Thứ Sáu, 18 tháng 12, 2015

Những tản văn về Đà Lạt của Phạm Thị Mai Hương

Những tản văn về Đà Lạt của 
Phạm Thị Mai Hương
 Xuân về
   Năm nay, trở về Dalat, tôi yêu đời và yêu người hơn.
   Một sáng vào tháng chạp, sau một đêm, các cây mai anh đào hẹn nhau cùng trổ hoa, phủ khắp thành phố thơ mộng một màu hồng phớt nhẹ khiến bao người sững sờ đến lặng người trước quà tặng hiếm có của thiên nhiên.
   Những cội mai già vươn nhánh cao bung hàng triệu cánh hoa lên bầu trời xanh trên con dốc ngoằn ngoèo Lê Đại Hành, đường vòng quanh hồ Xuân Hương, đường Trần Hưng Đạo quyến rũ bao nam thanh nữ tú dừng chân chụp hình lưu lại khoảnh khắc tuyệt đẹp của hoa, trời và người.
     Càng xa trung tâm thành phố, cảnh vật càng đẹp hơn, ngôi nhà cũ kiến trúc Nhật Bản của giáo sư Nguyễn Bạt Tụy nằm khuất trong rừng mai giống như cảnh ở xứ Phù Tang, con đường Trần Bình Trọng hoa anh đào màu hồng chen lẫn với màu vàng của hoa mimosa, cội mai trước cổng trường Lê Lợi nép bên dãy cây khuynh diệp xanh cao vút. Cảnh đẹp đôi lúc thật đơn giản: bà gánh rong đi trong cánh đồng hoa từ Vạn Thành ra chợ, học sinh đạp xe giữa hai hàng anh đào dọc con đèo Xuân Trường.
     Dalat thanh bình, con người cũng dịu dàng, lãng mạn.
     Năm nay người dân Dalat trở về với Tết cổ truyền, không ra chợ sắm tết mà tự mình trổ tài nấu nướng trong gia đình. Góc phố, trước sân nhà người ta bày một nơi đặt nồi nấu bánh chưng, bánh tét. Chiếc nồi không to, chỉ chừng chục chiếc bánh. Người ta không còn thú ăn bánh nhưng vẫn cần để cúng tổ tiên.
     Mùi thơm của mứt gừng, hạt sen , cà rốt, dừa, mãng cầu… quện mùi thơm của nồi bánh chưng bay không gian làm ấm lòng người
     Năm nay, trở về Dalat, tôi thấy lòng mình ấm áp, hạnh phúc.
    Mạ tôi đã vào tuổi gần 90, đôi mắt không còn màu xanh biêng biếc nhưng lúm đồng tiền vẫn còn trên má. Mạ vẫn duyên dáng như ngày nào dù ba tôi không còn nữa. Mạ ngồi bên chiếc giếng cũ đón con về thăm, đứa nào chọc ghẹo hỏi lại mạ bài thơ ngày xưa để dưới sạp. Mạ cười ngâm nga:
  ….Đến bến đò ngang dạ thấy buồn
     Nhìn dòng Hương chảy giữa trời thương
     Mênh mông một dãy bờ vô tận
     Bóng chiếc thuyền qua dạ vấn vương….
     Tôi và đứa em gái út cùng nhau tắm cho mạ tôi buổi cuối năm, dẫn mạ ra tiệm uốn tóc để đón xuân. Mái tóc mạ trắng, mềm mại như bà tiên hiền hậu trong chuyện cổ tích, khuôn mặt hồng hào, nụ cười tươi tắn trẻ lại hơn mười tuổi.
     Năm nay, trở về Dalat, tôi thấy mình nhiều niềm vui
    Chị tôi, trở về từ Mỹ, chiếc hồ lô mang theo nhiều quà bánh làm tăng hương vị mùa xuân. Chị vẫn tươi trẻ, yêu đời, khuôn mặt tràn hạnh phúc. Dường như thời gian, tuổi tác, công việc không làm chị bận tâm. Chị đong đầy sự yêu thương dành cho mạ, anh chị em trong gia đình, bạn bè, hàng xóm. Mỗi ngày chị đều có việc phải làm: đi dạo cùng Chi, người em bịnh nặng, lên tiệm phở King phụ bán cho Cẩn, ăn tất niên nhà Hương, nhà Sâm…. Chị gặp bạn bè:  bạn hàng xóm, cùng lớp Trần Hưng Đạo, Bùi thị Xuân, bạn Sư Phạm Qui Nhơn... tưởng như chị không đủ thời gian cho mọi người. Mọi người đều cảm nhận được sự chân tình của chị.
     Hai mươi tám tết, bốn chị em gái chúng tôi dạo chợ xuân, em tôi, mái tóc rụng hết bởi xạ trị nay đã ra phủ mái đầu. Em tươi tỉnh, hồng hào tuy ít nói, trả lời ngập ngừng, gật đầu thay lời nói. Em bước từng bước chậm rãi dọc chợ hoa, khẽ cười khi chị tôi chụp hình các em dưới nhành anh đào, bên chậu mai vàng. 
     Năm nay, trở về Dalat, tôi và gia đình nhỏ của mình cùng tất cả mọi người hưởng Tết đầm ấm, hạnh phúc.
     Chợt nhận ra: mùa Xuân ở ngay trong nhành mai hồng, ánh mắt tinh anh của mạ, nụ cười vô tư của chị, khuôn mặt tươi tỉnh của em, tiếng cười của cháu ngoại…
     Và mong sao mùa Xuân sau cũng đẹp như năm nay
Âm Dương Mờ Ảo
  Người dân Dalat hay nói đùa: đôi trai gái mới quen thường đưa nhau lên Đồi Cù tâm sự, vui đùa,  chọn Thung Lũng Tình Yêu bày tỏ nỗi lòng, đỉnh điểm của tình yêu sẽ là Rừng Ái Ân, nếu suông sẻ người ta làm lễ cưới ở Nhà Thờ Cam Ly. Cuộc tình tan họ dẫn nhau đến Hồ Than Thở, than thân trách phận, băng xuống Suối Vàng tự vẫn để rồi trở thành Đồi Thông Hai Mộ.
     Nhưng thường Hồ Xuân Hương chứ không phải Suối Vàng được chọn để kết thúc cuộc đời. Bởi sự tĩnh lặng nhất vào đêm khuya, dễ lôi cuốn người ta trầm mình và không quá xa phiền thân nhân tìm xác.
   Người chết ở hồ Xuân Hương ngoài tự tử ra còn do nhiều nguyên nhân như đuối sức khi tắm hồ. Những người hay tắm hồ truyền kinh nghiệm: hồ Xuân Hương có một luồng nước  rộng chừng 4 mét, nước ở đó phía trên ấm nhưng phía dưới rất lạnh. Họ khuyên ai nếu bơi lọt vào luồng nước đó phải cảnh giác bơi ra, nếu không sẽ mải mê bơi theo như mê hoặc, chìm dần vào phần lạnh và đuối nước.
   Cũng có những trường hợp khá lạ lùng. Con chị Chín Răng Vàng bán bắp nướng ở Hoàng Diệu học lớp 11, cùng các bạn đá banh trên đồi, banh rơi xuống hồ. Em men theo chỗ cạn vớt banh, hụt chân rớt xuống nước. Người lớn nhảy xuống cứu, chụp được tóc của em, nhưng rủi thay em cắt kiểu đầu đinh, tóc quá ngắn, nên không nắm được tóc để lôi lên, đành chịu .
     Vào dịp Tết, hồ Xuân Hương nhận chìm một chiếc pedal’eau chở gia đình du khách lên chơi xuân. Một anh bợm nhậu tham vớt chú rùa lớn được thả phóng sinh, bị nước cuốn va vào chân đập chết bể đầu. Năm 1973, chiếc máy bay trực thăng của anh phi công ở Ấp Ánh Sáng, khi bay qua nhà, anh giơ tay vẫy khiến máy bay đâm chúi xuống hồ Xuân Hương, cuốn theo chục người đi đường có cả giáo sinh trường Sư Phạm mặc áo màu nâu
     Người ta đồn Hồ Xuân Hương có huông, mỗi năm phải nhận mấy mạng người. Và mỗi khi có người chết đuối người ta lại phải nhờ cậy đến ông Pháp.
     Ông Pháp, một ngư phủ người Quảng Ngãi lên Dalat sinh sống bằng nghề làm vàng mã, là một ông thầy pháp có thể bắt ấn, nói chuyện với người âm.
     Mỗi khi người nhà nạn nhân cần giúp đỡ, ông Pháp ngụm nửa lít nước mắm nhĩ cho ấm người rồi nín hơi trầm mình xuống đáy, nhìn quanh quất tìm người gặp nạn vướng vào rong rêu, rễ cây… hết hơi ông trồi lên và cứ như vậy đến khi tìm được xác. Quang cảnh dưới hồ quen thuộc như lòng bàn tay nên ông chẳng mất nhiều thời gian để đưa thi thể lên bờ. Bởi vậy người ta khen ông có duyên với người chết
     Người ta tin rằng chết ngoài đường không được đem về nhà nên thường đem người mất lên nhà quàn ở chùa Linh Sơn hay mảnh đất trống nằm cuối bờ hồ để làm lễ trước khi an táng.
     Mảnh đất trống nằm ở ngã ba đường trước nhà thương của bác sĩ người Pháp tên là Sohier. Am bắt nguồn từ một người chết vô thừa nhận vớt từ hồ lên và được chôn ngay đó. Chung quanh am được rào giậu và trồng cây um tùm. Người dân Dalat hơi sợ khi đi ngang qua am lúc đêm khuya. Nhiều người dạn dĩ nhìn vào thấy khoảng chục ngôi mộ nằm liền kề nhau. Người ta truyền miệng nhau Am Sohier rất linh.
     Và có người phát bệnh điên từ chiếc am đó.
     Người ta kể rằng khi có việc phải làm cạnh Am Sohier, một thanh niên tuấn tú nhìn tấm hình thờ của một cô gái trẻ, buột miệng:
     - Cô đẹp quá. Phải chi cô làm vợ tui thì vui biết mấy!
     Vài ngày sau, anh có những biểu hiện không bình thường. Anh nói lảm nhảm, khuôn mặt mất thần sắc và thường nhìn lên trời cười ngây dại. Thỉnh thoảng anh cởi hết quần áo chạy khắp nơi, nhất là vào lúc đêm. Đi đường, anh cúi xuống đất nhặt thức ăn vứt bỏ cho vào miệng. Người ta bảo anh bị "vương" nói cách khác là cô gái ở Am Sohier đã nhập vào anh.
     Không biết chuyện đồn có thực hay không nhưng vào thời bao cấp, các am miếu dọc đường bị phá bỏ. Nhiều vụ ma quái xảy ra mà không ai giải thích được.
    Cha mẹ anh không tin vào việc cúng bái, họ đưa con trai về Saigon chữa trị nhưng không khỏi. Ông bà đành để anh trong căn phòng ở lầu ba mở cửa ra giàn lan được rào bởi lưới B40 chắc chắn. Người thanh niên lớn mạnh như cây thông xanh mướt giờ như bị héo úa khiến mọi người xót xa.
     Suốt thời gian dài, người điên khi trần truồng, khi mặc chiếc quần cộc tới lui giữa những chậu cây kiễng trên lầu cao. Bóng xa tít tắp khiến người dưới không còn nhận rõ khuôn mặt.
     Hơn 20 năm, thời gian đủ để vong linh cô gái đi đầu thai (nếu điều ấy là hiện thực ) hay do thuốc men, người điên không còn bị nhốt trên chiếc sân thượng nữa. Khuôn mặt anh sắt đen, quần áo chỉnh tề nhưng đôi bàn tay gân guốc, móng dài đen kịt
     Mỗi sáng, anh xoè tay lấy tiền của cô em gái để đi uống cà phê. Đôi khi, anh xin tiền người xung quanh. Đôi mắt gian hoạt, láo liên nhưng  giọng nhỏ nhẹ:
     - Bác cho cháu một ngàn uống cà phê.
     Không biết trong cái điên của anh có bao nhiêu phần tỉnh bởi thật lạ, tuy có một thời gian không giao tiếp, nhưng anh vẫn nhớ tên, công việc, gia cảnh của mọi người, trò chuyện như người thân quen và chỉ nhận đúng một ngàn. Và trong cái tỉnh không biết có bao nhiêu phần điên? Bởi vào ngày 14, rằm, 30, mồng một, anh lén đi sau các cô gái, tay đập nhẹ vào vai hay vào lưng rồi quày quả bỏ đi. 
Mạ Tôi, Mỗi Mùa Xuân Về
Gia đình ông ngoại tôi ở làng An Hoà, nằm dọc theo quốc lộ số 1 khoảng 5,6 cây số và gần thành nội cố đô Huế. Về sau, ông ngoại chuyển về làng An Cựu, ngôi nhà nằm bên cạnh dòng sông “nắng đục mưa trong”. Ngày đó từ nhà nhìn ra thấy được bến nước với hàng tre xanh mướt.
     Mạ đứng thứ năm trong gia đình có chín người con: sáu trai, ba gái. Trước năm 1975, ở ngoài Bắc, Cậu Tam là giáo viên trường Đại học Ngoại Thương – Hà Nội. Câu Bốn là thương bình với huân chương chống Pháp hạng 3. Ở miền Nam, cậu Lục là giáo viên anh văn trường Quốc Học Huế, cậu Tâm lên đến phó tỉnh Nha Trang, cậu Chín, tuy không thành đạt bằng nhưng kiến thức rộng, khoa ăn nói chẳng thua ai. Cậu Năm vốn ít học nhất nhưng là một người giàu có của vùng chài lưới Tam Hòa – Đà Nẵng.
     Ba cô con gái của ông ngoại tính tình không giống nhau. Dì Mai bản tính hiền thục, suốt đời chỉ biết ẩn sau bóng chồng, sau khi dượng mất năm Mậu Thân, các anh chị chăm lo dì chu đáo . Dì Lan trẻ trung mãi với thời gian, dì không có con gái nên dượng Lợi và ba cậu con trai lúc nào cũng chìu chuộng dì, bông hồng duy nhất trong nhà. Mạ, tên thời con gái là Huệ, xinh nhất, bản lãnh nhất nên từ nhỏ mạ đã có ý thức sống tự lập rất sớm.
     Ông ngoại đi lính cho Tây, bà ngoại ở nhà mở quán tạp hóa bán cho lính, ngoại bán đủ thứ từ gạo, nếp đến rượu. Các bà vợ lính đến mua rồi ký sổ, cuối tháng ngoại cầm sổ nợ lên đồn tính toán với cai, buôn bán dễ dàng mà không sợ bị quỵt nợ. Mạ là bản sao của ngoại, từ vóc dáng đến phong cách. Từ lúc còn nhỏ, mạ cùng dì Truyện giúp ngoại buôn bán. Rãnh rỗi, mạ và con gái trong xóm đến nhà các bà đầm học đan may.
     Bàn tay mạ đẹp đầy đặn, mạ đan thoăn thoát, bất kể kiểu đan nào dù khó đến đâu mạ lần mò đan cho bằng được. Có điều lạ, mạ là người nhanh nhẹn, dường như khó ngồi yên một chỗ thế mà đủ kiên trì đan từng mũi kim hình thành chiếc áo. Hình ảnh mạ cặm cụi với đôi kim đan lúc trưa hè hay đêm khuya in rất sâu trong tâm trí tôi. Cứ mỗi giữa năm, mạ bắt đầu đan, đến cuối năm đủ áo cho mười hai đứa con. Mùng một , bác Châu đến chúc Tết và chụp tấm ảnh đầu Xuân, anh em chúng tôi ngộ nghĩnh trong những chiếc áo len đồng phục gia đình không sợ lạc.
     Chừng rằm tháng chạp, mạ bắt đầu làm mứt, mứt gừng dành cho ba tôi uống nước trà, mứt bí đao, mứt dừa, thích nhất là mứt carotte vì màu đỏ cam nổi bật . Khi mạ rim mứt, chúng tôi mới bắt đầu xúm xít bên cạnh, chờ vét đường sót đáy thau. Làm xong mạ trải ra mẹt, phơi trên mái nhà, chúng tôi chia nhau canh chừng người lớn, trèo lên ăn vụng, bao giờ cũng chọn mứt carotte trước, chỉ chừa lại mứt gừng vì cay. Mạ phải làm mấy lần và cuối cùng mẹ bỏ hủ cất vào tủ đề dành đãi khách.
     Mạ còn làm bánh in bằng đậu xanh hoặc đậu trắng. Loại bánh này làm rất công phu: mạ ngâm đậu cho nở ra sau đó đem luộc, đổ nước đầy, để lửa riu riu không chêm thêm nước vì sợ sượng. Đậu chín bỏ vào trên rây, cà cho mịn. Sau đó, đổ đường vào sênh, mạ để lửa phải thật nhỏ, nồi bánh sôi bập bùng như chè đậu xanh đánh, tay phải khuầy đều. Khi bột quện thành cục, tay nắm không dính, mạ đổ vào khuôn in. Chiếc khuôn nhỏ bằng sắt hình chữ nhật, nắp có thanh sắt và mặt trong có hoa văn được gởi mua từ Huế. Mạ bỏ bột vào khuôn, lấy nắp ịn chặt, đẩy mạnh xuống để bánh ra khỏi khuôn, bánh phải có hoa văn sắt cạnh, không gãy góc mới đẹp, in xong để hôm sau mới gói. Mạ mua giấy bóng kính đủ màu sắc cắt thành hình vuông và gói những chiếc bánh in trong tờ giấy bóng kính trông đẹp và ăn rất ngon, ngậm vào miệng bánh tan dần như bánh rồng vàng Hải Dương nhưng không béo và có mùi thơm của đậu. Một ít bột, mạ viên tròn như hòn bi, đóng vào giấy bóng kính, quấn hai đầu lại, cắt tua gọi là bánh hạt sen.
     Khoảng 25 tết, mạ vo gạo nếp, đồ đậu xanh và thịt mỡ để gói bánh, mạ chỉ gói vài đòn bánh tét để đãi khách, còn bao nhiêu nếp mạ gói toàn bánh ú, bánh có hình tam giác, to bằng bàn tay người lớn, hai cái bánh ú xếp thành một cặp như cái lồng đèn, mạ lấy lạt buộc chéo, chúng tôi cũng tập gói những cái bánh ú nhỏ hơn, dặn mạ khi luộc để lên trên. Đêm đến, bên ánh lửa bập bùng của nồi bánh, chúng tôi vớt ra ăn trước. Bánh ú rất tiện cho trẻ con, đói bụng tự mình bóc lấy, mỗi đứa chỉ cần một cái là đủ.
     Tết nay, mạ tôi bước vào tuổi gần 90, tuy sức khỏe không như trước nhưng mạ tôi cười vẫn duyên dáng để lộ lúm đồng tiền khi con cháu xúm quanh lì xì Tết, thích được đứa con hay cháu ngồi bên cắn đôi hạt dưa để mạ ăn lỏi bên trong, và vẫn còn thấy ngon miệng ăn miếng bánh tét chiên giòn.
     Giờ người dân Dalat không còn thói quen đan áo mặc Tết, ít làm bánh mứt, và bánh chưng, bánh tét cũng chỉ là món tượng trưng của ngày Tết. Tuy vậy anh em chúng tôi mỗi lần họp mặt nhau ngày Xuân vẫn không quên nhắc lại chiếc áo len đồng phục thuở nào, cảnh trèo lên mái tôn ăn vụng mứt hoặc chiếc bánh ú đêm ba mươi.
Mạ Tôi! Chướng Ghê Chưa
(Nhân dịp tưởng niệm đến Ba tôi, thi sĩ Việt Trang Đà lạt)                  
    Khi ba tôi còn sinh thời, có lẽ phải chăm sóc ba nên mạ tôi khỏe và tinh tường. Mạ nhớ tên từng loại thuốc, đưa cho ba uống đúng giờ. Mạ tôi lo cho ba quên cả đau lưng nhức mỏi của tuổi trên 80. Chúng tôi cũng mải lo cho ba mà quên mất mạ, tưởng chừng mạ cùng trang lứa với mình. Ngày ba mất, mạ tôi như cây chuối bị đốn ngã, ngồi lặng im hằng giờ trước linh cửu. Mạ quên ăn, bỏ ngủ khiến chúng tôi lo lắng nhìn mạ dưới con mắt khác
     Ba tôi mất. anh Việt nằm ngủ bên cạnh để mạ đỡ buồn và chăm sóc mạ đêm hôm. Một tối, đứa cháu lên thăm bà ngoại, nó suýt ngất xỉu tưởng ông ngoại ngồi đầu giường coi ti vi. Sau 49 ngày, anh bàn giao lại cho con trai mình cũng là cháu đích tôn: "Cụ" Trâu
     "Cụ" Trâu ngoài 20 tuổi, sau khi đi nghĩa vụ quân sự 2 năm, Trâu xin làm cho công ty Harfarm. Trâu là thanh niên trai tráng nhưng khi lãnh nhiệm vụ Trâu trở thành một ông cụ non. Đúng 9 giờ tối sau khi ba Việt coi xong tin tức thì Trâu vào thay. Trâu nằm bên cạnh bà nội đánh một giấc cho đến 6 giờ sáng dậy chuẩn bị đi làm.
     Mỗi khi tôi về thăm mạ, muốn ngủ lại, mạ nói:
     -Con ra nói với Trâu một tiếng.
     -Ủa sao vậy?
     -Mạ sợ nó giận, mai nó không vô nữa.
    -Trời, nó còn khoái nữa mà. Con trai mà 9 giờ tối có mặt ở nhà làm sao mà có bồ.
     Chị Bá, mẹ của Trâu ghẹo:
     - Trâu mà ế vợ tại bà nội đó.
     Mạ cười lỏn lẻn để lộ lúm đồng tiền bên má trái. Tôi cắc cớ hỏi Trâu:
    - Con trai mà tối nào cũng ngủ với bà nội, bạn có cười Trâu không.
   - Dạ không, nhưng có đứa nó hỏi cháu: mày không hút thuốc mà sao người mày có mùi Cẩm Lệ
     Thật đắng họng không trả lời nổi, bởi thỉnh thoảng có người từ Huế vô biếu bà nội gói Cẩm Lệ đậm đà tình quê hương.
     Thời gian sau, cứ đến 7 giờ tối, mạ tôi lại lững thững ra trước sân ngó vô nhà anh Việt:

     -Trâu nó về chưa?
     -Mới có 7 giờ mà bà nội
     -Ừ! Bà nội hỏi cho biết.
     Vậy đó, vẫn biết không ai nỡ để mạ tôi ngủ một mình nhưng mạ vẫn hỏi thăm chừng đứa cháu. "Mạ tôi, chướng ghê chưa!"
     Ba tôi mất, không có người trò chuyện, mạ tôi tự dưng thích nghe ngâm thơ. Mạ nằm trên chiếc ghế dài nhìn ra sân, tai lắng nghe tiếng Tô Kiều Ngân ngâm những sang tác của hội thơ Trà Sơn. Vào những buổi chiều trời mưa, tiếng ngâm thơ khiến lòng người buồn da diết. Mạ không cho đổi băng, cứ nghe hết dĩa tự động quay lại từ đầu.
    -Sao mạ cứ nghe băng này hoài vậy.
    -Mạ muốn nghe thơ của ba với bác Phong Vũ.
    -Mạ đừng nghe thơ nữa, mạ nghe rồi lại nhớ ba. Để con tìm băng nhạc Huế cho mạ nghe.
     Mấy đứa con lại mang về một lô dĩa nhạc Huế. Một hôm Cẩn ngồi chơi với mạ, khám phá ra mình nghe Quang Lê ca tới 5 lần bài Đêm tàn bến Ngự, Cẩn cười nói với mạ:
     -Huế mộng Huế mơ, ngó lơ mất cái bóp.
     -Khỉ, nói chi tầm bậy.
     Cẩn thay dĩa Quang Lê bằng đĩa của Hoàng Oanh mà phải có đoạn ngâm thơ mạ mới chịu. Mấy đứa cháu về thăm nội than;
     -Con ở với nội một lúc là phải rủ nội ra sân chơi, nghe nhạc cũ miết ớn quá.
     Có đứa là fan hâm mộ ca sĩ nhạc Hàn và Hip Hop lén nội tắt máy. Một lúc lại nghe tiếng mạ tôi hỏi:
     -Con ra tìm bác Việt giùm nội
     -Mà nội cần bác Việt làm chi?
     -Ờ! Mở giùm nội cái máy .
     -Con mở cũng được mà.
     Mạ tôi ngó đứa cháu  không mấy tin tưởng;
     -Con không mở được đâu
     -Trời ! Con học công nghệ thông tin, con làm cái gì còn được nữa là.
     Anh Việt từ đâu vào, nheo mắt ra hiệu:
     - Để đó cho bác. Mấy đứa không biết dĩa của bà nội thích đâu.
     Vậy đó, dù trên mặt máy có một lô đĩa để sẵn mà mẹ tôi cũng chỉ nghe một dĩa và phải anh Việt mở thì Hoàng Oanh ngâm thơ mới ngọt hơn. "Mạ tôi, chướng ghê chưa!"
     Ba mất, mạ tôi chỉ ăn cơm buổi trưa do chị Liên, vợ anh Hoàng nấu. Chị bày trên mâm đủ ba món; canh, món mặn, món xào. Không có ba, mạ buồn ăn cũng ít. Buổi sáng và chiều , mạ lững thững đi ăn trên chợ hoặc đứa nào đi mua ở đâu về cho mạ. Lạc thấy mạ ăn hoài trong xóm có từng ấy món nên chở mạ đi xa hơn một chút: cuối đường Ma Trang Sơn có quán hủ tiếu, bún bò, bên Xuân An có bánh canh... Mạ ăn chiều chừng 4 giờ rưỡi sớm hơn mọi nhà.
     Mới ba giờ, mạ điện thoại:
     - Lạc ơi! Ba giờ rồi đó con.
     - 4giờ rưỡi mới đi mà mạ
     - Ừ. Mạ sợ con quên
     Lạc sợ mạ chờ nên hôm sau bốn giờ có mặt. Mấy ngày sau, 2 giờ rưỡi mạ gọi điện. Có hôm, Lạc ăn cơm trưa xong đã tới giờ chở mạ đi ăn tối.
     - Răng con không ăn
     - Mới 3 giờ. Con mới ăn giờ còn no
     Mạ ăn chiều sớm nên giờ ăn trưa cũng sớm hơn khiến chị Liên phải đi chợ sớm hơn. "Mạ tôi, chướng ghê chưa!"
     Ba mất, tự dưng mạ xuống sức nên hay đau lưng. Mạ tôi biết tự chăm sóc sức khỏe của mình. Thấy trong người không khỏe, mạ gọi:

     - Sâm ơi! Mạ đau
     - Mạ đau ra sao? Con đang mắc thanh tra. Mạ nói đứa nào ở nhà chở mạ đi khám đi.
     - Thôi! Để mạ chờ con.
     Sâm đi dạy khá lâu, giao thiệp rộng, nhiều học sinh trở thành bác sĩ nên mạ đi khám bệnh không phải chờ dù bệnh nhân có đông:
     -Sức khỏe của bà cụ tốt lắm, tim gan không có vấn đề gì.
     Bác sĩ đôi lúc chỉ cho toa thuốc bổ. Nhiều lúc đang lúc bị dự giờ, Sâm cáu:
     -Mạ đau thì chở mạ đi khám liền, sao lại chờ em.
     Dù đứa khác có sốt ruột chở mạ đến ông bác sĩ quen thì mạ vẫn trách: ông đó khám không hay. "Mạ tôi, chướng ghê chưa!"
     Mới tuần trước, mạ mệt, Sâm đưa mạ đi khám, bác sĩ khuyên đưa lên bệnh viện để theo dõi nhịp tim. Cả nhà đứng ngoài phòng cấp cứu chờ đến khi mạ vào phòng lưu bệnh rồi mới về. Chi ở lại trông chừng mạ.
     "Cụ" Trâu về nhà, trằn trọc trên chiếc giường rộng, không ngủ được:
     -Không biết cái "chướng ghê chưa" ấy, nửa đêm đi vệ sinh. Cô Chi có biết đường đưa đi không.
     Ba tôi mất, niềm thương yêu nhất bỏ mạ ra đi. Có lẽ vậy mà mạ nghĩ các con rồi cũng sẽ quên mạ nên mạ sợ mạ nhắc chừng. Đôi mắt màu xanh biếc nay đổi màu xám thoáng chút bối rối mỗi khi muốn con làm điều gì đó cho mình. Mạ có biết, các con khi nói: "Mạ ơi, chướng ghê đi!" cùng đồng nghĩa là "Mạ ơi, thương mạ quá đi thôi!"               
(Thương tặng Mạ và "cụ" Trâu)
(Tháng 9.2013)  
Bắp Nướng Quẹt Hành Đà Lạt
(Thương tặng anh chị em tôi
và tất cả cư dân Lò Gạch)

     "Bình minh dù mưa hay nắng
     Tôi đi làm việc
     Cuốc bộ từ nhà đến sở
     Đường dài hơn năm cây số
     Chân vui len qua xóm nhỏ chợ chiều
     Chào mấy bà bạn hàng họp nhau buổi sáng"
                     (Việt Trang)                     
    Ở Đà Lạt tại đầu đường Trần Nhật Duật giáp ranh với đường Hoàng Diệu có một ngôi chợ xỏm. Chợ nằm hai bên lề đường kéo dài hơn chục mét và chỉ họp vào buổi chiều nên có tên ”Chợ Chiều."
     Người ta bày thịt cá, rau dưa, trái cây... trên chiếc sạp cố định, tiếng là sạp cho oai nhưng chỉ là vài miếng ván ghép lại, bốn thân cây cong queo chống đỡ một miếng tôn rách. Đa phần là người quảy gánh từ nơi khác đến bán rong. Người buôn kẻ bán ngồi chồm hổm quanh cái mẹt hay quang gánh. Đôi khi có người chết tên cùng loại mặt hàng mình bán như chị Cấu bán lòng, bà Năm trái cây….
     Vào mùa thu hoạch bắp, em thích nhất quán hàng của chị Chín răng vàng. Chị Chín người Quảng Nam trên dưới bốn chục tuổi. Khi cười, chị để lộ một hàm răng bằng vàng choé, có lẽ chị nghĩ chẳng chỗ nào giấu tài sản chắc ăn bằng để trong miệng mình.

     Nói là quán hàng cho sang chứ thực ra chỉ có vài cục than hồng đặt trong một cái thau bằng nhôm móp méo, cũ xì. Phía trên thau có tấm vỉ sắt và một chiếc giỏ cà xé đựng đầy bắp tươi để sau lưng. Đặc biệt nhất là một nồi hành tươi phi với mỡ trông bắt mắt.
     Chị Chín lột vỏ nhanh thoăn thoắt, tuốt sạch râu, đặt bắp lên vỉ sắt nướng. Lửa không quá to để bắp không cháy đen bên ngoài mà trong chưa chín. Chị trở đều trái bắp từ trái sang pgải, trên xuống dưới. Mùi bắp thơm cùng lúc các hột bắp vàng. Công đoạn cuối cùng, chị lấy muỗng múc hàng phi mỡ rưới lên trái bắp rồi giao cho khách.
     Bắp đầu mùa ngọt, thêm cái béo của mỡ, cộng cái thơm của hành phi làm tăng khẩu vị của người ăn, nhất là vào những ngày trời giá lạnh, nhẩn nha nhai từng hột bắp một mới thấy hết được cái ngon.
     Các anh chị của em rất khoái món bắp nướng quẹt hành này. Chiều chiều hay sai mấy em  nhỏ đi mua, đứa nào cũng thích lãnh nhiệm vụ này vì thế nào cũng được trả công bằng một mẫu bắp ở đầu.
     Hôm nay, em được chị Trang nhờ đi mua, chị hào phóng thường bẻ cho em nhiều hơn những người khác. Chờ chị Chín răng vàng đưa trái bắp gói trong chiếc lá, em lững thững đi về nhà. Hôm nay em đói bụng sớm thêm mùi thơm của trái bắp hấp dẫn nên ruột cồn cào. Biết rằng không thể ăn vụng được, em cố gắng nhịn dằn bụng lại nhưng không thể thắng nỗi cái háu ăn. Em chợt loé ra một sáng kiến: em thè lưỡi liếm sạch hành và mỡ bao quanh và sẽ đổ cho chị Chín quên quẹt mỡ.
     Thấy em, chị Trang đưa tay đón lấy trái bắp. Chị em cầm trái bắp nhìn một hồi lâu, quay qua thấy cái miệng bóng mỡ của em, chị tắc lưỡi:
     -Thôi! cho Chi trái bắp này, làm ơn đi mua giùm chị trái bắp khác .
     Hú hồn!!!
Họa Lại Một Câu Kinh
(Tưởng Nhớ Nhà Thơ Việt Trang Đà lạt)
   Chiếc sân khá rộng được giăng bạt khang trang, bày biện bàn ghế đầy khách khứa ,nếu không nhìn rõ những khuôn mặt trang nghiêm buồn rầu thì tôi và các huynh đệ sợ mình đi nhầm chỗ. Lên năm bậc cấp bước vào phòng khách trống trơn chỉ để chiếc áo quan, một số ni các chùa khác cùng tang quyến đã đợi sẵn va sau nghi thức làm lễ Phật, chúng tôi bước vào căn phòng bên, trên chiếc giường rộng, một người nằm thẳng phủ chiếc mền Quan Âm, một ai đó khẽ kéo chiếc khăn vàng, khuôn mặt mất hơn một ngày mà vẫn tươi tỉnh như đang ngủ, những nét nhăn nheo của tuổi già, nét khổ nhọc của cuộc sống dường như biến mất, hiếm khi nào đi làm lễ nhập liệm mà tôi gặp được một người chết có khuôn mặt thanh thản đến như thế.    
     Thân hình ông cụ nhỏ bé nằm gọn trong tấm vải trắng, toàn gia quyến đứng xung quanh, khuôn mặt đẫm nước mắt, tiếng nấc nhè nhẹ khi tôi làm lễ nhập liệm đưa ông cụ vào linh cửu, giấy trắng, áo quần đem theo, hoa lài chèn kín xung quanh chừa khuôn mặt ung dung tự tại để con cháu nhìn lần cuối, một bàn tay nào đó kéo khăn che mặt, tấm ván thiêng đậy kín quan tài. Một phút im lặng, một phút sững sờ.
     Đứng trước bàn thờ vong, nhìn di ảnh, khuôn mặt hiền từ, đôi mắt như cười hóm hỉnh, tự nhiên tôi cảm thấy quen quen nhưng sao không nhớ nỗi, phải chăng do lời sư phụ dặn trước khi đi:
     -Đây là người quen của sư phụ.
     Tôi làm lễ phát tang, bấy giờ mới rõ ông cụ có khá nhiều con cháu, những mái đầu bịt khăn trắng quỳ đến nữa sân, thấp thoáng có đến ba chiếc khăn màu vàng. Gia đình tứ đại, thật hiếm! Tôi chậm rãi xướng từng tên một, gần sáu mươi người. Tôi muốn ông cụ được nghe tên của họ lần cuối. Tôi muốn gọi tên từng người nhắc nhở cho họ biết mình thân thiết thế nào với người đã khuất. Lúc này nhằm tháng vào hạ, sắp đến lễ Vu Lan:
…Ấm no đầy đủ
Cậy có công cha
Chẳng quản yếu già
Sinh nhai lam lũ
Quyết cùng hoàn vũ
Phấn đấu nuôi con…
   Những giọt nước mắt tuôn rơi, những ánh mắt ân hận nghĩ đến những điều mình muốn làm cho người thân mà muộn màng chưa kịp, trong số họ tôi cầu mong không có ai “Thấy cha như thấy khách, thấy mẹ như thấy nợ” ,trong số họ tôi cầu mong không có ai”thê thiếp sai bảo thì nhất thiết thi hành , cha mẹ nói năng lại không thèm đếm xỉa”, trong số họ tôi cầu mong không có ai “mê theo chồng con, quên ngày quên tháng, bỏ quên cha mẹ, không tin không hỏi, làm cho cha mẹ nhớ thương sầu khổ”…    
     Vài hôm sau, đích thân sư phụ làm chủ lễ Tịch Điện nên tôi thong thả dạo mắt nhìn khắp nhà, bốn bước tường nay được treo phủ đầy những câu đối, bài thơ phúng điều, một bài thơ thật quen:
Trần gian là quán trọ
Tạo hoá lẽ huyền vi
Thế nhân là lữ khách
Dừng lại rồi ra đi
     (Stop and go) 
   Như một luồng điện xẹt qua, tôi nhìn lại bài vị, dưới ngọn nến lung linh, dường như ông cụ nheo mắt, cười hóm hỉnh:
     - Mô Phật! Nhớ tui rồi phải không thầy.           
     Tôi nhớ! Tôi nhớ! Từ ngày xuất gia đến nay gần 20 tuổi hạ, khi còn cắp khánh theo hầu hay thay thầy làm chủ lễ trong các đám tang, tôi luôn gặp ông cụ, ông cụ không nằm trong ban tụng niệm hay người làm công quả của chùa, ông cụ là một người đặc biệt.     
     Vào lúc hạ huyệt, sau khi tụng:
     -Nam Mô Tiếp Dẫn Đại Sư A Di Đà Phật…           
     Tôi thường hỏi:
     -Tang gia có điều chi muốn nói.           
     Ông cụ luôn thay gia đình đọc điếu văn đáp từ. Hơn hai mươi năm tôi gặp và có lẽ thời gian trước đó còn nhiều hơn thế, bao giờ ông cụ cũng mặc một bộ quần áo âu phục lịch sự,  hôm nào trời lạnh khoác thêm chiếc áo khoác bằng dạ, đầu đội chiếc mũ phớt đen, ông cụ lấy trong túi tờ điếu văn được chuẩn bị kỹ càng và lên tiếng với giọng Huế nhẹ ấm áp, ông cụ cùng với tất cả mọi người hoài niệm người đã khuất, ông cụ thường  lấy giáo lý nhà Phật làm đầu 
Trăm năm trước thân ta không có
Trăm năm sau có cũng như không
Cuộc đời sắc sắc không không 
     Và cứ như thế, khi tôi xướng câu linh cuối cùng, ông đáp từ bằng bài điếu văn, suốt từng năm tháng ấy, bài điếu văn không hề trùng lắp, bởi cuộc sống nào có giống nhau. Ông cụ luôn tìm được những điều tốt đẹp của người đã khất và đưa vào những vần thơ ngọt đến lịm người:
       Khó nguôi thương nhớ lệ châu tràn
       Áo hiếu bông hồng cũng rã tan
       Lặng lẽ mẹ đi về cõi tịnh
      Bồi hồi con ở lại trần gian
              (Khóc mẹ)
       Cậu đi rồi mất cậu ngàn năm
       Một nửa đất trời bỗng tối tăm
       Vân thọ quan hoài sầu khó cạn
       Hồng trần mộng đoạn lệ khôn cầm
              (Khóc cha)
      Câu thơ bạn cũ tìm trong mộng
      Tiếng ngọc người xưa biệt giữa đời
      Đốt nén tâm hương xin bái vọng
      Theo niềm thương tiếc lệ châu rơi
              (Nhớ bạn) *
       Đường Du Sinh bỗng dưng thành Du Tử
      Chiếc xe tang nhoà nhạt với hoa xinh
      Gió thở than trên sỏi đá gập ghềnh
      Từng bước cuối lặng đưa người vĩnh biệt
              (Thi lệ)
     Sáng nay, đứng phía trên mộ phần, nhìn ra xa  “Đỉnh Lâm Viên trời xanh cao lồng lộng” sau khi tôi tụng:
   - Nam Mô Tiếp Dẫn Đại Sư A Di Đà Phật…           
     Và ngừng đến khi chờ hạ huyệt, lấp mộ phần tròn trịa, tôi lại hỏi:
   - Tang gia có điều chi muốn nói.           
     Bất giác tôi nhìn vào di ảnh, ông cụ nheo mắt hóm hỉnh:
   - Mô Phật! công việc của tui đã xong rồi thầy ạ, phải nhường người khác thôi và cười khẽ:
Xin chào tất cả tôi đi
Nghĩ mình thân phận chim di một đời
Mây trời như sóng nổi trôi
Gió tha thiết mãi như lời từ ly
Xin chào…
Xin chào… 
Tôi đi!.
Phạm Thị Mai Hương
Theo http://www.dalatdauyeu.org/







Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Tô Hoài - Vẽ lên hoài niệm

Tô Hoài - Vẽ lên hoài niệm Những chuyện đời tư sôi nổi, cảm động, thiết tha và gần gũi phần nào cho thấy sự chuyển đổi theo chiều hướng nh...