Thứ Bảy, 17 tháng 10, 2015

Một vài khía cạnh liên quan đến tinh thần âm nhạc trong thơ tượng trưng

Một vài khía cạnh liên quan đến 
tinh thần âm nhạc trong thơ tượng trưng
    Âm nhạc thơ tượng trưng là mới mẻ và độc đáo. Nó giúp thơ không rơi vào miêu tả, kể lể, hình thái của diễn từ, mà hướng đến tìm kiếm, gợi lên một thế giới vô hình trong tính thống nhất thâm u và sâu xa của nó. 
Beaudelaire
Khi nghiên cứu về thơ tượng trưng (symbolism), các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng: cùng với yêu cầu về sự ám gợi (suggestion), sáng tạo hình ảnh biểu tượng (symbol)…, mẫu số chung của đặc điểm mĩ học thơ tượng trưng chủ nghĩa là nhạc tính (musicality), hay sự đề cao tinh thần âm nhạc . Trong “Nghệ thuật thơ” (Art poétique) Paul Verlaine viết:
De la musique avant toute chose
Et pour cela préfère l’impair
Plus vague et plus soluble dans l’air
Sans rien en lui qui pèse ou qui pose
(Âm nhạc trước mọi thứ. Và vì thế nên chọn thơ chân lẻ, mơ hồ và dễ tan hơn trong không, không có gì là nặng nề hoặc kênh kiệu ở trong đó). Ông hoàng của thơ tượng trưng còn khẳng định: “nhạc điệu, (thơ) luôn cần nhạc điệu” (De la musique encore et toujours!).
   Vấn đề âm nhạc không phải là mới mẻ, bởi vì với thơ dù muốn hay không, âm nhạc vẫn là một phần phẩm chất có tính bản thể của nó. Những nhà văn cổ điển, những bộ óc lí trí nhất cũng đã từng phát biểu về điều này. La Fontaine, nhà thơ ngụ ngôn thế kỉ XVII nói “chẳng có thơ nào không có nhạc”, còn Voltaire, nhà văn và là nhà tư tưởng của thế kỉ “người ta dùng đầu để đi” thì cho rằng “thơ là hùng biện du dương”. Théodore de Banville (1823-1891) đi gần với quan niệm hiện đại hơn: “thơ vừa là nhạc, là hoạ, là tạc tượng, là hùng biện, thơ phải làm vui tai thích trí, tỏ rõ được âm thanh, bắt chước màu sắc, khiến cho trông thấy mọi vật  và kích thích ta những rung động… Thơ là nghệ thuật hoàn hảo, cần thiết và bao hàm các nghệ thuật khác” [14, tr.353]….
   Tuy nhiên, âm nhạc trong thơ cổ điển, thơ lãng mạn (và cả thơ dân gian) có ít nhiều sự khác biệt so với thơ tượng trưng. Ở các hình thức thơ này, tuy các yếu tố âm điệu, vần điệu, giai điệu rất được chú trọng, nhưng chủ yếu gắn với chức năng mô phỏng sự vật, các trạng thái cảm xúc của nghệ sĩ và mĩ lệ hóa cách diễn đạt. Nhìn chung, do gắn với mục đích trình bày cảm xúc, âm nhạc trong thơ trước thời đại tượng trưng chủ yếu mang ý nghĩa tu từ học. Trong khi đó, với thơ tuợng trưng, tu từ (rhetoric) không còn được coi là yếu tố quan trọng. Thơ tượng trưng không lấy trình bày cảm xúc làm mục đích chính, mà điều quan trọng là nhận thức và diễn đạt thế giới. Do vậy, âm nhạc trong thơ tượng trưng một mặt gắn với mục đích đưa thơ ca vượt ra khỏi hình thái của diễn từ, mặt khác và quan trọng hơn là, âm nhạc phải được nâng lên thành biểu tượng (biểu tượng thính giác) để làm nổi lên một thế giới không nhìn thấy, trinh nguyên, vô hạn đằng sau bề mặt sự vật - lĩnh vực mà ngôn từ logic và tư duy duy lí bất lực.   
Tinh thần âm nhạc của thơ tượng trưng liên hệ sâu xa với tư tưởng triết học và mĩ học Schopenhauer (1788 - 1860).
   Sau Kant, Schopenhauer là một trong những triết gia có ảnh hưởng mạnh nhất đến nhiều thế hệ văn học thế kỉ XIX (và còn liên hệ đến chủ nghĩa hiện đại thế kỉ XX). Về mặt mĩ học, nếu Kant là người đưa ra quan niệm mĩ cảm (cái đẹp) không đến từ bản thân vật thể mà từ mô hình (pattern) hay biểu tượng (symbol) chúng ta có về nó, cái đẹp có tính vô vị lợi, không thuộc cảm giác thường nghiệm mà là cảm giác siêu nghiệm, thì quan tâm nghệ thuật của Schopenhauer lại dựa trên quan niệm triết học của ông ở một khiá cạnh khác. Hầu như trong toàn bộ triết học của mình Schopenhauer tập trung vào việc khám phá động lực sâu xa chi phối sự vận hành của thế giới. Trong “Thế giới như là ý chí và sự biểu hiện”   (The world as Will and Representation) viết năn 1818, ông cho rằng thế giới là một thể thống nhất, ở đó tiểu vũ trụ (con người) và đại vũ trụ (thiên nhiên) có sự hòa hợp và được vận hành bởi ý chí siêu hình mà ông gọi là “ý chí sống” (will to live) và coi đó là bản chất sâu xa nhất của thế giới và đời sống con người. Khác với Hegel, Schopenhauer cho rằng ý thức đi liền với khái niệm chỉ có thể lĩnh hội được thế giới trong tính rời rạc của nó chứ không giải thích được tính thống nhất, liên tục. Theo ông, ý chí là nguồn cao nhất và cuối cùng của sự tồn tại, nó không phụ thuộc lí trí, ý chí tự nó là vô hạn và vĩnh cửu, chính nó qui định tính liên tục của mọi sự tiến hoá. Đi từ quan niệm ấy, về nghệ thuật Schopenhauer quan tâm tới âm nhạc; và chính quan niệm của ông đã chi phối một cách căn bản đời sống và sáng tạo của thiên tài âm nhạc Đức Richard Wagner (1813 - 1883), và sau đó gián tiếp ảnh hưởng đến các nhà thơ tượng trưng như Charles Baudelaire, Stéphale Mallarmé, Arthur Rimbaud, Paul Verlaine, Maeterlinck, Paul Valéry, Paul Claudel …. Âm nhạc, đối với ông đó là sự biểu hiện trực tiếp của bản thể sự vật, là tiếng nói của ý chí siêu hình. Ông trình bày rõ quan niệm này trong “Thế giới như là ý chí và sự biểu hiện” rằng: “Khi âm nhạc phù hợp với bất kì cảnh tượng, hành động, sự kiện hoặc môi trường nào, nó dường như phơi bày với chúng ta ý nghĩa bí mật nhất của nó(tức sự vật)” [10, p.3 of 4]. Không phải ngẫu nhiên, trong sự phân loại nghệ thuật, Schopenhauer dành cho âm nhạc một vị trí riêng, đặc biệt. Trong khi nghệ thuật kiến trúc ở vị trí thấp nhất của sự biểu hiện khách quan của ý chí và bi kịch ở vị trí cao nhất nhờ khả năng thanh lọc (catharsis), âm nhạc một mình đứng tách ra ngoài các nghệ thuật ấy. Theo Schopenhauer, âm nhạc không phải nghệ thuật để trình bày tự nhiên.
    Tinh thần âm nhạc của thơ tượng trưng còn liên hệ sâu sắc với quan niệm nghệ thuật của Edgar Allan Poe (1809- 1849), người viết thơ lãng mạn và tượng trưng, truyện ngắn tưởng tượng nổi tiếng Mỹ. Những người say mê dịch các tác phẩm Edgar Allan Poe ra tiếng Pháp như Baudelaire, Mallarmé…đã chịu ảnh hưởng trực tiếp quan niệm nghệ thuật của tác giả này, qua đó ảnh hưởng của Poe lan rộng đến cả một thế hệ các nhà thơ Pháp cuối thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX.
    Poe là một tài năng đa dạng và độc đáo. Có thể nói về ông vơí nhiều vai khác nhau: nhà thơ, bậc thầy của truyện trinh thám (Detective stories) và truyện kinh dị (horror stories), người viết tiểu luận phê bình văn học. Trong toàn bộ sáng tác của mình, Poe luôn nhất quán với phương châm: đối với một tác phẩm nghệ thuật tốt điều quan trọng là phải tạo được ấn tượng mạnh ở người đọc thông qua khả năng gợi cảm của sự kiện, hình ảnh (đối với văn xuôi) và nhịp điệu (đối với thơ). Trong “Triết lí sáng tạo” (The philosophy of composition), ông viết: “ khi nói về cái đẹp, họ muốn nói về hiệu ứng chứ không phải chất lượng (khác) như thường nghĩ” [7, tr. 314] và “có hai điều luôn đòi hỏi: trước hết là sự sắp xếp, và thứ hai là sự khêu gợi, tất nhiên đó là sự khêu gợi ngầm, không xác định của nghĩa” [7, tr. 322]. Nhận ra sự nghèo nàn, khô khan của văn học Mỹ kéo dài từ thế kỉ thuộc địa (thế kỉ XVII) đến thế kỉ ánh sáng (thế kỉ XVIII - đầu thế kỉ XIX) với sự đề cao quá mức sự thực hành chức năng xã hội và văn học không hư cấu (non - fiction), Poe muốn làm một thay đổi mạnh mẽ thông qua việc đề cao cái đẹp, xem đó là địa hạt của thơ ca và sáng tạo nó là sứ mạng thiêng liêng của nghệ sĩ. “Cái đẹp là địa phận hợp pháp duy nhất của thơ ca…cái đẹp của bất cứ cái gì, khi khai triển đến độ tột cùng của nó, luôn kích thích tâm hồn đa cảm phải rơi lệ”(Beauty is the sole legitimate province of the poem…Beauty of whatever kind, in it’s supreme development, invariably excites the sensitive soul to tears) [7, tr. 314 - 315]. Để tạo được thứ thơ thuần khiết (pure poetry), Poe chủ trương thơ phải giàu nhạc tính, xem đó là yếu tố cốt lõi, và mỗi bài thơ phải là một bầu khí quyển mà trong đó cái đẹp ngự trị. Trong “Nguyên lí thơ” (The poetic principle), Poe rất có lí khi cho rằng: thi cảm của con người được thể hiện ở nhiều nghệ thuật khác nhau như hội họa, điêu khắc, kiến trúc, khiêu vũ, trong sự phối trí các khu vườn cảnh, nhưng đặc biệt trong âm nhạc. Bởi vì, âm nhạc giúp thơ cất cánh, mở ra những chân trời mới vô hạn cho tưởng tượng của nghệ sĩ: “trong sự kết hợp thơ với nhạc, trong ý nghĩa phổ biến, chúng ta có thể tìm thấy mảnh đất rộng rãi nhất cho sự phát triển của thơ” (In the union of poetry with music in  it’s popular sense, we shall find the widest field for the poetic development) [7, tr. 330]. Giàu nhạc tính trở thành đặc điểm nổi bật nhất của thơ  E.A. Poe. Những tác phẩm như “Mơ trong mơ” (A dream within a dream),“Mảnh đất thần tiên” (Fairyland), “Lễ hội tình yêu” (A Valentine), “Những tiếng chuông” (The bells), “Gửi mẹ” (To my mother)…là những bài thơ hay, mỗi bài là một bầu khí quyển tinh khiết, ở đó âm thanh hoà hợp với nhau, các cung bậc và giai điệu mê hoặc, lôi cuốn người đọc vào thế giới của những sự tưởng tượng kì diệu. Có thể nêu ví dụ một đoạn trong bài thơ “Những tiếng chuông” của ông:
Hear the sledges with  the bells-
               Silver bells
What a world of merriment their melody foretells!
How they tinkle, tinkle, tinkle,
In the icy air of night!
While the stars that oversprinkle
All the heavens, seem to twinkle-
With  a crystalline delight…
(Những chiếc xe trượt tuyết với những cái chuông. Những cái chuông bằng bạc. Giai điệu của chúng báo tin một thế giới hân hoan! Những tiếng kêu leng keng không dứt trong màn đêm lạnh buốt. Trong khi đó những vì sao chi chít, tất cả bầu trời lấp lánh với niềm vui pha lê). Đó là một đêm giáng sinh tràn ngập niềm hân hoan. Nhưng nếu chỉ dừng ở sự miêu tả ấy, bài thơ không nói được nhiều hơn. Điều đáng kể ở đây chính là sự liên kết các từ thính giác và thị giác tạo thành một giai điệu bất tận, lan tỏa, diễn tả sự tương hợp xúc cảm giữa con người và vũ tru, và từ đó gợi lên một thế giới của sự viên mãn. Poe đã tạo nên “những tiếng chuông ngôn từ kì diệu”.
     Với việc sử dụng nhạc điệu trong bài thơ “Con quạ” (the raven), Poe lại tạo ra một hiệu ứng khác. Có người đã cho rằng ở bài thơ này Poe đã quá thiên về kĩ xảo ngôn từ, điều đó không sai. Nhưng vấn đề ở đây là kĩ xảo ngôn từ của Poe không tạo nên hình thức thuần túy (dù ông chủ trương thơ tinh khiết) mà diễn đạt một cách hiệu quả tối đa cảm xúc của nhà thơ. “Con quạ” là bài thơ dài, nói về tâm trạng cô đơn, buồn chán của Poe, gắn với nỗi đau của ông về cái chết của người vợ trẻ. Không phải ngẫu nhiên, trong toàn bộ tác phẩm Poe đã 6 lần nhắc lại từ “nothing more” (không còn gì nữa) và 11 lần từ “nevermore” (không bao giờ nữa) như  những điệp khúc. Về kĩ thuật phối âm, Poe nói rằng ông đã chọn vần “or” vì điệp khúc “nothing more” và “nevermore” phù hợp với Leonorre - cái tên đã được chọn, chỉ thiên thần đã mất của ông. Làm thơ là “sáng tạo nhịp điệu của cái đẹp” (I would define, in brief, the poetry of words as the rhythmical creation of beauty) [7, tr. 331]. Những điệp khúc ấy đã làm thành giai điệu, nhấn mạnh tâm trạng trống vắng, nức nở trước mất mát không thể nào khỏa lấp được của tâm hồn.
      Có một thực tế: mặc dù Poe là người phát động, chủ trương một thứ thơ tinh khiết và nêu lên rằng nhạc tính phải là vấn đề có tính nguyên lí của thơ ca, muốn mở ra một thời đại mới cho thơ Mỹ, nhưng trong thế kỉ XIX Poe chưa được đón nhận một cách rộng rãi. Một số nhà thơ của phong trào siêu nghiệm (transcendentalism) như Waldo Ralph Emerson, David Thoreau, Theodore Parker có nhận ra thiên tài của Poe, nhưng bối cảnh văn học Mỹ lúc bấy giờ chưa đủ  điều kiện sản sinh một thế hệ. Ngược lại, trong lúc đi tìm cho thơ con đường thoát ra khỏi áp lực của chủ nghiã duy lí và tinh thần thực chứng luận cuối thế kỉ, các nhà thơ Pháp đã tìm thấy và áp dụng một cách hăng hái học thuyết của Poe và tính nhạc được tôn vinh với chủ nghiã tượng trưng. Thêm vào đó, niềm tin về một thế giới nhất thể và quan niệm bên dưới thế giới hữu hình là thế giới vô hình mà họ tiếp thu được từ thuyết Thần cảm (Illuminism) Đức thế kỉ XVIII đã khiến các nhà thơ tượng trưng càng ngày càng thể hiện sự tin cậy vào tính hữu hiệu của cái công cụ học được từ nhà thơ Mỹ trong mục đích nhận ra thế giới của những điều chưa biết.
    Âm nhạc trở thành điều kiện cho những gì mà thơ tượng trưng khao khát. Baudelaire (1821-1867) với sự cảm nhận bằng giác quan (chủ yếu là thính giác và khứu giác) đã làm cho thế giới vô hình hiện ra, gần lại và liên kết với thế giới hữu hình trong sự thống nhất sâu xa, vô tận. “Tương hợp” (correspondences) là một bài thơ có ý nghiã tuyên ngôn cho thơ tượng trưng ở cả hai khiá cạnh nghệ thuật thơ và cái nhìn mới của ông về tính nhất thể của vũ trụ. Ở khổ thơ thứ 2 và 3 Baudelaire viết:
Comme de longs échos qui de loin se confondent
Dans une ténébreuse et profonde unité,
Vast comme la nuit et comme la clarté,
Les parfums, les couleurs et les sons se répondent.
Il est des parfums  frais comme des chairs d’enfants,
Doux comme les haubois, verts comme les prairies
- Et d’autres, corrompus, riches et triomphant…
(Như những tiếng vọng dài phiá xa hoà lẫn/ giưã cảnh bao trùm tăm tối thẳm sâu/ Mênh mông như đêm đen và như ánh sáng/ Hương thơm, sắc màu và âm thanh tương hợp với nhau/ Có những mùi hương tươi tắn như da thịt trẻ nhỏ/ Dịu dàng như tiếng kèn ô-boa, xanh rờn như đồng cỏ/ Và những mùi hương khác, đã biến chất, hân hoan, phong phú).
    Baudelaire đã khai thác tối đa hiệu quả của âm thanh để diễn đạt sự thống nhất thầm kín, bí ẩn cuả vũ trụ. Ông tạo ra sự lặp đi lặp lại âm “on”, một âm giọng mũi trong tiếng Pháp, để tạo ra một sự hòa điệu. Sự kết hợp âm thanh ấy đã làm mờ đi ý nghiã phản ánh của đoạn thơ và gợi lên cái mênh mông, sự thống nhất sâu xa và thâm u của thế giới (ténébreuse et profonde unité). Để gợi lên cái vẻ đẹp nguyên sơ, Baudelaire còn kết hợp với các từ tạo ấn tượng cho giác quan như “frais” (trong “parfums frais”/ những mùi hương tươi tắn), “doux” (trong “doux comme les haubois/ dịu dàng như tiếng kèn ô-boa), “verts” (trong “verts comme les prairies”/ xanh rờn như  đồng cỏ). Tất cả những sự kết hợp ấy đều tuân theo nguyên lí của nhạc tính để gợi lên một vũ trụ thống nhất, trong đó “hương thơm, màu sắc và âm thanh tương hợp với nhau” (les parfums, les couleurs et les sons se répondent).
   Trong những thế hệ các nhà thơ tượng trưng (cả thế kỉ XIX và XX), Paul Verlaine là nhà thơ tiêu biểu nhất ở tính nhất quán giữa “tuyên ngôn” và thực tiễn sáng tác, trong tinh thần âm nhạc. Về mặt lí thuyết, ông là người cổ xuý cho yêu cầu này (“âm nhạc trước mọi thứ”, “nhạc điệu, (thơ) luôn cần nhạc điệu”). Về sáng tác, những tập thơ tiêu biểu của ông như “Những bài thơ sao Thổ” (poèmes saturniens, 1866) ,“Tình ca không lời” (romances sans paroles, 1874)… thực sự là những giai điệu của một tâm hồn ưa hướng nội để thoát ra khỏi sự vây bủa của những thù nghịch của đời sống. Bài “Khúc ca mùa thu” (Chanson d’automne) có thể được xem là bài thơ điển hình nhất cho nhạc tính của thơ ông:
Les sanglots longs
Des violons
De l’automne
Blessent mon coeur
D’une langueur
Monotone….
(Những tiếng khóc nức nở kéo dài/ (của) cây vĩ cầm/ (của) mùa         thu/ làm trái tim tôi/ uể oải/ đơn điệu).
Đoạn thơ không khó hiểu. Tài năng Paul Verlaine không thể hiện ở chiều sâu của vấn đề được nói tới (như sự tương hợp trong thơ Baudelaire), hay ở “nghệ thuật cao siêu” (ảo giác và thấu thị ở Arthur Rimbaud, sự tự trị ngôn từ của Mallarmé), mà ở những hình ảnh âm thanh được tác giả sử dụng. Paul Verlaine vừa sử dụng dòng thơ ngắn, đứt quãng, vừa liên kết các từ gần âm (long, violon, automne, monotone) liền mạch với nhau, diễn đạt cảm xúc nức nở triền miên trong một giai điệu du dương tế nhị - sự hoà hợp của mùa thu thiên nhiên và trạng thái tâm hồn con người.
   Paul Verlaine cũng là người ít ưa sự phức tạp trong diễn đạt. Ông thường nhấn mạnh hai điều: coi trọng cảm xúc cá nhân với ấn tượng nhất quán của bài thơ và xem chức năng thơ là gìn giữ những khoảnh khắc cảm xúc dâng lên cực điểm, lúc mà tâm trạng con người và ngoại giới dễ hoà hợp nhất (trong “Những khúc Ariettes bị bỏ quên” cũng có nét tương tự với “Khúc ca muà thu” khi ông viết : “mưa rơi trong tim tôi / như mưa rơi trên đường phố”). Chỉ chừng ấy, nhưng với ki thuật tạo nhạc tính tuyệt vời, Verlaine vẫn được xem là hoàng tử của thơ tượng trưng, là một trong những nhà thơ có giọng thơ trong trẻo, độc đáo và lâu bền nhất của thơ ca Pháp.
   Người ta từng nói nhiều đến âm nhạc trong thơ Lamartine, một đại biểu của phái lãng mạn thế kỉ XIX với các tập thơ “Trầm tư”, “Hoà âm”. Bản thân Lamartine cũng đã thổ lộ: “Tôi giống như một nhạc sĩ bỗng bắt gặp một ý nhạc, rồi tự hát khẽ cho mình nghe”[18, tr. 378]. Tuy nhiên, như Lamartine nói, nhạc tính ấy cất lên một cách tự nhiên, nguyên uỷ từ hồn thơ của một người đại diện cho “nỗi sầu thế kỉ” (Le Mal du siècle) luôn tiếc thương một quá vãng hoàng kim đã bị những cơn lốc của lịch sử tước đoạt, cuốn phăng đi. Cũng là âm nhạc nhưng ở Lamartine chủ yếu gắn với việc thể hiện những cảm xúc từ nghiệm sinh cá thể tác giả, và mở rộng ra, tâm trạng của một thế hệ các nhà thơ bất bình, tuyệt vọng trước tình trạng xã hội không như ý. Nhạc thơ tượng trưng có khiá cạnh khác biệt: lúc biểu hiện màu sắc kĩ thuật, lúc nghiêng về mục đích diễn đạt những huyền diệu, bí ẩn của thế giới và tâm linh con người.
Chủ nghiã tượng trưng (symbolism) tự nó là một khái niệm mang màu sắc triết học. Đó là một thứ mĩ học - triết học, triết học vũ trụ. Âm nhạc thơ tượng trưng cũng đi theo tinh thần ấy. Đó là âm nhạc của sự mặc khải và thần cảm, nó mới và sâu sắc hơn nhưng cũng khó hiểu hơn.
Tài liệu tham khảo
1. Albérès, R.M (1963), Tổng kết văn học thế kỉ XX, Phạm Đình Khiêm dịch, Viện  đại học Huế,
2. Albérès, R.M (1971), Cuộc phiêu lưu tưởng văn học châu Âu, Vũ Đình Lưu dịch, Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa xuất bản,
3. Annick Benoit, Guy Fontaine (1994), Histoire de littérature European, Hachette, Paris,
4. Arthur Rimbaud (1997), Một mùa điạ ngục, Huỳnh Phan Anh dịch và giới thiệu, Nxb Văn học,
5. Bochenski (1969), Triết học Tây phương hiện đại, Tuệ Sỹ dịch, Nxb Ca Dao, Sài Gòn,
6. Charles Baudelaire (1999), Hoa của nỗi đau, Lê Trọng Bổng dịch, Nxb Thế giới,
7. Edgar Allan Poe (1983), Prose and Poetry, Raduga publishers, Moscow,
8. Eliot, T.S (1962), Tradition and the individual talent (in Selected essaays), Faber and Faber limited, London, p.13-22,
9. Eliot, T.S (1962), Baudelaire (in Selected essays), Faber and Faber limited, London, p. 419-430,
10. Henri Dorra (1995), Symbolist Art theories, The University of California Press,
11. http://www.kirjasto.sci.fi/arthurse.htm (2000), Arthur Schopenhauer (1788-1860)
12. Katheryn Van Spanckeren (1994), Outline of American literature, Published by The United States Information Agency,
13. Lê Hồng Sâm chủ biên (1997), Lịch sử văn học Pháp - tuyển tập thế kỉ XIX, Nxb Thế giới,
14. Lê Huy Hoà, Nguyễn Văn Bình (1995), Những bậc thầy văn chương thế giới - tư tưởng và quan niệm, Nxb Văn học,
15. Novicov, N. (2001), Các qui luật tự nhiên của văn học (trong Nghệ thuật như là thủ pháp - lí thuyết chủ nghiã hình thức Nga), Ngân Xuyên dịch, Nxb Hội nhà văn, tr.51-72.
16. Roland Barthes (1997), Độ không của lối viết, Nguyên Ngọc dịch, Nxb Hội nhà văn,
17. Schultz, E.A.,…(2001), The role of metaphor, metonymy, and symbol and Key metaphors for constructing worldview, (In “Cultural anthropology- A perspective on The human condition), Mayfield Publishing Company, Mountain View, California, London, Toronto,
18. Xavier Darcos (1997), Lịch sử văn học Pháp, Phan Quang Định dịch, Nxb Văn hoá Thông tin.
 Nguyễn Hữu Hiếu
Theo http://www.khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Tô Hoài - Vẽ lên hoài niệm

Tô Hoài - Vẽ lên hoài niệm Những chuyện đời tư sôi nổi, cảm động, thiết tha và gần gũi phần nào cho thấy sự chuyển đổi theo chiều hướng nh...