Người viết lại lịch sử Hà Tiên
Sân trước ngôi nhà của vợ chồng nhà nghiên cứu, nhà văn,
nhà giáo Trương Minh Đạt và Nguyễn Phước Thị Liên là quán cà phê mang tên “Ty
la”của chính chủ nhân – đã tồn tại gần ba mươi năm tại thị xã Hà Tiên. Cái
tên quán thoạt nghe “rất Tây” này lại xuất phát từ hai câu trong truyện thơ
“Bích câu kỳ ngộ”: “Nhà lan sum
họp bạn mai. Đã trong tần tảo lại ngoài ty la”. Ý chỉ đây là nơi luôn sẵn
lòng đón tiếp khách đến thăm. Ở ngôi nhà đậm đặc không khí văn chương và sách
vở này, vào một buổi chiều mưa tháng ba, tôi được gặp nhà nghiên cứu – được mệnh danh là
“nhà Hà Tiên học” Trương Minh Đạt trong một buổi ông họp mặt bạn văn ấm cúng.
Tôi được ông Trương Minh Đạt gởi tặng bài viết “Những điều
cần biết thêm về Tao Đàn Chiêu Anh Các” mà ông vừa hoàn thành cuối tháng
3-2006, để trả lời lại ông Nguyễn Quảng Tuân trên tạp chí Kiến thức ngày nay
về vị trí di chỉ, nhân sự, hoạt động văn học của Tao đàn Chiêu Anh Các. Ông
đã so sánh, đối chiếu sử liệu, thơ văn trong ít nhất 10 quyển sách bằng chữ
Hán, Nôm, Pháp và quốc ngữ. Ông phản bác ý kiến cho rằng Tao Đàn Chiêu Anh
Các không hề có di chỉ, chỉ là nhóm nhỏ tập họp đôi ba người yêu văn chương
sinh hoạt tại một mái hiên trong dinh trấn thự Hà Tiên. Bằng những sử liệu và
lập luận sắc bén, ông viết: “Thụ Đức Hiên tại đền Khổng Tử là Chiêu Anh Các.
Sách “Hà Tiên Trấn Hiệp Trấn Mạc thị Gia phả” của Võ Thế Dinh, tờ 4a chép:
Ông (ý chỉ Mạc Thiên Tích) tính tình trung hậu lương thiện, dựng Chiêu Anh
Các để thờ tiên thánh, cũng là nơi ban phát lễ vệ hậu hĩ, mời gọi các bậc tài
giỏi đều cùng đến đây tụ họp. Theo đó, chỗ thờ Tiên thánh là đền Khổng Tử,
nơi có Thụ Đức Hiên. Chính nơi này Mạc Thiên Tích viết lời tựa tập thơ Hà
Tiên Thập Vịnh”. Bằng nhiều sử liệu qua so sánh từng chữ ở hàng chục cuốn
sách, ông chứng minh Thụ Đức Hiên tại Đền Khổng Tử xưa qua bao biến cố nay
chính là nơi tọa lạc chùa Phù Dung. Rất nhiều tư liệu từ xưa được ông sắp xếp
mạch lạc, vẽ lên cho người đọc bức tranh toàn cảnh về Tao Đàn Chiêu Anh Các một
thời dập dìu tao nhân mặc khách.
Hoàn toàn khác với văn phong hăng hái, trẻ trung, nhà
nghiên cứu Trương Minh Đạt gần như đứng không vững, phải có người dìu hoặc lần
theo tường mỗi khi bước đi. Mái tóc bạc trắng, một bên tay ông hiện nay gần
như không cử động được. Đó là hậu quả của một cơn tai biến mạch máu não cách
đây mấy năm. Vậy mà, dù đã 72 tuổi, ông vẫn viết đều dù phải chậm rãi gõ từng
chữ trên bàn phím máy tính với cánh tay còn cử động. Gặp ông, khi tôi nhắc đến
chuyện Tao Đàn Chiêu Anh Các và những câu chuyện mà bản thân không biết là lịch
sử hay huyền sử về đất Hà Tiên, ánh mắt và giọng nói của ông linh hoạt và khỏe
khoắn hẳn lên. Chỉ trong một buổi chiều, tôi gần như đã được ông vẽ lại cho xem toàn
bộ về đất và người của “Một cõi biên thùy, một cõi thơ”. Những gì ông nói đều
được chứng minh cụ thể, có so sánh một số khác biệt so với sử sách. Đó cũng
là điều đáng quý nhất ở một người dày công nghiên cứu và mạnh dạn công bố các
kết quả khảo cứu, dù có đi ngược lại quan điểm hiện nay và những điều sách vở
hay viết về Hà Tiên. Ông gọi đó là việc “đính chính” lịch sử – một công việc
không hề dễ dàng, nhất là trong hoàn cảnh ông ở tận Hà Tiên xa xôi.
Thầy giáo - nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt bắt đầu công việc
biên khảo từ câu hỏi mà nhà thơ Đông Hồ đã đặt ra trong bài viết “Hà Tiên Mạc
Thị Sử” năm 1926 trên tạp chí Nam Phong: “Ngôi nhà Chiêu Anh Các ở đâu?”. Bởi
vì hầu như không còn vết tích gì về di chỉ Tao Đàn Chiêu Anh Các – một trong
các thi đàn được lập sớm nhất ở Miền Nam do Sùng quận công Mạc Thiên Tích khởi
xướng vào đầu thế kỷ 18.
Sau nhiều năm cần mẫn đọc và đối chiếu rất nhiều sách, ông
Trương Minh Đạt công bố bài viết “Khẳng định nền nhà Chiêu Anh Các xưa tại
chùa Phù Dung hôm nay” với những tư liệu chứng minh đầy thuyết phục. Cũng vì
bài viết này mà ông phải viết thêm bài trả lời những nghi ngờ của ông Nguyễn
Quảng Tuân. Một cuộc “bút chiến” như vậy đã đưa không khí văn chương của thời
xưa gần với hiện tại hơn. Ông cũng đã chờ sáu năm mới có được quyển sách “Nam
hành ký đắc tập” của Phạm Nguyễn Du (1739-1787), để đính chính lại chi tiết:
rất nhiều sách viết rằng Nguyễn Cư Trinh gởi thư “chê” thơ Mạc Thiên Tích khiến
họ Mạc cảm thấy tự thẹn. Ông đã chứng minh bức thư này chính là viết cho con trai
cả của Nguyễn Cư Trinh, lúc đó đang giữ chức Hiệp trấn Hà Tiên, tước hiệu Anh
Đức Hầu, tên là Nguyễn Cư Dật. Nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt có được những
phát hiện này nhờ ông đọc và đối chiếu 2-3 bản khác nhau của cùng một tựa
sách. “Tạp chí Hán Nôm”, “Nghiên cứu lịch sử”, “Tạp chí Khoa học Xã hội và
Nhân văn”… được ông lưu giữ cẩn thận, trật tự, đầy đủ đến mức có cả những số
báo đầu tiên, thời các tạp chí này còn lưu hành nội bộ. Nhờ nguồn tư liệu quý
và phong phú, nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt đã công bố nhiều bài viết quan trọng:
“Phân giải điều ngộ nhận đáng tiếc về ngày sinh của Mạc Thiên Tích”, “Một trường
hợp lộng giả thành chân trong nghiên cứu lịch sử”, “Vai trò lịch sử của Hà
Tiên trong tiến trình mở đất phương Nam”, “Niên đại lịch sử trong sách Hà
Tiên Trấn Hiệp Trấn Mạc Thị Gia Phả có thật đáng tin”, “Có chăng một viên
tham tướng họ Mạc bị giết ở Cần Thơ”… tất cả đã được ông tập họp in thành
sách “Nhận thức mới về đất Hà Tiên”, xuất bản năm 2001.
Tôi đến thăm nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt ngay lúc
ông đang bàn luận với các giảng viên Trưởng ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn TP
Hồ Chí Minh về cố thi sĩ Lư Khê – vốn là anh ruột của ông Trương Minh Đạt.
Ông Lư Khê là một trong những nhà thơ, người làm công tác xuất bản thuộc thế
hệ đầu tiên của miền Nam, bạn văn cùng thời với nhà thơ Đông Hồ (hai ông lấy
bút danh là hai địa danh trong “Hà Tiên thập cảnh”), chồng của nữ sĩ nổi tiếng
Manh Manh.
Ông Trương Minh Đạt nói: “Tôi vốn sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo, anh em tôi có được nền tảng học vấn là nhờ hai cụ thân sinh đã không quản ngại cực khổ, cày sâu cuốc bẫm để anh em chúng tôi được đi học. Tôi chưa bao giờ quên những thân hữu, bạn bè ở Hà Tiên đã giúp đỡ chúng tôi trong những ngày khó khăn đó”. Có lẽ đó là lý do ông chọn công việc dạy học ở Hà Tiên sau khi hoàn thành việc học tại Sài Gòn. Cho dù hoàn cảnh đẩy đưa khiến ông bị chuyển đi Phan Rang, Phan Thiết, nhưng cuối cùng, vào vài năm trước giải phóng, ông lại trở về quê nhà và định cư đến nay.
Nhìn hai vợ chồng nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt và nhà
giáo – nhà văn Nguyễn Phước Thị Liên cùng nhau đọc chung một quyển sách mới
xuất bản của bạn văn, hình ảnh đẹp đó đã nói lên sự đồng điệu và hạnh phúc
viên mãn của mối tình gần nửa thế kỷ. Cả hai ông bà đã trải qua những ngày
tháng rất khó khăn để nuôi tám người con ăn học. Có lúc, cả gia đình làm nghề
kéo xe nước ở miền biên giới Hà Tiên. “May mắn là các cháu đều ngoan ngoãn và
hiếu thảo. Đó có lẽ là phước đức tổ tiên để lại”, ông Trương Minh Đạt mãn
nguyện nói. Truyền thống gia đình họ Trương được giữ gìn, tiếp nối và phát
triển: cả tám người con nay đều thành đạt, trong đó có đến bảy người tốt nghiệp
Đại học, một người là thạc sĩ. Mơ ước lớn nhất còn lại hiện nay của vợ chồng
ông là có thể xuất bản tập “Hà Tiên địa phương chí”. Nhà nghiên cứu Trương
Minh Đạt nói: “Đó là tâm nguyện cuối đời của tôi. Nhưng chưa biết đến bao giờ
mới có thể hoàn thành”.
Nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt và vợ - nhà giáo, nhà văn
Nguyễn Phước Thị Liên. Bài, ảnh: Tường Vi
|
Thứ Năm, 4 tháng 6, 2015
Người viết lại lịch sử Hà Tiên
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Trương Thị Thương Huyền và Kết tinh từ tình yêu biển đảo Những năm gần đây, đề tài biển đảo trong VHNT nở rộ. Tình yêu biển đảo được các v...
-
Nguyễn Du Từ một ai đó đến không ai cả Bạn phải là một ai đó trước khi có thể là không ai cả Engler Jack Sau thời đại...
-
Hoàng Thụy Anh và những không gian mơ tưởng “ta chấp nhận mọi trả giá - kể cả cái chết - để hiện sinh - như một bài ...
-
Ánh trăng trong thơ Dương Quân (Trong Ba tập thơ Chập Chờn Cơn Mê, Điểm Hẹn Sau Cùng, Trên Đỉnh Nhớ) Vào một ...






Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét