Đà Lạt khiến lòng tôi xao xuyến
Từng ngọn thông, dòng
suối hay bản làng đều gắn liền với chuyện kể. Đó là chuyện tình của nàng Lang
và chàng Biang, những căn nhà ma, hay dinh thự của vua Bảo Đại.
Ba năm rồi tôi mới trở lại Đà Lạt, nơi nhiều người vẫn gọi là thành phố mộng mơ, bởi Đà Lạt có nhiều sương mù và lưu giữ nhiều mối tình lãng mạn. Tôi đến Đà Lạt vào buổi trưa, trời không nắng gắt như xứ miền Đông Nam Bộ quê tôi, không khí Đà Lạt thật dễ chịu nên khiến lòng người xao động.
Ba năm rồi tôi mới trở lại Đà Lạt, nơi nhiều người vẫn gọi là thành phố mộng mơ, bởi Đà Lạt có nhiều sương mù và lưu giữ nhiều mối tình lãng mạn. Tôi đến Đà Lạt vào buổi trưa, trời không nắng gắt như xứ miền Đông Nam Bộ quê tôi, không khí Đà Lạt thật dễ chịu nên khiến lòng người xao động.
Đến thăm
Đà Lạt mỗi người được trở về với thiên nhiên, cây lá ngàn hoa, núi đồi trập
trùng và những rừng thông xanh rợp bóng. Tôi đến Đà Lạt lần này là lần thứ hai,
“người ta thường nói đi Đà Lạt là phải đi với người yêu như thế mới lãng mạn”
nhưng với tôi không như vậy. Lần thứ hai này cũng không có gì thay đổi. Nhìn những
thanh niên nam nữ dìu nhau lên từng con dốc thật ra cũng có chút xao lòng, muốn
có cái gì đó lãng mạn như bao người khác.
Lần
trở lại này Đà Lạt không còn tĩnh lặng như nàng sơn nữ Lang Biang mà truyền
thuyết thường kể. Khí trời se lạnh của Đà Lạt cũng khác hẳn, dòng người mỗi
ngày trở nên tấp nập hơn, hình như những thiếu nữ của Đà Lạt cũng không còn sở
hữu làn da trắng trẻo, kiêu kỳ để bao người thầm thương trộm nhớ.
Trong chuyến hành trình, điều khiến tôi nhớ nhất là đêm giao lưu sinh hoạt cùng
người dân tộc K'Ho Lạch dưới chân thung lũng vàng. Trong lễ hội, chúng tôi uống
rượu cần, ăn cơm cùng người bản địa. Không khí mỗi lúc trở nên sôi động, dưới
ánh lửa bập bùng, dòng người hòa mình vào trong từng điệu nhảy, cất lên lời ca
tiếng hát giữa núi rừng. Buổi giao lưu thật ấm cúng, khiến khoảng cách giữa người
miền xuôi hay miền ngược, người Kinh hay dân tộc thiểu số không có sự phân biệt,
tất cả như anh em sống chung trong một mái nhà.
Đến
thăm Đà Lạt, tôi đã được đi nhiều nơi, nghe nhiều câu chuyện kể về người bản xứ.
Hình như trên vùng đất này, từng ngọn thông, dòng suối hay một bản làng đều gắn
liền với câu chuyện kể. Đó là chuyện tình của nàng Lang và chàng Biang, những
căn nhà ma, hay dinh thự của vua Bảo Đại... Dù biết rằng có một số câu chuyện gắn
liền với chiến tích của thời hoa lửa, cũng có nhưng câu chuyện là truyền thuyết
do người đời thêu dệt, nhưng dù sao mỗi một phong cách thể hiện đều tạo nên nét
riêng của Đà Lạt, không nơi nào có được.
Ở
Đà Lạt, khi màn đêm buông xuống, những ai được gọi là đấng mày râu thường đến
các quán ven đường lai rai vài chén. Tôi chưa có vợ, nhưng các anh trong đoàn
có gia đình hẳn hoi, biết đánh lẻ sẽ bị mấy “chị hai” cằn nhằn nhưng vẫn phải
đi. Việc lén đi không phải chúng tôi ham nhậu nhẹt gì, mà đi để thưởng thức cái
men nồng của rượu Đà Lạt, cái lạnh về đêm của xứ sương mù, coi thử có gì khác
so miền xuôi, để về còn tâm sự với bà con.
Trong men cay của rượu, cái lạnh lạnh về đêm của Đà Lạt mỗi người như được trải lòng mình, bao bộn bề cuộc sống dường như quên hết.
Trong men cay của rượu, cái lạnh lạnh về đêm của Đà Lạt mỗi người như được trải lòng mình, bao bộn bề cuộc sống dường như quên hết.
Những
ngày tham quan Đà Lạt tuy ngắn ngủi, nhưng để lại trong tôi và mỗi người rất
nhiều cảm xúc, đó là được ngắm vẻ đẹp của xứ sương mù, tình cảm anh em càng
thêm gắn bó, hiểu nhau hơn. Hẹn gặp lại Đà Lạt.
NGÔ VẠN


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét