Thứ Sáu, 23 tháng 10, 2015

Phùng Cung - Lời cuối của quê

Phùng Cung - Lời cuối của quê
Những bài thơ quê độc đáo
Ra đời khi quê lu mờ
Em như chiếc bóng...
Thơ còn mờ hơn cả quê lẫn Em
Dạo một quê, nhớ ba quê
Thơ như biết quê sắp thôi rồi
“Chép lại khoảng trời thuở ấy”
“Chỉ mong được như kiếp trước”
Hình ảnh ca dao mà thơ tự do
Ðôi lời về tự do và kỷ luật
Tại sao thơ Cung chọn tự do?
Tại sao thơ tự do chọn Cung?
Sợ “chẳng có chân trời, thơ ạ”
Ðẹp sao lời cuối của quê

Tái bút: Nhân đọc người anh...

Những bài thơ quê độc đáo (1) 
“Sợi tơ trời
Nghiêng bay trong nắng
Hoa gạo bên sông đỏ thắm
Ðợi chuyến sang
Lúng liếng mây trôi giải yếm
Mái tóc em đẹp gió bến đò.” (Bến Xuân)
“Sông đẹp dòng
Ðò vui rời bến
Cô lái vươn mình
Trôi dáng nhạn
Gió ngỡ buồm quen...
Vạt áo nâu non khép vội tà.” (Dáng Nhạn)
Sông quê, bến đò, hoa gạo, và cả cô lái nữa, có mới mẻ gì đâu. Nhà thơ khuyết danh nào đó trong ca dao, các nhà thơ Nguyễn Bính, Ðoàn Văn Cừ, Hồ Dzếnh thời tiền chiến, chẳng hạn, đã tức cảnh sinh tình, ngâm nga đề vịnh về những cái ấy từ lâu rồi. Vậy mà đọc hai bài ở trên, vẫn thấy rõ ràng không phải thơ... thừa.
Nhắc bến, nhắc cô lái, chợt nhớ muốn sang sông thì phải gọi đò:
“Ðêm về khuya
Trăng ngả màu hoa lý
Tiếng gọi đò
Căng chỉ ngang sông.” (Ðò Khuya)
Trong thơ Việt Nam, đã từng có thứ tiếng gọi đò “căng chỉ” này chưa?
Ra đời khi quê lu mờ
Bây giờ nhắc ao chuôm, chắc nhiều người trẻ ở miền Bắc bỡ ngỡ, kể cả những người đang sống ngay trên đất quê.
Do những thay đổi trong nếp sống, các xóm làng nơi châu thổ sông Hồng đã đua nhau lấp ao từ khá lâu. Thanh niên bây giờ mắt không thấy bao nhiêu ao, mà óc cũng không chứa kỷ niệm gì đáng kể về ao. Nhưng hẳn đa số còn nhớ mấy câu “Ao thu lạnh lẽo nước trong veo...” học trong giờ văn.
Sau đây là mấy bài thơ ao mới hơn thơ Nguyễn Khuyến:
“Trở dậy gặp thu

Không gian ngập mùi ổi chín
Mùi năm ngoái
Ðáy nước ao bèo
Mây trắng lênh đênh
Bâng khuâng mình tự
hỏi mình
Trời thu thả nắng
Giếng đình vắng ai.” (Gặp Thu)
“Trăng đến ao thu
Cá thổi khuyên vàng
lay mặt nước
Cành khế chua
Chọn giờ đeo ngọc
Tiếng dế long lanh
Bên gốc hoàng tinh
Con giun đất mạ vàng.” (Bờ Ao Thu)
“Lá súng lát mặt ao
đếm ngọc
Con sộp phùm vỗ hão
bóng hoa lay
Lá tre rụng
Nhuộm hoàng hôn đỏ gạch
Tiếng cuốc bèo da diết gọi ngày mai.” (Ao Con)
“Trắm chép đi đâu
Ðể ao lặng ngắt
Lộng trời xanh
Con rắn nước vẽ bùa.” (Ao Xanh)
“Gió khách đến
Hoa lộc vừng hoạt bút
Mặt nước xanh đen
Vẽ - xóa - vẽ
Những gì bí ẩn
Khuya khoắt bờ ao
Con đom đóm soi đèn
Tìm dấu hoa văn.” (Ao Ðêm)
Xuân Diệu bảo Nguyễn Khuyến là thi sĩ của cảnh quê.(2)
Sau Nguyễn Khuyến, đến Nguyễn Bính và Ðoàn Văn Cừ. Thời trước 1945, tuy đất nước bị ngoại bang cai trị, nhân dân sống lầm than, nhưng dù sao chưa chinh chiến thì nhà thơ vẫn có thể ngồi lo “hương đồng gió nội bay đi ít nhiều” mà được một số đông người thưởng thức...
Thế rồi, khói lửa ngất trời nối khói lửa ngất trời. Trong thời đánh Pháp, coi như vắng hẳn thơ quê. Cuối thập kỷ 1950, đầu thập kỷ 1960, Hoàng Cầm làm một loạt thơ quê. Khoảng trước sau thống nhất Phùng Cung cũng bắt đầu làm thơ quê. Tuy về mặt nghệ thuật cả hai thi sĩ đã hết sức thành công trong những sáng tác này, thơ xuất sắc của họ khi ra đời không được đón nhận xứng đáng. Vì lý lịch chính trị của tác giả, vì hình thức nghệ thuật của tác phẩm. Cũng vì hoàn cảnh đất nước khiến ít ai còn lòng dạ để vấn vương những ao với cò với với cuốc bèo với đom đóm!
Những bài thơ “chân quê” của Hoàng của Phùng ra đời khi cảnh quê có đó mà cũng gần như không, có trước mắt mà không có được bao nhiêu trong lòng...
Em như chiếc bóng...
Trong thơ, bất kể thơ quê hay thơ tỉnh, vẫn thường có Em.
Hai nhà thơ quê nổi tiếng là Nguyễn Bính và Hoàng Cầm chẳng những có Em mà còn có Chị.
Phùng Cung đỡ rắc rối hơn, chỉ toàn Em thôi:
“Em là người làng
Hay khách lạ thăm ai
Em ngơ ngác lá xuân
lặng gió
Dáng em mềm xóm ngõ
Tôi muốn vay em một chút dịu dàng.” (Vay)
“Trên bến đợi đò
Em ý tứ soi gương đáy nón
Tôi nhận ra ngay
Em gái vùng soi bãi
Trên sông láy tháy mưa mòi
Lũy tre bên ấy
Ngả màu xanh rau khúc
Em mau mắn cười
Nheo mắt đầy sông nước
Tay run run khẽ chỉ
Giọng hẹp dần
Làng em đấy - quê khoai.” (Quê Khoai)
Dịu dàng, ý tứ vẫn là đặc trưng của các “em gái miền quê” một thời.
Em lá xuân, em quê khoai của Cung không khác những cô gái trong khung cửi, cô hàng xóm cách giậu mồng tơi v.v. của Bính.
Sống ở đời, người ta có thể dịu dàng mà vẫn cương quyết đấu tranh với số phận, nhưng Em của Cung thì dịu rồi hóa nhẫn nhục, yên phận, như sẽ thấy. Nhưng trước khi xem đến đoạn cuối cuộc đời Em, hãy xét thêm chút ít đoạn đầu, cùng cái cách “tôi” đã yêu Em.
“Ðêm vắng
Buồng thơm
Em soi gương trộm
Ngọn đèn mượn gió nghé nghiêng.” (Buồng Thơm)
Làm dáng trong đêm, làm dáng thầm, vậy thôi. Không mớ ba mớ bảy, “yếm thắm”, “lụa hồng” tưng bừng, chói lọi như những cô nàng Bên Kia Sông Ðuống của Hoàng Cầm.
Em kín đáo, thầm lặng, rồi “tôi” yêu em cũng rất ít hở, chỉ có đại khái nhớ hóa tưởng, nhớ bắt kiếm cớ bước nhẹ qua ngõ để nhìn thoáng mà bối rối, mà đứng đội mưa:
“Tưởng em đi đâu
Chợt tiếng cười khúc khích
hiên sau
Hàng râm bụt gió lay
nắng tía.” (Nắng Tía)
“Qua ngõ khẽ nhìn
Chẳng thấy em
Sân mưa bụi
Dây phơi xâu hạt nước
Khói bếp ngẩn ngơ
đầu giàn bí
Thoáng bóng em
Tôi bối rối
Mưa bắt đầu nặng hạt.” (Khẽ Nhìn)
Những “cái thuở ban đầu lưu luyến ấy...”(3) không thể kéo dài. Nên có em về với “tôi”. Em lam làm, chịu đựng:
“Em vất vả
Tối ngày tất tả
Lưng áo em
Ngoang vôi trắng xóa
Cái trắng này
Vắt tận trong xương.” (Mồ Hôi Xương, đề tặng vợ)
Ðược vợ ngoan, nên vắng thì hỏi thầm ngay:
“Dưa héo sào phơi
Em đi đâu
Chĩnh nước gốc cau
Ôm khoanh trời cũ
Lá bưởi đầu hồi
Loáng thoáng phân chim.” (Vắng),
thì thấy nhà không còn ai cả:
“Cau gãy bóng chân thềm
Vắng em nhà vắng
Ðồng cấy quá giang
Hoa khế đỏ màu cua
chết nắng
Vườn thoáng chim bay.” (Nhà Vắng)
(Ơ, cái con chim chỉ được cái bay qua bay lại!)
Có em thành vợ. Có em khác, vô duyên với thế tục, cắt tóc lên chùa, khi gặp lại đã thành sư:
“Tình cờ gặp em
Em đã là sư bác
Nhìn trước nhìn sau
Em khẽ khóc
Mái tam quan
Thánh thót tiếng chim rơi
Ngại đường tu dang dở
Em vội lau nước mắt
Vạt áo nâu đẵm màu cát bá
ngày xưa
Trót nhớ mãi
Một chiều nghiêng lụy
Nước mắt em sư
Lã chã trăng Kiều.” (Nghiêng Lụy)
Vừa sư vừa em, đường tu khỏi sao trắc trở:
“Cổng phật chuông lay hoa rụng
Mõ dẫn kinh ruổi nhịp
luân hồi
Vướng lụy hương bay đứt nối
Cành sương trăng níu
giọt nguyên tiêu.” (Ðêm Nguyên Tiêu)
Ngoài em vợ, em sư, Phùng Cung còn một loại em nữa:
“Bàn tay em biết nói
biết cười
Chiếu hát đêm nay
Ðầy đò giang mưa gió
Lỡ tay trong không
Ðổ vỡ cũng trong không
Tôi trộm nghĩ
Chẳng có chân trời em ạ.” (Bàn Tay)
Em ở chùa và em có bàn tay biết cười chắc ít lội bùn, nên dấu chân em mà “tôi” có lần va phải chắc là của em “tối ngày tất tả”:
“Lỡ đò khuya mới về làng
Ngõ quen bước vội
Va dấu chân em
Khô bùn để lại
Ao tím hoa bèo
Ngóng giọt trăng khuya.” (Làng Khuya)
Em, sao mà thương thế.
So với đa số hình ảnh người yêu, người thương nhan nhản trong thơ, Em của Phùng Cung thầm lặng, thấp thoáng như chiếc bóng.
Thơ còn mờ hơn cả quê lẫn Em
Ðã dẫn bao nhiêu thơ, thế mà bây giờ nếu thử đem “đố vui”: tác giả là ai, e hầu hết thí sinh sẽ bí.
Nếu đố câu khác: ai là người cùng họ với Phùng Quán, do dính líu vào vụNhân Văn - Giai Phẩm mà bị tập trung cải tạo khá lâu, nay đã mất, thì có lẽ dễ có thí sinh đập chuông trả lời hơn.
Những bài thơ ấy của Phùng Cung hay tuyệt mà lu mờ quá. Chẳng mấy người biết đến chúng. Ngay cả những người có biết cái tên Phùng Cung. Ngay cả những người biết Phùng Cung có làm thơ!
Thơ ấy chứa quanh quẩn chỉ hai thứ: quê và Em.
Quê bị đời tất bật làm lu mờ.
Em bị cái số vất vả làm lu mờ.
Thơ lại tăm tối hơn cả quê và Em! Vì nó chẳng những chứa những hình ảnh bị lãng quên và đang biến mất, mà còn rủi ro là con đẻ của một số phận bị dập vùi.
Rồi sẽ phải nói rõ hơn.
Dạo một quê, nhớ ba quê
Ngoài bến đò với ao, thơ Phùng Cung còn “vẽ” món quê gì nữa chăng? Nhiều lắm.
“Nắng hẩy gió lên
Hoa bầu rụng
Lèo tèo tóp mỡ
Pháo đất "bốp!" bờ ao
Con cò cói giật mình
“giũ lụa!”
Bóng râm rẽ nắng sang sông.” (Nắng Gió)
“Gió sục giàn bầu
Con ong xanh lạng cánh
Chổi mo ngật đầu hè
ngáng lối
Sào phơi tấm áo sắp rơi.” (Gió Ðẹp)
“Mưa vừa tạnh
Rau cỏ quanh vườn
Dậy mùi dòng giống
Dưới bóng cây
Gà rình mổ hạt nắng non.” (Tạnh Mưa)
“Gió quần lùm ngải cứu
Mùi ngộ cảm đầy vườn
Ghếch bóng chĩnh tương
Con vằn say bả
Hoa chuối tiêu lầm lũi
tím Tam giang.” (Nôn Nao)
“Phận lấm
Tối ngày đào khoáy
Lưng nắng vẽ
Hoa văn tiền sử
Chài chãi đồng chiêm
Mấy kiếp rồi.” (Cua Ðồng)
“Mặt nước đầy căng
Sông chảy bồn chồn hoa nắng
Chim chả nguệch bàn cờ
bến vắng
Bóng xanh trôi.” (Sông Lũ)
“Chiều xâm xẩm
Vườn dâu đòi xanh biển
Con chim chích buông cành
bay liệng
Vẽ vòng sóng vỗ xa xưa.” (Dâu Biển)
“Góc vườn líu chíu nắng non
Cái nợ vỏ khoai
Con chào mào chang chải
Dây bẫy cần
Cánh xõa gió bung biêng
Cành vườn tắt vụt tiếng chim
Bát gà uống đựng chút trời
nghiêng ngả.” (Góc Vườn)
“Ðầu mùa nắng dứ
Hạt mồng tơi kênh đất
nghé trời
Chuối con gái vội hong
búp lụa
Cánh chuồn chuồn lia từng bóng
răm con.” (Nắng Dứ)
“Nắng thắm quết trầu dốc bến
Chiếc bướm bay qua
Quành lại, tưởng hoa rơi.” (Quết Trầu)
Ðọc những bài thơ vừa dẫn, khác gì đi dạo một cảnh quê.
Dạo cảnh này, nhớ cảnh kia cảnh nọ.
Những bài Về Kinh Bắc của Hoàng Cầm cũng thật tuyệt vời.
Mỗi quê một vẻ. Quê Cung là quê trong cái khung đời Cung nên cảnh rất thật, rất rõ. Do thêm kích thước lịch sử, kích thước thời gian, do bắt đầu “tuần du” từ thời... Thánh Gióng, cảnh trong Quê Cầm có chất huyền thoại, mơ hồ, lãng đãng.
Quê Cung cảnh luôn bình dị và thường thiếu bóng người. Quê Cầm cảnh có lúc hoành tráng và lúc nào trong cảnh cũng có người, cảnh làm nền cho người...
Thế “Cầm, Cung” so với “Bính, Cừ” trước kia thì thế nào?
Thơ Hoàng Cầm gần với thơ Nguyễn Bính, vì cảnh quê trong thơ Nguyễn Bính cũng cơ bản đóng vai nền. Hoài Thanh có lần nhận xét: “Nguyễn Bính (...) chỉ ưa sống trong tình quê mà ít để ý đến cảnh quê.”(4) Tình quê vốn rộng, man mác, nhưng ở đây dồn cả về nơi các gái quê. Bính có nhắc đến hoa chanh với cau liên phòng với giầu không với giậu mồng tơi thì chẳng qua cũng do em, do nàng, do cô, do cô em nào đó mà thôi.
Trong khi thơ Phùng Cung vừa giống thơ Ðoàn Văn Cừ vì thơ Ðoàn Văn Cừ cũng lấy cảnh quê làm chính, lại vừa khác vì cái cảnh quê của Cung vắng người hơn hẳn cái cảnh quê của Cừ!
Thơ như biết quê sắp thôi rồi
Suốt mấy nghìn năm người Việt sống trong cảnh quê. Ta “quê” lâu đến nỗi mới cách nay sáu bảy chục năm Hoài Thanh còn thấy “trong mỗi chúng ta một người nhà quê”.(5)

Hết rồi. Từ sau ngày đất nước đổi mới kinh tế để nhập vào cơn sốt văn hóa vật chất đang lây lan mạnh mẽ khắp mặt địa cầu, cảnh quê Việt Nam đã thay đổi với tốc độ siêu thanh. Nơi nơi quê co rút, nhường chỗ cho tỉnh. Nơi nơi quê biến dạng, xa lạ với quê.
“Hương đồng gió nội bay đi nhiều nhiều...”(6)
Phùng Cung chắc chắn là nhà thơ quê lớn cuối cùng. Thơ Cung là lần xuất hiện rực rỡ sau chót của những hình ảnh suốt bao nhiêu thế hệ từng hết sức gần gũi với tâm hồn Việt Nam.
Vậy hãy kiên nhẫn tiếp tục lắng thêm cái tiếng đã gần thành dư âm.
Tỉnh không biết màu gì, còn quê thì nhất định màu xanh:
“Lúp xúp quê xanh
Giải yếm bắc cầu một thuở
Gió bạc cánh
Chưa hết vòng kim cổ
Làng cách làng
Từng quãng phong dao.” (Quê Xanh)
“Làng tôi xanh
Xanh kép xanh đơn
Miệng chim bốn mùa
Nức mùi quả chín
Giọng hót thơm
Thơm tận chỗ chưa thơm
Ngô lúa quanh làng
Một màu xanh cánh chấu
Bát ngát xanh
Hoa gạo cắm cờ
Cành khoắng gió xuân.” (Làng Xanh)
Quê buổi sáng vui nghiêng trời đất:
“Chưa bảnh mắt
Chích chòe ríu rít
Ong thợ tất tưởi
Khoát đường trên hoa lú bú
Trái ớt đầu cành nung lửa
Kẽ sân cái kiến gieo vừng
Trời, đất hơi nghiêng.” (Buổi Sáng Vui)
Nếu là sáng hè, thì càng rộn ràng:
“Hè về thì thầm ven làng
Trong sớm tinh mơ
Tu hú trên ngọn sung chùa
Giật mình, xổng giọng
Chưa kịp đổ hồi, vươn cánh
Bầu trời vội vàng vung lưới hoa cau.” (Vào Hè)
Ðến trưa, ai có bổ cau, ra đón “nắng bổ cau” mà bổ. Còn không, đợi chiều.
“Mảng rêu chiều nắng ghé
mênh mông
Con dế loanh quanh
Tìm lại tiếng mình đêm trước
Vườn hàng xóm ngổn ngang
mùi khế rụng.” (Chiều Nắng Ghé)
“Gió khỏa vườn xoan
Hoa cải lạnh màu trăng khuyết
Ðôi cánh mỏi nhỏ dần
Chiều vời vợi ráng son.” (Chiều Mỏi)
“Ðuôi nắng uể oải
Vườn ổi chín đùa
Bò rống vợi chiều
Lũy tre xóa bóng.” (Chiều Xuống)
“Lộng ráng hoa hiên
Ruột tằm quằn quại
Cõi tiên bay gió lạnh
Trăng nấp sau chiều
Gà gáy vu vơ.” (Chiều Ðộc)
Ráng thôi son rồi, bò thôi rống rồi, con dế đã tìm lại được tiếng mình... Ðêm đã về, nhưng khoan hãy xem đêm, nghe đêm vội, hãy đợi cho đêm khuya, mới thấy, nghe được nhiều điều thú vị.
“Chó sủa dông dài
Gió chuyển canh
Trái thị cuối thu
Thơm mùi trăng úa
Ao khuya nước thở thì thầm.” (Ðêm Cuối Thu)
““Oèng ọec!” trời khuya
Chim lợn xổ giọng hãi hùng
Tôi nhìn sông
Ðầy ắp sao xanh
Ngoằn ngoèo phun tím
Lửa hoa đăng
Rần rật tím luân hồi.” (Sông Ðêm)
“Im ắng bốn bề
Hoa đèn loe mũi lợn
Ma đói lần vườn
Lá rụng
Chó mím mõm sủa nằm
Ðêm canh hến
Khuya khoắt
tròng trành
võng nứa
Giọng khê khàn
Bôi bác điệu tình ru.” (Ðêm Xá Tội)
Nước thở, chim lợn kêu, sông rần rật lửa, hoa đèn loe, chó sủa mím mõm, điệu tình ru bôi bác, chao ơi, cái đêm Phùng! Ngoài những thứ dính liền với đất, đêm còn vài món tự trời rơi xuống.
“Trăng lạnh sân khuya
Chút bụi trăng vương theo
lá rụng
Chợt tỉnh sững sờ
Tưởng lá trăng rơi.” (Lá Trăng)
“Trăng tà
Trĩu ánh
Sương rơi
Ðong trăng lá lạnh
Ðầy vơi bao lần.” (Ðong Trăng)
“Trăng lững thững
Bước vàng tan kim cổ
Vọng xuống lăng thiêng
Giọng đức cuội trời.” (Trăng Thiêng)
Trăng rơi đầy lá, trăng truyền xuống giọng của đức cuội, trăng lại còn vỗ sóng vào bờ mây nơi có cánh cò (vạc?) dạt đêm khuya:
“Sóng trăng nhẹ
Bờ mây ngấn cát
khuya dạt cánh cò
Mắt ruổi vòm sao nhớ
Tiếng sấm xa
Mưa ướt giấc người xa.” (Vòm Sao Nhớ)
Ðêm khuya quá rồi, người ruổi mắt khoanh tròn ôm thế hệ trẻ ngửng nhìn lên lần chót:
“Ðom đóm bay ngang
Ngọn đèn gió bẻ
Hai thế hệ
Khoanh tròn nong ổ rạ
Gà khai khẩu gối mùa
lạnh ấm
Lác đác bên trời
Ngọc úa sao khuya.” (Ðêm Xuân)
“Chép lại khoảng trời thuở ấy”
Hình như trước khi bị giam giữ, Phùng Cung chỉ mới viết văn, chứ chưa làm thơ. Vậy thơ của ông hoặc làm trong trại giam hoặc làm sau khi được phóng thích.
Nói chung nếu chỉ căn cứ vào thơ thì khó biết được thời điểm sáng tác, nhưng không hiểu sao cứ có cảm tưởng hầu hết thơ trong tập Xem đêm là thơ làm khi tác giả đã trở về quê.
Trước khi tiếp tục thưởng thức những bài ấy, hãy đọc mấy dòng có lẽ của một người đang ở đâu đó rất xa nơi y muốn ở:
“Ðêm chợt nghe
Trong gối vọng tiếng ru
Lắng tai mới rõ
Tiếng tóc mình chuyển bạc.” (Nghe Ðêm)
Tiếng ru lạ ngừng, tóc chuyển màu xong, người bạc tóc được về quê.
Xa quê lâu năm, tất có điều bỡ ngỡ, may còn chút đỉnh manh mối:
“Bạc tóc trở về quê
Bỡ ngỡ tìm đò bến mới
Nhìn dáng lạt bó rau
Nhận được người làng.” (Người Làng)
Nhận được rồi, thì theo về. Giữa quê, kẻ trở lại có những “chiều cun cút”, những đêm “nhòm nhõm”:
“Áo song chàng
Nón mới
Hớt hải vác mặt
Phới về quê
Dệt dạt tối ngày khoai dáy
Lúc thảnh thơi
Quần vận khấu bò
Rong ruổi chốn rau dưa
Tôi gõ rổ
Khe khẽ ê a
Ca bản “chiều cun cút”
Một mình
Không lửa,
Không đèn
Nhòm nhõm thâu đêm
Chết thèm cái bóng
Xa là trời sao
Gần là đom đóm
Com đom đóm xanh
Lập lòe xanh tím bóng cờ ma.” (Gõ Rổ)
Người về, có đêm nằm vừa nhớ lúc người đi bao năm trước vừa lắng “cái ếch lạ” ngoài ao:
“Thâu đêm trăn trở
Nhớ người đi xa
Ðãy sắn khô
Lẽo đẽo thơm giáp hạt
Ngọn đèn con lụn bấc
Gió rình thổi tắt
Mặt ao khuya
“Lãu chãu!” mấy lần
Cái ếch lạ chao trôn.” (Trăn Trở)
Ðêm không phải chỉ có người trăn trở, ếch chao trôn, mà còn có vài thứ khác, hơi bất thường:
“Trở giấc xem đêm
Cuối trời trăng mỏi
Trái gấc chín ngập ngừng
Tóc rụng trạt lối đi
Trở giấc xem đêm
Thiên hà ngọc vụn
Gió thổi một mình
Mặt đất tròng trành
Ma hoa nhảy múa.” (Xem Ðêm)
Con người ta bị lâm vào cảnh ngộ nào đấy lâu, về sau xác đã thoát ra được mà hồn có lúc còn lẩn quẩn trở lại. Dưới đây là một lúc như thế chăng:
“Mái rạ trở mình
Mưa hơi thô
Hoa dứa gai
Thơm lại mùi biên ải
Ðêm trằn trọc
Xé đôi giấc ngủ
Nửa giấc tù ngồi
Nửa giấc trăng.” (Trằn Trọc) ?
Ám ảnh chuyện cũ chưa rời, người về lại đi tìm những chuyện cũ hơn:
“Sương chiều nghe lạnh bước chân
Khách áo cũ
Tìm về bạn cũ
Ai đốt rác lá tre bên ngõ
Lối đi đầy mùi khói cuối năm.” (Khói Cuối Năm)
Tìm bạn, gặp khói. Tìm em, gặp mùi:
“Tìm về gặp em
Em đã đi
Vách, giường thơm lạnh
Mùi khăn áo cũ
Ðêm nghiêng gió chập chờn
mưa gõ lá
Không có sông
Sao có tiếng gọi đò.” (Tìm Em)
Em đã đi với em từng mặc tấm áo này là một hay hai:
“Chuyện người xưa
Ðề thơ vạt áo
Tấm áo nâu
Ðã ngả màu bã điếu
Hanh heo về
Xót ruột lắm không em.” (Tấm Áo) ?
Áo nâu xưa giờ màu bã điếu, còn thời gian xưa giờ màu mây:
“Hỏi ngày tháng
Quê mình bao tuổi
Nước mắt phong lưu
Khách Giang đình lỗi hẹn
Mây trắng lênh đênh
Ðò dọc lênh đênh
Muốn chép lại khoảng trời
thuở ấy.” (Thăm Hỏi)
“Chỉ mong được như kiếp trước”
Người trở lại quê không phải suốt ngày, thâu đêm, ngồi thơ thẩn về “khoảng trời thuở ấy”.
Ở quê ở tỉnh, thuở ấy thuở này, ông thần khẩu lúc nào cũng thiêng:
“Thân phận tôi
Trầy trật lưng cơm, đọi cháo
Tôi rạp đầu
Bạc tóc rạp đầu
Lạy hạt gạo thiêng.” (Hạt Gạo)
Tuy hoàn cảnh đôi bên không có gì giống nhau mà khung cảnh xã hội cũng hoàn toàn khác, vẫn tự dưng nhớ câu “Khó ngặt qua ngày, xin sống” của Nguyễn Trãi.(7)
Ăn để sống, sống để... chết. Cái ân huệ cuối cùng mà quê có thể ban cho đứa con lâu năm lưu lạc:
“(...) Lúc ra đi
Ðãy quê thao thức gối đầu
Trót dông dài trăng nước
Mặt va giông chớp
Rạc mái phong lưu
Gót nhọc
Men về thung cũ
Quỳ dưới chân quê
Trăm sự cúi đầu
Xin quê rộng lượng
Chút thổ phần bò xéo
cuối thôn!” (Ăn Năn)
Chết là hết, thì thôi. Còn nếu có kiếp sau, kẻ ăn năn chỉ ước ao được sống y như kiếp trước (hẳn ngoại trừ cái khoảng giữa kiếp):
“Mô hình tôi
Một trẻ thơ
Ngoạm củ dáy
Ðứng thẳng người trong xóm
Quỹ đạo tôi
Thư thái loằng ngoằng
Xó bếp bờ ao
Cảm ơn cao rộng
Tôi may mắn
Ðược dìu về bản quán
Thanh thản tháng ngày
Bờ ao xó bếp
Khi tôi chết
Tôi thèm cái lặng lẽ
Ngoài vòng hương, nhạc
Nếu tái sinh
Tôi chẳng ước ao gì khác
Chỉ mong được như kiếp trước
Xó bếp đói, no
Bờ ao tắm mát
Phận cánh cò
Mưa nắng phong dao.” (Thanh Thản)
Hình ảnh ca dao mà thơ tự do
Những bài trong tập Xem đêm chứa toàn những hình ảnh cũ kỹ diễn bằng một thứ lời không cũ chút nào!
Câu, khi hai chữ, khi ba chữ, khi bốn chữ, khi chín chữ. Vần, bài có bài không, khi có khi không. Rõ ràng ngoài luật đổi thanh quá căn bản (8), khi sáng tác Phùng Cung không quan tâm đến bất cứ ràng buộc hình thức nào. Rõ ràng ông có ý tạo cho mỗi bài thơ của mình một thứ nhịp điệu riêng.
Không khỏi nghĩ đến thơ tự do.
Hãy ôn lại vài phát biểu.
Năm 1949 Xuân Diệu định nghĩa: “Tự do là mình đặt kỷ luật cho mình, một kỷ luật linh động, tùy theo mỗi trường hợp, nhưng luôn luôn có kỷ luật (...) Làm thơ tự do tức là mỗi đề tài lại tự tạo ra một điệu riêng cho thích hợp (...) Tự do không có nghĩa là muốn làm gì thì làm.”(9)
Năm 1959 Hoàng Cầm Về Kinh Bắc, làm được nhiều thơ hay, rồi tâm sự: “thơ của tôi (...) không hề (...) chịu sự ràng buộc (...) của phép tắc (...) Tôi (...) khổ công tu luyện (...) tạo ra điệu riêng từng bài”.(10) Nghĩa là phép tắc chung thì không có, chứ phép tắc riêng cho từng bài thì nhất định có!
Chế Lan Viên lúc nào đó viết:
“Tự do quá cũng giết chết thơ như gò bó
Kỷ luật bắt ta tìm vàng ở ngay trong đất thó
Còn tuyệt đối tự do thì biến hoa thành ra cỏ
Bởi xô bồ.”(11)
Ý Xuân Diệu và ý Hoàng Cầm là một, là định nghĩa thơ tự do rộng rãi nhất. Còn ý Chế Lan Viên, nếu căn cứ vào sáng tác của chính ông thì thấy đa số thơ vẫn có một thứ kỷ luật chung, là vần. Có thể tạm gọi đây là thơ “tự do có vần”.
Không phải hễ có ý thức về tự do là sẽ chọn tự do.
Xuân Diệu tuyên ngôn tự do dõng dạc xong, bèn... quên, thơ ông sau đó cơ bản vẫn tiếp tục bay nhảy trong cái “lồng” thơ Mới!
Chế Lan Viên, Hoàng Cầm, Phùng Cung, mỗi người rồi sáng tạo ra cả một... thế giới tự do.
Thơ Chế rõ ràng nhiều tứ mới lạ, nên mang dáng tự do có lẽ ít lạ. Còn thơ Hoàng với thơ Phùng nội dung có vẻ hoàn toàn truyền thống, thế mà cũng chọn tự do, thế mà lại còn tự do hơn cả thơ Chế!
Ðôi lời về tự do và kỷ luật
Thơ Chế, thơ Hoàng, thơ Phùng, hay thì hay vậy, ai dám bảo hay hơn thơ Xuân.
Càng không ai dám bảo thơ Xuân hay hơn thơ Nguyễn (bất kể Nguyễn nào)!(12)
Tự do, bát ngát vậy, không thực cần cho thơ hay đâu.
Thử so làm thơ với đánh kiếm.
Làm thơ tự do đại khái như Lệnh Hồ Xung đánh kiếm. Tay kiếm vô chiêu đến lúc lâm chiến kiếm mới có đường đâm nước đỡ. Nhà thơ tự do đến khi đụng... đề tài, thơ mới bắt đầu có nhịp có điệu.
Vô chiêu không nhất thiết thắng hữu chiêu: Lệnh Hồ Xung thắng Nhậm Ngã Hành nhưng vẫn thua Ðông Phương Bất Bại.
Thơ tự do không nhất thiết hay hơn thơ Ðường hay thơ lục bát hay thơ Mới.
Hiển nhiên không có thể thơ hay, chỉ có thi sĩ tài.
Nhưng tài chỉ mới hứa hẹn sẽ có thơ hay, chứ một mình nó không làm nên nổi thơ hay. Vì thơ cần có tứ nữa.
Có tài mà không có tứ thì thơ rỗng.
Có tứ mà không có tài thì thơ thiếu chất thơ.
Có cả tài cao lẫn tứ lạ mới nên thơ hay để đời.
Còn chuyện thơ làm theo thể nào, đó trước tiên là chuyện thời đại...
Tại sao thơ Cung chọn tự do?
Huy Cận bảo: “Không phải tứ thơ nào cũng có thể khuôn vào bất cứ hình thức, thể loại nào (...) Xác và hồn, hồn và xác của một bài thơ quyện nhuyễn vào nhau làm một. Khi ta đụng vào xác, sửa đổi một tí trong xác làm ảnh hưởng đến hồn của bài thơ, ấy là một dấu hiệu của thành công. Còn như thay đổi vần điệu, câu chữ, thậm chí thay đổi cả thể loại mà cảm thấy hồn thơ, tứ thơ không bị ảnh hưởng gì, thì đó một điều đáng lo.”(13)
Mỗi hồn đòi nhập vào một cái xác riêng. Mỗi loại nội dung đòi “hiện” thành một cái “thể” riêng.
Lục bát cũng là một thể, Ðường luật cũng là một thể. Tại sao những bến đò, ao, Em, cò cói, ong xanh, chuối tiêu, cua đồng, chim chả, chim chích, chào mào, hạt mồng tơi, quết trầu v.v., gần như không thứ món quê nào của Phùng Cung chịu hiện thành thơ lục bát, thơ Ðường, thơ Mới?
Tại sao bến đò mà lại không ưng lục bát?
Hình ảnh trong thơ Phùng Cung hiển nhiên rất cũ. Nhưng hình ảnh chưa phải là hồn thơ.
Hình ảnh mới là cái mắt thấy. Còn hồn của một bài thơ, nó là cái ấn tượng mà hình ảnh mắt thấy để lại trong lòng thi sĩ.
Cùng hình ảnh bến đò, xưa thơ:
“Trăm năm đành lỗi hẹn hò
Cây đa bến cũ con đò khác đưa”,
nay lại thơ:
“Sợi tơ trời
Nghiêng bay trong nắng...”.
Xác khác nhau, tức hồn khác nhau, tức hình ảnh bến đò đã để lại hai ấn tượng khác nhau trong lòng hai thế hệ thi sĩ.
Ấn tượng chẳng qua là do lòng. Ấn tượng khác tức là lòng khác.
Giữa thế hệ Hoàng Cầm, Phùng Cung với thế hệ của thi sĩ khuyết danh nào đó sinh trước ông khá lâu, đã có một khoảng cách về tâm hồn.
Ở một đầu khoảng cách ấy là những con người sống theo một nhịp điệu chung nhất định. Ở đầu kia, là những con người đã thoát ly cái nhịp điệu cũ mà chưa ổn định trong nhịp điệu mới nào, họ sống “tự do” và thơ họ cũng tự do...
Tại sao thơ tự do chọn Cung?
Thời thơ tự do cực thịnh, nước ta có hai thi sĩ rất nổi tiếng.
Một người, ở Miền Bắc, viết văn xuôi giỏi nhưng không có năng khiếu thơ.
Một người, ở Miền Nam, vừa viết văn xuôi giỏi vừa có năng khiếu thơ, nhưng tiếc khi làm thơ tự do đã không nẩy được những tứ thực sâu sắc.
Hai người rốt cuộc không người nào để lại được trọn một bài thơ tự do hay!
Rốt cuộc, thơ tự do đã “chọn mặt” Hoàng Cầm và Phùng Cung để “gửi vàng”.
Tại sao một quan niệm thơ mới lại đi chọn đôi thi sĩ chuyên nhìn cảnh cũ?!
Vì như đã nói, đôi thi sĩ ấy tuy mắt nhìn cảnh cũ nhưng tâm hồn mới của họ nẩy ấn tượng mới, do đó họ có tứ mới để làm thơ.
Tứ quê mới của Hoàng Cầm và Phùng Cung rất sâu sắc, bởi họ hướng lòng về một cái hết sức quen thuộc với mình (chứ không như thi sĩ Miền Nam nói trên kia khi thơ tự do đã hướng lòng về những cái thực ra vẫn còn rất xa lạ với người Việt).
Sợ “chẳng có chân trời, thơ ạ”
Phận Phùng Cung đành hẩm hiu.
Còn những bài thơ hay hiếm có của ông, từ lúc ra đời đến nay rất đỗi lu mờ và e sẽ tiếp tục lu mờ mãi mãi!
Vì sao?
Thiết tưởng có ít nhất ba điều bất lợi:
Một là lý lịch tác giả. Do Phùng Cung từng bất đồng với nhà nước, tác phẩm giá trị của ông không được nhà nước ưu ái đề cao.
Hai là nội dung nghệ phẩm. Không như một số thơ khác (không hay mấy) của Phùng Cung, những bài Xem đêm đứng ngoài chính trị, không đả kích nhà nước, do đó cũng không được những người bất đồng với nhà nước ưu ái đề cao. Chẳng những bị cả phía lãnh đạo lẫn phía đối lập hững hờ, thơ hay của họ Phùng còn bị đông đảo nhân dân hững hờ! Vì Xem đêm là quê, mà quê thì đang nhanh chóng trở nên nhạt nhòa trong lòng người Việt.
Ðiều bất lợi thứ ba là hình thức nghệ thuật. Xem đêm hầu hết là thơ tự do. Khi nó mới xuất hiện, có người tưởng thơ tự do rồi sẽ đi vào lòng dân tộc, sẽ bền như lục bát, nhưng hóa ra không. Hóa ra nó chỉ như một chuyển tiếp từ cái ổn định cũ sang một cái ổn định mới... chưa biết bao giờ mới có! Có thể xác thơ sẽ bất ổn dài dài, biến hóa liên miên, khiến mỗi xác rốt cục không có được bao nhiêu người thưởng thức...
Trong ba điều bất lợi vừa nêu, rắc rối chính trị chắc chắn rồi sẽ nguôi ngoai.
Nhưng vấn đề quê đang mất và thơ tự do không bền thì nan giải.
Xưa kia, do cả nội dung lẫn hình thức thơ đều bền, thi sĩ có thể làm thơ rồi để đó chờ nổi tiếng. Còn bây giờ, thơ mà không có tiếng ngay thì e sẽ... buồn muôn thuở.
(So với Xem đêm, thơ Về Kinh Bắc của Hoàng Cầm số đỏ hơn. Hoàng vừa đã có tiếng sẵn, vừa vấp chính trị tương đối nhẹ, nên thơ quê của ông tránh được phận lỡ làng.)
Ðẹp sao lời cuối của quê
Tự dưng nhớ Bùi Xuân Phái.
Trong Tiếp xúc với nghệ thuật, Thái Bá Vân viết: “Bùi Xuân Phái (...) bị bỏ quên, và vô hiệu hóa, trong hàng chục năm, trước khi được (...) đề cao lúc (...) đã qua đời”.(14)
Vậy số của họa sĩ Bùi Xuân đen. Nhưng phận của tranh Phái thì rồi lại đỏ.
Tranh ấy quả rất đẹp, nhưng chắc không phải chỉ nhờ đẹp mà nó nổi đình nổi đám. Hình như vẽ phố, lại là phố Hà Nội, có ngẫu nhiên tạo cho tranh một ưu thế sinh tồn?
Ðang bàn chuyện thơ bỗng bắt quàng sang chuyện tranh, không phải chỉ vì tranh đỏ thơ đen. Mà thực ra vì chợt thấy Cung làm thơ giống Phái vẽ tranh.
Giống ở chỗ hai nghệ sĩ người nào cũng có một cách nhìn mới.
Quan trọng là cái cách nhìn của ta, chứ không phải cái gì đó ta nhìn.
Bùi Xuân Phái nào chỉ vẽ phố. Ông vẽ bao nhiêu tranh chèo tuyệt đẹp. Có được cách nhìn mới rồi, bất kể nhìn cảnh mới (như phố) hay cảnh cũ (như chèo) trong tâm hồn họa sĩ vẫn nổi lên những ấn tượng độc đáo đòi vải đòi sơn đòi cọ để hóa thành tranh độc đáo. Bao nhiêu tranh ấy tranh này là đúng một cách nhìn riêng của Phái.
Bao nhiêu thơ quê của Cung cũng là đúng một cách nhìn riêng của Cung.
Họa sĩ và thi sĩ còn giống nhau ở chỗ đã cùng để cho cái nhìn mới của mình hiện thành thứ “hình” mới. Tranh Phái là tranh sơn dầu, không phải tranh Ðông Hồ hay tranh mực Tàu. Thơ Cung là thơ tự do, không phải thơ lục bát hay thơ Ðường.
Ðã dài dòng lắm về Xem đêm. Xin nói thêm lời nữa cho trót.
Hẳn những bài thơ quê tuyệt diệu ấy đã bắt đầu với vẻ đẹp của tơ trời, hoa gạo, giải yếm, tóc em v.v., nhưng thơ càng làm thì cái đẹp của lời thơ càng thay tơ, thay hoa, thay giải yếm, thay tóc mà trở thành đối tượng thực sự của thi sĩ...
“Sợi tơ trời
Nghiêng bay trong nắng
Hoa gạo bên sông đỏ thắm”...
Dễ dàng hình dung Phùng Cung đang vừa nhẩm đọc mấy câu thơ mới ra đời của mình cách say sưa, ve vuốt, vừa loay hoay tìm cách cho ra thêm mấy câu đáng say đáng vuốt nữa!
Thi sĩ say vẻ đẹp của lời. Lời phải thế nào mới được say chứ! Văn hóa phải thế nào mới có được thứ lời thế chứ!
Thơ quê của Phùng Cung là những đóa lời rực rỡ nở ra từ cái bề sâu thăm thẳm của văn hóa Việt Nam một thời.
Nó chắc chắn cũng là những lời đẹp chót của Quê.
Viết 7–2007
Sửa vài chỗ tháng 2-2012
Tái bút
NHÂN ÐỌC NGƯỜI ANH...

Cuối tháng 9-2008, tình cờ mua được quyển Hoàng Cầm tác phẩm - văn xuôi(nxb. Hội Nhà Văn, 2004). Tác phẩm chứa nhiều bài ký, kể lại những kỷ niệm gặp gỡ, tiếp xúc với một số nhân vật lịch sử, văn nghệ. Trong đó có Phùng Cung.
Bài viết về Phùng Cung mở đầu thế này:
“Thật may mắn, từ cuối năm 1954 tôi đã từng có được một người bạn, một nghĩa đệ như Phùng Cung.”
Kỳ thú! Hóa ra hai nhà thơ quê rất đỗi tài hoa này lại là hai anh em kết nghĩa.
Hoàng Cầm viết ngắn, chỉ có năm trang, đọc đến trang chót thì người đọc hiểu tại sao. Ðây là những dòng chép vội sau khi người anh vừa “chứng kiến phút lâm chung”, vừa “đặt tay lên vầng trán đã bắt đầu giá lạnh” của người em, trong đêm mồng một tháng năm năm 1997.
Người thân nhớ người thân thì trước tiên là nhớ cuộc đời. Hoàng Cầm kể cho ta biết Phùng Cung đã sống khổ như thế nào. Xong ông mới nhắc chuyện Phùng Cung làm thơ, cách rất vắn tắt, vì “trong một bài sau, tôi sẽ nói kỹ về việc Xem đêm của anh”.
Tiếc quá, phải đợi đến “bài sau” (đã viết hay chưa?) may ra ta mới biết chắc chắn là hầu hết các bài thơ trong tập Xem đêm quả thực đã được sáng tác sau khi tác giả trở về quê. Chắc thì không dám, nhưng mấy dòng này của Hoàng Cầm có làm cho ta thêm mạnh dạn về hướng đoán của mình:
“Vào những năm đã biết mệnh trời, anh ít khi đi chơi, ngày đêm (...) lấy thơ làm cứu cánh. Ngoài 50 tuổi, anh ôn lại hầu hết Ðường thi và đọc lại rất sâu Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Trãi, Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương (...) Cao Bá Quát (...) Tản Ðà, Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử. Anh trở về nơi đã sinh thành ra một Phùng Cung chân quê đầy tri thức”.
A, tức là sau khi được phóng thích, Phùng Cung đã miệt mài học hỏi thơ cũ, thậm chí thơ rất cũ. Ông đã “ôn cố” rất kỹ để rồi “vi tân” thật ngoạn mục! Ngoạn mục đến nỗi Hoàng Cầm trầm trồ:
“Hàng ba bốn trăm bài thơ ngắn gọn súc tích, mang sức mạnh khai phá (...) đồng thời lại như những cơn gió nhẹ ngát hương”.
Ấy, cái ngắn gọn, nhẹ nhàng, khai phá không phải từ số không, mà chính từ một tri thức sâu rộng khổ công tích lũy.
Người thơ tài năng đọc kỹ tiền nhân tất nhiên không phải để bắt chước, mà chắc chắn có mục đích luyện lấy cho mình một nội lực thơ thượng thừa.
Có nội lực rồi, thì ta bắt đầu... chưởng!
Làm thơ, nhưng mà về cái gì chứ?
Hoàng Cầm mô tả Phùng Cung khi mới từ đâu đó trở về Hà Nội là một người “đầy ẩn ức”, “lầm lì như găm đầy mình những mũi dao uất hận”. Ức, hận, dĩ nhiên có thể diễn bằng thơ. Có lẽ Phùng Cung trong thời gian bị giam giữ đã có làm nhiều một loại thơ. Nhưng hẳn ông không mấy hài lòng về những bài thơ mà hình như nhiều người đồng cảnh ngộ với ông đã lấy làm tâm đắc, và vẫn còn tâm đắc.
Phùng Cung khác. Ức với hận ở những ai kia trước sau vẫn nguyên ức hận. Ở ông chúng rốt cục đã thăng hoa. Kỳ diệu nhất là chúng đã thăng hoa thành những bến đò, ao thu, sông quê, cô lái, chim lợn, hoa đèn, chích chòe, ong thợ v.v.!
Sao lại như thế được nhỉ? Có phải trường hợp Phùng Cung, chính cái tối tăm đã làm cho cái tươi sáng trở nên tươi sáng hơn?
Và khi thơ tuyệt phẩm đã thành rồi, những bài thơ là những chiếc cánh giúp tác giả “bay lên khỏi những cái thấp hèn nơi mặt đất”, giúp “biến anh (...) thành một tiên ông đạo cốt hiền hòa như cây cỏ và vui tươi như chim én mùa xuân”.
Hoàng Cầm kể: “Suốt 15 phút lâm chung, gương mặt anh rất bình thản (...) hình như sau cùng anh còn nhếch mép như muốn cười”.
Thơ Xem đêm làm người hấp hối muốn cười. Làm Hoàng Cầm ngẫm nghĩ: “Cái đêm vĩnh cửu của nhân loại (...) lấp lánh những ngôi sao (...) Chắc chắn có dăm bảy ngôi sao - câu chữ Phùng Cung”.
Một đời người có lúc thật tệ hại, kết thúc ít ra phải được thế chứ.
11 – 2008
(1) Tất cả thơ Phùng Cung dẫn trong bài này đều lấy từ tập Xem đêm (nxb. Văn Hóa - Thông Tin, Hà Nội, 1995).
(2) Xuân Diệu, Ba thi hào dân tộc, nxb. Thanh Niên, VN, 2000, tr. 43.
(3) Thơ Thế Lữ.
(4) Hoài Thanh, Thi nhân Việt Nam, Hà Nội, 1942, nxb. Hoa Tiên tái bản, Sài Gòn, 1968, tr. 175.
(5) HT, sđd., tr. 357.
(6) Thơ Nguyễn Bính.
(7) Nguyễn Trãi toàn tập, nxb. Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, VN, in lần 2, 1976, tr. 428.
(8) HT, sđd., tr. 50: “Hễ câu thơ chia làm hai, ba hay bốn đoạn, những chữ cuối các đoạn phải lần lượt bằng, rồi trắc, hay bằng ngắn (không dấu), bằng dài (có dấu huyền)”.
(9) Xuân Diệu, tạp chí Văn Nghệ, VN, số 13, tháng 6/1949 (dẫn theo Nguyễn Hưng Quốc, Nghĩ về thơ, nxb. Văn Nghệ, Mỹ, 1989, tr. 190).
(10) Hoàng Cầm tác phẩm – Thơ (tập một trong bộ ba tập), Lại Nguyên Ân sưu tầm & biên soạn, nxb. Hội Nhà Văn, VN, 2003, tr. 201.
(11) Bài Tự Do Và Thơ, trong Di cảo 3.
(12) Có Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến v.v.
(13) Trong phụ trang Thơ của báo Văn Nghệ, VN, 3-2005.
(14) Thái Bá Vân, Tiếp xúc với nghệ thuật, Viện Mỹ thuật Việt Nam, Hà Nội, VN, 1997, tr. 71.
Thu Tứ
Theo http://www.gocnhin.net/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Trương Thị Thương Huyền và Kết tinh từ tình yêu biển đảo Những năm gần đây, đề tài biển đảo trong VHNT nở rộ. Tình yêu biển đảo được các v...