Thứ Sáu, 1 tháng 5, 2026

 

“Anh có còn ngần ngại nói: Yêu em?”

Bài thơ có kết cấu đầu cuối tương ứng bởi câu thơ mở đầu lặp lại ở khổ thơ cuối: “Những thành phố lại bắt đầu phong tỏa”, nhưng tứ thơ vượt thoát khỏi cái sự “dịch bệnh” để đến với cái tình: “Nếu sống sót qua được mùa dịch bệnh/ Anh có còn ngần ngại nói: Yêu em?”. 2 câu thơ cuối chính là điểm sáng của bài thơ, là nơi nhà thơ gửi gắm cảm xúc trữ tình và nâng tầm bài thơ để chất thơ lan tỏa.

Thơ tình thời giãn cách

Những thành phố lại bắt đầu phong tỏa

Trên cành xanh, xuân tách hạt nảy mầm

Chốt kiểm soát chặn lối ra các ngả

Khoảng cách mỗi người ngày một giãn xa

Người rơi lệ khi cái ôm trở thành hiểm họa

Bắt tay nhau cũng cẩn thận sát trùng

Nụ hôn ngủ trong khẩu trang kín mít

Cánh mai đầu mùa nở giữa khu cách ly

Con Covid chẳng thể nhìn bằng mắt

Chia cắt lứa đôi, hủy hoại cả vương triều

Nặng trĩu âu lo trên bờ vai thế kỷ

Cô độc bao trùm, hoài niệm đóng băng

Những thành phố lại bắt đầu phong tỏa

Xuân vẫn ùa vào cánh cửa cài then

Nếu sống sót qua được mùa dịch bệnh

Anh có còn ngần ngại nói: Yêu em?

VŨ THANH HOA

“Thơ tình thời giãn cách” của nhà thơ Vũ Thanh Hoa là 1 trong 10 bài thơ được bình chọn là thơ hay nhân dịp Hội nhà văn TP Hồ Chí Minh và Quỹ Tình thơ trao giải thơ hay Nguyên tiêu 2021. Bài thơ có 12 câu, mà hết 10 câu là “sự”, 2 câu cuối là tình, nhưng cái tình ở 2 câu cuối đã làm nổi bật cái sự tuy không mới mà mới bởi nó là thơ. Không mới, bởi từ khi có đại dịch Covid-19 thì dường như những cụm từ quen thuộc cứ lặp đi lặp lại: phong tỏa, giãn cách, hiểm họa, sát trùng, khẩu trang, cách li, cô độc… Nhưng lại mới bởi tứ thơ nhẹ nhàng hòa quyện giữa cái âu lo với cái háo hức; âu lo trong mùa xuân, háo hức trong mùa xuân; và hi vọng cũng bừng lên sau những âu lo, ngóng đợi, hi vọng… Hình ảnh thơ dịch chuyển giữa hai điểm nhìn: mùa xuân và đại dịch Covid-19.

“Những thành phố lại bắt đầu phong tỏa/ Trên cành xanh, xuân tách hạt nảy mầm/ Chốt kiểm soát chặn lối ra các ngả/ Khoảng cách mỗi người ngày một giãn xa” – lối vào đề nhẹ nhàng như thể hứng trong ca dao, dù nội dung là “phong tỏa, giãn cách”. Cảm giác nhẹ nhàng bởi hình ảnh thơ không nặng nề đến mức ám ảnh như những thông báo, bởi người thơ nhận ra: “Trên cành xanh, xuân tách hạt nảy mầm” – câu thơ vừa có không gian, vừa có thời gian và tâm tưởng. Vẫn chọn lối xen giữa sự và tình, lời thơ như giảm nhẹ đi sự căng thẳng, tăng thêm hi vọng: “Người rơi lệ khi cái ôm trở thành hiểm họa/ Bắt tay nhau cũng cẩn thận sát trùng/ Nụ hôn ngủ trong khẩu trang kín mít/ Cánh mai đầu mùa nở giữa khu cách li”. Cánh mai đầu mùa giờ không chỉ là điểm nhấn của mùa xuân mà còn là hi vọng giữa những hiểm nguy rình rập, bởi “cái ôm, nụ hôn, bắt tay…” cũng phải dè dặt, sát trùng. Chắc sau này, khi thế giới vượt qua đại dịch, con người sẽ có cái giật mình thảng thốt khi nhớ về những tháng ngày “hiểm họa” và những câu thơ này sẽ là kỉ niệm nhắc nhở về một thời âu lo. Tính thời sự giờ không còn là của các thể loại báo chí và kí mà đã ám ảnh trong cảm xúc thơ. Chất thơ thể hiện rõ trong sự thống nhất giữa những phẩm chất của đối tượng khách quan với cảm hứng sáng tạo chủ quan của nhà thơ.

Bài thơ có kết cấu đầu cuối tương ứng bởi câu thơ mở đầu lặp lại ở khổ thơ cuối: “Những thành phố lại bắt đầu phong tỏa”, nhưng tứ thơ vượt thoát khỏi cái sự “dịch bệnh” để đến với cái tình: “Nếu sống sót qua được mùa dịch bệnh/ Anh có còn ngần ngại nói: Yêu em?”. 2 câu thơ cuối chính là điểm sáng của bài thơ, là nơi nhà thơ gửi gắm cảm xúc trữ tình và nâng tầm bài thơ để chất thơ lan tỏa. Câu hỏi tu từ cuối bài thơ “Anh có còn ngần ngại nói: Yêu em?” như tự hỏi, tự khẳng định và rồi hi vọng. Có lẽ vì câu thơ này mà khi đọc xong bài thơ, độc giả sẽ giật mình ngoái lại và cảm giác lãng mạn dâng tràn bởi cái nhìn của thi nhân đã thức tỉnh trong chúng ta những ước mơ và hy vọng.

Huế, 2/4/2021

Hoàng Thị Thu Thủy

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Sách và văn hóa đọc

Có chữ thì mới có sách. Ở ta, ban đầu là sách Hán và Nôm khắc in mộc bản hoặc thạch bản; do kẻ Sĩ và cho kẻ Sĩ – tức trí thức Nho học, viết và đọc. Bởi sách là kinh điển Nho gia tạo nên lộ trình “tiến vi quan, thối vi sư”. Sau sách Hán và Nôm đến sách Quốc ngữ với văn hóa in làm nên thời hiện đại. Một thế hệ Tây học thay thế Nho học, nhằm tiếp cận văn minh phương Tây để nâng cao dân trí, chấn hưng dân khí, hướng vào hai mục tiêu: Văn minh và Dân chủ; nhưng lượng người đọc và viết Quốc ngữ vẫn còn rất ít ỏi. Phải đến thời Dân chủ Cộng hòa sau 1945, với phong trào Ba chống: chống giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm; và Truyền bá chữ Quốc ngữ trong toàn dân thì văn hóa đọc mới thật sự là rộng rãi.

Sự phát triển của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội gắn từng bước với hội nhập quốc tế sau 1945 đã tạo một nền tảng cơ bản cho sự phát triển văn hóa đọc rộng khắp trong các lứa tuổi và mọi ngành nghề, mọi phân công xã hội. Và nhân vật trung tâm đóng vai trò chính trong văn hóa đọc, đó là người trí thức; bởi đối với họ, sách vừa là công cụ, lại vừa là sản phẩm cho mục tiêu phổ cập và nâng cao tri thức, giáo dục nhân cách, bồi đắp tâm hồn… cho con người.

Tuổi học đường của trẻ nhỏ đọc theo yêu cầu giáo khoa. Học và đọc như thế nào cho phù hợp với yêu cầu và trình độ của các cấp học trong tương ứng với thời đại, quyết định chất lượng giáo dục. Còn người lớn thì bên cạnh việc đọc theo yêu cầu hẹp của nghề nghiệp, còn có yêu cầu rộng của sự sống tinh thần, trong đó sách văn học có thể xem là bộ phận cốt lõi hoặc bao trùm xuyên suốt lịch sử từ nghìn xưa cho đến nay.

Với tôi, từ khi biết đọc, khoảng 6, 7 tuổi tôi đã ham đọc. Vào một thời còn rất hiếm sách đọc, nên tôi đọc tất cả những gì có và đến trong tay. Tất cả sách viết cho thiếu nhi trong các tủ Sách Hồng, Truyền Bá, Hoa Xuân, Hoa Mai. Lấn sang sách người lớn, không chỉ Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Tô Hoài… mà gồm cả Tự lực văn đoàn. Rồi sách dịch, gồm những Vô gia đình, Tâm hồn cao thượng, Robinxơn,  Những người khốn khổ, Tam quốc, Tây du, Thủy hử… Đọc trên chạn rơm; dưới gốc mít, gốc ổi trong vườn; và trên đường đi học. Vào một thời đường làng, đường huyện rất ít xe cộ, nên không sợ đâm vào ai, hoặc bị ai đâm. Đọc mải miết, vô tư. Những “tác hại” của văn chương lãng mạn hoặc trinh thám, kiếm hiệp mãi sau này lớn lên tôi mới biết để… tránh, khi đã đọc tất cả, và tự thấy mình không có gì hư hỏng.

Lớn lên, khi chọn nghề, số phận xui tôi có một nghề cho đến hôm nay – đó là nghề viết, thuộc lĩnh vực khoa học văn chương. Nói cho rõ ngọn ngành câu chuyện này sẽ rất dài nên tôi xin miễn. Kể từ đây, từ tuổi ngoài 20, sách vừa là đối tượng tôi phải chiếm lĩnh, lại vừa là sản phẩm tôi phải tạo ra… Có nghĩa: tôi vừa là người đọc sách, vừa là người viết sách, với một hành trình gần như là khép kín: đọc, đi, nghĩ, viết – một hành trình khi đã thành một vòng quay thì khó mà nói đâu là mở đầu, đâu là kết thúc. Có nghĩa là, cho đến hôm nay thì động thái quen thuộc và sản phẩm cuối cùng của tôi vẫn chỉ là đọc hoặc viết. Ngừng hoặc lỏng đi một khâu nào đó thì tôi không thành tôi.

Khỏi phải nói cả một di sản khổng lồ của kỷ nguyên sách đến từ văn hóa dân tộc và văn minh nhân loại; nó vừa là sự thâu tóm, lại vừa như sự mở rộng các giới hạn sống, các kinh nghiệm sống – gồm những gì đã được biết và chưa biết, để gợi cho con người – tức người đọc, những gì quen mà lạ, hoặc lạ mà quen, trong một cõi nhân sinh ngắn ngủi khó mà đến được cái ngưỡng “ba vạn sáu ngàn ngày”. Thiếu đi sự nhận thức đó về vai trò của sách thì quả là phí hoài và thiệt thòi biết bao nhiêu!

Đối với tôi, đọc cho chuyên môn hẹp và đọc cho nhu cầu mở rộng các giới hạn sống là gắn kết với nhau. Để hành nghề và cũng là để làm người. Có một sự nghiệp để được gọi là danh nhân, ít ra là nhà này, nhà nọ là cực khó, phải đọc thiên kinh vạn quyển mới làm nên được. Trước đã vậy và bây giờ càng vậy. Nhưng đọc để học cách vượt khó, vượt các lực cản trên đời mà giành lại sự sống và giữ cho được gốc thiện thì hãy tìm đến Những người khốn khổ của V. Hugo, Papillon – người tù khổ sai của H. Charrière, Số phận con người của M. Sôlokhov. Sống là sự thực hiện các mục tiêu lớn nhỏ của nghề nghiệp; là được làm và làm được những việc có ích; là biết cách thân thiện với cộng đồng xã hội. Có thế mới được gọi là người tử tế. Nhưng sống tử tế là như thế nào? Có khi tử tế lại được xem là gã khờ hoặc thằng ngốc như phát hiện của F. Dostoievski, không chỉ đúng với thời của Dost. mà còn ứng nghiệm cho cả hôm nay. Có cái sống không đáng sống như sống mòn, như đời thừa của Nam Cao; lại có cái chết mà thành bất tử như Đặng Thùy Trâm. Có cái “tối ba mươi” đen kịt mà lại hửng sáng tình người như trong Tối ba mươi của Thạch Lam. Gốc của mọi thứ gốc đạo đức của cõi người là nằm ở chữ hiếu; và sự bất hiếu không cần phải khủng khiếp, man rợ như các cảnh huống ta thấy hôm nay, mà chỉ là một vô tâm hoặc ân hận muộn màng như nhân vật cô gái trong Bức điện của C.Pautopxki. Hai số phận được đánh đổi quanh một “chiếc lá cuối cùng” chỉ dăm trang của O. Henry mà chứa đựng bao triết lý sống thật sâu xa cho nhân quần ở bất cứ đâu. Rõ ràng chỉ có sách mới đưa lại những khái quát và đặt ra những nghịch lý ám ảnh đến thế cho con người chiêm nghiệm!

Những trang sách ứng với các trang đời; có đời rồi mới có sách. Nhưng sách lại là kết tinh, là quy tụ, là lưu giữ và vĩnh cửu hóa các giá trị của đời. Hàng nghìn năm con người trong tình yêu và tình yêu của con người đã được biểu trưng trong Ngưu Lang – Chức nữ, Tristan và Yseul, Roméo và Juliette, Thúy Kiều – Kim Trọng, Tố Tâm và Đạm Thủy… Đã nhiều nghìn năm con người soi vào đấy mà nhận ra gương mặt mình; và để không đánh mất những gì kỳ diệu nhất tạo hóa ban cho mình. Thế nhưng cổ tích về tình yêu vẫn chưa hề khép lại trong câu chuyện đầu năm Giáp Ngọ – 2014, một người con gái xứ Nghệ là Hoàng Kim Dung, nhờ vào những tiến bộ trong khoa học, đã sinh cho chồng là Hồ Sỹ Ngọc một đứa con sau khi chồng mất… bốn năm!

Tôi không tính được những gì tôi đã đọc, và đọc đi đọc lại, ở Thế hệ Vàng của nền văn chương Quốc ngữ có tuổi thọ hơn 100 năm ở xứ ta, với các tên tuổi lớn như  Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Tuân, Thạch Lam, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao… Nói trăm năm, và “trăm năm trong cõi” tôi lại nhớ Nguyễn Du với Truyện Kiều bất hủ. Thật là hạnh phúc và vẻ vang cho dân tộc khi có một Nguyễn Du, với 3254 câu Kiều cho các bà mẹ Việt có thể thuộc lòng hoặc đọc ngược; cho nhiều chục thế hệ trí thức Nho học và Tây học có thể dành cả đời mình cho việc đọc, ngâm, vịnh, bình, xướng họa về Kiều… Bởi, chỉ với Truyện Kiều, hơn bất cứ tác phẩm nào khác, mới có được một sự sống bền lâu như thế, và rộng rãi đến thế; một sự sống đến từ và làm nên bản sắc Việt, bản lĩnh Việt, tính cách Việt, tâm hồn Việt. Hãy mượn lời Tố Hữu để nói về sự sống ấy:

Tiếng thơ ai động đất trời

Nghe như non nước vọng lời nghìn thu.

Hoặc Chế Lan Viên:

Nguyễn Du viết Kiều, đất nước hóa thành văn.

Có đến trăm nghìn chuyện để nói về sách, ngay ở thời điểm của Cách mạng 4.0, của Kỷ nguyên internet, của Toàn cầu hóa hôm nay. Trở lên, chỉ là đôi điều vụn, nhỏ ở một người có ít nhiều duyên nợ với sách.

21/4/2021

Phong Lê

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Hoàng Nhuận Cầm thời chống Mỹ: Một tâm hồn học sinh những câu thơ trận mạc

Nhà thơ, nhà biên kịch Hoàng Nhuận Cầm vừa đột ngột vĩnh biệt cõi trần ngày 20.4.2021 tại Hà Nội hưởng thọ 70 tuổi. Ông sinh ngày 7.2.1952 tại Hà Nội, tác giả của các tập thơ: “Thơ tuổi hai mươi” (in chung, 1974); “Những câu thơ viết đợi mặt trời” (1983); “Xúc xắc mùa thu” (1992); “Thơ với tuổi thơ” (2004); “Hò hẹn mãi cuối cùng em cũng đến” (2007); “36 bài thơ” (2008).​ Là 1 trong 4 giải Nhất của cuộc thi thơ Báo Văn Nghệ năm 1972-1973, Hoàng Nhuận Cầm cũng được Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1993 cho tập thơ “Xúc xắc mùa thu”. Bộ phim “Mùi cỏ cháy” do ông biên kịch (đạo diễn Nguyễn Hữu Mười) đã đoạt Huy chương Bạc tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 17. Phim cũng được trao 4 giải Cánh diều Vàng tại giải thưởng Cánh diều Vàng năm 2011… VHSG xin chia buồn sâu sắc với gia đình, đồng nghiệp của nhà thơ, nhà biên kịch Hoàng Nhuận Cầm và trân trọng giới thiệu bài viết của nhà thơ Vũ Quần Phương về ông.

Cái tên Hoàng Nhuận Cầm được trình làng lần thứ nhất trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội số tháng Giêng 1972 với ba bài thơ: “Bức tranh dọc đường hành quân, Đêm khuya nói chuyện với Andecxen và Mùa thu tôi yêu”. Ba bài thơ khá kết nhau trong một giọng điệu tâm hồn: trẻ trung, trong sáng. Thơ nói đời về đời sống chiến sĩ, chiến trường, nhưng còn thấm đầy hương vị tuổi học trò.

Hoàng Nhuận Cầm đang học dở đại học thì đi bộ đội, khi những bài thơ trên được đăng, anh trọn một tuổi quân và hai mươi tuổi đời. Hoàng Nhuận Cầm là một đại diện tiêu biểu cho lứa tuổi sinh ta và lớn lên trong lòng chế độ mới, qua ngưỡng cửa nhà trường vào ngay cuộc chiến tranh rộng lớn, ác liệt… Kiểu tâm hồn bộ đội này trong kháng chiến chống Pháp chưa có. Anh vệ quốc năm xưa “Áo anh rách vai, quần tôi có vài mảnh vá” thường bước vào đời bộ đội sau khi đã trải qua những năm tháng cực nhọc trên đồng ruộng, làm lụng đến u mê, họ “gặp nhau hồi chưa biết chữ”, những hố ngang hố dọc cản cơ giới giặc trên đường hành quân còn gợi họ liên tưởng đến với chữ I chữ tờ ở lớp bình dân buổi tối. Họ chưa thể có, như Hoàng Nhuận Cầm, mười lăm sách vở nhà trường, họ chưa thể có những đêm thức trắng mải mê rất học trò với những trang cổ tích tuyệt vời của Andecxen, họ chưa nắm được đầy đủ cái vị ngọt ngào của Truyện Kiều, của ca dao tục ngữ, của Đường thi trong các bài giảng văn lớp Tám, lớp Mười. “Tháng bảy lác đác cành ngô, tiếng chày ai nện đêm thu ghẹo người”. Họ chưa có thì giờ và sự thơ thới trong tâm hồn để cảm nhận cái hơi mùa thu Việt Nam dịu dàng bâng khuâng trong màu xanh hoa lá ruộng đồng, trong ánh sáng tròn vạnh một vầng trăng và hương thơm những trái bưởi trung thu. Đằng sau những câu thơ chiến sĩ của Hoàng Nhuận Cầm, người ta thấy một xã hội trong lành tươi sáng cho phép con người, đặc biệt là ở lứa tuổi mới bước vào đời, được sống trong tin cậy, yêu thương. Trong tâm hồn thơ Hoàng Nhuận Cầm những buổi đầu tiên ấy, người ta thấy một phong vị trữ tình thấm đẫm những mơ mộng khát khao. Đôi lúc cảm xúc lãng mạn được đẩy lên đến độ thần thoại hoá những nét thực của đời sống thường ngày. Thơ Hoàng Nhuận Cầm không có những dây trầm của ưu tư, lo ngại về những mặt phản diện hay những nét khắc khổ của đời sống trong chiến tranh. Cuộc đời được nhìn bằng đôi mắt “xanh non”. Cảnh vật trong thơ Hoàng Nhuận Cầm tươi sáng và luôn luôn vang động những âm thanh xao xuyến của lần gặp gỡ đầu tiên, đôi lúc được phủ trong một khí quyển hư ảo như cổ tích. Bài thơ Anh bộ đội và tiếng nhạc la được anh viết nhanh chóng, tại trận, câu thơ cuối cùng chấm hết khi tiếng nhạc la đoàn vận tải còn vọng lại phía cuối nẻo rừng. Bài thơ liền một hơi cảm xúc trong một nhạc điệu chơi vơi, lãng đãng rất kỳ ảo, anh bộ đội xắn quần đi trong mưa với bầy la tải đạn qua những con đường ác liệt của chiến tranh mà thơ mộng như trong cổ tích:

Những cây nấm nâu mầu nâu già

Tự dưng thức dậy bên vòm lá

Những bông hoa chửa có tên hoa.

Bỗng nhiên mở cánh ra nghe ngóng.

Hoàng Nhuận Cầm không dùng những nét dữ dội để vẽ cái dữ dội của cuộc chiến. Hiện thực không được thể hiện trực tiếp, trần trụi như thơ của phần đông các cây bút trẻ bộ đội. Hoàng Nhuận Cầm quen dùng những nét mềm, những đường vờn rất mảnh để tạo hình. Thực tế đời sống hơi lùi xa, nhường chỗ cho cảm xúc rung động. Thơ Hoàng Nhuận Cầm nhờ vậy dễ thân với bạn đọc. Giọng thơ nhỏ nhẹ, tinh tế chính là sức hấp dẫn đầu tiên của thơ Hoàng Nhuận Cầm. Đọc thơ anh, người ta gặp một tâm hồn trước khi nhận ra đầu đuôi sự việc.

Hoàng Nhuận Cầm cũng không thiên về kể việc. Anh chỉ muốn ghi lại những biến động của lòng mình. Bài thơ thoáng, sự việc chỉ đủ để làm điểm tựa khơi gợi tâm hồn. Giá trị hiện thực của thơ Hoàng Nhuận Cầm chưa bằng của Nguyễn Đức Mậu, Phạm Tiến Duật… nhưng anh lại biết lắng nghe những chuyển động, có khi rất nhỏ bé, của lòng mình trước hiện thực lớn lao của đất nước. Một bài thơ nhan đề Nhật ký viết năm 1971, năm bộ đội đầu tiên của anh, có ba đoạn sáng, chiều, tối thế này:

Sáng: Bình minh ấy là bình minh kỷ niệm

Chiều: Hoàng hôn như lạ lại như quen.

Tối: Tắc kè liếm lưỡi vào đêm,

Có ngủ được đâu

Nằm nghe lá thở

Nằm nghe súng nổ,

Đnáh giặc lần đầu, ai chả thế

Thôi sáng rồi vẫn tiếng gà xóm mẹ

Cuốn võng vào theo tiếng súng mà đi.

Bình minh ấy, để xác định không gian, thời gian chỉ là một chữ ấy. Rồi cái vẻ đặc biệt của hoàng hôn cũng được ghi nhận từ cảm giác như lạ lại như quen. Hoàng Nhuận Cầm muốn diễn tả cái hiện thực bên trong, hiện thực của những biến động nội tâm hơn là miêu tả những gì nhìn được bằng mắt, nghe được bằng tai. Ưu điểm của loại thơ này là gọn, súc tích, tránh được kể lể. Khi anh cho thơ bám vào câu chuyện thường không thành công. Bằng chứng là ở bài Anh bộ đội và tiếng nhạc la trong bản in ở Nhà xuất bản Quân đội, còn có một phần dài nữa nói về sự hy sinh của anh chiến sỹ và những việc sau đó, bút pháp kể chuyện ở đây không liền mạch với giọng trữ tình của phần trên. Báo Văn nghệ có lý khi tặng giải chỉ lấy phần trên, bài thơ gọn và hoàn chỉnh hơn nhiều, dù diện mạo có khác đi.

Thơ Hoàng Nhuận Cầm là thơ của tuổi trẻ ý thức đầy đủ trách nhiệm mình trước đất nước, trước nhân dân. Ba tiếng tuổi hai mươi nhiều lần vang động trong thơ kiêu hãnh và da diết:

Con đã sống những ngày cao đẹp nhất.

Tuổi hai mươi chỉ có một lần.

Ngay khi mình hai mươi tuổi – bình minh

Má đã sống bạc đầu đêm Côn Đảo

Em đã sống ba nghìn ngày địa đạo.

Áp má vào, uống nắng lỗ thông hơi.

Tuổi hai mươi chỉ có một lần. Hoàng Nhuận Cầm đã có câu thơ như vậy, đã ý thức như vậy, nhưng không phải ý thức để hưởng thụ, để vội vàng sống gấp: Đất nước đã mấy thế hệ người ra trận, đánh và thắng hai đế quốc lớn, lứa tuổi hai mươi hiểu, hiểu lắm:

Ngay khi mình hai mươi tuổi thời gian

Nếu không nhanh, ta đã chậm mất rồi.

 Khẩu AK quàng trước ngực tuổi hai mươi.

Vẻ đẹp của tuổi hai mươi trong thơ Hoàng Nhuận Cầm tràn đầy một khí vị lãng mạn, nhưng vẫn không giấu đi cái đắng đót của lớp người tha thiết yêu cuộc sống hoà bình xây dựng. Trong tâm hồn có cái quyết liệt rắn khoẻ, một mất một còn trong chiến đấu, nhưng vẫn có cái rưng rưng thơ mộng:

Còn một mắt ư, còn một tay ư. Mình còn trái tim này nhớ suối từ nguồn, thương cây từ gốc, yêu đất nước này từ ngọn gió heo may với lay lay rơm rạ thu về.

Đọc thơ Hoàng Nhuận Cầm, đôi lúc chúng ta xúc động, lặng ướt những chân mi vì những điều ở đằng sau câu thơ, những điều tác giả như muốn giấu đi, chưa muốn nói, nhưng cái hơi thở của thơ anh lại làm ta nhận ra. Một cái tết: Giao thừa đến lưng chừng dây cháy chậm. Một mùa xuân: Lính tráng cởi trần lội sông đón tết. Một vẻ đẹp: Sáng nay tuổi hai mươi/ Hồng lên như viên đạn.

Sự tươi mới của lứa tuổi vừa bước vào đời được so sánh với cái mới mẻ của viên đạn vừa xuất xưởng. Câu thơ hồn nhiên, sự so sánh hồn nhiên mà nghe xót ở trong lòng. Viên đạn sinh ra là để bắn đi, một lần là hết. Câu thơ có cái nghĩa lớn, cái sức nặng của việc đời những ngày tháng ấy. Cao cả và xót thương.

Nếu được chết cho quê hương, con sẽ chết như bạn bè con thế đấy, với câu Kiều trên miệng, súng trên tay.

Đọc những dòng này chúng ta lại nhớ tới một Tố Hữu thời “Từ ấy” vui vẻ chết như cày xong thửa ruộng.

Cảm xúc thơ Hoàng Nhuận Cầm non tơ và tinh nhạy. Trong tâm hồn anh chất liệu đời sống xen lẫn với chất liệu rút ra từ sách vở nhà trường, thực và mơ đan nhau. Sách vở đã chuẩn bị cho rung cảm việc đời khi anh chạm vào thực tế. Các anh bộ đội chống Mỹ, hành quân qua đèo Ngang, ai cũng bâng khuâng một nỗi niềm thương nước. Nỗi niềm bâng khuâng ấy được bắt đầu từ một bài thơ của bà huyện Thanh Quan học ở nhà trường. Hoàng Nhuận Cầm cũng vậy, những gì của thời đi học, cảm xúc về văn học, lịch sử, địa dư… như cùng cộng hưởng với những việc anh gặp ngoài đời, dọc đường ra trận, mà ngân vang không dứt trong tâm tưởng. Nếu không được đọc, được học những gì về Huế từ những ngày đất nước chia cắt thì làm sao đêm 23 tháng 3 năm 1975, khi tiến vào Huế vừa giải phóng, Cầm đã có ngay được cảm xúc rưng rưng ghi nguyệch ngoạc trong sổ tay nhật ký: Con đến hôn Huế bằng chính đôi môi xương thịt của mình. Đêm nay ngủ ở nhà trong thành Huế. Đã đứng dưới cờ Phu Văn Lâu. Đêm không thể ngủ. Ở một trang khác mấy câu thơ chưa thành bài: Đứng trước hồ Tĩnh Tâm lòng không yên được… Sau này Hoàng Nhuận Cầm đã viết một bài thơ dài về Huế Giữa hai hàng lục bát, trong đó chúng ta gặp lại cái rưng rưng ấy của Cầm:

Mắt tôi nhoà giữa chợ Đông Ba

Hôn một cái vội vàng trên đập đá.

Chân vấp ngã mấy lần bên Vĩ Dạ.

Một câu hò ai đã đỡ tôi lên.

Phu Văn Lâu giờ phút ấy oai nghiêm

Hồ Tĩnh Tâm ngàn sen hồi hộp thở,

Mắt rơm rớm bà con Huế ngó,

Ngôi sao vàng trong gió cuốn thiêng liêng.

Khi Hoàng Nhuận Cầm đã là anh bộ đội thì Trần Đăng Khoa còn là chú bé học trường làng. Họ chênh nhau bốn tuổi nhưng trong thơ anh bộ đội Hoàng Nhuận Cầm thì đầy những trò chơi, cùng ý nghĩ của tuổi học trò. Và trong ý nghĩ học sinh của em Trần Đăng Khoa thì bao nhiêu lần hiện ra anh bộ đội. Thành ra anh bộ đội trong thơ Cầm và trong thơ Khoa đều giống nhau ở cái chất học trò, cái vẻ dễ thương của tuổi vừa lớn lên. Anh bộ đội trong thơ Khoa: Chú đi gánh nước, chú ngồi đánh bi. Hòn bi ấy cũng vừa mới lăn hết vòng tuổi nhỏ ở anh bộ đội trong thơ Cầm. Anh bộ đội ấy ra trận, trong ba lô còn có một hai ba giọng hát chú ve kim và khi chốt trên đồi cao điểm sau lúc nguỵ trang công sự, lại ngồi lắng nghe tiếng chim kể chuyện, những con chim quen thuộc của tuổi thơ, của cổ tích và cả những gì thuộc về đất nước đã thấm vào máu thịt tự bé thơ. Tiếng kêu con cuốc chạy về quả tim.

So sánh anh bộ đội trong thơ Hoàng Nhuận Cầm với anh bộ đội trong thơ kháng chiến chống Pháp: Quân đội ta càng trưởng thành thì tâm hồn mỗi người lính lại càng trẻ trung hơn. Vẻ tươi sáng, hồn nhiên, tự tin của những tâm hồn ấy chính là sản phẩm của những năm hoà bình xây dựng ở miền Bắc. Họ yêu ruộng đất xóm làng nhà máy, nhưng cũng biết yêu những tà áo xanh đung đưa trong quả thị, những đầu voi chín ngà và ngựa chín hồng mao. Với họ, câu Kiều cũng cần thiết như vũ khí, như súng trên tay:

Con sẽ chết như bạn bè con thế đấy

Với câu Kiều trên miệng, súng trên tay.

Nhưng súng đạn không bao giờ là ý nghĩ duy nhất của họ dù đang trên đường ra trận. Bên súng đạn là bao nhiêu ý nghĩ tươi xanh về cuộc đời, những dự cảm về tương lai. Hoàng Nhuận Cầm hồn nhiên đặt chung trong một vần hai thái cực của đời sống.

Chung quanh đây nhiều hố bom rách nát

Chung quanh đây nhiều chồi non dịu mát.

Và Hoàng Nhuận Cầm cũng không hồn nhiên chút nào khi gặp lại hai thái cực ấy trong một dạng khác.

Đêm đêm,

Tiếng pháo kích từ thành cổ vọng về đây…

Lửa đốt nương cháy suốt ngày,

Tàn tranh rơi như lông ngỗng trong thần thoại,

Phủ đầy lên mâm pháo lên mũ sắt,

Khói bay,

Phủ đi những lô cốt giặc

Tôi như muốn khóc:

Mẹ ơi!

Mẹ đốt nữa đi,

Rồi lúa khoai sẽ mọc,

Mùa ngô rồi vàng lắm, mẹ ơi…

Ánh lửa đốt nương tần tảo kiên nhẫn của bà mẹ đợi gieo trồng giữa vùng đất đang diễn ra cuộc chiến đấu ác liệt giữa ta và địch, một điều gì đấy thuộc về ý nghĩa lớn lao của cuộc đời làm chói lòng người viết: Tôi như muốn khóc. Đấy là giọt nước mắt của sự trưởng thành, nó là dấu hiệu cho thấy phía sâu xa trong những cảm xúc ngỡ như hồn nhiên của Hoàng Nhuận Cầm. Trong bài Nghe chính uỷ hát sau trận đánh viết năm 1975, Hoàng Nhuận Cầm đã biết lắng nghe, không phải chỉ bằng cả trái tim mình cái tiếng hát cất lên từ một người chính uỷ đã bạc phơ mái tóc:

Cái bàn tay to thô,

Vỗ vào đùi nhẹ hát,

Mùi bộc phá bỏng rát,

Cũng theo vào bài ca,

Đồng bằng kia đâu xa,

Đau đáu ngày hẹn gặp,

Lời ca bay lên mắt,

Rồi lại lặn xuống môi,

Người hát đã qua bao nhiêu từng trải khốc liệt của đạn bom sống chết, ông kín đáo giấu cảm xúc của lòng mình trong tiếng hát, người viết đã phát hiện được cảm xúc ấy và cũng thể hiện một cách kín đáo trong câu thơ của mình. Ý nghĩa nhân tình của bài thơ này rất thấm thía, nó cho thấy tính chất phong phú của thơ ca đánh giặc thời chống Mỹ của chúng ta.

Hoàng Nhuận Cầm xuất hiện cùng lúc với nhiều người làm thơ trẻ trong và ngoài quân đội. Năm anh được giải nhất của báo Văn nghệ trong một cuộc thi thơ (1972-1973) cũng là nhất với ba bạn khác trong đó thì hai cũng là bộ đội như anh (Nguyễn Duy, Nguyễn Đức Mậu). Giữa đông đảo như vậy mà Cầm được bạn đọc nhớ tới, vì anh đã sớm có nét riêng, nét riêng ấy là chất tâm hồn ở thơ Cầm. Đây là một ưu điểm đáng quý vì trong những năm ấy do sức hấp dẫn mãnh liệt của những sự kiện, trước vẻ bi hùng lớn lao của cuộc sống đánh giặc, nhiều cây bút đã để phần việc của đời lấn phần hồn của thơ trong sáng tác của mình. Muốn vươn tới cái vĩ đại cao cả của hiện thực, nhưng lại để thiếu đi cái thầm lặng gốc rễ của cảm xúc, thơ thường bị khô. Hoàng Nhuận Cầm tránh được nhược điểm ấy. Thơ anh luôn có cái rưng rưng non xanh của tuổi mới lớn, háo hức trước tương lai và bâng khuâng trong kỷ niệm. Hoàng Nhuận Cầm lấy cảm xúc làm cứu cánh cho tứ thơ, anh chịu lắng nghe để viết những cái thực sự mình có, thực sự là mình. Viết như tâm sự, chân thành như tự thú:

Thôi xin chào mười năm học phổ thông,

Cánh hoa phượng cuối cùng thương mến nhất,

Một chấm đỏ rung rung trên lòng đất,

Tuổi khăn quàng, phấn tráng, nắng vô tâm

Không phải không có lúc hồn thơ Hoàng Nhuận Cầm bị đắm đuối vào những cảm xúc mơ hồ, khơi gợi những rung cảm ngòn ngọt đã quen mòn, thậm chí có khi là những cảm xúc đã bị chuyền tay qua nhiều người viết.

Và trong khuynh hướng khai thác chất liệu của Hoàng Nhuận Cầm (từ sách vở, từ kỷ niệm, từ những “cái nên thơ”…) dễ dẫn đến sự né tránh những chất liệu mới thật sự của đời, sống sít, phức tạp chưa hợp với khẩu vị quen thuộc của thơ, do vậy, sự khai thác, sức đi tới táo bạo của nhà thơ bị hạn chế. Chính vì thế khi đọc được câu thơ “Lính tráng cởi truồng vượt sông đón tết”1 chúng tôi thấy được sự cố gắng của tác giả trong việc xáp vào hiện thực, mặc dù ý thơ này chưa hẳn là mới (tuy vẫn còn là bạo), ba mươi năm trước anh bộ đánh Pháp đã nói rồi2.

Có lẽ chính Hoàng Nhuận Cầm cũng ý thức cái sở trường, sở đoản trong lối viết của mình, nên sau khi trở lại trường đại học, anh thay đổi bút pháp: câu thơ lạ hơn, tứ thơ phức tạp hơn, cảm xúc có phần rắc rối hơn, đôi lúc thành khó hiểu, thậm chí kỳ quái. Chặng tìm tòi mới đó của Hoàng Nhuận Cầm có thể chưa đến cái đích mà anh muốn, nhiều bài đã bị gạt lại ngay từ ngăn kéo biên tập viên các toà soạn. Những trồi trụt ấy cũng ít ai tránh khỏi. Bạn đọc có thể chưa chấp nhận bài này bài khác, hay hơn nữa có thể phản đối một khuynh hướng tân kỳ nào đó mà anh đang ham thích, nhưng chưa ai dám vội vã kết luận là anh đã dừng lại. Anh vẫn đang còn nhiều thời gian trước mặt, anh thuộc vào loại trẻ trong số các cây bút trẻ bấy giờ. Một bản năng nhạy cảm, một sự hiểu biết đời sống ngày một sâu, cộng với một kiến thức văn hoá và văn học ngày càng vững vàng là những yếu tố để chúng ta chờ đợi những thành công mới của Hoàng Nhuận Cầm.

Chú thích:

1. Câu này khi in báo đã được sửa lại cho “nhã” hơn: Lính tráng cởi trần

2. Qua sông mà chẳng có đò/ Phần lo làm mảng, phần lo cởi quần/ Quản trị xếp súng xếp chăn/ Kiễng chân đẩy mảng hò quân sang bờ/ Anh kia áo vén thập thò/ Áo quần nhất bọ còn lo ai cười.

21/4/2021

Vũ Quần Phương

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Những chuyển động của hiện thực tinh thần trong Dưới trăng và một bậc cửa

Trong sự liên thông, chuyển động giữa hồi tưởng, kí ức, cõi âm với “hiện thực của tinh thần”, Nguyễn Quang Thiều đã gieo trồng những hạt giống uyên nguyên, thanh khiết. Ông nhận ra “cơn mơ của mình đang đi trên con đường đơn độc” nhưng ông vẫn tin vào quyền uy của cái đẹp, tin vào ánh sáng bất diệt của tâm hồn sẽ hoàn nguyên những giá trị sống…

Trong cuốn Văn học Việt Nam thời toàn cầu hóa, Nguyễn Hưng Quốc đã luận bàn về sự viết như sau: “Viết để ngay cả những điều phức tạp nhất cũng có thể được đọc và được hiểu là một cái thú. Viết để đạt đến cái cõi bất khả độc (unreadability) và bất khả quyết (undecidability) lại là một cái thú khác, cái thú thám hiểm vào những vùng biên ải xa xôi không những hiếm người mà còn hiếm cả ánh sáng nữa; ở đó, người ta có thể đùa nghịch với bóng tối và sự vắng vẻ đầy thanh khiết”[1]. Đọc thơ Nguyễn Quang Thiều, có thể nói, sự viết của ông đã “đạt đến cái cõi bất khả độc (unreadability) và bất khả quyết (undecidability)”. Ông “đùa nghịch” với vùng-đất-tâm-hồn của mình và “đùa nghịch” với hiện thực cuộc sống bằng những giây phút thăng hoa khoái cảm. “Dưới trăng và một bậc cửa”[2] là một minh chứng rõ nét về sự giãn mở tột đỉnh của trí tưởng tượng trong hành trình kiến tạo cái mới và cái hay cho thi ca. Nếu soi xét, giải mã và liên kết “Dưới trăng và một bậc cửa” trong sự đa chiều của không thời gian, tìm phương cách vén các lớp sương bện chặt trong cõi vô thức, người đọc sẽ dễ dàng nhận ra mọi chiều cạnh của sự sống và cái chết, cõi dương và cõi âm, quá khứ và hiện tại, còn và mất, hạnh phúc và khổ đau,… đều không ngừng chuyển dịch, tương tác. Là câu chuyện đi về giữa “hiện thực của thể xác” và “hiện thực của tinh thần”, nhưng “hiện thực của tinh thần” mới chính là linh hồn của thi tập“Dưới trăng và một bậc cửa”.

Ngoài lời tựa “Trong căn phòng của một người bại liệt”, trong “Dưới trăng và một bậc cửa” có 10 bài, bao gồm thơ dài và trường ca. 10 bài viết đều đã từng in và nằm rải rác trong các thi tập của Nguyễn Quang Thiều. Tìm sợi dây kết nối 10 bài viết này lại với nhau, một mặt người đọc thấy được tính xuyên suốt trong hành trình sáng tạo thi ca, mặt khác, thấy được quan niệm, tư duy, thi pháp thơ hết sức riêng biệt, cá tính của ông. Đặc biệt, “hiện thực của tinh thần” luôn chuyển động, biến dịch trong “Dưới trăng và một bậc cửa” khiến thi ảnh đẫm sắc màu huyễn ảo, giàu tính ẩn dụ, nhịp thơ đứt gãy, trật khớp liên tục. Do đó, “Dưới trăng và một bậc cửa” vẫn mới khi tiếp nhận, vẫn khiêu khích người đọc thám mã và đối thoại.

1. Gọi tôi qua những mảnh vỡ tim mình

Ở lời tựa “Trong căn phòng của một người bại liệt”, Nguyễn Quang Thiều đã mách nước, bà nội của ông không kiếm tìm bản ngã qua tấm gương, không kiếm tìm một chủ thể liên đối, mà bà dùng giọng nói của mình để xác thực bản ngã: “Nỗi sợ hãi không xác định được sự tồn tại của mình bằng những cảm nhận của thân xác khiến bà tôi phải dùng giọng nói đã trở thành tấm gương để bà tôi soi ký ức và ý thức sống của bà. Bà tôi nhận thấy sự hiển thị của mình trong giọng nói. Sự tồn tại này bây giờ lại đồng nghĩa với chân dung của bà tôi. Sự tồn tại ấy – chân dung ấy đã hiện lên bằng tiếng nói của bà tôi. Và chân dung của bà tôi được xây dựng lên bằng tiếng nói của người, đã tồn tại trong tôi mọi chiều của không gian, thời gian và ở mọi tầng suy ngẫm của tôi”. Cái tôi trong gương bao giờ cũng có một khoảng cách nhất định với cái tôi ngoài gương. Cái tôi bên trong chỉ là sự chụp lại, sao chép cái tôi bên ngoài. Nên, mọi sự kết nối với cái tôi bên trong của bà đều bị cắt đứt, phá vỡ. Giọng nói, vốn dĩ, đó là âm thanh phát ra từ một cái tôi hiện hữu. Trong trường hợp của bà, khi giọng nói cất lời, nó chứng thực ngoài sự tồn tại của một chủ thể còn có một chủ thể khác, trong tôi còn có một tôi khác, nằm ngoài tôi. Nghĩa là bà nội của thi sĩ không muốn vong thân hay phân rã bản thân bằng kĩ thuật/hiệu ứng tấm gương mà bà dùng giọng nói – “hiện thực của thể xác”, tạo ly cách, gián cách với “hiện thực của tinh thần”, để có thể nhìn rõ hơn sự tồn tại của nhiều cái tôi. Nguyễn Quang Thiều còn nhấn mạnh: “Hiện thực của thể xác là một hiện thực bất động của đời sống. Nó giống như một cái chết được băng hóa. Còn hiện thực của tinh thần thì luôn chuyển động và sinh nở, và biến ảo. Và nó luôn tìm cách trở lại điểm đầu tiên của nó” (Trong căn phòng của một người bại liệt). Giữa “cái tôi bề mặt” (hiện thực của thể xác) và “cái tôi bề sâu” (hiện thực của tinh thần), “cái tôi bề sâu” thường đóng vai trò quan trọng. “Cái tôi bề sâu” thấy rõ những đớn đau của “cái tôi bề mặt” (cơ thể bại liệt), từ đó, bộc lộ sự nhận thức về bản thân. Giọng nói vang lên miên man, lộn xộn của bà nội không chỉ biểu hiện sự dày vò, đau đớn của thể xác mà còn biểu hiện nỗi buồn thân phận, cô đơn bất tận. Lúc này, giọng nói của bà nội đã trở thành tiếng nói của thân phận, là sự phản chiếu “hiện thực của tinh thần” tươi ròng và bất tử. Từ lời tựa này, Nguyễn Quang Thiều dựng nên một bức tranh sống động về “hiện thực của tinh thần” trong “Dưới trăng và một bậc cửa”. Khoảng cách giữa “hiện thực của thể xác” và “hiện thực của tinh thần” trong cuộc đời bà nội –“một nông dân không biết chữ” đã thặng dư trí tưởng tượng, cất cánh cho thơ Nguyễn Quang Thiều. Đối với ông, bà “là nhà văn đầu tiên và vĩ đại”

Ngay bài cuối cùng của tập sách – bài“Cây ánh sáng”, nhà thơ lý giải sâu sắc hơn mối quan hệ giữa “hiện thực của thể xác” và “hiện thực của tinh thần” qua cuộc chạm trán: “Một kẻ là chàng ánh sáng và một kẻ là chàng bóng tối/ Một kẻ ngập tràn ánh sáng và miệng chứa đầy ngôn ngữ minh tuệ/ Một kẻ ngồi trên chiếc ghế hành hình ngập bóng tối tự trừng phạt mình, chỉ trái tim không ngơi nghỉ dội vang/ Cả hai đối mặt nhau không phải một người ngoài gương và một người trong gương/ Một ánh sáng là chiếc gương của bóng tối và một bóng tối là chiếc gương của ánh sáng/ Tất cả chỉ là một nhưng trong ánh sáng của Người, một đau đớn thân xác, một đau đớn tâm hồn” (Cây ánh sáng). “Hiện thực của thể xác” như “cái chết được băng hóa”, nên, nó thuộc về cõi âm, bóng tối. Ngược lại, “hiện thực của tinh thần” luôn “sinh nở”, nên, nó hướng về cội nguồn/cuống nhau của ánh sáng. Như vậy, “hiện thực của tinh thần” trong “Dưới trăng và một bậc cửa” được nhà thơ sắp đặt theo kết cấu vòng tròn, đã có sự khúc xạ, liên đới từ cuộc đời của bà nội sang cuộc đời của nhà thơ. Theo kết cấu vòng tròn, nhà thơ chiêm nghiệm hiện thực ấy bằng hành trình “gọi tôi qua những mảnh vỡ tim mình”. Nguyễn Quang Thiều tự chiết, tự tạo những chấn thương tâm hồn để làm giàu “hiện thực của tinh thần”. Những chuỗi độc thoại, phơi bày cái tôi của Nguyễn Quang Thiều, chính là sự làm đầy/dày “hiện thực của tinh thần”.

“Hiện thực của tinh thần” hiện lên đa dạng, nhìn từ nhiều góc độ, không theo một lớp lang nào. Có khi được tái hiện qua những khúc cảm, qua dòng hồi tưởng, qua kí ức thuở thơ, qua giấc mơ, nhưng có khi lại bước hẳn vào cõi âm. Quán chiếu “hiện thực của tinh thần” trong nhiều thái cực, Nguyễn Quang Thiều cho người đọc thấy thế giới phức tạp, đầy bí ẩn của nội tâm. Hành trình đi tìm bản thể bao giờ cũng khắc nghiệt và cô độc. Dùng sợi dây “hiện thực của tinh thần” đi qua cái chết, đi qua cõi âm, ông lý giải về sự thanh cao, tinh khiết của nỗi đau. Ông không đoạn tuyệt với nỗi đau mà dùng nỗi đau làm bàn đạp, học cách ngước lên, để hiểu mình và tái sinh.

2. Trong tiếng đập không ngưng nghỉ

Đánh giá về thơ Nguyễn Quang Thiều, đã có nhiều ý kiến nhận định, thơ ông vừa mang bản sắc dân tộc, truyền thống, vừa hiện đại, đổi mới. Dấu ấn bản sắc dân tộc thể hiện qua các cổ mẫu về cố hương, ông bà, cha mẹ, người đàn bà quê, dòng sông, cánh đồng, đất đai, cỏ cây,… Trong đó, làng Chùa được xem là mẫu gốc, nơi sinh tạo nhiều cổ mẫu con như: cánh đồng, dòng sông, khu vườn, đất, quả đồi, người đàn bà quê,… Tình yêu nguồn cội trong thơ Nguyễn Quang Thiều khởi từ nhịp điệu châu thổ của làng Chùa, bên bờ sông Đáy. Ông sắp đặt mọi thứ châu tuần xung quanh làng Chùa. Buồn và vui, khổ đau và hạnh phúc đều đi ra từ làng Chùa. Làng Chùa trở thành cái lõi, trục chính, chi phối đến các mảnh ghép khác. Mẫu gốc làng Chùa còn được ông gắn kết với cổ mẫu Mẹ, hiện thực hóa thông qua hình ảnh bà nội, mẹ, người đàn bà quê, vợ, em. Cổ mẫu làng Chùa và cổ mẫu Mẹ vì thế đều là “trung tâm của sự tái sinh”. Đó là nơi nguyên lý sinh – dưỡng tồn tại vĩnh cửu và thiêng liêng. Đó là trụ cầu nối dài và ca vang sự sống:

Những người đàn bà già của làng đồng phục màu nâu

Những trụ cầu mảnh mai, suốt đời bền vững

Họ dựng lên cây cầu

Và con đường vươn ra lộng lẫy

Cây cầu bắc mãi vào xa xôi, bắc mãi vào gần gũi

Cây cầu lan xa tiếng cười

Ánh sáng lướt qua những trụ cầu nâu

Và Người Nông Dân Già đi – vệt sao băng chói trắng

Những người đàn bà già ngước lên và hát

Lời hát sum vầy như đất vun, như thóc vun và như lá xum xuê

Họ hát từ chân lư đồng, ra bậc cửa, ra ngõ, ra con đường và ra vĩnh viễn

(Nhịp điệu châu thổ mới)

Dấu ấn hiện đại trong thơ Nguyễn Quang Thiều thể hiện qua tư duy, kĩ thuật xây dựng thi ảnh giàu sức gợi, ám ảnh. Thơ Nguyễn Quang Thiều không đi theo hướng tung hứng chữ, chơi chữ nhưng vì thường đẩy nội tâm đến cực hạn của dòng chảy vô thức, của cõi mê, cho nên, rất nhiều thi ảnh được lạ hóa, đẫm sắc huyền ảo. Tính triết lý và chất chiêm nghiệm đậm đặc khiến kết cấu thơ thêm phần đa tầng đa nghĩa. Ông không đặt người đọc cố định ở một góc nhìn, một vị trí hay tạo ra một bệ phóng vững chãi mà buộc người đọc phải tự móc nối các liên tưởng bất thường, phi tuyến tính lại với nhau để giải mã. Hai đặc điểm dân tộc và hiện đại cũng được ông bộc lộ trọn vẹn trong “Dưới trăng và một bậc cửa”. Nhưng sức mạnh và tính độc đáo của “Dưới trăng và một bậc cửa”, so với các tập khác, nằm ở sự xếp đặt “hiện thực của tinh thần” khéo léo và tinh tế. Những nét cọ được vung tự do trên tấm-toan-tâm-hồn giúp ông “đùa nghịch với bóng tối và sự vắng vẻ đầy thanh khiết” theo cách riêng mình. Mọi thứ, từ sự sống đến cái chết, từ kí ức đến giấc mơ, từ hiện thực đến tiềm thức, vô thức,… đều chảy trôi, di dời, quẫy cựa theo những lớp sóng mơ/suy tưởng của tâm hồn.

Hồi tưởng, kí ức, cõi mơ và cõi âm thuộc về “hiện thực của tinh thần”. Trong “Dưới trăng và một bậc cửa”, Nguyễn Quang Thiều dùng hồi tưởng, kí ức, cõi âm và cõi mơ làm sợi dây kết nối giữa cái đã qua với cái đang hiện hữu, mượn cái đã qua xét cái đang hiện hữu. Bản tính tốt hay xấu, cuộc đời hạnh phúc hay khổ đau đều hiển hiện trong một khoảnh khắc hay giai đoạn nào đó của con người. Cho nên, việc con người chấp nhận băng qua cửa ải của nỗi thống khổ, chết chóc, thù hận,… rồi đúc rút kinh nghiệm từ “hiện thực của tinh thần” ấy, cũng là một cách giúp con người thấu suốt bản thể, thanh tẩy và phục sinh tâm hồn.

Trước hết, hồi tưởng, kí ức của Nguyễn Quang Thiều là một bức tranh sống động, đa dạng về hình ảnh, màu sắc và âm thanh. Các mảng khối này luôn gắn kết với “hiện thực của tinh thần”, nên chúng thường ảo biến, dời chuyển. Hồi tưởng, ký ức trong “Dưới trăng và một bậc cửa” có khi là nỗi nhớ, hoài niệm về dòng sông Đáy, cánh đồng của bà nội, về một làng quê nghèo khổ, về những người đàn bà tần tảo, những đứa trẻ thơ ngây,… Cố hương của Nguyễn Quang Thiều không xơ cứng mà luôn nổi sóng khắc khoải, ưu tư, vật vã như phận số của con người: “Cố hương xoã tóc đen đi trong gió trắng/ Cố hương vật lên như sóng/ Cố hương vùi mình như muối triệu năm” (Chuyển dịch màu đen). Trong cái nhìn của nhà thơ, thiên nhiên cũng hiện diện hết sức lạ lẫm, dị kì: “Chuông rền rĩ/ Trong những chóp nhà thờ/ Bầy ốc vặn phủ rêu/ Lửa cháy rực từng quầng trên cỏ/ Lũ chuồn chuồn hừng hực bay đi/ Những vòm cây tự xé rách lưỡi mình/ Trong cơn ngứa ăn nhầm ánh sáng/ Những dòng sông tự cào tướp họng/ Cơn buồn nôn những bến giả không thuyền/ Những hồ nước thủ dâm đục sóng/ Trước loài sen đổi giới tính thay mùa/ Những trái cây tự rơi vào thuốc độc/ Cự tuyệt hàm răng nham nhở lý do/ Và những đền chùa gục ngã/ Trước những pho kinh phản bội bồ đề” (Đoản ca về buổi tối). Những hồi tưởng, kí ức của nhà thơ không chỉ nhắc nhớ về cái đã qua, còn có những hồi tưởng, kí ức tưởng tượng mà lúc đó nhà thơ chưa ra đời:

Ta gặp mẹ ta năm người mười bảy

Những răng lược gỗ mòn cắn ngập mái tóc người

Ta gặp cha ta năm người hai mươi tuổi

Dưới những nhát búa cùn

Từng khúc xoan tươi toác ra tiếng cười của lửa

(Mười một khúc cảm)

Những phá cách về mặt cảm hứng, khiến mọi thứ đều mang tính siêu hình, và cùng với sự tự rời xa, thậm chí xoá sạch dấu vết bản thể của mình như trên, khiến không thời gian hồi tưởng, kí ức của Nguyễn Quang Thiều càng bất định hơn, khó liên kết hơn. Vậy, trong bể hồi tưởng, kí ức mênh mông ấy, nhà thơ tìm thấy cái tôi đa thể bằng con đường nào? Liên kết hành động quả quyết: “Ta đi về cửa ngõ của chiều/ Ta đi về thuở ta chưa cắt rốn/ Ta đi về thuở ta còn sóng sánh” (Mười một khúc cảm) với khát khao “gặp”, “đợi”, “tìm”, “bay”, “ngước lên”,… chúng ta sẽ thấy rõ hành trình đi tìm ánh sáng cuộc sống của nhà thơ: tìm ánh sáng cuộc sống trong bóng tối, trong những khổ đau, trong cái chết. Bởi, đi đến tận cùng của sự mất mát, đớn đau cũng là lúc con người nhận ra giá trị của bản thân và cuộc sống xung quanh. Niềm đau, nỗi buồn, bao giờ cũng ở lại bền lâu. Và cũng chỉ trong niềm đau, nỗi buồn, người sáng tạo mới khai thác, khơi lộ được bản ngã riêng khác của mình. Là con người, theo Nguyễn Quang Thiều, anh ta “phải sống, phải đau đớn suốt đời, phải bước đi không giày trên gai sắc, trên đinh nhọn, trên rắn rết, đi qua lửa và nước” (Cây ánh sáng), chấp nhận hiện thực bất toàn, bất tín để truy đến cùng giá trị của nỗi đau, giá trị của cái chết. Hay nói cách khác, ngụp lặn trong sự đày đọa về thân thể và sự giằng xé, dằn vặt của tâm hồn, con người mới đi đến tận cùng nỗi tuyệt vọng, mới thấy “tuyệt vọng cũng đẹp như một bông hoa” (Trịnh Công Sơn). Miền đau vì thế mới thực sự là miền riêng tư của khoái cảm. Vậy, hồi tưởng, kí ức xuất phát từ cái tôi đa thể của nhà thơ nên hồi tưởng, kí ức cũng biến ảo. Ông không chạy trốn thực tại trong những hồi tưởng, ký ức, cũng không phải mượn chúng giải phóng những âu lo, bế tắc, mà dựng lại một cõi thế rậm rịt tội lỗi, u u mê mê, vô cảm, để con người ý thức hơn về sự bất trắc, lừa dối, thù hằn, mất mát, đớn đau đang ngày ngày phủ lên đời sống. Cái tôi đa thể khi được xuyên qua lớp sóng mênh mang của hồi tưởng, kí ức càng được bồi đắp năng lượng ý thức. “Hiện thực của tinh thần” trong hồi tưởng, kí ức của Nguyễn Quang Thiều chính là những chuyển động đi từ vẻ đẹp nguồn cội đến vẻ đẹp của tâm hồn. Nếu sống sâu hơn với những mảnh ghép đa dạng của hồi tưởng, kí ức, biết cúi xuống với giá trị vĩnh cửu của cội nguồn thì tâm hồn chúng ta sẽ trở nên tinh khiết hơn.

Freud cho rằng, giấc mơ lấp đầy những khát khao, mong muốn, chưa được thỏa mãn của con người. Giấc mơ là một phần cuộc sống không thể thiếu. Nên, nhiều người cho rằng, “giấc mơ đẹp hơn hiện thực”, vì ở đó, họ được thỏa thuê giải phóng năng lượng vô thức vốn bị ý thức kìm nén, kềm kẹp. Giấc mơ trong thơ của Nguyễn Quang Thiều trái ngược với quan niệm trên, không đẹp hơn hiện thực. Hiện thực cuộc sống trong thơ ông vốn đã u mê: “Những bóng đèn trong đêm/ Nổ bục con ngươi/ Những mặt hình tivi/ Ào ào mất máu/ Những chiếc caravat/ Phát bệnh điên/ Dứt tóc dọc hành lang/ Những đôi giày da đen mỹ mãn/ Há hốc mồm hôi hám quầng thâm/ Những con mọt mang hai hàm răng giả/ Cắn nát từng miền sách thánh mốc da/ Những phòng máy lạnh/ Làm cứng đông từng khúc lưỡi mềm// Không kịp quẫy lên cái đuôi vĩnh biệt/ Những ô kính tự tát vỡ mặt mình/ Những tòa nhà cao tầng tự chặt xương sống mình/ Dây vĩ cầm cuối cùng trăng đêm vụt đứt/ Bức phông đen tụt xuống lõa lồ/ Ôi vở kịch cuộc đời…/ Màn cuối/ Tiếng hề cười/ Băm chả những u mê” (Con bống đen đẻ trứng), nhưng khi được quán chiếu qua giấc mơ, hiện thực ấy càng dày dặn về sự u mê hơn. Trong cõi mơ, hình ảnh những người chết vẫn sống và sinh hoạt bình thường như người sống:

Họ sinh ra trên xứ sở này như sứ mệnh và như sự đày đọa. Họ mang theo suốt đời cây thánh giá của ngôn từ. Họ lang thang trên mọi con đường. Vừa đi họ vừa than khóc, vừa ca hát. Tâm hồn họ vừa nặng như tảng đá vừa nhẹ tựa làn hương. Họ đi trên đường như một vị thánh và như kẻ loạn luân. Những lời tụng ca trải đầy đường đi dưới gót chân họ. Và đất đá cùng những lời nguyền rủa kết tội đổ lên đầu họ. Nhưng họ không để ý đến điều gì, chỉ vừa đi vừa than khóc, vừa ca hát và khuất dần vào cái chết. Đã bao nhiêu năm rồi họ nói nhưng quá ít người nghe tiếng họ. Họ nói như phán xét, như tha thứ, như một bổn phận. Họ nói và chẳng hề xem xét có ai nghe họ. Họ nói như làm lễ cầu siêu cho những ngôn từ cô hồn của chúng ta. Họ nói và nước dâng lên ngập dần thị xã

(Nhân chứng của một cái chết)

Theo quan niệm của Phật giáo, “chết không phải là hết”. Con người chết chỗ này thì sanh chỗ khác. Chấm dứt sự sống này không phải là hết mà để bắt đầu một cuộc sống khác. Khi sống làm nhiều việc thiện, thiền nghiệp, thì chết trở thành thiên thần, được lên thiên đường, ngược lại, sống làm điều ác, ác nghiệp, thì chết thành ma, bị đọa đày ở địa ngục. Nếu chết là hết thì con người sẽ tạo ra bao nhiêu ác nghiệp. Vì vậy, niềm tin về nhân quả kiếp sau của Phật giáo sẽ giúp con người sống tốt hơn ở kiếp này. Nguyễn Quang Thiều dựng cõi âm ngay trong cõi dương để con người nhìn thấy cái duyên sinh, cái lẽ vô thường ấy và nhìn thấy rõ cái tôi khác của mình mà có những hành động, lời nói chuẩn mực, cư xử nhân văn, hợp với đạo lý. Cái chết trong thơ Nguyễn Quang Thiều được xem là thước đo chứng nghiệm giá trị của sự sống. “Thân xác”, “giọng nói” của những người chết sẽ giúp người sống tiệm cận, chứng kiến nỗi khổ đau, tội lỗi và sự lú lẫn mà mình đã tạo ra. Như thế, hình ảnh “Những người chết trở về mượn thân xác chúng ta, mượn giọng nói chúng ta” thực chất đó chính là sự lên tiếng của một cái tôi khác. Cái tôi khác như đang ly cách với chính bản thể của mình. Thông qua ly cách, cái tôi khác giải mã những tổn thương, bất ổn mà nhiều khi bản thể không nhận diện được: “Những người chết trở về mượn nhà cửa, đồ đạc và phương tiện của người sống/ Mượn công việc của người sống, mượn lý do của người sống/ Và đôi khi mượn cả giấy khai sinh của chúng ta/ Bởi thế máu vẫn chảy, lời thù hận vẫn vang lên/ Cùng với lời thú tội và lời xin lỗi/ Sự phản bội vẫn diễn ra trong khuya khoắt/ Cùng tình yêu đau đớn, thủy chung” (Đoản ca về buổi tối). Cõi âm trong thơ Nguyễn Quang Thiều vẫn tiếp diễn quá trình khổ sầu, oán thù trong lòng thành phố đêm đêm. Nhưng, “hiện thực của tinh thần” trong cõi âm mà ông phản chiếu không khiến con người thêm bi luỵ, ngược lại, giúp con người biết vun đắp nhiều nghiệp lành, nghiệp thiện để tái sinh được tốt đẹp hơn.

“Dưới trăng và một bậc cửa” của Nguyễn Quang Thiều thường nói đến quyền lực bóng tối. Bóng tối như là tấm gương phản chiếu những “buồn tẻ”, “bi thương” của đời sống và kể cả những “trống rỗng và dối trá” của cái tôi bản thể. Bóng tối dù là không gian của nỗi khổ đau, của sự chết chóc, nhưng cuộc sống của chúng ta không thể thiếu nó. Bóng tối không hẳn là thế lực đại diện cho sự bất lực, bi thương. Bóng tối cũng có vẻ đẹp diệu kì của nó. Đó là tấm gương soi, mà thông qua đó, con người tìm thấy chính mình và trở thành chính mình:

Hỡi Chúa Trời, xin cho con được quỳ dưới chân Người, xin cho con được cất lời cầu nguyện.

Ngày nào cũng có đêm tối, đấy là nhà tù của con, toà án của con. Đấy là ác mộng của con, vô vọng của con, là trống rỗng của con.

Nhưng đấy là chiếc gương trung thực nhất của con. Đấy là nơi con nhìn thấy con đường của cơn mơ…

(Cây ánh sáng)

Bóng tối đối diện ánh sáng như tôi đối diện với một tôi khác trong tôi. Trong sự phản tư ấy, con người ý thức về lẽ sống, hoàn thiện và đến gần hơn với chính bản thân mình. Đẩy con người vào cái ngột ngạt, đày đọa của giấc mộng trầm buồn “chứa đầy những tiếng thét, những chuyện đau buồn và bất trắc”, Nguyễn Quang Thiều để con người biết nhận ra những lỗi lầm của mình, hướng đến sự thanh lọc và cứu rỗi. Bởi, ai sinh ra rồi cũng sẽ đến lúc đón nhận cái chết, nhưng thái độ chết như thế nào mới là điều quan trọng. Sống nghĩa là tiến dần đến cái chết: “… bước tới của mỗi ngày là đang bước lùi của sinh mệnh” (Thích Tâm Nguyên). Nhưng một cái chết biết “ngước lên cao với những câu thơ như bản thánh ca” là cái chết có ý nghĩa, làm chủ được chính mình. Chỉ có ánh sáng thiện lương, đẹp đẽ của tâm hồn mới ngăn chặn được sự cao ngạo của bóng tối. Chúng ta sống thanh tao, nhẹ nhàng thì chúng ta sẽ đón nhận một cái chết như thế!

Hiện thực cuộc sống là khởi nguồn, là chất liệu của thi ca. Hay nói cách khác, thi ca bao giờ cũng phản ánh hiện thực cuộc sống. Nhưng hiện thực khi băng qua trái tim của thi sĩ, hiện thực ấy đã bị hệ luỵ, quy chiếu, ảnh hưởng bởi những rung chấn phức tạp, bí ẩn của thế giới nội cảm của anh ta. Lúc này, thi sĩ không chỉ là người làm sống động, mở rộng hiện thực ấy mà còn phủ lên hiện thực ấy những mảng khối, sắc màu đa dạng. Để nắm bắt được khối chuyển động vĩ đại và hằng cửu của hiện thực tinh thần trong thơ Nguyễn Quang Thiều, người đọc cần tạo sự đồng cảm, cần thẩm thấu nó bằng linh cảm của trực giác, bằng kinh nghiệm ảo diệu của tâm hồn. “Trong tiếng đập không ngưng nghỉ” của “hiện thực của tinh thần”, những hồi tưởng, kí ức, cõi âm càng quẫy cựa, biến hóa thì sự phản ánh hiện thực cuộc sống cũng như tính triết lý, tính nhân sinh của “Dưới trăng và một bậc cửa” càng sâu sắc hơn.

3. Ngước nhìn lên và nhận thấy con đường

Trong tập thơ, Nguyễn Quang Thiều nhắc đi nhắc lại rất nhiều lần hành động “ngước nhìn lên”. Với ông, đó là món quà vô giá mà Người đã ban cho loài người, góp phần “cứu vớt những đời sống hận thù, bạc nhược, vô sinh”: “…Người đã ban cho con món quà biết ngước lên cao, biết nhóm lên ngọn lửa của sự sống đắm say và cất lên ngôn ngữ Thánh ca./ Và ban mai lại đến và con lại được sinh ra như đứa trẻ cả da thịt và tâm hồn tinh khiết” (Cây ánh sáng). Vì vậy, ngước nhìn lên như là một triết lý sống của Nguyễn Quang Thiều. Ngước nhìn lên để không ngừng học hỏi cuộc sống xung quanh, để bừng tỉnh, để ngẫm, để nhận ra giá trị của cái đẹp, giá trị của sự cứu rỗi, từ đó nhận biết được vị trí mình đang đứng mà hoàn thiện bản thân hơn. Ngước nhìn lên, gìn giữ, nhân thêm tình yêu bản sắc nguồn cội. Nhịp điệu châu thổ trong thơ ông cứ ngân lên theo trái tim của Người Nông Dân Già – biểu tượng vẻ đẹp vĩnh hằng, giàu sự sống của nguồn cội; là “ban mai” tâm hồn để thi sĩ chiến thắng những cằn cỗi, xơ cứng mà cuộc sống không ngừng gieo rắc; và đó cũng là mạch nguồn tái sinh tiếng thơ của thi sĩ: “Và lúc này, lá phổi trong ngực người/ Được giặt giũ phơi phóng và gấp lại/ Cất trong rương thơm kí ức lên mười/ Và lúc này, người mặc lá phổi mới tay dài/ Thường bay qua cánh đồng mỗi ngày cuối chiều/ Và dừng lại trên đầu/ Khâu lặng lẽ những hơi thở rách/ Và lúc này/ Ngôi nhà mang đời sống mới/ Bữa tiệc tự do đang giục giã nhóm lò/ Mang đời sống mới chiếc giường, bàn ghế, và cốc, chén/ Trên dây phơi một đời sống mới, trên sân, lối ra vườn và rau cải đắng/ Đời sống mới khua vang bát đĩa, trầm trầm củi khô, và háo hức ấm đun nước/ Đời sống mới rạng ngời gạo, rực rỡ ớt và lấp lánh lưỡi mới của dao/ Đời sống mới những gương mặt, những bước chân, những thì thào qua dậu/ Những ngọn đèn sáng mới một đời sống và khói mới những nén hương” (Nhịp điệu châu thổ mới). Ngước nhìn lên, thấy được vẻ đẹp bình dị chốn quê ẩn náu trong sự lam lũ của những người đàn bà và ngược lại. Ngước nhìn lên, lắng nghe thanh âm hồn nhiên và trong trẻo diệu kì ẩn náu trong tâm hồn những đứa trẻ mà nhiều khi sự xô bồ của cuộc sống khiến chúng ta không nhận thấy. Ngước nhìn lên, nhận biết “Con đường và số phận dân tộc chúng ta từ một đỉnh đồi”. Trên đỉnh đồi ấy, không có sự toan tính, hiềm thù: “Những quả đồi…/ Mọc trên mọi ý đồ, trên thù hận ngớ ngẩn, trên lòng vị tha sống sượng/ Mọc trên mọi tội nghiệp, mọi ngạo mạn, trên cả sự phát khóc” (Nhịp điệu châu thổ mới). Ngước nhìn lên, hoà mình vào thiên nhiên, hiểu được tiếng nói của thiên nhiên, đón nhận sự nhập cuộc tuyệt vời nhất:

Chàng quỳ xuống và ngước lên Cây Ánh Sáng vĩ đại nhất đang toả mãi tán lá ban mai khổng lồ

Miệng chàng mở những cánh đồng hoa rực rỡ và giọng nói chàng vang lên

Hoà cùng giọng nói của côn trùng, của sói, của đại bàng, của lạc đà… trong cùng ngôn ngữ.

Và lúc này dù chàng là côn trùng, là con sói cô đơn, là đại bàng, là lạc đà, là quỉ dữ…

Thì tất cả đều đến được miền đất ngập tràn ánh sáng, tất cả được hoà làm một

Trong một ánh sáng ấy, một âm nhạc ấy, một ngôn ngữ ấy, trong một bầu trời ấy

Và Người đã biến chàng trở thành một chiếc lá nhỏ không bao giờ tàn úa trên cành của tán lá ban mai kỳ vĩ trong vũ trụ ngập tràn

 (Cây Ánh Sáng)

Như vậy, vẻ đẹp cội nguồn trong “Dưới trăng và một bậc cửa” luôn quấn quyện với những hồi tưởng, kí ức, luôn “dâng lên như mùa xuân thứ nhất”, luôn thẳm sâu một tình yêu trong sáng, ban sơ và thánh thiện của Nguyễn Quang Thiều.

Thi sĩ hơn người thường ở khả năng truyền đạt tư tưởng và trí tuệ của mình vào trong thơ. Nguyễn Quang Thiều khác các thi sĩ khác ở cái nhìn ngước lên và sự thể hiện ngôn ngữ Thánh ca, ngôn ngữ của tình yêu nguồn cội. Ông sắp đặt những hình ảnh đại diện cho cõi âm, bóng tối, sự lú lẫn và thù hận bên cạnh hình ảnh những người đàn bà, đứa trẻ, ban mai, ngọn đồi,.. để làm nổi rõ sức sống bất tử của vẻ đẹp bản nguyên và nhân bản. Ông ngợi ca vẻ đẹp của cuộc sống, của làng quê, của tình yêu không bằng sự mượt mà, êm ái, mà chọn góc nhìn tương phản, đối lập: lấy bóng tối làm nền cho ánh sáng toả diệu kì, lấy cõi âm làm tấm gương cho sự cứu rỗi và thanh lọc, lấy hồi tưởng, kí ức làm bản lề níu giữ vẻ đẹp tâm hồn. Cái nhìn ngước lên của ông do đó là cái nhìn bừng thức. Sự vời cao của trái tim sẽ nâng con người vượt qua những bủa vây, truy đuổi của mê muội, tăm tối. Tiếng nói “hiện thực của tinh thần” không chỉ chuyển động, phủ sóng trong “Dưới trăng và một bậc cửa”, mà hơn thế, với cái nhìn ngước lên, nó đã tác động mạnh mẽ đến tâm cảm người đọc, phục sinh nguồn sáng huyền diệu của cuộc sống.

Trong sự liên thông, chuyển động giữa hồi tưởng, kí ức, cõi âm với “hiện thực của tinh thần”, Nguyễn Quang Thiều đã gieo trồng những hạt giống uyên nguyên, thanh khiết. Ông nhận ra “cơn mơ của mình đang đi trên con đường đơn độc” nhưng ông vẫn tin vào quyền uy của cái đẹp, tin vào ánh sáng bất diệt của tâm hồn sẽ hoàn nguyên những giá trị sống. Những khoảnh khắc biến tấu, phân rã, ly cách bản thể trong sự suy/mơ tưởng của hiện thực tinh thần hay trong sự quy chiếu với cuộc đời của bà nội như mặc khải một thi pháp riêng biệt của Nguyễn Quang Thiều: “Và kỳ diệu hơn, là trong thế giới trong suốt, hay trong cõi hư vô làm ta có thể chết vì khiếp sợ lại hiện lên một phong cảnh đầy đủ nhất. Phong cảnh ấy, đối với tôi, nó là một cõi. Cái cõi ta vừa làm đầy nó vừa không chiếm lấy dù chỉ là một điểm nhỏ nhất, mà chỉ có trí tưởng tượng kỳ diệu mới có thể lờ mờ nhận ra” (Trong căn phòng của một người bại liệt).

Chú thích:

[1] Nguyễn Hưng Quốc, Văn học Việt Nam thời toàn cầu hóa, Nxb Văn Mới, California, 2010, tr.242.

[2] Nguyễn Quang Thiều, Dưới trăng và một bậc cửa, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2020.

23/4/2021

Hoàng Thụy Anh

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Gạn đục khơi trong văn học miền Nam trước 1975

Nếu tác phẩm có giá trị thì sức sống của nó vẫn còn lan tỏa, bằng không thì việc xuất bản lại chỉ đáp ứng sự tò mò hoặc công chúng tìm đọc vì hoài niệm

Sự trở lại của các cây bút tiêu biểu miền Nam giai đoạn trước năm 1975, thiết nghĩ, cũng là điều hết sức bình thường, hợp lẽ tự nhiên, vì không ai có thể phủ nhận những đóng góp của họ trong tiến trình văn học nước nhà, nếu tác phẩm đó thật sự có giá trị lâu bền.

Đi đầu trong việc làm này, trước hết phải kể đến tiểu thuyết “Nguyệt Đồng Xoài” (3 tập) của Lê Xuyên; 3 tác phẩm “Tiếng sáo người em út”, “Đôi mắt trên trời”, “Nhan sắc” của Dương Nghiễm Mậu do NXB Văn Nghệ TP HCM cùng Công ty Sách Phương Nam ấn hành năm 2007. Về pháp lý, dù được Cục Xuất bản cấp giấy phép nhưng bấy giờ người làm sách lại không có sự giới thiệu, đánh giá lại tác giả – tác phẩm để giúp bạn đọc hiểu thêm về bối cảnh ra đời của nó, từ đó tiếp nhận một cách khách quan.

Hơn nữa, do không có sự giải thích chu đáo, cặn kẽ về ngữ nghĩa nên khi đọc đến những câu đại loại như “Bộ mình cưới nhau liền được sao? Anh còn lo vấn đề động viên. Việc gì mà mình phải gấp rút như vậy?” (“Nguyệt Đồng Xoài”, tr.7), chẳng khác nào đánh đố người đọc, bởi từ “động viên” không hẳn mang ý nghĩa như nay ta hiểu… Theo kế hoạch, sau đó sẽ tiếp tục tái bản sách của những nhà văn khác nữa. Nhưng chỉ mới in đến đó, công việc phải tạm thời ngưng lại vì có nhiều luồng ý kiến không đồng thuận.

Bẵng đi một thời gian dài, việc tái bản này được “khởi động” lại với các bước “dọn đường dư luận” chỉn chu hơn. Có một điều cần ghi nhận là khi bổ sung, tái bản “Từ điển văn học bộ mới” (NXB Thế Giới; 2003), nhóm chủ biên Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Thiên, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá đã chọn thêm nhiều nhà văn miền Nam: Bình Nguyên Lộc, Nguyên Sa, Nhật Tiến, Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Văn Xuân, Võ Hồng, Bùi Giáng… Việc làm này được xem là “táo bạo” vì bản in trước đó vào năm 1983, những tên tuổi trên chưa được đề cập.

Trong khoảng thời gian này, thỉnh thoảng các NXB cũng tái bản sách của các nhà văn như Vũ Khắc Khoan, Nguyễn Mộng Giác, Tràng Thiên, Lê Tất Điều, Nhật Tiến… Sự cởi mở trong sinh hoạt văn hóa nói chung, hầu như dư luận đánh giá tốt, không có gì đáng phàn nàn về chất lượng, nội dung. Đáng chú ý là năm 2013, NXB Hội Nhà văn và Công ty Sách Phương Nam in cùng lúc 3 tập truyện ngắn “Lạc đạn”, “Nhà có cửa khóa trái”, “Trở về mái nhà xưa” (NXB Hội Nhà văn) của Trần Thị NgH. Ngày 19-1-2013 tại quận 1, TP HCM, bộ sách này được tổ chức ra mắt rầm rộ mà không gặp phản ứng trái ngược nào từ dư luận.

Gần đây, sự kiện có thể nói là mạnh dạn nhất trong lĩnh vực xuất bản là cùng một lúc, NXB Hội Nhà văn và Công ty Sách Phương Nam đã tái bản toàn bộ tác phẩm của nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ – một trong 5 nhà văn nổi tiếng nhất của miền Nam trước năm 1975. Ngoài các tình tiết, phải kể đến điều đã khiến bạn đọc bất ngờ khi đọc “Khung rêu”, “Thú hoang”, “Lao vào lửa”, “Chiều xuống êm đềm”, “Như thiên đường lạnh”, “Ngọn pháo bông”, “Cho trận gió kinh thiên” là tác giả còn có biệt tài quan sát khi miêu tả sinh hoạt nghệ thuật quen thuộc ở nông thôn miền Nam thời trước. Chẳng hạn hát bội đình làng, giải sầu ca vọng cổ; ngoài ra còn là sự miêu tả các món ăn dân dã, quê mùa rất đỗi thân thương… nay đã ít nhiều trở thành dĩ vãng; kể cả khi khai thác về số phận vũ nữ, gái bán bar Sài Gòn với nhiều chi tiết sống động.

Sở dĩ bộ sách này được dư luận báo chí chú ý vì người làm sách đã nỗ lực thực hiện công tác chú thích trong chừng mực có thể đã giúp người đọc hiện nay tiếp nhận được lời ăn tiếng nói trước đây của người Nam Bộ. Chính sự phong phú, đa dạng về ngôn từ sẽ giúp ta hiểu hơn nữa về con người, vùng đất những nhà văn thế hệ trước đã từng “khai phá” bằng ngôn ngữ miền Nam như Hồ Biểu Chánh, Phi Vân, Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc, Ngọc Linh… Nói cách khác, cách sử dụng ngôn từ trong tác phẩm của nhiều nhà văn miền Nam viết trước năm 1975 đã góp phần lưu giữ tiếng nói, cách phát âm một thời của bà con ở miền Nam đất Việt.

Không dừng lại đó, toàn bộ sách triết học của GS Kim Định như “Cửa Khổng”, “Chữ Thời”, “Tinh hoa ngũ điển”, “Triết lý cái đình”, “Vấn đề quốc học”… cũng được tái bản tương tự. Việc làm này liệu có quá “mạo hiểm” trong kinh doanh? Chúng tôi nghĩ là không, vì quy luật cung – cầu của thị trường sẽ quyết định. Hơn ai hết, những người làm sách còn phải nghĩ đến lợi nhuận mới có thể đi “đường dài”.

Hiện nhiều đơn vị làm sách tư nhân cũng mặn mà tái bản nguồn sách miền Nam – khi họ liên kết với các NXB, chẳng hạn, “Khúc thụy du” (Saigon Books), “Khúc thụy du” (Phan Books) – thơ của Du Tử Lê; “Những bước lang thang trên hè phố của gã Bình Nguyên Lộc” (DT books)…; “Tuổi nước độc” của Dương Nghiễm Mậu, “Hai chậu lan Tố Tâm” của Phan Du đều do Tao Đàn đầu tư…

Nhìn chung, sách đã in trước năm 1975 tại miền Nam về lâu dài vẫn có thể người làm sách tiếp tục tái bản. Tuy nhiên, đứng ở góc độ người đọc, chúng tôi thấy vẫn cần có sự thẩm định kỹ để kiểm chứng giá trị của nó, chứ không thể “thấy người ta ăn khoai, mình cũng vác mai đi đào”. Ý thức “gạn đục khơi trong” với bất kỳ loại sách cũ nào, in ở thời kỳ nào, bao giờ cũng hết sức cần thiết.

2/5/2021

Lê Minh Quốc

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Đi tìm miền xanh thẳm

Tọa đàm tưởng nhớ nhà văn Trần Hoài Dương (1943 – 2011) diễn ra sáng 6.5.2021 tại trụ sở Hội Nhà văn TPHCM ở tầng 4 số 81 Trần Quốc Thảo, Q.3, TPHCM. Từ Hà Nội, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều – Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam đã gửi vào tham luận Đi tìm miền xanh thẳm viết về nhà văn đàn anh quá cố Trần Hoài Dương. Xin trân trọng giới thiệu bài viết cùng bạn đọc…

“Tuổi ấu thơ đã xa rồi, không bao giờ tôi còn được hưởng lại những ngày thần tiên ấy nữa. Những ngày ấy cứ xa vời, xanh thẳm, hun hút bay về phương trời phía sau, tôi cố ngoái lại, cố nằm bắt mà không sao níu giữ được’’.

Đấy là những lời tự sự của nhà văn Trần Hoài Dương. Đó là sự tiếc nuối. Trong sự tiếc nuối đó lại tràn ngập vẻ đẹp diệu kỳ của ấu thơ. Nhưng ngay lúc đó, trước mắt tôi hiện lên một con đường, một con đường kỳ lạ. Và trên con đường ấy, tôi thấy nhà văn Trần Hoài Dương trở về với tuổi ấu thơ của mình. Sau mỗi bước chân trên con đường đó, ông già Trần Hoài Dương mỗi lúc một trẻ lại và biến thành cậu bé Trần Hoài Dương. Cậu trở về ‘’Miền xanh thẳm’’ của cậu. Cậu đã run lên vì hạnh phúc. Tôi tin là như vậy. Bởi lúc này, lòng tôi cũng đang ngân vang về một miền của tôi mà Miền Xanh Thẳm của nhà văn Trần Hoài Dương chính là đã nguồn cảm hứng dẫn tôi trở về nơi chốn của chính mình.

Sau khi đọc xong “Miền xanh thẳm” lần thứ hai (lần thứ nhất tôi đọc cách đây gần 20 năm), tôi càng nhìn rõ hơn cái MIỀN ấy của nhà văn Trần Hoài Dương. Nó nằm ở đâu? Nó nằm trong tấm bản đồ tâm hồn ông. Tác phẩm “Miền xanh thẳm” ra đời hơn 20 năm trước. Và trong hơn 20 năm qua, biết bao thay đổi mà tôi cũng không tưởng tượng được đã diễn ra trong đời sống con người trên xứ sở này. Có rất nhiều điều của 20 năm trước đã biến mất khỏi đời sống con người. Và bây giờ, cho dù nó xuất hiện trở lại nó cũng đầy nguy cơ trở thành một thứ xa lạ và vô cảm với con người đương thời. Nhưng một điều kỳ lạ xuất hiện, đó là khi cái MIỀN của nhà văn Trần Hoài Dương hiện ra, ngay lập tức nó trở thành giấc mơ da diết và ngập tràn xúc động đối với tôi và tôi tin đối với rất nhiều người đang sống. Bởi trong cái MIỀN ấy chứa đựng nhân tính, tình yêu thương, lòng biết ơn, những vẻ đẹp thiên nhiên kỳ lạ và giấc mơ làm người. Mà những vẻ đẹp ấy quả thực đang từng ngày rời bỏ đời sống mà quá nhiều người không nhận ra. Họ chỉ nhận ra sự trống rỗng đang chiếm đoạt từng phần tâm hồn họ. Và họ sống trong một câu hỏi : sao đời sống vật chất mỗi ngày một đầy đủ mà họ vẫn không có khả năng chạm vào hạnh phúc. Câu trả lời thật đơn giản: là họ không tìm được cái MIỀN của họ.

Toàn bộ “Miền xanh thẳm” là những năm tháng ấu thơ mà nhà văn Trần Hoài Dương đã sống. Nhân vật Thiện chính là cậu bé Trần Hoài Dương thuở ấu thơ. Cho dù không hoàn toàn chính xác như vậy thì cậu bé mang tên Thiện là nơi chứa đựng toàn bộ ký ức của Trần Hoài Dương. Ông kể lại những năm tháng ấu thơ của mình. Mà hơn cả sự kể là ông thực sự sống lại một lần nữa phần đời sống quan trọng nhất cuộc đời mà ông đã sống và đã đi qua. Tất cả những gì ông viết không có một chút gì được cường điệu hóa. Tất cả hiện lên nguyên khối đời sống tươi ròng của những năm tháng ông đã sống. Văn chương của ông chân thực, da diết mà bình thản giống một người ngồi xuống và kể lại những gì đã và đang chảy trong huyết quản của ông. Sự chân thực ấy được dâng lên từ một tâm hồn thánh thiện và đầy rung vang. Bởi thế, mọi điều bình thường nhà văn Trần Hoài Dương đặt bút viết đều được thiêng liêng hóa. Bởi thế mà “Miền xanh thẳm” của ông được dựng lên và không có một cái tên nào khác đúng với bản chất của câu chuyện này hơn nó. Tôi là kẻ sinh sau ông nhưng cũng may mắn được sống một phần những năm tháng mà nhà văn Trần Hoài Dương sống. Bởi thế, khi đọc tác phẩm này, tôi đã được chính nhà văn dẫn tôi trở về ấu thơ của mình bằng một con đường kỳ lạ. Tôi đã tìm thấy cậu bé mang tên Thiều ở đó với toàn bộ những năm tháng cậu bé ấy sống.

Khi một trái tim của tình yêu thương và đầy giấc mơ đẹp đẽ rung lên, nó sẽ làm cho tất cả mọi cảnh vật, mọi con người, mọi câu chuyện quanh đó cũng ngân lên kỳ diệu. Trái tim của nhà văn Trần Hoài Dương là vậy. Ông đã làm cho đời sống những năm tháng ấy của đất nước đầy khó khăn, gian khổ ngân vang. Những năm tháng ấu thơ của nhà văn Trần Hoài Dương là những năm tháng vô cùng khó khăn của đất nước. Những đứa trẻ sống trong một điều kiện sống vô cùng thiếu thốn, chúng phải xa nhà, phải lao động vất vả, phải sống trong đói rét. Nhưng giấc mơ của chúng thật lộng lẫy. Và đấy là con đường mà mỗi con người phải tìm thấy để đời sống của kiếp người  có ý nghĩa. Những giấc mơ của cậu bé Thiện và những cô cậu bé thuở ấy làm cho không ít những cô cậu ngày nay và cả những người lớn đương thời cảm thấy xấu hổ. Họ đã sống trong những điều kiện sống mà cậu bé Thiện thuở trước có trí tưởng tượng đến đâu cũng không hình dung được. Nhưng họ chẳng làm sao tìm được một giấc mơ đẹp đẽ, họ chẳng tìm thấy được một ‘’miền xanh thẳm’’ của họ.

Một điều vô cùng đặc biệt là, nhà văn Trần Hoài Dương thường xử dụng những đoạn văn của những nhà văn lớn để nói về khát vọng và lý tưởng sống của những đứa trẻ.

– Vào đời, vào đời để hiến cho đời tất cả những gì tốt đẹp và nhân đạo của tâm hồn, trí óc ta

– Dòng suối đổ vào sông. Con sông đổ ra dải trường giang Vonga. Con sông Vonga đi ra biển. Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê trở nên lòng yêu Tổ quốc…

– Thép đã tôi trong lửa đỏ và nước lạnh. Lúc đó thép trở nên cứng rắn và không hề biết sợ

Những năm tháng đó, sách thực sự là niềm cảm hứng vô tận cho hành động sống của con người. Những cuốn sách ông nhắc tới trong câu chuyện là những cuốn sách mà thế hệ ông hay thế hệ tôi sau này đều đọc và đều đắm mê. Những cuốn sách thực sự thay đổi con người. Những nhân vật từ trong các cuốn sách bước ra và hòa vào đời sống tinh thần của cậu bé Trần Hoài Dương, cậu bé Nguyễn Quang Thiều và bao cậu bé khác trên xứ sở này. Điều này, cho dù nhà văn Trần Hoài Dương viết cách đây hơn 20 năm nhưng lại đang là một nhu cầu lớn để tạo dựng con người hôm nay. Chúng ta đang bắt đầu phục dựng văn hóa đọc cho cộng đồng. Quá nhiều những đứa trẻ thời nay đã rời xa những cuốn sách như thế. Chúng đang rời xa những vẻ đẹp trong sáng và lớn lao. Chúng sẽ tìm ra con đường của cuộc đời chúng như thế nào. Nhà văn Trần Hoài Dương không có ý định dự báo. Nhưng khi ông đã nhìn thấu bản chất của đời sống và văn hóa thì những gì ông viết ra sẽ trở thành chân lý.

Trong “Miền xanh thẳm”, có bốn yếu tố quan trọng nhất làm nên nhân tính được theo đuổi trong toàn bộ tác phẩm. Đó là gia đình với người sống, người mất, là xã hội, là thiên nhiên và là văn hóa (thông qua những cuốn sách và những câu chuyện hành xử của con người). Những yếu tố quan trọng nhất ấy đã làm cho những đứa trẻ lớn lên trở thành người tử tế. Những đoạn văn ông viết về những người thân yêu đặc biệt là người mẹ đã mất đẹp và xúc động đến nhường nào. Người mẹ luôn hiện lên trong mọi vui buồn của ông. Người mẹ hiện lên nhân hậu, yêu thương và lặng lẽ chỉ qua những câu văn giản dị đến nhói lòng. Ông nói về người mẹ đã khuất của mình nhưng lại làm cho tôi và chắc chắn nhiều người khác nhớ về mẹ mình da diết.

Nhà văn Trần Hoài Dương rất giỏi khi tạo dựng nhân vật. Khi viết về ông Thơ, một nạn nhân của cải cách ruộng đất, ông chỉ dùng một chi tiết nhỏ nhưng lại dựng lên một bi kích lớn của lịch sử :  ‘’ Tôi cứ quanh quẩn hết đứng lại ngồi bên cạnh mộ mẹ tôi suốt từ trưa tới gần tối mới dám lẻn đến thăm ông vì sợ người làng trông thấy. Có người ở xa đến, làng xóm biết sẽ phiền cho ông bà. Vừa trông thấy tôi, ông ôm chầm ngay lấy rồi cứ thế lặng lẽ khóc không ra tiếng. Ông thì thảo hỏi tôi: ‘’Cháu đến đây có ai thấy không ?’’, tôi nói không, ông vẫn chưa yên tâm, lom khom bước ra ngoài sợ hãi nhìn bao quát khắp lượt’’. Cả một quá khứ kinh hoàng đè nặng lên một thân phận như ông Thơ. Một nỗi sợ hãi bủa vây cuộc đời một con người như không còn lối thoát nào cho con người ấy. Nỗi kinh hoàng càng ghê gớm thì sự ám ảnh của nó càng kéo dài có khi hết cả đời một con người.

Hơn 20 năm kể từ ngày “Miền xanh thẳm” ra đời. Đời sống đã hoàn toàn thay đổi. Chẳng còn mấy những đứa trẻ phải sống trong đói rét như cậu bé Thiện. Nhưng vẻ đẹp của đời sống thì không bao giờ thay đổi. Ước mơ làm một người tử tế để dâng hiến cho con người, cho dân tộc không bao giờ thanh đổi. Con đường đi tới hạnh phúc thực sự cũng không không thay đổi. Tất cả vẫn còn nguyên vẹn trong Miền Xanh Thẳm. Và đấy chính là điều tôi xin được nói lời biết ơn nhà văn Trần Hoài Dương, người đã dựng lên một MIỀN cho rất nhiều người đang sống. “Miền xanh thẳm” của Trần Hoài Dương chính là biển chỉ dẫn cho con người đi tìm Miền Xanh Thẳm của chính mình.

Hà Đông, 3/5/2021

Nguyễn Quang Thiều

Theo https://vanhocsaigon.com/

  “Anh có còn ngần ngại nói: Yêu em?” Bài thơ có kết cấu đầu cuối tương ứng bởi câu thơ mở đầu lặp lại ở khổ thơ cuối: “Những thành phố lạ...