Thứ Sáu, 16 tháng 10, 2015

Thợ cày nói chuyện thơ

Thợ cày nói chuyện thơ
Tác giả Bùi Công Tường trong bài: “Nghĩ về thơ và lí luận phê bình thơ” đăng ở tạp chí Văn Nhân của hội Văn học nghệ thuật Nam định số 68 năm 2009 có đoạn viết: “Sự đánh giá chân thành và trung thực nhất vẫn là độc giả và thời gian”. Thế nhưng đến đoạn cuối tác giả lại viết về tình trạng bế tắc của các nhà phê bình lý luận và hướng dẫn sáng tác như thế này: “Có người cho rằng việc đánh giá hay dở, khen chê văn chương là chuyện vô cùng thiên lý, vạn lý. Khổ nỗi đã có chuyện như thế thật. Cùng một tác phẩm người thì tâng lên mây xanh, người thì dìm xuống bùn đen, người này cho là vàng mười người kia cho là rác rưởi… Chẳng có ai làm trọng tài để phân giải công minh.” Vậy chúng ta nghĩ gì về hai ý kiến này?
Theo tôi ý kiến thứ nhất là xác đáng, trọng tài ở đây chính là độc giả chứ không phải ai khác. Thông thường họ có những phát hiện hay, nhưng không có óc tổng hợp. Yêu cầu của nhà phê bình phải công tâm, tâm huyết, có năng lực tốt để nắm vai trò phân tích, chọn lọc, rút ra kết luận, tổng hợp một cách sáng suốt sau khi lắng nghe ý kiến của thật nhiều độc giả.
Trong phong trào làm thơ nổ ra rầm rộ như ở câu lạc bộ thơ Việt Nam hiện nay tôi rất tâm đắc với ý kiến của nhiều người (kể cả lãnh đạo các nhà xuất bản): “Ai thích in cứ cho in, còn có là thơ hay không để cho độc giả phán xét”.
Đối với những tác phẩm gây nhiều tranh cãi: “Người cho là vàng mười người cho là rác rưởi”, theo tôi ta cần nghiên cứu thấu đáo trên nhiều khía cạnh trước khi kết luận.

Lúc này các nhà phê bình phải cùng nhau xem xét lại. Chỉ cần hai nhà hùng biện cứ dương dương tự đắc cho rằng mình đúng mà không cúi nhìn thấy: “Gót chân A - sin” của mình thì hẳn là cuộc cãi vã chẳng bao giờ tàn. Một tác phẩm đã đạt đến độ “khuôn vàng thước ngọc” thì không hề có chuyện ấy xảy ra. Chỉ có nhà phê bình nửa vời chứ chẳng bao giờ có tác phẩm nửa vời. Rác rưởi là rác rưởi, vàng mười là vàng mười.
Như vậy cả hai ý kiến trên của tác giả Bùi Công Tường đều chưa hoàn hảo. Tổng hợp cả hai ý kiến ta cần rút ra kết luận là:
Để đánh giá công minh một tác phẩm phải có một hội đồng trọng tài khổng lồ đó là độc giả và thời gian mà nhà lý luận phê bình đóng vai trò chủ tịch.
Đoạn sau tác giả Bùi Công Tường viết tiếp: “Thậm chí những nơi khác có khi xuất hiện những nhà thơ Nguyễn Dủ, Nguyễn Dù… nào đó đều là anh em cụ Nguyễn Du cả. Có lúc họ cao hứng còn phán rằng: giá như ở chỗ nọ chỗ kia ông Nguyễn Du phải viết như thế này thì mới hay! Thử hỏi đến nước ấy thì còn cửa nào cho phê bình góp ý nữa”.
Theo tôi trường hợp này có nhiều. Nhiều người mới làm thơ thường tưởng thơ mình hay. Người yêu thơ, đọc thơ thì cho rằng mình cảm thụ tốt. Đương nhiên tôi không dám phủ nhận hoàn toàn ý kiến đó. Ta đừng vội chê bai, khẳng định một điều gì. Biết đâu những “Nguyễn Dủ, Nguyễn Dù” nào đó lại làm nên chuyện. Chính họ lại là người nhìn thấy cái “gót chân A - sin” của thiên tài thì sao? Tôi xin đơn cử một vài mẩu chuyện vui như thế này:
Tổ thợ cày của chúng tôi gồm sáu người đều yêu thơ cả. Giờ giải lao họ yêu cầu tôi kể tóm tắt nội dung cuốn sách tiểu luận và phê bình của Xuân Diệu mà hôm qua tôi vừa xem xong. Tôi thích nhất bài bình về “Bà chúa thơ nôm” Hồ Xuân Hương của ông, mà đặc biệt là đoạn ông bình bài thơ: “Tát nước” của bà. Trước tiên tôi đọc toàn bộ bài thơ:
“Đương cơn nắng cực chửa mưa tè
Rủ chị em đi tát nước khe
Lẽo đẽo chiếc gầu ba góc đụm
Lênh đênh mặt nước bốn bờ be
Xì xòm đáy nước mình ngiêng ngửa
Nhấp nhổm đầu ghềnh đít vắt ve
Mải việc làm ăn quên cả mệt
Dạng hang một lúc đã đầy phè”.
Bằng trí nhớ và cách cảm thụ của mình tôi hăng hái thuyết trình tiếp:
- Xuân Diệu đã từng nói: “Làm thơ là cân nhắc từ phần nghìn gam của chữ” cho nên ông phân tích vô cùng tỉ mỉ. Nào là cách dùng từ nói lóng, nói bóng như “nắng cực”, “mưa tè”, “dạng hang”…; Các từ tượng thanh, tượng hình rất gợi cảm như “lẽo đẽo, lênh đênh, xì xòm, nhấp nhổm, vắt ve”… để rút ra một kết luận rất xác đáng về phong cách đặc biệt của Hồ Xuân Hương là bà luôn bứt rứt, muốn bung ra phá phách, thách thức với tất cả, kể cả Trời. Đối với bà, Trời cũng chỉ là đứa con nít, bởi nói “tè” thì chỉ có thể là trẻ con. Câu đầu bà nói đứa trẻ kia “đương cơn nắng cực chửa mưa tè” thì câu kết bà sẵn sàng “dạng hang một lúc”. Ví việc mưa của trời với việc “tát nước” của “chị em” như thế thì trên đời này chỉ có Xuân Hương mới dám. Riêng câu thứ sáu: “Nhấp nhổm đầu gềnh đít vắt ve” Xuân Diệu khoái quá nên ông đã phải thốt lên;
- Quả là một cái đít “vĩ đại”!
“Đầu ghềnh” là một hình tượng lớn lao, bề thế của thiên nhiên. Đáng lẽ người ta phải đặt lên đó một cái gì cao cả, to lớn cho xứng tầm. Nhưng Bà chúa thơ nôm của chúng ta lại đặt lên đấy cái “đít”. Đỉnh cao tính cách của Hồ Xuân Hương là ở câu này.
Cả bọn cùng cười. Sau khi rít hơi thuốc lào khoan khoái, ông bạn tên Sơn vỗ đùi cười ha hả:
- A hay thật! Cái đít đàn bà đưa lên tận đầu ghềnh thì qủa là “to gan” quả là “độc”! - Sơn lẩm nhẩm đọc lại câu thơ “ Nhấp nhổm đầu ghềnh đít vắt ve”…- rồi reo lên - Hay thật! mà cùng lúc nó lại tham gia hai cử động dọc và ngang mới “đểu” chứ. Sơn dằn từng tiếng một - “Nhấp… nhổm …,vắt… ve…” - rồi giơ cao một ngón tay vừa ngọ nguậy, vừa nâng lên hạ xuống để diễn tả cái cử đông rất khó chịu kia mà anh ta tưởng tượng ra theo cách cảm nhận của mình.
Tôi giật mình, ừ nhỉ Xuân Diệu mới thấy cái “vĩ đại” ấy trên đầu gềnh là tuyệt đỉnh của tính cách Hồ xuân Hương mà chưa phân tích (hoặc chưa phát hiện) hết cái độc đáo hơn nữa ở hai từ láy “nhấp nhổm” mô tả cử động dọc, “vắt ve” mô tả cử động ngang. Bà đã đặt cái “vĩ đại’’ ấy ở vị trí cao nhất rồi để mặc cho nó ngang nhiên vênh vang, ngoáy ngoắt thoải mái trên cái nền kỳ vĩ của thiên nhiên. Gớm! Nó mới trớ trêu, ngỗ ngược làm sao! Cách biểu cảm qúa độc đáo, quá đắt, đúng là “Mô- đen” bà chúa thơ nôm.
Nhà lí luận phê bình thơ trứ danh Xuân Diệu mới phân tích đến một phần nghìn gam của chữ. Còn cái phần thứ một nghìn lẻ một tuyệt vời kia thì lại để cho một ông thợ cày phát hiện (!).
Tôi về vội vàng rở sách ra đọc kĩ để kiểm chứng lại thì quả đúng như vậy. Phải chăng cái “độc” của bà chúa thơ nôm quá “siêu đẳng” đối với nhà phê bình danh tiếng?

Đó là mẩu chuyện về bình thơ. Còn đối với việc cảm nhận thơ thì những ông, những bà “Nguyễn Dủ, Nguyễn Dù” kia cũng cho ta nhiều bất ngờ thú vị.
Nhóm thợ cấy hôm ấy đang vừa làm vừa nghe tôi đọc một bài thơ của Tố Hữu. Nghe xong ai cũng tấm tắc khen. Mặc cho mọi người hết lời ca ngợi, mãi sau bà Khuyên mới lên tiếng:
- Nhưng nói khí không phải chứ cái ông nhà thơ nổi tiếng kia mà lại gọi thi hài liệt sĩ Nguyễn văn Trỗi là “thây” tôi nghe không lọt tai tí nào!
Tôi giật mình nhẩm lại câu thơ có từ “thây” trong bài “Hãy nhớ lấy lời tôi ” mà Tố Hữu viết về anh hùng liệt sĩ Nguyễn văn Trỗi;
“Chẳng cần đâu cây thánh giá sắt tây
Của người linh mục ném bên thây”

Thế đấy! Một bài thơ được các nhà quản lý giáo dục đưa vào chương trình giảng dạy ở cấp phổ thông hồi đầu thập kỷ 70 vẫn còn một cái lỗi không đáng có. Biết bao nhiêu các thầy cô giáo say sưa giảng giải cho không biết bao nhiêu thế hệ học trò. Bao nhiêu nhà phê bình đã đọc và nghiền ngẫm, ấy thế mà một lỗ hổng lớn trong kỹ thuật tu từ của thi sĩ phải chờ đến một bà thợ cấy mới phát hiện ra(!) Khốn nỗi “Tây” lại vần với “thây”, mải chạy theo vần mà vênh mất ý. Theo tôi đây là điều tối kỵ trong làm thơ.
Còn sau đây là cuộc tranh luận của hai hội viên CLB thơ Thợ Cày làng tôi về chuyện dùng từ của cụ Tú Xương mà chính tôi chứng kiến.
Khi ông Đ đọc bài thơ mới sáng tác: “Nghe lời mẹ” của ông N, đến câu: “Nghe lời mẹ dặn bên tai”, thì dừng lại chau mày ngẫm nghĩ một lát rồi quay sang phía ông N:
- Ông làm thơ có cái tội dùng nhiều từ độn mà không bỏ được!
Ông N ngạc nhiên vừa hỏi vừa chối:
- Làm gì có từ độn, ông nói cho tôi nghe nào?

Ô Đ. ôn tồn bảo bạn:
- Lời mẹ ông chẳng nghe bằng tai thì chẳng lẽ lại nghe bằng lưng hay bằng chân. Hai từ: “bên tai” dùng ở đây không sai nhưng thừa, khiến câu thơ rậm lời, ít ý. Ở trường hợp này có thể thay bằng hai từ khác như “ân cần” chẳng hạn thì câu thơ vẫn đảm bảo đủ sáu âm tiết của câu lục và chuyên chở thêm ý.
Tôi thấy ông Đ. nói đúng. Hiện tượng dùng từ độn cho đủ số âm tiết trong một câu của các cây bút cấp CLB gặp rất nhiều.
Ông N. cãi lại:
- Ông nói thì có lý nhưng tôi thấy cả trăm năm nay khi cụ Tú Xương viết: “Vẳng nghe tiếng ếch bên tai” chẳng thấy ai chê, ngược lại người ta còn viết thơ cụ lên phướn treo ở các lễ hội thơ, rồi khen nức khen nở. Ông máy móc quá.
Ông Đ. vẫn ôn tồn;
- Thì ngay cả cụ Tú cũng thế, có phải đã là nhà thơ lớn là không mắc sai lầm cả đâu. Đã nghe tiếng ếch thì hẳn là phải dùng tai. Giá cụ thay hai từ “bên tai” bằng hai từ “canh dài” thì…
Tôi lại được phen giật mình nhẩm lại hai câu thơ nổi tiếng của cụ Tú Xương trong bài “Sông lấp”:
“Vẳng nghe tiếng ếch bên tai
Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò”

Đã bao nhiêu năm nay, mấy thế hệ nhà thơ, nhà nghiên cứu phê bình danh tiếng đã đọc mà chả thấy ai chê. Thế mà bây giờ một ông bạn thơ ở CLB Thơ Thợ Cày làng tôi lại dám chê và còn cả gan sửa thơ cho cụ Tú, mà nghe ra cũng có lý lắm. Hai ông bạn tôi thì tranh luận mãi không phân thắng bại. Còn tôi, một ông nông dân cũng đang tập làm thơ, vốn kiến thưc còn vơi lắm nên cũng chẳng biết phân xử ra sao nên có lẽ đành xin ý kiến độc giả vậy.
Thế mới biết những ông, những bà “Nguyễn Dủ, Nguyễn Dù” kia cũng “đáo để” ra trò.
Trên đây là những suy nghĩ, những mẩu chuyện tản mạn của cá nhân tôi, một nông dân, một người yêu thơ và đang tập làm thơ nhân đọc bài viết của tác giả Bùi Công Tường, với hy vọng chia sẻ tâm tình cùng các bạn yêu thơ chứ chẳng dám phê phán, chê bai ai cả. Mọi người đều bình đẳng về nghệ thuật. Tổng thống phát biểu ý kiến của tổng thống, thường dân nói ý thường dân. Có gì không phải mong độc giả lượng thứ và chỉ giáo cho lão nông lẩm cẩm này!
Để kết thúc bài viết, tôi xin chân thành cáo lỗi để được thắp nén tâm nhang trước anh linh ba cây đại thụ của nền thơ Việt nam: Tú Xương, Xuân Diệu.
Trần Kế Hoàn
Theo http://vannghenamdinh.com.vn/


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Tô Hoài - Vẽ lên hoài niệm

Tô Hoài - Vẽ lên hoài niệm Những chuyện đời tư sôi nổi, cảm động, thiết tha và gần gũi phần nào cho thấy sự chuyển đổi theo chiều hướng nh...