Sứ mạng thi sĩ:
Nhớ và tưởng
Thi sĩ, người
thiết lập một con đường ngôn ngữ, một thế giới ngôn ngữ, dù để cho cái Đẹp (Mỹ),
cho cái Thật (Chân), hay cho cái Tốt (Thiện), thì thế giới ngôn ngữ đó bao giờ
cũng in đậm nét sự tìm lại, nhớ lại, khám phá trở lại cái thiên đường hài hòa
đã mất, hay nói một cách triết học, in đậm sự mong mỏi trở về Hữu thể, nỗi nhớ
quê nhà Hữu thể (nostalgie de l'Etre).
Con người từ bao
giờ, ít nhất là từ khi sanh ra đời, đã bị cắt lìa với Hữu
thể (Etre, Being, Sein), như đứa bé phải cắt lìa cuống rốn để giã từ thai tạng,
giã từ lòng mẹ. Hữu thể là chữ của văn hóa Tây phương, còn trong ngữ cảnh
Đông phương thì có thể gọi là Đạo, là Thể tánh, là Pháp giới tánh, là tánh
Không... Còn nói theo ngôn ngữ hiện đại chung cho cả Tây lẫn Đông thì đó là
Thực tại (ví dụ phẩm Nhập pháp giới của kinh Hoa Nghiêm, Thomas Cleary dịch
là Entry into the Realm of Reality), là cái Toàn thể, cái đầu tiên và cuối
cùng, cái Đời Sống viết hoa. Ra đời, nghĩa là từ giã thế giới bản thể, cái hỗn
mang đồng nhất để đến sống trong thế giới hiện tượng sai biệt và vì sai biệt
cho nên có thời gian, vô thường và cái chết.
Thi sĩ, người
thiết lập một con đường ngôn ngữ, một thế giới ngôn ngữ, dù để cho cái Đẹp (Mỹ),
cho cái Thật (Chân), hay cho cái Tốt (Thiện), thì thế giới ngôn ngữ đó bao giờ
cũng in đậm nét sự tìm lại, nhớ lại, khám phá trở lại cái thiên đường hài hòa
đã mất, hay nói một cách triết học, in đậm sự mong mỏi trở về Hữu thể, nỗi nhớ
quê nhà Hữu thể (nostalgie de l'Etre).
Người ta thường trách các thi sĩ có giọng điệu buồn, luyến tiếc, ca thương
cho những mất mát. Nhưng trách làm sao được, khi những người đầy tính xã hội,
tính lý trí như Khổng Tử ở Đông phương và Karl Marx ở Tây phương cũng đi tìm
tương lai của xã hội bằng sự hoài nhớ quá khứ. Một đằng là nhớ tưởng về đời
Nghiêu Thuấn, một đằng ngầm ẩn một hoài nhớ Do Thái giáo về viễn tượng trời mới
đất mới sau khi thế giới đã kinh qua những đảo lộn cách mạng. Nhưng biện chứng
pháp là gì nếu không phải là sự lặp lại ở mức cao hơn cái ban đầu?
Thi sĩ là sự
hoài nhớ cái ban đầu (Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy. Ngàn năm hồ dễ mấy ai
quên). Thi sĩ là người nhớ lại Hữu thể qua ngôn ngữ. Hữu thể là cái mà mình
đã đánh mất, đã quên đâu đó từ lúc nào không rõ. Phải chăng Hữu thể là cái
tinh túy, là yếu tính (essence) của cuộc sống, của hiện hữu (existence) ở trần
gian này? Phải chăng Hữu thể là cái hiện hữu của hiện hữu, cái đời sống của đời
sống (existence de l'existence, existence vừa có nghĩa là hiện hữu, vừa có
nghĩa là đời sống)? Và nếu theo chủ nghĩa hiện thực thì thi sĩ sẽ ở mức độ của
mình thể hiện cái hiện thực của chủ nghĩa hiện thực (la réalité du réalisme).
Thi sĩ là người
tìm lại sự hài hòa của trời - đất - người (Thiên - Địa - Nhân), tìm lại một
vũ trụ hài hòa trước khi có cơn gió bụi:
Thuở trời đất nổi
cơn gió bụi
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên
Xanh kia thăm thẳm tầng trên
Vì ai gây dựng cho nên nỗi này
(Chinh phụ ngâm)
Không phải tình
cờ mà tập thơ đầu tay và cảm thức đầu đời của Chế Lan Viên có tên là Điêu
tàn. Điêu tàn không phải chỉ là sự điêu tàn cụ thể của vương quốc Chiêm. Điêu
tàn là cái thế giới này so với cái vương quốc lý tưởng luôn nằm trong tâm tưởng
mà hình như mình đã từ bỏ, đã bị cắt lìa. So với cõi “thiên tiên” của Văn Cao
trong những bài hát Suối mơ, Bến xuân, Thiên thai trong vắt thì ở đây quả là
điêu tàn. So với cái “sơ nguyên tượng”, “sơ nguyên mộng” (chữ của Bùi Giáng)
thì đây quả là đất trích và thi sĩ là trích tiên, tiên bị đày xuống thế gian:
Lên mù sương xuống
mù sương
Bước xa bờ cỏ xa đường thương yêu
Tuổi thơ em có buồn nhiều
Thì xin cứ để bóng chiều bay qua
Bể dâu sực tỉnh giang hà
Còn sơ nguyên mộng sau tà áo xanh
(Áo xanh – Bùi Giáng)
Con người nói
chung và thi sĩ nói riêng, có ai mà không “một lần lạc bước bước ra”, ra khỏi
và nhớ mãi một “ngõ ban sơ”, một “mưa nguồn”, một “màu hoa trên ngàn”:
Ngõ ban sơ hạnh
ngân dài
Cổng xô còn vọng điệu tài tử qua
Lỡ từ lạc bước bước ra
Chết từ sơ ngộ màu hoa trên ngàn.
(B.G)
Trong bài thơ viết
về Đà Lạt, Bùi Giáng đã nói giùm chúng ta một quê hương đích thật đã chìm đâu
trong dâu biển trùng trùng:
Non nước ấy chìm đâu em có biết
Dựng bên trời để nhớ để quên đi
Màu nước chảy để dư vang chia biệt
Vọng miên man trường hận thở than gì.
“Ngày mở mắt ở đây” cũng là ngày mất mát “bờ bên kia” (bỉ ngạn, thuật ngữ
PG):
Ngày mở mắt ngó trời xanh xa thế
Ở đây là màu đất cỏ xuân con
Hè nắng hạ với thu đông buồn thế
Với tình yêu em giữ mất hay còn.
(B.G)
Hàn Mặc Tử,
trong tập thơ đầu tiên Gái quê, lúc ông mới 23 tuổi, chưa bị bệnh tật hành hạ
và cái chết réo gọi từng ngày, đang tuổi thanh niên tài năng nở rộ và phơi phới
tình yêu, chúng ta vẫn bắt gặp một nỗi nhớ nhung mênh mông, một xao xuyến
mông lung, một khắc khoải mơ hồ nào đó. Bài thơ đăng lần đầu trên báo Sài Gòn
Văn Chương được đặt tên là "Mong đợi", về sau trong tập thơ đổi
thành "Tình quê", và được phổ nhạc đã lâu:
Trước sân anh
thơ thẩn
Đăm đăm trông nhạn về
Mây chiều còn phiêu bạt
Lang thang trên đồi quê
Gió chiều quên ngừng lại
Dòng nước luôn trôi đi
Ngàn lau không tiếng nói
Lòng anh dường đê mê...
Nhớ mong và xao
xuyến, khắc khoải như chờ đợi một cái gì không biết đã đánh mất ở đâu từ đâu,
và mơ hồ mong gặp lại. Đây là sự nhớ mong, xao xuyến, khắc khoải của chàng
cùng tử trong kinh Pháp Hoa, lang thang phiêu giạt đói khổ cả vật chất lẫn
tinh thần, tuy không biết mình là đứa con một trưởng giả giàu có, thân phận
mình không phải nghèo nàn lang thang, nhưng đôi lúc rảnh rang giữa cảnh “tình
quê”, không khỏi bâng khuâng tự hỏi biết đâu mình lại có một quê nhà ở đâu
đó.
Thi sĩ là nỗi nhớ
muôn kiếp, là bài sầu ca (élégie) nhớ xứ mênh mông:
Đồn xa quằn quại bóng cờ
Phất phơ buồn tự thuở xưa tìm về
Ngàn năm sực tỉnh lê thê
Trên thành son nhạt chiều tê cúi đầu...
Đêm mơ lay ánh trăng tròn
Hồn xưa gởi tiếng thời gian, trống dồn.
(Chiều xưa - Huy Cận)
Nỗi nhớ mong, sầu
xứ, xao xuyến, khắc khoải, bất an này là một cảm thức mang tính hữu thể học
(ontologie). Có nhớ mong, có bất an, khắc khoải, thì phải có một cái gì đó: một
cái gì đó chìm sâu đâu trong tiềm thức để khơi gợi về một cái toàn thể, một
cái hài hòa khiến cho ta có những cảm thức này và để cho những cảm xúc ấy trở
về và chấm dứt trong đó. Còn nếu không có Hữu thể thì cũng phải có một cái gì
đó cho mọi khắc khoải chấm dứt, dù đó là Hư vô (le Néant), mà Hư vô hiểu một
cách thô thiển là cái chết. Phải chăng, có sự bất an của cái phần tử là bởi
vì nó âm thầm cảm thấy một cái Toàn thể nào đó để giải quyết cho nỗi bất an tự
nền tảng hiện hữu của nó, và dù gì nó cũng phải tự giải quyết nỗi bất an đó
(Tập thể) bằng cách giải thể toàn bộ cơ cấu của những cái đã tạo ra bất an (Tập
đế) để chấm dứt hoàn toàn mọi bất an (Diệt đế) bằng một con đường tự giải
thoát (Đạo đế). Chẳng riêng gì thi sĩ, con người ai cũng phải đi theo tiến
trình này, dù có khi chỉ là theo cách của mình, khả năng của mình, ảo vọng của
mình.
Thi sĩ là người
nhớ và tưởng, là kẻ si tình Hữu thể, cái Toàn thể, cái Hài hòa xa xưa, cái
Thiên Nhiên viết hoa, mà hình như mình đã đánh mất hoặc có thể chưa bao giờ
có nhưng rồi phải đạt đến. Cái đó có thể là Em của Trịnh Công Sơn, một Em mà
tất cả những cô gái trên đời này chỉ là cái cớ, cái phản ảnh xa vời của cái
Em vĩnh cửu, Em thiên thu. Ngay cả Diễm, một người có thật, thì Diễm đó cũng
phải là Diễm xưa, Diễm xa xưa, Diễm huyền thoại, Diễm của ký ức, nghĩa là của
một thời gian xa xôi thụt lùi đến tận vĩnh cửu thiên thu. Và Diễm đó hay những
ai đó được đồng hóa với vũ trụ, với thiên nhiên, với trời đất vốn hài hòa từ
nguyên thủy:
Mưa vẫn mưa bay
trên tầng tháp cổ
Dài tay em mấy thuở mắt xanh xao...
Xin hãy cho mưa qua miền đất rộng
Để người phiêu lãng quên mình lãng du
(Diễm xưa)
Chỉ một “đôi vai
gầy guộc nhỏ” cũng làm cho nhạc sĩ - nhạc sĩ là nhà thơ của âm thanh - mơ về
“chốn xa xăm”:
Nắng có hồng bằng đôi môi em
Mưa có buồn bằng đôi mắt em
Vai em gầy guộc nhỏ
Như cánh hạc về chốn xa xăm...
Chỉ một thoáng
em đi qua cũng đủ để “tôi tìm thấy tôi”, để nghe “lời thiên thu gọi”, cũng đủ
để “nằm mộng suốt đêm trong thiên đường”:
Hôm chợt thấy em đi về bên kia phố
Trong lòng bỗng vui như đời rất lạ
Tôi tìm thấy tôi theo từng gót xa
Làm nhiều lá bay trên đường đi
Tôi tìm thấy tôi như giọt nắng kia
Làm hồng chút môi cho em nhờ
Ta nghe đời rất mênh mông
Trong chân người bước chầm chậm...
Dưới đường phố kia có người nhớ em
Nằm mộng suốt đêm trong thiên đường.
Nhưng dù có khi
“nghe lời thiên thu gọi”, có khi mơ“ ta về đất rộng khói trời mênh mông”, thì
tất cả cũng chỉ là nhớ và tưởng, bởi vì “rừng xưa đã khép”. Vì “rừng xưa đã
khép” nên “trong khi ta về lại nhớ ta đi”, “nghe mưa nơi này lại nhớ mưa xa”.
Rừng xưa đã khép từ khi cuộc đời làm người trần thế mở ra. Đạo không còn là một
vòng tròn vĩnh cửu toàn vẹn như các họa sĩ Đông phương vẫn vẽ, đạo đã trở
thành con đường gập ghềnh khổ ải cho thân phận con người ra đi và trở về. Và
khổ sở hơn, ra đi mà không đến và trở về mà không tới.
Mở ra với thế giới
này là “đã mất”, “đã lỡ”, đã “lạc trời cao”, đã “không thành”, như bài thơ
"Hư vô" và "Vĩnh viễn" của Bùi Giáng:
Cũng vô lý như lần kia dưới lá
Con chim bay bỏ lại nhánh khô cành
Đời đã mất tự bao giờ giữa dạ
Khi lỡ nhìn viễn tượng lúc đầu xanh
Buổi trưa đi vào giữa dòng lá nhỏ
Tiếng kêu kia còn một chút mong manh
Dòng nức nở như tia hồng đốm đỏ
Lạc trời cao kết tụ bóng không thành
Lá cũng mất như một lần đã lỡ
Trời đã xanh như tuổi ngọc đã xanh
Trời còn đó giữa tháng ngày lỡ dở
Hồn nguyên tiêu ai kiếm lại cho mình...
Mở ra con đường nhân gian là “tự ấy không về nữa”, là mất mát suốt đời:
Hồn xưa tự ấy không về nữa
Ở cõi hư vô dấu đã chìm.
(Hàn Mặc Tử)
Sứ mạng của thi
sĩ là nhớ và tưởng. Nhưng nhớ và tưởng bao giờ cũng là nhớ trở lại và tưởng
trở lại. Nhớ (to recollect) và tưởng (to reflect) đều bao gồm tiếp đầu ngữ
(re, trở lại). Nhớ (recollect) còn có nghĩa là gom góp (collect) trở lại
(re). Gom lại một thế giới đã bị phân mảnh, để làm hoàn nguyên thế giới. Cho
nên con đường của thi sĩ là con đường trở lại, trở về. Trở lại là hướng chung
với Đông phương, chỉ nêu vài từ ngữ Phật giáo: Quy y (trở về nương tựa), hồi
quang phản chiếu (xoay trở lại ánh sáng để soi chiếu), hồi đầu thị ngạn (quay
đầu lại là bờ)... Lão Tử: “Đạo là ra đi, ra đi là đi xa, đi xa là trở về”.
Con đường của
thi sĩ là con đường hồi hương (Bùi Giáng: Hỏi quê rằng biển xanh dâu, Hỏi tên
rằng mộng ban đầu đã xa). Hồi hương bằng ngôn ngữ và qua ngôn ngữ. Và thi ca
là ngôn ngữ hồi hương. Nói cách khác, thi ca là sự hồi hương, sự về nguồn của
ngôn ngữ.
Thi sĩ là người
phát ngôn cho con người về sự nhớ và tưởng tối hậu của con người, về sự mất
mát (do lãng quên) tối hậu của con người. Trong nhớ tưởng của riêng mình, thi
sĩ thiết lập một khu vườn (như Tagore xem mình là Người làm vườn - đầu đề của
một tập thơ của Tagore) của ngôn ngữ, mời gọi Hữu thể về trú ngụ. Thi sĩ là
người lập ra một thế giới ngôn ngữ (lập ngôn). Nhưng lịch sử thi ca đã cho thấy
nhiều, rất nhiều khu vườn ngôn ngữ được lập ra nhưng linh hồn của thi ca, Hữu
thể, không về để trú ngụ, hoặc là chỉ ghé thoáng qua rồi ra đi biệt. Linh hồn
của thi ca, hạc vàng Hữu thể chỉ thoáng ghé qua đâu đó một lần trong lịch sử
một đời người, rồi ra đi vĩnh viễn, để lại lầu Hoàng hạc vẫn còn nằm đó trơ
trụi, vắng không:
Người xưa cưỡi hạc
vàng đi mất
Hoàng hạc lầu đây mãi trống không
Hạc vàng một đi không về nữa
Ngàn năm mây trắng đuổi mênh mông
Sông tạnh Hán Dương cây lúp xúp
Cỏ thơm Anh Vũ bãi xanh xa
Chiều xuống nào đâu quê xứ cũ
Khói sóng trên sông lạnh phiến sầu.
(Hoàng hạc lâu – Thôi Hiệu)
Thi sĩ là người
lang thang tìm kiếm bằng ngôn ngữ, bằng nhớ và tưởng của mình. Trên bước đường
lang thang, những con đường không dẫn về đâu ấy, đôi khi một bước chân như
tình cờ trùng hợp với Con đường (Đạo). Những khoảnh khắc ấy, người ta gọi là
xuất thần (extase), có nghĩa là: “Ở bên ngoài mình, ra khỏi mình, ra khỏi vị
trí của mình” (ex: ra khỏi; stasis: vị trí). Đó là trong một giây phút thoáng
qua, nhớ tưởng bắt gặp đối tượng của mình, khoảng cách thời gian không gian
không còn nữa. Nhớ tưởng gặp lại, đối diện lại (rencontrer: re (lại),
encontrer (chạm mặt, đối diện) đối tượng bấy lâu nhớ tưởng. Hay nói theo ngôn
ngữ Phật giáo, đối tượng của nhớ tưởng không còn bị che khuất, trở nên “hiện
tiền” (hiện diện trước mặt).
Hàn Mặc Tử, nỗi ám ảnh của ông là Trăng, hầu như bài nào cũng có chữ Trăng.
Trăng như thực tại tối hậu, trăng như sự giải thoát. Trong bài thơ
"Trăng vàng trăng ngọc" (bài này có phổ nhạc), ông mở đầu, rồi ở giữa
và chấm dứt (3 lần) chỉ bằng một câu:
Trăng! Trăng!
Trăng! Là Trăng, Trăng, Trăng.
Trong một giây
phút xuất thần, ông đã thoáng thấy con đường trở về. Nói theo ngôn ngữ TP -
như một gợi ý, vì tinh túy của thi ca thì không thể giải thích, chỉ có thể gợi
ý - thì:
L'Etre (Trăng) est l’Etre (Hữu thể là Hữu thể). Hay: Hữu thể là (L'Etre est),
hay dịch theo cách khác, Hữu thể đang là. Nói theo Đông phương, cái Hiện tiền
đang hiện tiền. Hay: cái vốn có thì đang có, cái vốn hiện hữu thì vẫn đang hiện
hữu. Nói một cách triết học, đó là cái Như thị, tánh Như, hay “Tất cả các
pháp bổn lai thanh tịnh”...
Sứ mạng của thi
sĩ là nhớ và tưởng. Qua sự nhớ và tưởng của những thi sĩ, họ đã giúp con người
chúng ta đến đối diện với sự nhớ tưởng tối hậu của mỗi người. Chính trong sự
nhớ tưởng đó, con người được nâng cấp, được sửa soạn hành trang, mà theo Phật
giáo, đó là một phần của giai đoạn Tư lương vị. Cho đến một lúc nào, bằng con
đường chơn chánh (Bát chánh đạo) nó sẽ gặp được đối tượng của sự nhớ tưởng. Gặp
lại, đó là ý nghĩa của sự trở về.
Trở về với cái
gì, gặp lại cái gì? Ở cấp độ hoàn toàn của sự giải thoát, của sự về đến (Đệ
bát địa, tương đương cấp độ A la hán của Nam tông), kinh Hoa Nghiêm, phẩm Thập
địa nói đến thật tánh như đối tượng của sự trở về: “Thật tánh của mọi sự là
chân thường, tánh Như, vượt khỏi tư tưởng”.
Và tại sao gọi
con đường ấy là sự trở về, về nguồn, về với thật tánh bổn nguyên? Một trong
mười từ ngữ để gọi địa này là Đồng chơn địa (Thomas Cleary dịch là “The stage
of youth, because of innocence”, “địa của sự trẻ trung, vì trong trắng vô nhiễm”.
Nói theo ngôn ngữ Thiền, trở về với “bổn lai diện mục”, khuôn mặt xưa nay của
tất cả.
Sự phát triển của
thi ca là sự phát triển của con đường trở về. (Ngay cả khoa học vật lý cũng
là đi trên con đường hoàn nguyên: tìm lại bản chất tối sơ của vũ trụ là gì).
Thi ca là con đường trở về của ngôn ngữ. Và nói rộng ra, tất cả mọi loại nghệ
thuật là con đường trở về của/bằng/qua/mọi phương tiện nghệ thuật.
|
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét