Tận hiến cuộc đời mình cho
nghệ thuật, Trịnh Công Sơn và các ca khúc của ông đã tạo nên một bộ phận giá trị,
không thể tách rời trong dòng chảy ca khúc trữ tình Việt Nam thế kỷ XX.
Hầu hết những người từng (hoặc
sẽ) viết về Trịnh Công Sơn đều chia sẻ: đặt giai điệu sang một bên, thì phần ca
từ trong các tác phẩm của ông chính là những thi phẩm đích thực. Cái thế giới
thi ca mang đậm tính siêu hình của ông mở ra trước mắt chúng ta một hồn người,
và qua đó, cả một thời đại đầy biến động. Bước vào thế giới thi ca ấy, ta sẽ có
dịp nhìn trở lại thực tại bằng chính cái nhìn mà thi nhân đã hướng về thực tại.
Và thêm nữa, ta sẽ có thể nắm được thực tại bằng chính những âm vọng mà thi
nhân đã nghe ra từ thực tại, theo một cách thật đặc biệt của riêng ông.
Giai đoạn sáng tác sung sức
nhất và nhiều thành tựu nhất của Trịnh Công Sơn là những năm tháng chiến tranh.
Các tập Ca khúc da vàng, Phụ khúc da vàng, Kinh
Việt Nam, Ta phải thấy mặt trời chính là những trải nghiệm đau thương
mà chiến tranh đã in hằn trên cuộc đời và trong tâm hồn ông. Tiếng súng nổ, tiếng
đại bác gầm, tiếng mẹ khóc con tử nạn, tiếng người hấp hối... đó là những âm
thanh thảm khốc ngập đầy trong các ca khúc về đề tài này của Trịnh Công
Sơn. Nhưng, đôi khi chúng vang lên thật lạ lùng:Đại bác đêm đêm dội về thành phố/Người
phu quét đường/Dừng chổi đứng nghe/Đại bác đêm đêm tương lai rụng vàng/Đại bác
như kinh không mang lời nguyện/Trẻ thơ quên sống/Từng đêm nghe ngóng... Đại bác
đêm đêm ru da thịt vàng/Đại bác nghe quen như câu dạo buồn/Trẻ con chưa lớn để
thấy quê hương (Đại bác ru đêm). Tiếng đại bác trong thính trường của Trịnh
Công Sơn - ít ra là ở ca khúc này - không hề mang vẻ hăm dọa khủng bố. Trái lại,
nó có giai điệu, nó du dương, nó gần gũåi và quen thuộc, nó như một cái gì gắn
liền với đời sống và tạo thành nhịp sống của con người! Bằng "cái
nghe" riêng có của mình, ông đã bóc lộ một sự thật tàn nhẫn: chiến tranh
làm mòn mỏi, làm đờ đẫn, làm mụ mị, làm tê liệt con người; con người bị đẩy vượt
lên trên nỗi sợ, con người đánh mất cảm giác sợ hãi trước tiếng gầm của đại
bác, con người chỉ còn là những tấm bia thịt vô tri mà đạn pháo có thể viếng
thăm bất cứ lúc nào!.
|
Và như thế tôi sống vui từng ngày
Và như thế tôi đến trong cuộc đời
Đã yêu cuộc đời này bằng trái tim của tôi
Và như thế tôi sống vui từng ngày
Và như thế tôi đến trong cuộc đời
Đã yêu cuộc đời này bằng trái tim của tôi
Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui
Chọn những bông hoa và những nụ cười
Tôi nhận gió trời mời em giữ lấy
Để mắt em cười, tựa lá bay.
Mỗi ngày tôi chọn đường mình đi
Đường đến anh em đường đến bạn bè
Tôi đợi em về bàn chân quen quá
Hàng lá me vàng lại bước qua
Và như thế tôi sống vui từng ngày
Và như thế tôi đến trong cuộc đời
Đã yêu cuộc đời này bằng trái tim của tôi
Và như thế tôi sống vui từng ngày
Và như thế tôi đến trong cuộc đời
Đã yêu cuộc đời này bằng trái tim của tôi
Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui
Cùng với anh em tìm đến mọi người
Tôi chọn nơi này cùng nhau ca hát
Để thấy tiếng cười rộn rã bay
Mỗi ngày tôi chọn một lần thôi
Chọn tiếng ru con nhẹ bước vào đời
Tôi chọn nắng đầy chọn cơn mưa tới
Để lúa reo vàng tựa vẫy tay
Mỗi ngày tôi chọn ngồi thật yên
Nhìn rõ quê hương ngồi nghĩ lại mình
Tôi chợt biết rằng vì sao tôi sống
Vì sao tôi sống?
Vì đất nước cần một trái tim
Và như thế tôi sống vui từng ngày
Và như thế tôi đến trong cuộc đời
Đã yêu cuộc đời này bằng trái tim của tôi
Và như thế tôi sống vui từng ngày
Và như thế tôi đến trong cuộc đời
Đã yêu cuộc đời này bằng trái tim của tôi
|
Chiến tranh, chết chóc, thịt
nát xương tan đã để lại vết tích trong ca từ của Trịnh Công Sơn với những hình ảnh
đau đớn: Một chiếc xe tang/trái mìn nổ chậm/người chết hai lần/thịt da nát
tan (Ngụ ngôn mùa đông), một buổi sáng mùa xuân/một đứa bé ra đồng/đạp trái mìn
nổ chậm/xác không còn đôi chân, người con gái chợt ôm tim mình/trên da thơm vết
máu loang dần (Người con gái Việt Nam da vàng)... Sự sống trở nên quá đỗi
mong manh trong guồng máy chiến tranh. Lằn ranh giữa sinh và tử của đời người
trở nên vô nghĩa như một tiếng cười nhạo. Thực tại ấy, được thêm sức đẩy của ngọn
triều tư tưởng về cái phi lý từ Âu Mỹ tràn sang, đã đưa Trịnh Công Sơn đến rất
gần quan niệm về sự hư ảo của nhân sinh và những nỗi đau khổ bất tuyệt của phận
người.
Ông luôn nghe thấy những âm
thanh của một thứ định mệnh tàn nhẫn đè nặng trên thân phận con người: Nghe
xót xa hằn lên tuổi trời/Trẻ thơ ơi, trẻ thơ ơi/Tin buồn từ ngày mẹ cho mang nặng
kiếp người (Gọi tên bốn mùa). Ông đặc biệt nhạy cảm với những tiếng gọi của
trăm năm - hư vô - cái chết:Đêm ta nằm bóng tối che ngang/Đêm ta nằm nghe tiếng
trăm năm/Gọi thì thầm, gọi thì thầm, gọi thì thầm/Đêm nghe trời như hú như
than/Ta nghe đời như có như không/Còn lại mình, đời bồng bềnh, đời buồn tênh (Còn
có bao ngày). Bởi thế, không khó hiểu khi chợt bắt được một âm thanh rất đỗi
bình thường của đời sống thực - tiếng ru - ảo giác về cái chết của chính mình
đã ập đến với ông: Về trong phố xưa tôi nằm/Có lần nghe tiếng ru bên vườn/Chợt
như xác thân không còn/Và cạnh tôi là đồng vắng (Lời thiên thu gọi).
Cái bóng trăm năm luôn ám ảnh
trong suy tưởng và trong cảm xúc của Trịnh Công Sơn. Nói theo giọng phân tâm học,
ông có lẽ thuộc về kiểu nghệ sĩ mà bản năng chết (thanatos) mạnh hơn bản năng sống
(eros). "Cái nhìn", và tất nhiên, cả "cái nghe" của ông, chịu
lực hút chủ đạo không phải từ sự sinh trưởng - khỏe khoắn - ấm áp - tươi vui,
mà là từ những gì tàn lụi - héo úa - mòn mỏi - u sầu - lạnh lẽo. Một ví dụ: nếu
mùa thu với sắc nắng vàng đã làm say đắm bao tâm hồn nghệ sĩ, họ chờ đón
"những mùa thu tới", thì Trịnh Công Sơn lại chỉ thấy "những mùa
thu đi", ông nghe ra ở sự đi của những mùa thu ấy cái chết của thời gian
và sự chết dần của đời người: Nhìn những mùa thu đi/Em nghe sầu lên trong
nắng/ Và lá rụng ngoài song/Nghe tên mình vào quên lãng/Nghe tháng ngày chết
trong thu vàng (Nhìn những mùa thu đi). Một cách tất yếu, như là định mệnh,
con người hướng theo tiếng gọi của cái bản năng chết ấy sẽ phải là một con người
cô đơn, tuyệt đối cô đơn, bất chấp ý chí muốn nối kết với đời sống, với tha
nhân của chính anh ta. Mỗi thanh âm của thế giới khi lọt vào thính trường của
con người ấy đều trở thành một vọng âm nói về sự cô đơn, gợi đến sự cô đơn hoặc
bắt anh ta phải nhận ra sự cô đơn. Đó là tiếng hát: Chiều chủ nhật buồn/Nằm
trong căn gác đìu hiu/Ôi tiếng hát xanh xao của một buổi chiều/Trời mưa trời
mưa không dứt/Ô hay mình vẫn cô liêu (Lời buồn thánh). Đó là tiếng gà
trưa: Về trên phố cao nguyên ngồi/Tiếng gà trưa gáy khan bên đồi/Chợt như
phố kia không người/Còn lại tôi bước hoài (Lời thiên thu gọi). Đó là tiếng
mưa như lời ru miệt mài/ngàn năm ngàn năm trong ca khúc Tuổi đá buồn, tiếng
mưa khiến câu hỏi "còn ai còn ai?" bật ra não nuột như tiếng thở dài
của thi nhân trước nỗi cô đơn trên nhân thế.
Cần nói thêm rằng: giữa
trùng trùng âm thanh của thế giới, cùng với lời ru, dường như Trịnh Công Sơn
yêu nhất tiếng mưa. Không phải chỉ vì mưa đã giăng mịt mùng trong các ca khúc của
ông, mà còn vì tiếng mưa nhiều khi được ông dùng như một âm chuẩn để
"đo" các thanh âm khác, tiếng lá chẳng hạn. Dùng tiếng mưa
"đo" tiếng lá, ông có những ca từ tuyệt hay: Nghe lá thu mưa reo
mòn gót nhỏ(Diễm xưa), Lá hát như mưa suốt con đường đi (Em còn nhớ
hay em đã quên) v.v...
Cô đơn, ở một khía cạnh nào
đó, là cây thập giá tinh thần mà người nghệ sĩ đích thực phải mang vác suốt cuộc
đời mình. Trong cô đơn, Trịnh Công Sơn tỏ ra có một thính lực thật kỳ lạ, ông nghe
thấy muôn trùng lên tiếng, những thanh âm kết dệt một bầu khí thật ma mị liêu
trai: Đêm nghe gió tự tình/Đêm nghe đất trở mình vì mưa/Đêm nghe gió thở
dài/Đêm nghe tiếng khóc cười của bào thai... Đêm nghe gió than hoài/ Đêm nghe
lá đưa lời hàm oan/Đêm nghe thân xác mịt mùng/Đêm nghe tiếng muôn trùng đẩy đưa (Nghe
tiếng muôn trùng). Đi tới cùng của cô đơn, Trịnh Công Sơn rút gọn toàn bộ thế
giới vào chính bản thân mình, ông nghe từ chính mình những âm vọng bi thiết của
nhân sinh: Đôi khi ta lắng nghe ta/Nghe sóng âm u/Dội vào đời buốt giá/Hồn
ta gió cát phù du bay về/Đôi khi trên mái tình ta/Nghe những giọt mưa/Tình réo
tình âm thầm/Sầu réo sầu bên bờ vực sâu (Tình xa). Và đây nữa, một âm
thanh - âm thanh zero - mà Trịnh Công Sơn đã nghe ra từ nhịp đập của chính trái
tim mình, trái tim của một người Việt Nam biết thổn thức biết xót xa trước những
biến cố đau thương đang diễn ra hằng ngày trên đất đai xứ sở, trên cuộc đời người
Việt: Giọt nước mắt quê hương/Ôi còn chảy miên man/Ôi dòng nước mắt chảy
hoài/Dòng nước mắt đời đời/Dòng nước mắt thương ai/Ôi dòng nước mắt trong
tim/Chảy lai láng vào hồn/Nửa đêm gọi đến mình (Giọt nước mắt cho quê
hương).
Tận hiến cuộc đời mình cho
nghệ thuật, Trịnh Công Sơn và các ca khúc của ông đã tạo nên một bộ phận giá trị,
không thể tách rời trong dòng chảy ca khúc trữ tình Việt Nam thế kỷ XX. Những
ca khúc mang giai điệu buồn. Buồn, đó cũng là chủ âm trong ca từ của ông. Bởi lẽ,
ở một phương diện nào đó, dường như cái tạng sẵn có của Trịnh Công Sơn không hợp
với những vui vẻ hời hợt. Thượng đế đã bắt (hay đã ban?) cho ông sứ mệnh của kẻ
có thể lắng trong mình những âm thanh u uất, những tiếng nói tang thương từ cõi
người và cõi đời rồi chưng cất chúng thành những ca từ buồn và đẹp. Một điều mà
chúng ta có thể khẳng định chắc chắn: Đó sẽ là di sản không bao giờ bị mất chân
giá trị của Trịnh Công Sơn.
Bao la là tiếng nói của độ
lượng. Đời không thấy tha thứ cho nhau mà vẫn mơ ước bao la. Ai cũng thích những
cánh đồng mênh mông, những chân trời rộng mở. Sao mà lắt léo thế? Con người
luôn luôn sẵn sàng tham dự những chuyến đi bồng bềnh, sảng khoái với những chân
trời không thấy. Thèm gió bể khơi. Thèm núi đồi trùng điệp. Hân hoan reo ca
cùng chim chóc. Nâng niu những hoa đồng cỏ nội. Ai cũng thế. Không riêng ai. Đến
với đất trời như những đứa con của vũ trụ, mà tấm lòng thì đóng kín tối tăm.
Sao mà biển lận với trời đất quá vậy?.
Đời đã mở cho ta những cõi rộng.
Mà lòng nhân gian thì quá hẹp hòi. Có cái gì bất trắc mà nẩy sinh như thế. Đã vậy
thì không nên sàm sỡ thốt tiếng bao la, mở lời rộng rãi. Đánh lừa thiên hạ còn
khả thứ. Đừng bất kính với đất trời. Chưa bao giờ đóa sen, đóa hồng nở một cách
gian dối. Lòng không nở được một điều gì tốt đẹp thì thôi. Đừng ép gượng.
Con người ta cũng hay đấy chứ.
Dễ quên có phải là cái vốn liếng ở đời? Sống với người thì hẹp. Hẹp quá! Mai
đây ra đứng trước cõi bao la thì nói chuyện phiêu bồng. Vả chăng, trời đất cũng
dễ tính. Làm gì có chuyện trời đất ganh đua với người. Có chăng, chỉ là ganh với
hồng nhan, với tài mệnh.
Thế ra, ông Trời cũng khéo lắm.
Cũng bày ra những cuộc chơi riêng. Chơi với kẻ tương xứng. Hiểu ra như thế thì
những định mệnh nổi trôi mới khỏi buồn.
Thời nào cũng có những hồng
nhan đa truân. Bất cứ ở đâu. Kiều năm xưa hay Kiều nay thì cũng vậy. Gặp được
người đồng điệu thì nói ngay tiếng nặng tình. Tinh lắm. Đã gặp được thì không
bao giờ gieo lời mắc mỏ. Làm vậy, không những xấu mặt, mà xấu lòng.
Hình như có sự xếp đặt của
ai đây. Bàn tay ghép gán quả là tài tình lắm. Tài tình và tài tử. Tài tử trong
cái nghĩ ẩn báu lộng ngọc của cuộc đời. Bởi khi ta chạm đến tấm lòng quí giá kia
của Kiều thì lập tức ta gặp cái bao la của trời đất. Hay lắm! Quỷ quyệt đến thế
thì hết sức.
Và cái bao la kia là gì vậy?
Là gì mà ai nấy đều nặng lòng với? Có kẻ đứng trước bao la mà không thấy được
bao la. Có kẻ ở buổi bình minh, nghe tiếng chim hót đã chạm mặt với cõi vô lượng.
Biết được vô lượng là cùng lúc đến với vô biên. Hay đôi khi gắn bó, hòa lẫn với
nhau trong một cuộc hôn phối son sắt. Qua tay kẻ phàm nhân, cái vô biên được ví
von đối chiếu nghịch lý với cuộc đời hữu hạn của con người. Nhưng nếu rảnh rỗi
một chút hãy ra nhìn sông nước thử. Cái vô biên nằm đâu đó trên cánh vạc chở
hoàng hôn về núi mỗi chiều.
Chạm đến vô biên là nhắc nhở
cái lý sinh tử ở đời. Là muốn tầm tích con đường vô định của sự sống chết. Thường
khi nó gây nên sự buồn bã không nguôi trong kiếp nhân sinh. Trái lại, đi vào
cõi bao la người ta nhận ra được nỗi hân hoan trong lòng. Khi bắt được cái nhịp
của trời đất, lòng ta bỗng reo ca, nhảy múa trong một hòa âm thuận chiều. Một
cái gì đó soi tỏ đời ta như đạo đạt. Đó là cái bước nhảy hân hoan, nối liền trời
với đất, của Zorba trên bờ biển. Cái phút hạnh phúc đó không đến với mọi người.
Cái sự hòa nhịp kia cũng không thể có nếu lòng ta không được trang bị vẻ thênh
thang của vũ trụ. Có thực sự chạm đến cõi vĩnh phúc vô hình, mới hý lộng, mới
nhảy múa say sưa đến thế được .
Cho nên, nói đến chuyện
riêng chung của trời đất là nói trong cái lý đó vậy. Cũng không dễ gì tập tành
sự độ lượng. Muốn có được phải làm cả một cuộc đổi đời. Thay cái nhìn. Thay trí
óc. Và tuyệt đối phải có một con tim đẹp đẽ.
Nếu không, cái tình với cõi
bao la kia chỉ là cái tình gian lận. Và còn thú vị gì một cuộc chơi thiếu hào hứng
như thế. Trời đất nương ta, nhưng ta vốn như con bệnh, thủy chung không phát
giác được gì. Con mắt rêu phong đã đóng kín ta lại với thế giới ích kỷ, hẹp
hòi, riêng tư. Làm sao còn nghe ra tiếng hoan ca của thế giới bên ngoài. Nếu bảo
là nghe, thì sao lại có thể thiếu hòa điệu đến thế được. Chân tay trì trệ. Đời
sống như đóng đinh, xa cách. Đừng mưu toan với trời đất. Hạnh phúc xa lạ kia chỉ
dành cho người có lòng. Kẻ hời hợt dễ đàm tiếu, thị phi về cái hạnh phúc đó lắm.
Bởi nhìn gần, hạnh phúc đó có vẻ phù du quá. Không mang lại áo cơm. - Đến thế
thì còn nói thêm được một lời nào nữa. Hãy ôm lấy cái phần của mình. Kẻ nổi
trôi gặp người trôi nổi. Cứ theo trời xa đất rộng kia mà rong chơi vui thú một
đời vậy.
Biển sóng, biển sóng đừng xô
tôiĐừng xô tôi ngã dưới chân người
Biển sóng, biển sóng đừng xô nhau
Ta xô biển lại sóng về đâu
Sóng bạc đầu và núi chìm sâu
Ta về đâu đó
Về chốn nào mây phủ chiêm bao
Cuộc sống không thể thiếu tình yêu
Tôi là kẻ vô đạo trong tình yêu
những khi tôi giận hờn cuộc đời. Khi cuộc đời yêu tôi, tôi sẽ là tín đồ của tình yêu. |
Người ta nói trên trái đất
không có gì ở ngoài qui luật cả. Nhưng tình yêu hình như cũng có lúc là một ngoại
lệ. Tình yêu có thể nâng bổng con người nhưng cũng lắm lúc nhấn chìm kẻ háo hức.
Tôi không tin những người quá lạc quan khi nói về tình yêu bằng thể khẳng định.
Người ta có thể tin rằng mình được yêu và cũng có thể hiểu nhầm mình không được
yêu.
Tôi không thể nói về một vấn
đề mà chính bản thân mình cũng chưa hiểu hết. Chưa hiểu hết là nói theo kiểu đại
ngôn chứ thật sự là hoàn toàn không thể hiểu. Nếu có người nào đó thách thức
tôi một trò chơi nghịch ngợm thì tôi sẽ mang tình yêu ra mà đánh đố. Tôi e,
không ai dám tự xưng mình am tường hết nội dung phong phú và quá phức tạp của
tình yêu.
Có người yêu thì hạnh phúc;
có người yêu thì đau khổ. Nhưng dù đau khổ hay hạnh phúc thì con người vẫn muốn
yêu. Tình yêu vì thế mà tồn tại. Con người không thể sống mà không yêu. Hàng
nghìn năm nay con người đã sống và đã yêu - yêu thật lòng chứ không phải giả.
Thế mà đã có không biết bao nhiêu là tình yêu giả. Cái giả mà rất thật trong đời.
Sự giả trá đó lúc biết được thì làm khổ lòng nhau biết bao nhiêu mà kể. Người
giả, người thật nhìn nhau lúc bấy giờ ngỡ ngàng không biết thế nào nói được.
Người thật thì nằm bệnh, người giả thì nói, cười huyên thuyên. Ðời sống vốn
không bất công. Người giả trong tình yêu thế nào cũng thiệt. Người thật thế nào
cũng được đền bù.
Tình yêu thời nào cũng có.
Nhưng có tình yêu kết thúc bi thảm đến độ có khi con người không dám yêu. Yêu
mà khổ quá thì yêu làm gì. Có người đã nói như vậy.
Tôi đã có dịp đứng trên hai
mặt của tình yêu và dù sao chăng nữa, tôi vẫn muốn giữ lại trong lòng một ý
nghĩa bền vững: "Cuộc sống không thể thiếu tình yêu".
Trịnh Công Sơn và Khánh Ly
(1992)
Diễm của những ngày xưa
Thuở ấy, có một người con
gái rất mong manh, đi qua những hàng cây Long não lá li ti xanh mướt để đến trường.
Nhiều ngày, nhiều tháng của
thuở ấy, người con gái vẫn đi qua dưới những vòm cây long não.
Có rất nhiều mùa nắng và mùa
mưa cũng theo qua. Những ngày nắng ve râm ran mở ra khúc hát mùa hè trong lá.
Mùa mưa Huế, người con gái đi qua nhoà nhạt trong mưa giữa hai hàng cây long
não mù mịt.
Nhà cô ấy ở bên kia sông, mỗi
ngày phải băng qua một cây cầu rồi mới gặp hàng long não để đến trường.
Từ ban công nhà tôi nhìn xuống,
cái bóng ấy đi đi về về mỗi ngày bốn bận. Thời buổi ấy những người con gái Huế
chưa hề dùng đến những phương tiện có máy nổ và có tốc độ chóng mặt như bây giờ.
Trừ những người đi quá xa phải đi xe đạp, còn lại đa số cứ chậm rãi đến trường
bằng những bước đi thong thả hoàng cung. Đi để được ngắm nhìn, để cảm thấy âm
thầm trong lòng mình là một nhan sắc. Nhan sắc cho một người hay cho nhiều người
thì quan trọng gì đâu. Những bước chân ấy từ mọi phía đi về những ngôi trường với
những cái tên quen thuộc, đôi khi còn quá cũ kỹ. Đi để được những con mắt chung
quanh nhìn ngắm nhưng đồng thời cũng tự mình có thời giờ ngắm nhìn trời đất,
sông nước và hoa lá thiên nhiên. Long não, bàng, phượng đỏ, mù u và một dòng
sông Hương chảy quanh thành phố đã phả vào tâm hồn thời con gái một lớp sương
khói lãng mạn, thanh khiết. Huế nhờ vậy, không bao giờ cạn nguồn thi hứng.
Thành cổ, lăng tẩm, đền đài khiến con người dễ có một phần nào hoài niệm về quá
khứ hơn và một phần nào cũng giúp cho con người được cứu rỗi ra khỏi vòng tục
luỵ. Và từ đó, Huế đã hình thành một không gian riêng. Nó không cám dỗ như cõi
phồn hoa đô hội nhưng nó là mạch nguồn gợi cảm nhẹ nhàng riêng. Từ đó con người
bỗng đâm ra mơ mộng và mơ ước những cõi trời gần như không có thực.
Nhưng sự thật và mơ là gì?
Thật ra nói cho cùng cái này chỉ là ảo ảnh của điều kia. Và với những ảo ảnh đó
đã có một thời khá dài lâu những con người lớn lên trong thành phố nhỏ nhắn đã
dệt gấm, thêu hoa những giấc mơ giấc mộng của mình.
Bút pháp của Trịnh Công Sơn
Đó cũng là thời gian mỗi
sáng tinh mơ, mỗi chiều, mỗi tối, khi tiếng chuông Linh Mụ vang xa trong không
gian, truyền đi trên dòng sông để đến với những giấc mộng của mình.
Thời gian trôi đi ở đây lặng lẽ quá. Lặng lẽ đến độ con người không còn cảm
giác về thời gian. Một thứ thời gian không màu sắc, không bóng hình, chỉ có cái
chết của những người già vào mùa đông quá rét mới làm sực tỉnh và bỗng chốc nhận
ra tiếng nói thì thầm của lăng miếu, bia mộ của những vùng núi đá chung quanh.
Trong không gian tĩnh mịch
và mơ màng đó, thêm chìm đắm vào một khí hậu loáng thoáng liêu trai, người con
gái vẫn đi qua đều đặn mỗi ngày dưới hai hàng cây long não để đến trường. Đi đến
trường mà đôi lúc dường như đến một nơi vô định. Định hướng mà không định hướng
bởi vì những bước chân ngày nào ấy dường như đang phiêu bồng trên một đám mây
hoan lạc của giấc mơ.
Người con gái ấy đã đi qua một
cây cầu bắc qua một dòng sông, qua những hàng cây long não, qua những mùa mưa nắng
khắc nghiệt để cuối cùng đến một nơi hò hẹn.
Hò hẹn nhưng không hứa hẹn một điều gì. Bởi vì trong không gian liêu trai ấy hứa hẹn chỉ là một điều hoang đường - giấc mơ liêu trai ngày nào sẽ không có thực và sẽ biến mất đi.
Người con gái đi qua những hàng cây long não bây giờ đã ở một nơi rất xa, đã có một đời sống khác. Tất cả chỉ còn là kỉ niệm. Kỉ niệm nào cũng đáng nhớ nhưng vẫn phải quên. Người con gái ấy là Diễm của những ngày xưa.
Hò hẹn nhưng không hứa hẹn một điều gì. Bởi vì trong không gian liêu trai ấy hứa hẹn chỉ là một điều hoang đường - giấc mơ liêu trai ngày nào sẽ không có thực và sẽ biến mất đi.
Người con gái đi qua những hàng cây long não bây giờ đã ở một nơi rất xa, đã có một đời sống khác. Tất cả chỉ còn là kỉ niệm. Kỉ niệm nào cũng đáng nhớ nhưng vẫn phải quên. Người con gái ấy là Diễm của những ngày xưa.
Chợt tôi thấy thiên thu là một
đường không bến bờ
(Trịnh Công Sơn. Báo Tuổi trẻ,
ra ngày 6-2-1994)
Những con đường trăng tròn
là những con đường trăng khuyết. Vẫn là những con đường cũ en đi qua và tôi đi
qua. Thế rồi, có những lúc tôi đi qua những con đường mù mịt không trăng. Những
tro tàn quá khứ bỗng dậy lên một cơn lốc cuốn tôi về với những con đường ma
quái ảo ảnh chập chờn.
Cái chập chờn của một thân
thể phiền não không biết mai nay mốt nọ ra sao, cứ thắc thỏm muốn gởi gắm vào
cuộc đời một linh hồn phiêu lạc. Tôi phiêu lạc bao nhiêu năm rồi trên một dòng
đời không bờ bến. Có khi tưởng bờ là bến. Có khi tưởng bến là bờ. Cái tạm và
cái thường hằng lắm khi là một. Thế mà cứ lại là khác nhau. Cái bờ mỏng manh
khoảnh khắc ra đi. Cái bến nhiều khi bền bền ở lại. Bờ mở ra những bến. Có dâu
bể cho bờ. Nên định mệnh bờ thường trói buộc thân phận bến.
Tôi là bờ em ra đi. Em là bến
tôi ghé lại
Con đò ghé qua bờ này bờ nọ, nhưng sẽ đậu lại ở một bến kia.
Con đò ghé qua bờ này bờ nọ, nhưng sẽ đậu lại ở một bến kia.
Mùa xuân là bờ hay bến? than
ôi, mùa xuân chỉ là bờ. Ai ai trong đời này cũng có lần ghé qua cái bến tạm mùa
xuân. Cái bờ bến mùa xuân nhập nhằng những dặm trường lận đận. Thoắt nhiên bến
xuân chỉ còn lại là bờ. Cái biến đi qua, rồi cái bờ ở lại. Cái bến hiu hắt của
một thuở tưởng rằng thời hoàng kim bến sẽ mãi mãi không bao giờ là bờ. Thế rồi
tuổi đời người người -đến đến – đi đi cứ mộng vờ, hoang tưởng hão huyền một thứ
bờ bờ - bến bến, không biết nơi nào để neo lại một thân thể phiêu bồng.
Có thể bến cho em và bờ cho
tôi. Tôi cứ mãi đi và em ở lại. Cái thân phận thuyền quyên ấy đừng làm đau xót
đời. Cuối cùng, trong cõi mông lung mờ mờ ảo ảo, em vẫn chính là cái bến hư ảo
một cách vẹn toàn mà tôi có lúc mỏi mệt sẽ tìm về nương tựa.
“ Ru đời đi nhé cho ta nương
nhờ lúc thở than”…
Cái bờ ru lời hiu quạnh lau lách. Cái bến ru chập chờn một đốm lửa chiều…
Cái bờ ru lời hiu quạnh lau lách. Cái bến ru chập chờn một đốm lửa chiều…
Trong một giấc ngủ bồng bềnh
không giờ giấc của mùa xuân, tôi thảng thối thấy bờ bến bỗng rã tan thành những
cánh bèo mông lung vô định. Em tôi không bến và tôi không bờ. Em trôi đi và tôi
cũng trôi đi. Em và tôi cũng là bến. Em và tôi cũng là bờ. Chúng ta tan biến
vào nhau thành một khối bến bờ không còn chia lìa nữa. Trong em không còn trí
nhớ về bến. Trong tôi cũng mất hết những ký ức về bờ. Bến ở đâu và bờ ở đâu?.
Diễm xưa - Khánh Ly
Bút pháp của Trịnh Công Sơn
bài Diễm Xưa
Trần Khanh






Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét