Ý nghĩa chữ mùa thu và thiên thu
trong kinh thánh và
ngoài đời
A. Trong Cựu Ước
Theo chỗ tôi được biết, trong Cựu Ước, đối với Dân Do Thái,
THU không diễn nghĩa sự vàng úa của cỏ cây và cảnh xế chiều của đời người,
NHƯNG là SỨC MẠNH, NÉT CƯỜNG TRÁNG của tuổi THANH XUÂN. Tuy nhiên, chỉ có một lần
nói về THU, về sự LUYẾN TIẾC CHUỖI NGÀY XA XƯA như sau: ”Ông Gióp tiếp tục ngâm
nga: Làm sao tôi được như những tháng năm xa xưa, được Thiên Chúa giữ gìn khi
ĐÈN của Ngài chiếu sáng trên đầu tôi và khi, trong bóng đêm, tôi bước đi theo
ánh sáng của Ngài, như những ngày THU (as in my autumn days), khi Thiên Chúa chở
che lều trại của tôi, khi Ðấng Toàn Năng còn ở bên tôi, các con trai tôi quây
quần… lời tôi nói như giọt mưa thánh thót. Họ đợi tôi như chờ cơn mưa, há miệng
ra như thể đón mưa xuân.” (Gióp 29,1-23)
THU cũng là thời kỳ THU (THÂU) hoạch mùa màng do công sức
mình làm ra. Cho nên, Caïn và Abel đã dâng lễ vật lên Thiên Chúa vào mùa THU hoạch
nầy. Abel thì dâng chiên cừu ĐẦU LỨA và MỠ BÉO của chúng; còn Caïn thì trái
trăng đồng ruộng.
Từ AUTOMNE (THU) được mượn từ chữ Latinh AUTUMNUS hay là
AUCTUMNUS, do chữ ”augeo, auxi, auctum, augere” có nghĩa là ”làm lớn lên, tăng
lên” (augmenter). Vì thế, chữ AUCTOR thành AUTEUR, AUTHOR là TÁC GIẢ (người làm
ra). Người Đức dùng chữ HERBST có nghĩa là mùa THU hoạch (HARVEST). Như vậy,
THU là mùa SUNG TÚC, GIÀU CÓ!
Cũng là người hữu hạn, vua Thánh Đavit và các Vị khác nói về
ĐẤNG VÔ HẠN như sau: ”Vừng thái dương để cai ban ngày vì Ơn Ngài miên man
VẠN ĐẠI!” (TV,135,8) ”Vì NGÀN NĂM (thiên THU) đối với Chúa là ngày vốn
đã mất đi hôm qua như một trống canh mà thôi!” (TV, 90,4. Xem thêm I Phêrô
3,8.) ”Nhưng Tình CHÚA thiên THU vạn đại cho những ai kính sợ và tôn vinh
Ngài.” (TV 103, 17) “Chúc tụng Thiên Chúa, Đấng MUÔN ĐỜI hằng sống.” (Tobia
13,2) Trong Danien 3, từ câu 52 đến 90, chữ MUÔN ĐỜI được dùng liên tục. Chẳng
hạn: ”Chúc tụng Danh Thánh Vinh Hiển của Ngài, được ca khen và suy tôn
MUÔN ĐỜI.”
B. Trong Tân Ước
Có Thần Học Gia cho rằng Thánh Gioan Tẩy Giả cũng bắt đầu rao
giảng vào mùa THU. Trong Tân Ước, khái niệm LÂU DÀI là THIÊN THU (ngàn năm), tức
là MÃI MÃI, VÔ TẬN cũng được dùng như sau: ”Ngài sẽ trị vì nhà Giacop đến
MUÔN ĐỜI, và Triều Đại của Ngài sẽ VÔ TẬN.” (Luca 1,33) Trinh Nữ Maria được
làm Mẹ của Thai Nhi Giêsu, đã nói về khái niệm LÂU DÀI: ‘‘Này từ đây, MUÔN ĐỜI
sẽ khen tôi có phúc… ĐỜI NỌ ĐẾN ĐỜI KIA, Chúa HẰNG thương xót những ai kính sợ
Ngài.”
Trong các Bản Dịch (Kinh Thánh) sau nầy, tùy nơi, chữ CHÚA,
GIAVÊ được người Pháp thay bằng chữ ĐẤNG VĨNH HẰNG, CÓ MÃI, MUÔN ĐỜI: ÉTERNEL.
Ngoài ra, theo tác giả Đào Duy Anh, THU có nghĩa là MÙA LÚA CHÍN. Như vậy, Chúa
Giêsu đã nhắc đến MÙA THU thiêng liêng như sau: ”Mùa THU hoạch thì nhiều,
mà nhân công thì ít. Vậy, các con hãy xin CHỦ sai người đến THU hoạch mùa màng
của Ngài.”(Math. 9, 37-38)
II. Chữ THU ngoài đời và hoa THU
Bài thơ sau đây của ai đó cũng nói lên ý nghĩa của mùa THU
tuyệt vời: “Cứ mỗi độ THU sang, hoa cúc lại nở vàng. Ngoài vườn hương thơm
ngát, ong bướm bay rộn ràng. Em cắp sách đến trường. Nắng THU trải trên đường.
Trời trong xanh, gió mát. Đẹp thay lúc THU sang!”
Viết đến đây, tôi chợt nhớ một đoạn trong bài hát THƯƠNG QUÁ
VIỆT NAM: ‘‘Hoa cúc vàng trên sân anh xinh như áo mới em ngày nào! Hoa nắng hồng
trên quê anh xinh như má thắm em ngày xanh.” Hoa cúc vàng là biểu tượng của
TRƯỜNG thọ nên cũng có tên là cúc VẠN thọ. Hoa này cũng tượng trưng chí khí
quân tử vì, đã úa tàn, hoa vẫn không rụng, vẫn bám cành, dù chết đứng, vẫn
không gục như Từ Hải trong truyện Kiều. Hoa lại được làm trà thơm để giải khát
và độc tố.
Để tưởng nhớ Vua Lý Công Uẩn có công dựng Nước vào mùa tốt
lành, tức là dời Đô Thành vào mùa THU năm Canh Tuất (1010), từ Hoa Lư về Đại La
là Hà Nội bây giờ, nhà thơ Huy Cận sáng tác bài “Thăng Long nghìn tuổi” như
sau: “Đây Thăng Long, đất sắp tròn nghìn tuổi! Rồng bay lên, ngày tháng tốt
tâu vua. Lý Công Uẩn mắt thần, nhìn nước non mở hội. Bốn phương trời, Đại Việt
lập Kinh Đô!”
Còn thi sĩ Guillaume Apollinaire (1880-1918) lại buồn THU đã
làm chết mùa hè: “L’automne a fait mourir l’été.” Nhưng, đối với người
Pháp nói chung, THU cũng là mùa của sự phong phú, dồi dào, mùa nho, mận, săn bắn,
hái nấm, nghe nhạc lá rừng và ngắm hoa COLCHIQUES nở rộ.
Kính mời quý vị thưởng thức Bài HOA THU của Pháp (Colchiques
dans les prés):
(Có hình sống động hơn
trong Link trên.)
Có thể đọc lời bài hát:
Colchiques dans les prés
Fleurissent, fleurissent
Colchiques dans les prés
C’est la fin de l’été
La feuille d’automne
Emportée par le vent
En rondes monotones
Tombant, tourbillonnant
Colchiques dans les prés
C’est la fin de l’été
La feuille d’automne
Emportée par le vent
En rondes monotones
Tombant, tourbillonnant
Nuage dans le ciel
S’étire, s’étire
Nuage dans le ciel
S’étire comme une aile
S’étire, s’étire
Nuage dans le ciel
S’étire comme une aile
La feuille d’automne
Emportée par le vent
En rondes monotones
Tombant, tourbillonnant
Emportée par le vent
En rondes monotones
Tombant, tourbillonnant
Châtaignes dans les bois
Se fendent, se fendent
Châtaignes dans les bois
Se fendent sous nos pas
Se fendent, se fendent
Châtaignes dans les bois
Se fendent sous nos pas
La feuille d’automne
Emportée par le vent
En rondes monotones
Tombant, tourbillonnant
Emportée par le vent
En rondes monotones
Tombant, tourbillonnant
Et ce chant dans mon coeur
Murmure, murmure
Et ce chant dans mon coeur
Murmure le bonheur
Murmure, murmure
Et ce chant dans mon coeur
Murmure le bonheur
La feuille d’automne
Emportée par le vent
En rondes monotones
Tombant, tourbillonnant
Emportée par le vent
En rondes monotones
Tombant, tourbillonnant
La feuille d’automne
Emportée par le vent
En rondes monotones
Tombant, tourbillonnant
Emportée par le vent
En rondes monotones
Tombant, tourbillonnant
Phan Văn Phước



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét