Những giấc mơ tình yêu
Thế Chính là một trong số rất
ít các nhà thơ suốt đời say mê, cặm cụi với thơ. Đến nay anh đã có gần chục tập
thơ ra mắt công chúng cùng nhiều giải thưởng. Thơ Thế Chính thường đậm mầu triết
lí. Thơ triết lí của Thế Chính còn nhiều ý kiến, thậm chí trái chiều nhau. Đó
cũng là chuyện thường tình đối với mỗi nhà thơ. Lần này Thế Chính cho xuất bản
tập “Cúc đơm thưa”. Thể loại được ghi rõ trên bìa 1 là “thơ tình”.
Đọc lướt cả tập, nhận ra đó
là sự tập hợp những bài thơ tình được anh viết rải rác từ hơn một nửa thế kỉ -
nghĩa là suốt cả cuộc đời cầm bút của mình.
Đã có một dạo, do tình trạng
quá mô phạm, khô cứng của thơ trên cả nước nên các nhà thơ thường in đậm hai từ
“thơ tình” ở ngoài bìa với mục đích câu khách. Nhưng ở tập thơ này, Thế Chính
không hề đi theo vết xe đổ ấy. Hầu hết gần một trăm bài thơ tình trong tập, người
đọc có một cảm nhận là anh không viết cho người khác, không viết để phô diễn mà
viết cho chính mình.
Ai đó đã nói, thơ tình chính
là thơ thất tình. Điều này quả là đã ứng nghiệm vào Thế Chính. Người đọc, dù có
cố gắng bao nhiêu, mong để thi vị hóa tình yêu, để tìm ra một áng thơ tròn đầy,
viên mãn về tình cảm lứa đôi trong gần một trăm bài thơ trong tập ắt hẳn sẽ
hoàn toàn thất vọng. Những mối tình bất thành, dang dở, những đổ vỡ, mất nhau trong
đời, những trái ngang, trắc trở trong tình yêu… đó mới là mầu sắc đậm đặc nhất
trong thơ tình Thế Chính. Ngay từ bài thơ đầu tập - Lửa mồ côi - đã như một mạch
nguồn chung cho tinh thần thơ tình của anh. Chỉ là một thoáng “Em đi qua đời
anh/ đánh rơi tàn lửa đỏ”, và rồi cái “tàn lửa đỏ” ấy đã vĩnh viễn trở thành một
“đốm lửa mồ côi” cháy mãi trong tâm tưởng người li biệt:
Nhưng rồi em đã quên
Chẳng bao giờ trở lại
Để đốm lửa mồ côi
Trong lòng anh cháy mãi.
(Lửa mồ côi)
Tuy nhiên, hình ảnh đặc sắc
nhất trong “Cúc đơm thưa” chính là những giấc mơ. Không dưới 30 lần hình ảnh giấc
mơ được láy đi láy lại trong các bài thơ viết về tình yêu. Đó là những giấc mơ
thật (chiêm bao) và cả những giấc mơ tỉnh (thuật ngữ của Sigmund Freud - nhà
phân tâm học thế kỉ 20). Khi thì giấc mơ hiện hữu như một ước ao: “Tình ở
trong chiêm bao/ Là mối tình trẻ mãi”. Khi thì hiện lên như một hoang tưởng:
“Điểm hẹn trong mơ/ Chờ ta từ kiếp trước”. Khi thì như một bám víu của
thân phận: “May mà còn có giấc mơ/ Nếu không biết đến bao giờ người ơi”. Khi
thì trở nên bất khả tín vào cõi thực: “Yêu trong mộng là tình thật nhất”. Đôi
khi, giấc mơ được Thế Chính nâng thành triết lí: “Rơi vỡ chiếc bình mộng ảo/ Mảnh
bình lưỡi sắc như gươm”, “Chảy trong giấc mơ của loài kiến/ Cơn khát triệu năm
rát mặt địa cầu”…
Những giấc mơ với nhiều hình
hài, vóc dáng, khi là vật chất, lúc là tâm linh, tâm tưởng cứ thế hiện hữu suốt
tập thơ, làm nên một lớp sóng ngôn từ, một lớp sóng hình ảnh lan tỏa, tạo ra những
lớp “sóng mơ” trong cõi thực; trở thành một liên khúc, đa hình, đa âm... Các
nhà thi pháp học hiện đại phương Tây cho rằng một trong những đặc trưng của thơ
là trùng điệp. Trùng điệp âm, trùng điệp hình ảnh, trùng điệp nhịp, trùng điệp
ý… Sự trùng điệp làm nên “một kiến trúc đầy âm vang” cho thơ (thuật ngữ của
Jakobson, nhà thi pháp học Nga thế kỉ 20). Đúng vậy! Sự trùng điệp trong “Cúc
đơm thưa” đã tạo ra những ám ảnh - ám ảnh về những giấc mơ tình yêu. Mà tình yêu
của kiếp người hình như cũng chỉ mong manh như những giấc mơ vậy.
Khảo sát thơ Thế Chính, nếu
người đọc tinh ý và có trách nhiệm thường nhận thấy thơ anh hình thành làm hai
kênh: một là thơ triết lí, hai là thơ mang yếu tố tình cảm, trữ tình. Công bằng,
khách quan mà nói, khi viết về tình yêu anh thường ít triết lí hơn, và hình như
vì vậy ở kênh thơ này hình như anh có nhiều độc giả hơn? Có lẽ bởi vì khi viết
thơ tình yêu, tâm hồn anh được giải tỏa, giải phóng, không bị quá ràng buộc bởi
lí trí, những suy tư, triết luận này nọ, mà điều này có vẻ tối kị trong sáng
tác thơ. Khi viết về tình yêu là lúc tiềm thức, vô thức luôn lấp ló đâu đó dưới
ngòi bút của tác giả, những ẩn ức dồn nén có cơ hội thăng hoa. Chính vì vậy,
tuy không nhiều, nhưng lác đác trong một số ít bài thơ trong “Cúc đơm thưa” thường
thấp thoáng những hình ảnh gần gũi với hình ảnh thơ siêu thực. Tuy những hình ảnh
thơ ở đây không hoàn toàn bất ngờ, sai biệt, phi lí (là những yếu tố làm nên
hình ảnh thơ siêu thực) nhưng ít nhiều độc giả đã nhận thấy sự sáp lại một cách
khá hài hòa của hai thực tại vốn cách xa nhau. Nhờ đó mà thơ tình của Thế Chính
có chiều sâu và mang bóng dáng hiện đại:
- Chiếc lạt mỏng hồn em nơi
đáy mắt/ Câu thơ tình buộc chặt đời tôi
(Chiều nắng ngược)
- Em có biết chiều nay cơn
gió ngột/ Trái tim tôi vệt nứt nhớ người
(Ảo vọng)
- Vầng trăng khuyết cháy
trên bình rượu mở/ Thương một thời cỏ mượt ấm chân đê
(Vòng xoáy)
“Cúc đơm thưa” là tiếng vọng
của tình yêu, nói rành rẽ hơn, là tiếng vọng về nỗi đau của tình yêu. Hạnh phúc
luôn đồng hành cùng cay đắng. Bởi vậy, bản chất của tình yêu là nước mắt chứ
không phải là niềm vui và nụ cười. Nhưng nỗi đau của tình yêu là nỗi đau thanh
sáng, mang vẻ đẹp thẩm mĩ, vẻ đẹp làm cho tâm hồn con người trở nên trong trẻo,
ấm áp và vị tha. Ở một bài thơ trong tập, Thế Chính cũng đã nói về nỗi đau ấy
như một tuyên ngôn cho riêng mình:
Nỗi đau kiếp người
Tôn giáo của thơ tôi.
(Hoa
trắng)
Không hề quá lời khi đưa ra
một nhận định: trong hàng ngàn tập thơ đã và đang ra đời trong một môi trường
thơ không mấy sáng sủa như ngày hôm nay, “Cúc đơm thưa” là một tập thơ rất đáng
đọc.
Hồ Thủy Giang

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét