.”
“Bố ngủ ở đây thì con đi phòng khác.”
Thằng bé nhỏm dậy, cau có, quơ cái gối rồi bỏ sang phòng
bên cạnh. Tiếng cánh cửa đóng sầm, và tiếng lách cách gài chốt. Chốt cửa, một
thế giới riêng biệt khép lại. Thằng bé “một mình” rồi. Tôi không thể bước vào
cõi ấy được nữa. Tôi cảm nhận mình đang bất lực. Và tôi nhận ra mình đang nằm
trơ trọi trên giường, cô độc ngay trong nhà của mình. Tôi bất lực và hoang
mang thật sự!
Tôi hình dung cô vợ thằng A lại xui con điện thoại từ Tây
Nguyên ra năn nỉ bố: “Bố ơi! Về nhà đi, chúng con nhớ bố lắm!” Và nàng ta
đang tủi thân, tức tưởi: Đàn bà xuân sắc có thì/ Năm một lần phép còn gì
là xuân.Tôi tưởng tượng đến cái mông cô vợ thằng Z đang ưỡn lên, cái ngực
đang chường ra. Và nàng bảo: “Nhanh lên anh! còn ăn cơm rồi đi lễ Giáng
sinh”...
Chẳng lẽ lại khóc. Đàn ông đã khóc là xảy ra một cái gì đổ
vỡ, nát tan lắm. Vợ tôi không có tội. Con tôi không có lỗi. Tôi sống ngay ngắn,
tử tế trong nhà ngoài đường. Hà cớ gì, nguồn cơn nào vợ chồng, bố con không gần
gũi được nhau? Tôi muốn vạch trời xanh kêu và hỏi cho ngọn ngành. Tôi cố kìm
tiếng lòng tấm tức khỏi bật ra. Chẳng lẽ chốn này không có chỗ tôi dung thân?
Về quê!
Về quê ngay.
Ý nghĩ hồi hương chợt lóe lên đầu. Tôi gọi taxi, đi về quê
ngay trong đêm. Vẫn còn kịp gặp bạn bè thời chăn trâu cắt cỏ, thời đi học phổ
thông trong đêm Giáng sinh. Tôi đang điên? Tôi đang chạy chốn khỏi căn nhà của
mình?
Tôi là người xa quê đã lâu. Sống ở thành phố nhiều năm
nhưng chưa bao giờ tôi là người phố phường. Bạn bè bảo tôi là người khó đổi
thay. Dân dã. Chân mộc. Nhưng, lãng mạn. Và nặng tình.
Quê tôi rất nhiều nhà thờ đạo. Nhà tôi lại đi lương. Một
xóm đi lương lọt thỏm giữa làng mười một xóm đi đạo. Ký ức xao xuyến
trầm buồn của tôi là những mái nhà thờ hình chóp chọc lên trời xanh, cây
thánh giá trên đỉnh gác chuông dầm trong dãi dầu mưa nắng. Và những cô gái mắt
bồ câu, tròn, to lúc nào cũng mơ màng như mắt đức Mẹ Ma ri a.
Hơn mười giờ. Xe ô tô về đến đầu làng. Làng đạo đang mùa vọng,
rộn dịp đêm Giáng sinh. Người chen vai người trong ánh điện sáng choang. Cái
rét mướt đêm đông dường như ấm lại. Nhà thờ đạo mới xây còn thơm mùi ve vữa.
Uy nghi. Và trầm mặc. Nhà thờ như một hình ảnh thu nhỏ của nước Chúa.
Tôi vẫn nhớ, cái nhà thờ xưa bị bom Mỹ đánh sập thành đống
gạch vỡ, chỉ còn tháp chuông cao vòi vọi, uy nghi vươn lên tận trời xanh. Lâu
ngày, um tùm cỏ, dây tóc tiên leo, và cây xấu hổ mọc trên gạch vỡ, hồ nát. Gần
đây, người ta xây nhà thờ mới, nhưng vẫn giữ lại cái tháp chuông xưa.
Tôi như người chết sống lại. Bồi hồi, kỷ niệm xưa cũ dào dạt
hiện về. Cứ như vừa mới hôm qua. Cứ như tôi đang sống những năm tháng tuổi
thơ ở làng.
...Tôi học cấp ba trường huyện, cùng lớp có người bạn gái
Hoàng Thị Mùi ở xóm đạo. Mùi mang tên thánh là Tê rê xa. Con gái xóm đạo ít
khi được học lên cao như Mùi, thường chỉ hết tiểu học là nghỉ ở nhà dệt chiếu
cói, hoặc dệt vải xô gai rồi lấy chồng. Tê rê xa - bạn tôi mắt to, tròn như mắt
bồ câu, lông mi dầy cong vắt, màu mắt đen xanh mơ màng như mắt đức Mẹ Ma ri
a. Làn da trắng nõn chuối. Tê rê xa bằng tuổi tôi, đã là thiếu nữ dịu dàng với
những đường cong mềm mại gợi cảm. Nàng học khá, và khôn ngoan, hiểu biết hơn
cánh con trai cùng lớp vụng dại như gà tồ. Cả lớp tôi đều gọi nàng là Tê rê
xa Mùi.
Đêm Noel, Tê rê xa mời cả lớp đi dự lễ Giáng sinh. Tôi và
thằng bạn con nhà chài lưới cuốc bộ sang bên kia sông đến nhà thờ Quảng Phúc
thì người đã đông nghịt. Thằng bạn con nhà chài lưới bảo: “Đêm nay gặp Tê rê
xa Mùi, mày nhường cho tao nói chuyện một lát nhé.” Tôi thủng thẳng bảo: “Ai
cấm mày?!” “Đừng giận! Là tao thấy Tê rê xa Mùi có vẻ mến mày. Lúc nào có mặt
Tê rê xa là mày độc chiếm, nói như điên không ai chen ngang được. Tao con nhà
chài lưới, Tê rê xa có để ý đến tao đâu.” “Tao nhường cho mày nói chuyệt hết
đêm, được chưa?”
Nói để mà nói, chứ tôi nhường sao được. Lòng tôi dạo rực,
trái tim xốn xang mỗi lần gặp Tê rê xa Mùi. Cái cổ cao ba ngấn của nàng trắng
quá. Cái khuôn ngực vồng căng và mùi da thịt nàng ám ảnh theo tôi vào giấc mơ
trẻ trung, háo hức. Tôi ao ước, mơ tưởng sau này có đứa con gái, mắt to xanh
đen mơ màng như mắt nàng. Con gái tôi cũng sẽ đứng cùng các trinh nữ trong ca
đoàn nhà thờ...
Đèn nến thắp sáng lung linh, màu hồng ấm áp tràn ngập. Cố
len vào trong cùng nhà thờ, chúng tôi tìm Tê rê xa. Tôi ngạc nhiên, thích thú
ngẩn ngơ ngắm nhìn tượng chúa Hài đồng, đức Mẹ Ma ri a, Thánh Giu se, những
con cừu nhỏ, máng cỏ và hang đá nhân tạo… lấp lánh trong ánh sáng màu hồng rực
rỡ. Vị linh mục đang giảng đạo. Tôi nhìn người bằng con mắt ngưỡng mộ và
thành kính: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời/ Bình an dưới thế cho loài
người Chúa thương…” Cha giảng Thánh kinh, cha nói đến bổn phận con chiên
phải kính Chúa, yêu nước; đến nghĩa vụ người dân chăm chỉ lao động sản xuất;
sám hối và chăm cầu nguyện…
Tê rê xa chưa ra đón chúng tôi được, nàng đang đứng trong
ca đoàn. Ca đoàn là các cô gái đồng trinh mặc áo choàng trắng, đội mũ trắng,
quàng khăn trắng. Một màu trắng ngời ngời, xao xuyến.
Thánh lễ Tạ ơn Chúa, Tê rê xa Mùi lĩnh xướng bài ca Đêm
thánh vô cùng:
“Ðêm Thánh vô cùng, giây phút tưng bừng/ Ðất với trời se chữ
Ðồng /Ðêm nay Chúa con thần thánh tôn thờ /Canh khuya giáng sinh trong chốn
hang lừa / Ơn châu báu không bờ bến… / Ôi Chúa Thiên đàng, cam mến cơ hàn/ Nhấp
chén phiền vương phong trần…/Sai con hiến thân để cứu nhân loại / Hang chiên
máng rêu tạm trú /Bốn bề tuyết sương mịt mù...”
Thánh lễ linh thiêng, trang trọng và thành kính. Giọng hát
chậm dìu dặt, da diết ngợi ca Đức Chúa Giê su hiến thân cứu thế. Hình ảnh
này, giọng hát này dội vào cái đầu và trái tim non nớt của thằng con trai
đang tuổi lớn, cứ mãi mãi đi theo tôi suốt cuộc đời, để rồi thổn thức và nuối
tiếc hoài…
Nửa đêm, chúng tôi về nhà Tê rê xa Mùi. Bữa ăn Reveillon được
dọn ra. Sau này, tôi mới biết Bữa ăn nửa đêm Giáng sinh ở phương Tây gồm ba
thứ đồng hành là: Thủy (cá chép, con hàu); Không khí (gà tây, ngỗng); mộc (thịt
lợn). Còn Bữa ăn nửa đêm Giáng sinh của người dân xóm đạo nghèo dạo ấy chỉ có
bánh bột lọc làm bằng bột giong riềng và cá chép nấu cháo. Mẹ Tê rê xa Mùi là
một con chiên ngoan đạo, nhân hậu, hiền lành, nhìn lũ trẻ háu đói ăn uống ồn
ào, bà mỉm cười âu yếm.
Nấn
Vợ tôi gọi điện, nàng bảo:
“Giáng sinh ở quê thế nào, anh?”
Tôi bảo:
“Vui. Đầm ấm.”
“Còn em, cái nơi em đi ấy?”
“Như Giáng sinh những năm trước. Không náo nức. Không vui.
Không buồn.”
Có nghĩa là nàng cảm thấy suông, bình bình. Nàng không hỏi
tôi, bao giờ về. Và cũng không nói lúc nào về với tôi. Nàng thờ ơ. Nàng không
hề biết tôi đang vui hay buồn, đang đắng cay hay ngọt ngào. Con tôi không biết
tôi có nhu cầu chia sẻ, và chúng cũng chẳng cần chia sẻ với ai.
Nhà tôi, bấn bíu vì ai. Ví dụ: Sáng ăn uống tùy nghi di tản,
vợ phát cho mỗi người 20 ngàn đồng. Buổi ăn trưa công nghiệp 50 ngàn đồng ăn
vội vàng ở tiệm, ở quán theo sở thích từng người. Bữa cơm tối gia đình mới tập
trung. Tập trung nhưng mà không sum họp. Ăn uống lầm lỳ, im lặng, ít khi nói
chuyện. Tôi nghĩ, cứ thế này thì trầm uất cả nhà. Tôi gợi chuyện, hỏi vợ:
“Em đang nghĩ gì?”
“Em đang nghĩ, nước mình mỗi ngày tai nạn giao thông chết
33 người. Có phải quân số bằng một trung đội không anh?”
“Trung đội đủ thì thiếu, trung đội thiếu thì thừa. Còn con
gái nghĩ gì?”
Con gái tôi ậm ừ:
“Con bạn cùng lớp con chiều qua dọn ra ở riêng. Nó ở một
mình, không muốn sống chung với bố mẹ. Nó có cái súng xịt hơi cay của Mỹ, bố ạ.”
“Hôm nay, bố bảo: lúc bố chết cúng 100 ngày bằng thịt ba chỉ
mắm tép, canh cua cà pháo. Hôm trước, bố bảo cúng lòng lợn tiết canh. Hôm trước
nữa, bố bảo cúng thịt chó mắm tôm lá mơ. Hôm trước nữa, bố bảo cúng ốc nhồi hấp
lá chanh. Hôm trước nữa...vv. Cái bàn thờ to như sân vận động Mỹ Đình mới đặt
hết đồ ăn. Giá người chết mà biết ăn sạch trơn thì chẳng ai dám cúng, bố nhỉ.”
Giá người chết mà biết ăn sạch trơn... Tôi nổi gai ốc. Vợ
chồng, bố con, chị em đang ở rất gần, đang ngồi cùng mâm cơm mà mỗi người một
mảnh. Toàn là ý nghĩ xa vời. Chúng tôi đang ở bên nhau mà chẳng nghĩ gì đến
nhau; cùng một ra đình mà cứ rời ra.
Hiện thực cay nghiệt quá, mà tôi không trốn chạy được.
Giá như trốn chạy được về dĩ vãng. Giá như được sống lại những
ngày xưa ấy...
Ngày xưa ấy là... mùa vọng năm sau.
Chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ tràn ngập miền Bắc.
Mùa đông 1972 lạnh lẽo mà đỏ lửa. Bom đạn tung tóe khắp làng quê. Tôi và hơn
chục trai làng học cùng lớp khám sức khỏe đi bộ đội.
Ngày nhập ngũ cũng là ngày định mệnh của Tê rê xa. Ô tải chở
chúng tôi đi khỏi làng mấy cây số thì máy bay Mỹ đến, bom rơi trúng nhà thờ.
Những thằng trai làng vỗ vào ca bin bộp bộp, bắt ô tô quay trở lại.
Hoang tàn. Đổ nát. Ngổn ngang. Nhà thờ chỉ còn mỗi tháp
chuông sứt mẻ nham nhở bên đống gạch vụn. Chúa đã không che chở được những
con chiên của người. Tê rê xa Mùi như cây non bị phạt ngang gốc. Mảnh bom tiện
đứt hai đầu gối nàng. Người ta đang ga rô cầm máu cho nàng. Một vệt máu nhỏ
tươi hồng ứa ra từ vồng ngực căng đầy chảy xuống cổ ba ngấn trắng ngần. Đôi mắt
bồ câu tròn cứ mở to nhìn trời xanh tức tưởi...
Sau này, ra quân, tôi về quê. Tôi đi tìm Tê rê xa Mùi. Mẹ
tôi bảo, nàng vẫn còn sống. Sức sống con người thật diệu kỳ. Tôi chẳng hiểu
vì sao Tê rê xa lại vượt qua cái chết mười mươi. Mẹ tôi bảo: u đi chợ qua xóm
nhà thờ gặp Mùi; nó hỏi: “Anh ấy viết thư về cho bác, có nói gì về cháu
không?” Sự vô tình nhiều khi cũng có tội; tôi không vô tình, nhưng tôi đã lảng
tránh. Lảng tránh có phải là tội lỗi với một người tàn phế như nàng? Vài ba
lá thư gửi cho Tê rê xa Mùi, tôi hỏi thăm sức khỏe, sản xuất chung chung; lời
lẽ bình thường, không thân mật, chẳng vồ vập, tình cảm hững hờ, xã giao.
Tôi về xứ đạo, ván đóng thuyền rồi, nàng đã lấy chồng. Chồng
là thằng bạn cùng lớp tôi – cái thằng năn nỉ tôi nhường để được nói chuyện với
Mùi đêm Giáng sinh năm ấy. Ngày ngày, chồng tung lưới đánh cá trên sông Cái,
đầm Vạc. Vợ ngồi nhẩn nha dệt chiếu cói cùng đứa con gái mắt cũng tròn to như
mắt mẹ. Bình yên. Giản dị. Ấm áp... Tôi chẳng có lý do gì lưu luyến, nán lại
bên Tê rê xa nữa; dù đôi mắt tròn to của nàng mọng nỗi buồn...
Những ngày xưa cũ chưa thật xa lắm. Tê rê xa bây giờ vẫn vẹn
nguyên là Tê rê xa ngày xưa. Nhưng, vợ tôi đã không còn là vợ tôi nữa. Tôi nhận
ra cái nửa kia không phải của mình từ lần vợ chồng nằm bên nhau, trần chuồng
trong chăn. Tôi rúc vào nách nàng. Tay ve vuốt mông tròn và vòng eo
thon. Tôi chìm vào đam mê, thăng đồng trần thế. Bất chợt, nàng bảo: “Anh ạ. Mả
mẹ cái con hàng tôm. Bán cho em 5 lạng về nhà cân lại chỉ còn 4 lạng chín.”
Tôi thụt chim lại. Lửa lòng tắt ngấm. Lạnh ngắt như đồng. Tôm với cá thì có họ
hàng hang hốc, có liên quan đếch gì đến chốn giường chiếu? Nàng đang ôm ấp
cùng tôi mà đầu nghĩ đến cá tôm. Nàng tha nhân ngay cả lúc tôi đang quằn quại
trên bụng nàng.
“Mùi! Tê rê xa Mùi?”
Tôi ngỡ ngàng quá. Cũng đôi mắt bồ câu tròn to mơ màng ấy,
cũng dáng hình thanh thoát, dịu dàng ấy, cũng vồng ngực căng đầy ấy.
“Bác ạ! Cháu là Mai mà.”
“Xin lỗi! Bác nhầm thật. Có phải cháu là... Tê rê xa Mai?”
“Vâng! Cháu con mẹ Mùi.”
“Bác nhận ra rồi. Cái con bé mắt to cứ ngồi bên go quấn sợi
cói vào đầu lao cho mẹ dệt chiếu phải không?”
“Vâng ạ! Bác có khỏe không ạ?”
“Bác khỏe. Cháu thế nào?”
“Cháu học năm thứ nhất Ngoại thương. Nghỉ Giáng sinh, cháu
rủ mấy đứa bạn trai gái cùng lớp về chơi. Ca đoàn dạo này thiếu người lắm bác
ạ, cháu phải đứng vào hát.”
“Ừ. Lớn lên là chúng bay rủ nhau xa xứ hết. Cháu hát ĐÊM
THÁNH VÔ CÙNG chứ?”
“Vâng ạ! Silent night. Chốc nữa bác nghe cháu hát
nhé.”
“Ừ. Đêm nay bác bồi hồi lắm.”
“Bố mẹ cháu cứ mong bác về suốt. Bữa ăn đêm Giáng sinh năm
nào mẹ cháu cũng nhắc đến bác. Mẹ bắt cháu làm bánh bột giong riềng và nấu
cháo cá chép. Mẹ cháu bảo, nhất định Giáng sinh năm nay bác sẽ về.”
Ấm lòng. Gần gũi. Thân thuộc quá.
Tôi có cảm giác mình vừa đi qua hoang mạc vô cảm, lạnh lùng
miền băng giá đến cánh đồng cỏ mênh mông tươi xanh đầy nắng gió nhiệt đới.
Tôi bắt gặp cái thuần hậu, da diết, vô tận đêm Giáng sinh. Tôi nghĩ đến túp lều
đánh cá của người bạn chài lưới. Con thuyền nan có mui. Tiếng gõ ván xua cá lốc
cốc. Tiếng go và lao cói dệt chiếu lách cách. Tê rê xa Mùi, Tê rê xa Mai có
đôi mắt đức Mẹ... Tôi nghĩ đến căn biệt thự của tôi...
Tôi bước vào trong nhà thờ.
Máng cỏ. Hang đá. Chúa hài đồng. Những con cừu nhỏ... Ấm nồng.
Đêm đông khuya khoắt rét mướt chỉ còn ở bên ngoài.
Tê rê xa Mai đứng kia, trong ca đoàn trinh nữ. Một màu trắng
bình yên, xao xuyến. Giọng hát trong ngân. Da diết.
“Silent night/ Holy night / All is calm all is bright /
'Round yon virgin Mother and Child / Holy infant so tender and mild / Sleep
in heavenly peace...”
Bao ký ức ngày xưa lại trở về, tôi yêu mến đêm Thánh vô cùng.
|
Thứ Năm, 4 tháng 6, 2015
Đêm Thánh vô cùng
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Trương Thị Thương Huyền và Kết tinh từ tình yêu biển đảo Những năm gần đây, đề tài biển đảo trong VHNT nở rộ. Tình yêu biển đảo được các v...
-
Nguyễn Du Từ một ai đó đến không ai cả Bạn phải là một ai đó trước khi có thể là không ai cả Engler Jack Sau thời đại...
-
Hoàng Thụy Anh và những không gian mơ tưởng “ta chấp nhận mọi trả giá - kể cả cái chết - để hiện sinh - như một bài ...
-
Ánh trăng trong thơ Dương Quân (Trong Ba tập thơ Chập Chờn Cơn Mê, Điểm Hẹn Sau Cùng, Trên Đỉnh Nhớ) Vào một ...








Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét