Đối với người Việt Nam, mỗi dịp Tết đến Xuân về, là dịp người
ta thường hướng về quê Cha đất Tổ; người có điều kiện thì kéo cả nhà về quê ăn
Tết, người chưa có, không có điều kiện thì hoặc là trước Tết hoặc sau Tết cũng
phải tìm cách về quê bằng được để thắp hương bái vọng tổ tông, cầu xin phúc lộc
cho năm mới…
Viết về nỗi nhớ quê, trong nền thi ca Việt Nam có lẽ không ai
hơn Đại thi hào Nguyễn Du, khi ông diễn tả cái khắc khoải của con người khi phải
xa quê hương bản quán. Xin lưu ý, cái thời Nguyễn Du sống và viết, con người ta
xa quê là xa từ tỉnh này, sang tỉnh kia, vùng này cách vùng kia chứ không phải
từ quốc gia này qua quốc gia khác như người Việt Nam thời hiện đại. Thế mà nỗi
niềm xa quê trong thơ của ông thật là da diết, điều này chúng ta có thể thấu hiểu
ít nhiều trong Truyện Kiều của ông.
Trong Truyện Kiều có hai nỗi đau lớn: nỗi đau về thân phận của
người con gái bị xã hội chà đạp và nỗi đau về sự ly hương: phải sống nơi đất
khách quê người.
Những câu thơ lục bát trong thơ Nguyễn Du rất đắc địa khi diễn
tả sự da diết, sự rớm lệ của con người khi rơi vào tình cảnh tha hương. Để diễn
tả tình cảm thiêng liêng này, Nguyễn Du là người đã cho thấy sự đắc địa của thể
loại thơ này, sự bàng bạc mà nhói đau, sự giản dị mà sâu lắng:
“...Bốn phương mây trắng một màu
Trông vời cố quốc biết đâu là nhà…
...Đoái xem muôn dặm tử phần
Hồn quê theo ngọn mây Tần xa xa…
...Tấc lòng cố quốc tha hương
Đường kia nỗi nọ, ngổn ngang bời bời
Cánh hồng bay bổng tuyệt vời
Đã mòn con mắt phương trời đăm đăm…”
Nỗi nhớ về cố quốc, cố hương, nhìn ngóng về quê nhà đến mòn cả
con mắt thì chỉ có Nguyễn Du mới tả đến như vậy, mới khủng khiếp đến như vậy. Cảnh
quê người trong thơ Nguyễn Du bao giờ cũng hiu quạnh:
“...Buồn trông phong cảnh quê người
Đầu cành quyên nhặt, cuối trời nhạn thưa…”
Đất khách quê người bao giờ cũng buồn tủi:
“...Từ đây góc bể chân trời
Nắng mưa thui thủi quê người một thân…”
Luôn ở tâm thế lưu lạc:
“...Từ con lưu lạc quê người
Bèo trôi, sóng vỗ chốc mười lăm năm…”
Hoặc:
“...Buồn trông cửa bể chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa
Buồn trông ngọn nước mới sa
Mây trôi man mác biết là về đâu
Buồn trông nội cỏ dàu dàu
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh
Buồn trông gió cuốn mặt duềnh
Chung quanh những nước non người
Đau lòng lưu lạc nên vài bốn câu…”
Sống ở quê người đã buồn, đã tủi, chết ở quê người không chỉ
buồn tủi, ai oán và còn đáng sợ:
“Sá chi thân phận tôi đòi
Dẫu rằng xương trắng quê người quản đâu…
Thôi con còn nói chi con
Sống nhờ đất khách, chết chôn quê người…”
Tâm trạng này hoàn toàn khác với cảnh được sống trên quê
hương: tưng bừng, giữa con người và thiên nhiên có sự giao hoà đầy xuân sắc:
Trước sau nào thấy bóng người
hoa đào năm ngoái còn cười gió đông
“Ngày xuân con én đưa thoi
Thiều quang chín chục đã ngòai sáu mươi
Cỏ non xanh rợn chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa…”
Phong cảnh quê người không chỉ trông thấy những cảnh buồn thảm, “người
buồn cảnh có vui đâu bao giờ” mà ngay cả thời gian cũng nặng nề tưởng như
đo đếm được:
“...Ba thu dồn lại, một ngày dài ghê
...Đêm thu khắc lậu canh tàn
Gió cây trút lá, trăng ngàn ngậm gương…
...Đêm thu một khắc một chầy
Bâng khuâng như tỉnh như say một mình…
...Tẩy trần mượn chén giải sầu đêm thu…
...Một trời thu để riêng ai một người
...Trời đông vừa rạng ngàn dâu
Bơ vơ nào đã biết đâu là nhà…
...Sen tàn cúc lại nở hoa
Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân…
...Song sa vò võ phương trời
Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng…”
Trong Truyện Kiều nỗi đau chia xa, nỗi đau chia ly là nỗi đau
xao xuyến cả đất, cả trời, cả sao và cả trăng:
“Người lên ngựa kẻ chia bào
Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san
Bụi hồng dặm cuốn chinh an
Trông người đã khuất máy ngàn dâu xanh
Người về chiếc bóng năm canh
Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi
Vầng trăng ai xẻ làm đôi
Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường...”
Ví nỗi chia ly con người đau đớn tột cùng như xẻ vầng trăng của
vũ trụ ra làm đôi thì quả nhà thơ đã coi trái tim của con người thật sự là đấng
quyền năng bậc nhất của thế gian này vì nó bao trùm cả vũ trụ...
“..Buồn trông phong cảnh quê người
Đầu cành quyên nhặt, cuối trời nhạn thưa…”
Nguyễn Du là người đã thành công trong việc sử dụng thể thơ lục
bát để diễn đạt tình cảm thiêng liêng của con người đối với “quê Cha đất Tổ”,
là nơi mà đối với người Việt giống như một đức tin tôn giáo, mảnh đất thừa kế
được coi là đất gia đường hương hoả. Đối với người Việt, không có nỗi bất hạnh
nào hơn, đau đớn nào hơn đối với một con người khi không có nổi một “tấc đất cắm
dùi”...Nếp sống, nếp nghĩ này đã ăn sâu trong tâm thức của người Việt. Có lẽ
vì những tín điều đó mà đất ở Việt Nam mình được xếp vào diện đắt nhất thế giới...
Vì thế, Nguyễn Du đã từng được Hoa Đường Phạm Quý Thích người
đồng thời với ông đánh giá: ”Có con mắt trông thấu cả sáu cõi, có tấm lòng nghĩ
suốt cả ngàn đời”…




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét