Nhiều lúc tôi nghĩ bà chỉ bé bằng một con gà mái. Đoạn đường
chạy qua cánh đồng chỉ chừng một cây số nhưng có lần bà đi từ khi gà gáy đến
tối mịt mới lên đến nhà tôi. Không phải bà đi chậm mà không nghĩ tới nơi bà
đang đến. Thế giới xunh quanh bà đã luôn luôn mời gọi bà ngồi xuống và trò
chuyện với chúng cho đến khi nào bà thấy cần phải đứng dậy đi thì thôi.
Tôi đã từng nhìn thấy bà trên con đường chạy qua cánh đồng.
Bà đi chậm rãi như một con ốc sên đang bò. Có lúc tôi nghĩ bà là một con ốc
sên khổng lồ. Vì lưng bà còng nằm song song với mặt đất nên hình như bà không
nhìn về phía trước. Nhưng bà vẫn nhớ từng chỗ rẽ của con đường. Những con đường
đã nằm trong trí nhớ bà hay nó là chính bà mà bà không bao giờ lạc đường.
Răng bà đã rụng hết không còn một chiếc nào. Chính vì thế
mà mặt bà nhỏ hơn. Một gương mặt kỳ lạ với những nếp nhăn xếp đều từng lớp
làm tôi cảm tưởng mặt bà lợp bằng những nếp nhăn đó. Khi ăn cơm, bà không
dùng đến đũa. Bà lấy tay vê những hạt cơm thành một viên cơm tròn nhỏ và đưa
vào miệng nuốt như người ta nuốt thuốc viên. Bà ăn như một con gà mái ăn từng
hạt ngô và chẳng cần mắm muối, chẳng cần thịt cá. Với bà, sự đa dạng của ẩm
thực chẳng có ý nghĩa gì.
Đã có lúc tôi nghĩ bà sống bản năng như một đa bào. Nhưng ý
nghĩ đó bị đánh gục ngay sau khi tôi nhìn bà ôm bà nội tôi kể những câu chuyện
thời nhỏ của hai người và bà biết dùng những lời lẽ thật ngọt ngào để an ủi
bà nội tôi khi bà nội tôi bị ốm.
Mỗi lần lên thăm bà nội tôi, bà không bao giờ chịu ngủ trên
giường. Tối tối mẹ tôi chuẩn bị giường chiếu cho bà và ép bà lên giường ngủ.
Nhưng chỉ sau đó bà lại bỏ giường xuống ngồi ở góc nhà lưng tựa vào tường. Bà
ngồi ngủ ở góc nhà suốt đêm.
Sau này tôi biết bà đã ngủ như thế từ khi còn nhỏ. Gia đình
bà quá ngèo và quá đông con, không có gạo ăn, không có giường ngủ từ khi còn
bé. Bà đã ăn khoai lang hàng năm liền và ngủ trong góc nhà suốt từ bé cho đến
lớn. Và thế là những điều kiện vật chất không thay đổi được thói quen của
bà...
Có buổi tối tôi nhìn thấy hai đôi mắt bà sáng như hai hòn
than củi trong góc nhà tối đen. Tôi giật mình sợ hãi. Bà cười khành khạch.
Sau đó bà mắng tôi: " Cha bố mày, bà chứ ma đâu mà mày sợ ". Vào
những ngày có nắng hanh trong mùa đông, bà nội tôi và bà ra sân ngồi bắt chấy
cho nhau. Hai người đàn bà già nua trải chiếc khăn thâm ra nền sân và bắt những
con chấy bỏ vào đó.
Thi thoảng bà lại gọi tôi và bảo: "Mày đếm cho bà được
mấy con chấy rồi". Hồi ấy, khi tuốt trứng chấy, những người đàn bà thôn
quê thường đưa cái trứng chấy vào miệng và cắn một tiếng rất giòn. Bà là người
kiên trì dạy tôi cắn trứng chấy. Hồi đó tôi không biết làm thế nào mà bà cắn
trứng chấy nổ giòn như thế mặc dù bà chẳng còn chiếc răng nào.
Tôi học mãi mà không cắn được giòn và bà lại mắng tôi:
"Cắn cái trứng chấy mà cũng không nổ, sau này mày chẳng làm được gì ra hồn".
Lưỡi bà như lời của một nhà tiên tri. Tôi đã sống trên thế gian này 50 năm mà
nghĩ đi nghĩ lại thấy đúng là mình chẳng làm được gì cho ra hồn
Những chuyện tôi đang viết đây mới chỉ là chuyện của hơn bốn
mươi năm về trước. Nhưng nó mang không khí của một thời đã quá xa xăm. Nó như
từ những thế kỷ trước. Tôi hoàn toàn tin rằng, nếu bà sống cho đến tận ngày
nay, trong thời đại có qúa nhiều biến động và có quá nhiều điều kiện vật chất
thì bà vẫn sống như vậy.
Bà sống như chẳng liên quan gì đến mọi thay đổi và đau khổ
xunh quanh. Nhiều lúc bà ngồi trước một gốc cây và cứ thế trò chuyện. Có lúc
đang nói chuyện bà bật khóc hu hu và có lúc lại cười khành khạch như một đứa
trẻ. Nhiều lúc tôi ước giá tôi chui vào được trong mắt bà để nhìn đời sống
này xem bà nhìn nó như thế nào và thấy những gì. Hoặc là được chui vào óc bà
để xem bà nghĩ gì.
Tôi không bao giờ chắc chắn được bà đang nghĩ gì và nhìn một
con mèo có giống tôi nhìn nó không. Nhiều lúc bà hỏi tôi nhưng tôi không hiểu
bà hỏi gì. Sau này nhớ lại những lúc như thế, tôi mới giật mình hiểu ra rằng
lúc đó bà đang nói chuyện với một con mèo. Nhưng không phải bà đang nói chuyện
với một con mèo mà lúc đó bà nghĩ tôi là một con mèo. Tôi chắc chắn là như thế.
Ngày bà nội tôi mất, hầu hết mọi người đều khóc khi đưa tiễn
bà nội tôi về nơi an nghỉ cuối cùng. Nhưng bà Xuýt không khóc. Bà đi chậm rãi
như một con ốc sên bò trên đường. Và vừa bò, con ốc sên không lồ ấy vừa nói
chuyện với người chị họ của mình và đôi lúc lại cười khành khạch. Nhiều người
bảo bà tâm thần hoặc quá lẫn lộn chẳng nhớ gì cả. Nhưng cứ đến ngày giỗ bà nội
tôi là bà bỏ một ngày đi qua cánh đồng lên nhà tôi từ hôm trước và hỏi mẹ tôi
đã chuẩn bị lưng cơm cúng mẹ chồng chưa.
Sau ngày bà nội tôi mất, thi thoảng bà lại đi bộ từ sáng sớm
đến chiều tối lên nhà tôi. Bà chẳng chào hỏi ai như trước kia và cứ lặng lẽ
vào căn buồng của bà nội tôi khi còn sống và làm những gì đó và nói chuyện với
ai đó như chẳng có chuyện gì thay đổi. Có lúc bà đi ra thăm mộ bà nội tôi. Bà
cứ ngồi bên mộ bà nội tôi và nói chuyện và hát một bài hát chẳng ra đầu ra
đuôi mà tôi cũng chưa nghe thấy ai hát như thế bao giờ.
Một lần, người ta thấy bà mang theo một cái bay dùng để xây
nhà ra mộ bà nội tôi. Bà hí hoáy đào đất. Người làng thấy vậy gọi mẹ tôi. Mẹ
tôi vội ra mộ bà nội tôi và hỏi bà đào đất để làm gì. Bà thản nhiên đáp:
" Tao đào huyệt cho tao chứ đào gì nữa mà hỏi". Mẹ tôi kéo bà về và
bảo khi nào bà mất con cháu chúng nó lo chứ việc gì đến bà mà bà phải mó tay
vào. Nghe vậy, bà nói người bà nhỏ, con cháu không biết cứ đào cái huyệt to
như đào huyệt cho trâu thì nằm thế nào được. Bà nói bà ghét nằm ở những nơi rộng
cứ trống huyếch trống hoác, rất khó ngủ.
Bây giờ thì bà chẳng còn sống nữa. Nhưng tôi cũng chưa bao
giờ nghĩ bà đã chết. Tôi nghĩ vậy là do bà cứ sống thản nhiên và chết thản
nhiên. Với bà, sống và chết đều giản dị như nhau. Cả đời bà chẳng hề ốm đau,
chẳng hề lo lắng hay sợ hãi điều gì. Nếu bà là một Thiền sư hay là một hiền
triết thì lại ra một nhẽ. Nhưng bà chỉ là một nông dân không biết chữ. Khi
tôi biết bà thì tôi đã thấy bà chẳng bao giờ nói đến sự sung sướng và cũng chẳng
nói đến sự khổ đau.
Vậy bà là ai? Và vì đâu bà có một cuộc sống như thế? Tôi
hoàn toàn không lý giải được con người bà. Nhưng tôi tin bà là người của cổ
xưa còn sót lại bằng một cách nào đó.Và tôi chỉ biết khi nghĩ đến bà là tôi
nghĩ đến cuộc sống quá nhiều bon chen, quá nhiều tham vọng, quá nhiều sầu não
và quá nhiều sợ hãi của chúng ta.
Rút từ bản thảo cuốn sách Hồi tưởng về những người đã
khuất.
|
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét