Lụt trăng mưa sao
Những dòng rướm máu...
Thơ tôn giáo của Hàn Mặc Tử
Thơ siêu thực của Hàn Mặc Tử
"Sự ham muốn vô biên (...) một cõi trời cách biệt"
Thực, Hư, hai cõi đi về
Chơi Giữa Mùa Trăng
Lãng mạn chưa bao giờ siêu thực thế
Thơ tôn giáo của Hàn Mặc Tử
Thơ siêu thực của Hàn Mặc Tử
"Sự ham muốn vô biên (...) một cõi trời cách biệt"
Thực, Hư, hai cõi đi về
Chơi Giữa Mùa Trăng
Lãng mạn chưa bao giờ siêu thực thế
Những dòng rướm máu...
Tìm hiểu đặc tính siêu thực
trong văn chương Trung bộ, dĩ nhiên cần xem xét thơ Hàn Mặc Tử.(1)
Hoài Thanh bảo Điêu tàn của
Chế Lan Viên là "một niềm kinh dị". Đem so với Điêu tàn, những
bài Đau thương, chẳng hạn, kinh dị hơn nhiều lắm. Vẫn có ý kiến cho rằng đấy
chẳng qua là sản phẩm của một đầu óc bị chấn động vì bệnh tật. Mặt khác, không
ít người đọc thơ lại nhiệt liệt ca ngợi chính những dòng chữ "như dính
máu", gây rùng rợn, hoang mang nọ.
Thơ của Hàn Mặc Tử sau Gái
quê (1936) quả lắm khi lạ hơn lạ. Không mong hiểu được rành mạch, riêng rẽ
từng câu, từng đoạn, thậm chí từng bài thơ đầy vẻ siêu thực kia đâu. Cố gắng,
nhưng chỉ dám mong nắm bắt được phần nào cái bản chất của toàn mảng thơ...
Thơ tôn giáo của Hàn Mặc Tử
Xuân như ý chứa nhiều
bài ca ngợi Chúa, Đức Mẹ. Vũ Ngọc Phan bảo: "Thơ tôn giáo đã ra đời với
Hàn Mặc Tử."
Ô hay, thế bao nhiêu thơ về
Phật giáo suốt nghìn năm trước đấy không phải là thơ sao?
Hoài Thanh chú trọng hướng
khác: "Hình như trong các thi phẩm xưa nay có tính cách tôn giáo không có
gì giống như vậy. Hàn Mặc Tử đã dựng riêng một ngôi đền để thờ Chúa."
Trong đền, nhà phê bình quan sát thấy có "đầy dẫy những kinh cầu nguyện,
những hương đức hạnh, hoa phẩm tiết, nhạc thiêng liêng, cùng ánh trăng, ánh thơ.
Nhất là ánh thơ."
Nếu chỉ có thế, sao phải dựng
riêng?
Yến Lan bình luận: "Anh
là một con chiên ngoan đạo. Tuy nhiên, chất Đạo (thanh khiết, thiêng liêng)
trong thơ Anh đã bị chất Đời (đau yếu, bệnh tật) lấn áp."
Đời khổ, đa số tín đồ vào
nhà thờ cầu nguyện. Hàn Mặc Tử lập riêng một nhà thờ, bằng thơ. Trước Chúa, đa
số tín đồ khép nép tay chân, thở than kín đáo. Hàn Mặc Tử vung múa dữ dội:
"Và trong tay nắm một nạm
hào quang...",
la hét om sòm:
"Hỡi Sứ thần Thiên chúa
Gabriel, (...)
Người có nghe xôn xao muôn tinh tú?
Người có nghe náo động cả muôn trời?
Người có nghe thơ mầu nhiệm ra đời",
Người có nghe xôn xao muôn tinh tú?
Người có nghe náo động cả muôn trời?
Người có nghe thơ mầu nhiệm ra đời",
rồi khăng khăng chất vấn:
"Phượng Trì! Phượng
Trì! Phượng Trì! Phượng Trì!
Thơ tôi bay suốt một đời chưa thấu,
Hồn tôi bay đến bao giờ mới đậu
Trên triều thiên ngời chói vạn hào quang?"!
Thơ tôi bay suốt một đời chưa thấu,
Hồn tôi bay đến bao giờ mới đậu
Trên triều thiên ngời chói vạn hào quang?"!
Yến Lan bất đồng: "Suy
cho cùng, thơ về Chúa, về Đức Mẹ (...) của Hàn Mặc Tử (...) khó (...) thâm nhập
vào tâm hồn người đọc có tín ngưỡng hay không có tín ngưỡng."
Dường như Yến Lan có lý.
Người đọc tín đồ đọc thứ thơ
"chất Đạo (...) bị (...) chất Đời (...) lấn áp", làm sao thưởng thức
nó trọn vẹn được?
Còn người đọc không phải tín
đồ đạo Chúa, không tin Chúa, mà đọc thứ thơ ca ngợi Chúa, làm sao "thâm nhập"
nó được để thấy nó hay?
Thơ siêu thực của Hàn Mặc Tử
Tôn giáo là siêu thực.
Thơ tôn giáo là thơ siêu thực.
Ngoài thơ siêu thực tôn
giáo, Hàn Mặc Tử còn làm những bài cũng có nội dung "siêu" nhưng
không hề thiêng liêng.
Thế là thế nào?
Siêu thực là siêu việt thực
tại, nghĩa là vượt quá thực tại.
Sau khi vượt quá thực tại,
nhân loại có hai lối tư duy.
Kẻ quen tư duy tôn giáo thì
suy tưởng ngay theo hướng nhất định: hoặc Phật hoặc Chúa hoặc...
Người quen tư duy phi - tôn
giáo thì suy tưởng không theo hẳn hướng nào.
Cùng là nghĩ ngợi về cái
không thấy được, nhưng một đằng thuộc về thần học, một đằng thuộc về triết học.
Thơ tôn giáo nhằm phát huy
niềm tin.
Thơ siêu thực (tức siêu thực
phi - tôn giáo) nhằm bày tỏ thắc mắc, xúc cảm của thi sĩ trước những cái nằm
ngoài thực tại.
Hai thứ thơ khác nhau như thế,
liệu một người có thể làm được cả hai hay không?
Rõ ràng là có thể, vì ai
cũng biết Hàn Mặc Tử vừa làm thơ ca ngợi Chúa vừa làm thơ ca ngợi... Trăng!
Hãy thử tìm hiểu thơ Trăng của
Hàn.
"Sự ham muốn vô biên
(...) một cõi trời cách biệt"
Trước khi Hàn Mặc Tử gặp nạn,
thơ ông dường như vắng đạo, nhưng đã chứa khá nhiều trăng. Trong Lệ Thanh
thi tậpđầu đời, có câu nổi tiếng:
"Bóng nguyệt leo song sờ
sẫm gối",
mà nhiều người, như Hoài
Thanh, cho là "vẩn đục". Thi sĩ làm thơ luật Đường, nên "trăng
là nguyệt"(2). Nguyệt quấn quýt hoa, nguyệt sờ hoa chăng nữa, chuyện bình
thường và cũ rích như thơ Mít thơ Quạt, chi mà đục, trong.
Sang Gái quê, nguyệt
càng lẳng lơ:
"Ô kìa, bóng nguyệt trần
truồng tắm,
Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe"
Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe"
và thường khi chỉ xưng
"trăng" thân mật:
"Trăng nằm sóng soải
trên cành liễu,
Đợi gió đông về để lả lơi".
Đợi gió đông về để lả lơi".
Hình ảnh mới, nhưng nội dung
vẫn cũ ít nhất hàng thế kỷ. Từ 1936 về trước, trăng trong thơ Hàn Mặc Tử là
trăng thế tục, trăng chung của tất cả mọi người.
Chỉ sau khi "đau
thương" khởi sự, trăng mới dần dần trở nên riêng tư, bí ẩn, huyền diệu,
thơ trăng mới đạt mức lạ lùng. Không hiểu sao, cũng từ đấy, "trăng thôi là
nguyệt"(3).
Yến Lan bảo trăng chủ trì cả
hơi thơ lẫn tứ thơ Hàn Mặc Tử. Thi sĩ ngậm trăng, cắn trăng, uống trăng, ọe ra
trăng, "dìm hồn xuống một vũng trăng", "ăn vận toàn trăng",
đuổi theo trăng, né mình tránh trăng rụng, nhảy xuống giếng vớt xác trăng v.v.
Cả trời đất bao la bấy giờ dường như chỉ trăng là quan trọng, mà thời gian chỉ
còn đáng kể lúc "ban khuya":
"Tôi đi trong áng sương
mờ
Tìm con trăng lạc ngoài bờ bến kia
Xứ yêu bát ngát, tôi lìa
Dò xem ý tứ ban khuya, tôi liều".
Tìm con trăng lạc ngoài bờ bến kia
Xứ yêu bát ngát, tôi lìa
Dò xem ý tứ ban khuya, tôi liều".
Trong Đau thương, những
dòng bình tĩnh như trên rất hiếm. Trời đất ấy, ánh trăng ấy, tuy vậy không phải
hoàn toàn hỗn độn, mơ hồ, mà có ít nhất hai đặc tính rõ rệt, rất lạ.
Thứ nhất, trăng Hàn Mặc Tử
có mùi. Mùi trăng khi quanh quẩn tầm gần:
"Thơ em cũng giống lòng
em vậy
Là nghĩa thơm tho như ánh trăng",
Là nghĩa thơm tho như ánh trăng",
khi lan tỏa khắp Mênh Mông:
"Như hương trăng đằm thắm
cõi không gian".
Thứ hai, nó có thể phát tiếng:
"tiếng trăng reo vang
vang như tiếng châu báu vỡ lở",
hoặc có thể vang thành tiếng:
"Đang khi mầu nhiệm phủ
ban đêm
Có thứ gì rơi giữa khoảng im
Rơi tự thượng tầng không khí xuống
Tiếng vang nhè nhẹ dội vào tim".
Có thứ gì rơi giữa khoảng im
Rơi tự thượng tầng không khí xuống
Tiếng vang nhè nhẹ dội vào tim".
Ngay cả sao, rất bé nhỏ so với
trăng, tuy không mùi nhưng vẫn có tiếng:
"Trăng sao đắm đuối
trong sương nhạt, (...)
Cả trời say nhuộm một màu trăng,
Và cả lòng tôi chẳng nói rằng.
Không một tiếng gì nghe động chạm,
Dẫu là tiếng vỡ của sao băng...".
Cả trời say nhuộm một màu trăng,
Và cả lòng tôi chẳng nói rằng.
Không một tiếng gì nghe động chạm,
Dẫu là tiếng vỡ của sao băng...".
Sao "bơi" trong
dòng đen đặc, khi dào dạt xôn xao, khi yên tĩnh:
"Sông Ngân đã im lìm
không tiếng sóng".
Người thường như chúng ta dĩ
nhiên không mong ngửi được mùi trăng thơm tho, nghe được tiếng trăng reo, tiếng
sao vỡ, tiếng sóng Ngân Hà.
Hoài Thanh phàn nàn:
"Trời đất này thực của riêng Hàn Mặc Tử, tôi không hiểu được và chắc cũng
không bao giờ ai hiểu được." Trần Thanh Mại cố cắt nghĩa: "Hàn Mặc Tử
có một thính giác đặc biệt (...) nghe cả (...) tiếng chạm của hai đường tơ ánh
sáng..."
Thính giác bén nhạy, e không
đơn giản vậy đâu. Ðất trời, trăng sao của Hàn Mặc Tử không hoàn toàn lộn xộn,
vô nghĩa, mà dường như phần nào tương ứng với một quan niệm thơ tân kỳ.
Giữa những cơn đau dữ dội
thường xuyên, thi sĩ vẫn còn chút tỉnh táo, đủ để trình bày vội vã cái ý của
mình.
Trong thư đề tháng 6/1939, gửi
cho M. (không rõ là ai): "Thơ là sự ham muốn vô biên những nguồn khoái lạc
trong trắng của một cõi trời cách biệt."
Trong lời giới thiệu tập Tinh
huyết của Bích Khê (1939), Hàn Mặc Tử giải thích rõ ràng hơn: "Sự say
mê, tìm kiếm những nguồn hoan lạc vô biên đã dần dần đẩy thi nhân vào bờ bến của
Huyền diệu (...) thi nhân chú trọng về âm thanh và màu sắc (...) nhạc lúc bấy
giờ cũng không còn là nhạc nữa. Nó đã bay ra hương, ra hoa, ra thơm, ra mát, ra
ngọt, ra ngào, ra gì mê tơi, run rẩy, hay âm thầm nức nở, lanh lảnh như giọng
trời, mơn man như ân tình đòi hỏi...".
Thơ, như thế, có khả năng
"Bắt cái vô hình trở nên hữu hình, khiến cái chết trở nên sống, cho vật
câm không còn là câm nữa"...
Thực, Hư, hai cõi
đi về (4)
Tin Chúa, nên khổ quá thì
kêu Chúa. Nhưng sao lại từ ngắm trăng cách bình thường chuyển qua say trăng hơn
say gái?
Cái trăng Bình Định có gì
khác lạ? Thị xã Qui Nhơn phải chăng nơi chốn không bình thường?
Trong lời tựa cho tuyển thơ
văn cuối cùng của mình (1988), Chế Lan Viên ngỏ lời tri ân "quê nuôi"
và tâm sự: "khi tôi lên bảy thì cả gia đình chuyển vào Bình Định (...) Tôi
đã gặp cả một vùng, một trung tâm thơ, trung tâm văn học là Qui Nhơn." Ở đấy,
ông gặp "sự ham đi tìm cái mới, sự không chấp nhận sáo mòn của các thi sĩ
(...) Tôi đã chịu ảnh hưởng (...) tốt đẹp".
"Trung tâm thơ",
thời ấy, có lối sinh hoạt văn nghệ riêng. Hoàng Diệp, một bạn thân của Hàn Mặc
Tử, kể: "... ở Qui Nhơn (...) Những đêm trăng sáng, màu trăng hoang dại,
huyền hoặc, thường quyến rũ chúng tôi đi ngủ biển. Chế Lan Viên, Yến Lan và
tôi... hội họp tại nhà Hàn Mặc Tử, rồi đem ra (drap), mền đi ngủ biển chỉ cách
nhà chàng độ 200 thước. Những đêm ấy là những đêm mưa tầm tã, lụt ngập trời.
Nhưng mưa ở đây là mưa sao, lụt ở đây là lụt trăng. Chúng tôi bị trăng vây phủ
tứ bề, ngăn hết nẻo đường...".
Bị trăng vây bủa mà bên mình
có anh thơ Quách Tấn, em thơ Chế Lan Viên, bạn thơ Yến Lan v.v. thì còn chịu được.
Nhưng suốt thời kỳ Hàn Mặc Tử trốn lánh để khỏi bị bắt vào trại Quy Hòa, đâu phải
đêm nào anh em bè bạn cũng cùng đi ngủ biển với thi sĩ bất hạnh được. Bao nhiêu
đêm trăng lụt sao mưa Hàn Mặc Tử phải đắm đuối một mình trên cát? Một người cùi
đơn độc, thui thủi, giữa bao la trăng...
"Tiêu dao đến nỗi bẽ
bàng,
Đi trong hiu quạnh gặp toàn bơ vơ".
Đi suốt đêm, gặp toàn... không ai cả, nhưng
"Tiếng gà gáy rụng trăng đầu hạ,
Tôi hoảng hồn lên, giận sửng sờ!".
Đi trong hiu quạnh gặp toàn bơ vơ".
Đi suốt đêm, gặp toàn... không ai cả, nhưng
"Tiếng gà gáy rụng trăng đầu hạ,
Tôi hoảng hồn lên, giận sửng sờ!".
Lại Yến Lan: "Tình yêu
trắc trở. Anh dựa vào tình bè bạn. Cô đơn, tù túng quá, Anh dựa vào cái mà
thiên nhiên đã cho Anh nhiều nhất, dễ dàng tiếp cận nhất, là trăng." Căn bệnh
quái ác ảo hóa, hư vô hóa gần tất cả đời sống, chỉ để lại cho kẻ-vốn-khát-yêu
chứa chan một thứ ánh sáng lờn lợt, mơ hồ...
Đời thi sĩ dù khổ tột độ, tự
nó cũng không làm nên thơ hay. Phải có tài, thứ tài thích hợp.
Chế Lan Viên nhận xét:
"Tử có rất sớm (...) cái khả năng (...) tâm tưởng tâm hồn hóa (...) thế-tục-hóa,
da-thịt-hóa (...) ma-quái-hóa (...) nhờ có một cái cốt (...) một cấu trúc tâm hồn
thế nào đó".
Cái cốt khác thường ấy giúp
Hàn Mặc Tử "đi về, qua lại giữa (...) thực và hư... rất thoải mái".
Rất tiện lợi nữa. Bệnh tật ảo
hóa thực tại, thì thi sĩ thực hóa ánh trăng. Bệnh tật cướp đi những khao khát
tình cảm bằng xương bằng thịt, thì thi sĩ bắt ánh trăng huyền ảo đền bù:
"Tôi lại gần bên, ồ! lạ
thường!
Nường trăng, Ô! chính là Thương Thương!".
Nường trăng, Ô! chính là Thương Thương!".
Thương là trăng, trăng là
Thương. Mà Thương chẳng qua cũng chỉ giả danh, tình mới đích thị thực danh:
"Tôi say tình cũng như
tôi say trăng".
Hay "tôi say trăng cũng
như tôi say tình", cũng thế. Tình, trăng, trăng, tình, đi, về, qua, lại.
Chế Lan Viên viết ra điều hiển nhiên: "Hàn Mặc Tử không phải là nhà thơ
siêu thực. Trước sau anh vẫn là lãng mạn (...) dùng nhiều yếu tố siêu thực".
Lãng mạn siêu thực là Hàn Mặc
Tử bồng bột khi bơi trăng tắm sao.
Mặt khác, cũng những khi ấy,
thỉnh thoảng lại xuất hiện một Hàn Mặc Tử khác, trầm ngâm:
"Tối hôm nay muôn sao
bơi nhấp nhánh.
Sông Mê hà đưa đẩy sóng triền miên...",
Sông Mê hà đưa đẩy sóng triền miên...",
triết lý cổ điển:
"Chao ôi! ghê quá trong
tư tưởng,
Một vũng cô liêu cũ vạn đời!".
Một vũng cô liêu cũ vạn đời!".
Ngay giữa tập thánh thi, giữa
những dòng sôi nổi ca tụng Đức Mẹ, giữa chói lọi hào quang, vẫn lạc vào hoặc
chút "cô liêu" cũ kỹ:
"Trời Hàn giang đêm nay
không sóng,
Lòng cô liêu đồng vọng làm chi?"
Lòng cô liêu đồng vọng làm chi?"
hoặc những dòng nước mắt vừa
bàng hoàng vừa tỉnh táo:
"Hôm nay trời lửng lơ
trời,
Dòng sông ánh sáng sẽ trôi hoa vàng.
Tôi ngồi ở bến Hàn giang,
Khóc thôi mây nước bàng hoàng suốt đêm".
Dòng sông ánh sáng sẽ trôi hoa vàng.
Tôi ngồi ở bến Hàn giang,
Khóc thôi mây nước bàng hoàng suốt đêm".
Khi viết những câu thơ ấy,
Hàn nghĩ gì? Có phải, như Chế Lan Viên khóc người anh thơ sáu bảy mươi năm trước:
"Tôi tưởng tượng ra cái phút cuối cùng của Tử. Có phải Tử nghĩ đến (...)
những cái có thật mà mình không về với nữa, cũng như (...) đến nơi không biết
có thật bao giờ, mà mình sắp phải trở về".(5)
Những câu thơ chừng mực lạc
lõng như gợi thủa đầu lành lặn, bình an, lại như nhắc kết thúc bi thảm không
còn xa nữa.
Một cuộc xoay vòng ngắn ngủi
quá, mà cũng dài quá. Thương tâm.
Chơi Giữa Mùa Trăng
Miên man về thơ siêu thực của
Hàn Mặc Tử, chợt nhớ Hàn còn có văn siêu thực.
Chơi Giữa Mùa Trăng rất đỗi
thơ, óng ánh kỳ ảo như viên ngọc lớn, như chính tâm hồn và tài năng của người
nghệ sĩ bất hạnh đã "kết tinh ở bao thanh sắc lạ":
"Trăng là ánh sáng? Nhất
là trăng giữa mùa thu, ánh sáng càng thêm kỳ ảo, thơm thơm, và nếu người thơ lắng
nghe một cách ung dung, sẽ nhận thấy có nhiều miếng nhạc say say gió xé rách lả
tả... Và rơi đến đâu, chạm vào thứ gì là chỗ ấy, thứ ấy vang lên tuy chẳng một
ai thấy rõ sức rung động (...)
Sông? Là một giải lụa bạch,
không, là một đường trăng trải chiếu vàng, hai bên bờ là động cát và rừng xanh
và hoang vu và thanh tịnh. Chị tôi và tôi đồng cầm một mái chèo con, nhẹ nhàng
lùa những dòng vàng trôi trên mặt nước.
Chị tôi cười nả nớt, tiếng
cười trong như thủy tinh và thanh khiết lạ thường. Luôn luôn cứ hỏi tôi và đố
tôi cho kỳ được: "Này chị đố em nhé, trăng mọc dưới nước hay mọc trên trời,
và chúng mình đi thuyền trên trời hay dưới nước?" Tôi ngước mắt ngó lên trời
rồi ngó xuống nước và cũng cười đáp lại: "Cả và hai chị ạ." Sướng
quá, chao ôi, hai chị em lại thỉnh thoảng rú lên cười làm náo động luồng tinh
khí của hạo nhiên.
(...) Thuyền đi êm ái quá,
chúng tôi cứ ngờ là đi trong vũng chiêm bao, và say sưa và ngây ngất vì ánh
sáng, hai chị em như đê mê, không còn biết là có mình và nhận mình là ai nữa. Huyền
ảo khởi sự. Mỗi phút trăng lên mỗi cao, khí hậu cũng tăng sức ôn hòa lên mấy độ,
và trí tuệ, và mộng, và thơ, và nước, và thuyền dâng lên, đồng dâng lên như
khói... (...)
(...) "Thôi rồi! Trí
ơi! Con trăng nó bị vướng trên cành trúc kia kìa, thấy không? Nó gỡ mãi mà
không sao thoát được, biết làm thế nào, hở Trí?" Tôi cười: "Hay là chị
em ta cho thuyền đỗ vào bến này, rồi ta trèo lên động cát với tay gỡ hộ cho
trăng thoát nạn." Hai chị em liền giấu thuyền trong một bụi hoa lau bông
vàng phơi phới, rồi cùng lạc vào một đường lối rất lạ, chân dẫm lên cát mà cứ
ngỡ là bước trên phiến lụa. Nước suối chảy ở hang đá trắng, tinh khiết như mạch
nước ngọc tuyền, chồm lên những vừng lá, hễ trông đến là kinh hãi vì ngó giống
con bạch hoa xà như tạc...
Sao đêm nay kiều diễm như bức
tranh linh động thế này? Tôi muốn hỏi xem chị tôi có thấy ngọt ngào trong cổ họng
như vừa uống xong môt ngụm nước lạnh, mát đến tê hết cả lưỡi và hàm răng? Chị
tôi làm thinh, mà từng lá trăng rơi lên xiêm áo như những mảnh nhạc vàng (...)
Ánh sáng tràn trề, ánh sáng
tràn lan, chị tôi và tôi đều ngả vạt áo ra bọc lấy, như bọc lấy đồ châu báu
(...)
(...) "A ha, chị Lễ ơi,
chị là trăng mà em đây cũng là trăng nữa!"."
Lãng mạn chưa bao giờ siêu
thực thế
Trăng, trước Hàn Mặc Tử chưa
bao giờ lãng mạn cách lạ lùng như trên, mà sau Hàn Mặc Tử, càng về sau e càng
kém lãng mạn, bất cứ cách gì. E rồi chỉ còn thứ trăng... ô nhiễm.
Thơ văn siêu thực của Hàn Mặc
Tử không chứa thắc mắc siêu hình như thơ Chế Lan Viên, cảm xúc vũ trụ như thơ
Huy Cận, cảm xúc thời gian như tác phẩm Võ Phiến. Nó chất đầy khát khao lãng mạn
mang dáng màu siêu thực.
"Đau thương" thăng
hoa, đã góp thêm vào "vườn văn đầy hương sắc"(6) một đóa màu...
trăng, thơm tho, đằm thắm, vang vang...
Tất cả các chỗ trích dẫn
trong bài này đều rút từ các sách sau đây:
Thơ Hàn Mặc Tử, nxb. Đại Nam
tái bản ở Mỹ.
Thơ Hàn Mặc Tử, Sở VH-TT
Nghĩa-Bình, in lần 2, 1988.
Hàn Mặc Tử - Thơ và đời,
nxb. Văn Học, VN, 1993.
Chế Lan Viên - Thơ văn chọn
lọc, Sở VH-TT Nghĩa-Bình, 1988.
Hoài Thanh, Thi nhân Việt
Nam.
Vũ Ngọc Phan, Nhà văn
hiện đại.
Văn xuôi lãng mạn Việt Nam
(1930-1945), nxb. KHXH, VN, 1990.
Thơ Bích Khê, Sở VH-TT Nghĩa
Bình, 1988.
(1) Xem bài Một Miền, Ba Dấu
trong Tìm tòi và suy nghĩ (2005).
(2) Lời trong bài Nguyệt Ca
của Trịnh Công Sơn.
(3) Xem trên.
(4) TCS có bản nhạc tên Một
Cõi Đi Về.
(5) Chế Lan Viên, "Kỷ
niệm về Hàn Mặc Tử", báo Người Mới, số 5, 23-11-1940, in lại trong tuần
báo Văn Nghệ, VN, số 25, 19-6-2004.
(6) Nguyễn Hiến Lê có tác phẩm
tên Hương sắc trong vườn văn.
Thu Tứ






Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét