1. Tín-ngưỡng ở Giao-châu
Trước khi các tông-giáo tràn
vào, người Việt chắc đã tôn sùng những mãnh-lực thiên-nhiên, như núi sông, sấm
chớp. Những di-tích còn lại không những ở trong tập-tục của dân gian, mà trong
điển-lệ tế-tự, nay còn những vị thần, được thờ tại rất nhiều nơi, mà không ai
biết rõ gốc-tích từ đâu tới. Thần Cao-sơnchắc cũng là đức-thánh Tản-viên,
thần Long thủy có lẽ gốc ở thác Bờ. Lại như các đền hay "chùa" Pháp Vân, Pháp-Vũ, Pháp-Lôi, Pháp-Ðiện hẳn
là di-tích các thần mây, mưa, sấm, chớp.
Ðến hồi Bắc-thuộc, đạo Nho
và đạo Lão được đem vào. Nhất là trong đời loạn-li sau khi Hán mất, Sĩ-Nhiếp là
thái-thú ở Giao-châu, giữ một vùng yên ổn, thì nhiều nhà trí-thức Trung-hoa tụ
tập ở Luy-lâu, trị-sở Giao-châu. Nhờ đó Nho học và Ðạo-học lại càng bành-trướng.
Trong hai đạo mới, đạo Lão là thích-hợp với tín-ngưỡng gốc của dân Việt, cho
nên nó lan tràn chóng và hòa lẫn với những tập-tục dân-gian. Còn như Nho-giáo,
tuy được dựa thế những kẻ cầm-quyền, phần đông là nho-sĩ, nhưng nó cũng chỉ giữ
tính-cách thường chứ không thành một tín-ngưỡng mới.
Sau đó, đạo Phật từ Ấn-độ mới lan
đến góc đông-nam lục địa. Với tính-cách ôn-hòa, thần-bí, Phật-giáo chóng ăn sâu
vào lòng tín-ngưỡng người Việt. Nó dung-hòa dễ-dàng với sự sùng-bái thường, và
nó dễ đi đôi với Ðạo-giáo đến đấy từ trước.
Ba tông-giáo Nho, Lão, Phật đã
sớm thành cơ-bản của tín-ngưỡng dân Việt, và đồng thời tiến-triển. Cho nên
thường gọi là Tam-giáo. Tuy nói là tam-giáo
tịnh hành, nhưng theo thời-đại, một hay hai giáo vẫn được chuộng hơn. Ta sẽ
thấy trong thời nhà Lý, Phật-giáo chiếm bậc nhất. Nhưng ta cũng phải nhận rằng
Phật-giáo hành ở xứ ta, cũng như ở Trung-quốc bấy giờ, đã dung-hòa với Ðạo-giáo
và những tín-ngưỡng gốc ở dân-gian. Nó đã biến thành một tông-giáo lấy Phật làm
gốc, nhưng lại ghép vào các vị thần-linh, mà xưa chỉ là một mãnh-lực
thiên-nhiên. Và nó dùng những kỳ-thuật, theo-đuổi những mục-đích thích-hợp với
Ðạo-giáo hơn là Phật-giáo.
Ðịa-vị các tăng-gia, trong suốt
đời Lý, vẫn là trọng; nhưng ảnh-hưởng về chính-trị hình như không có bao nhiêu.
Về phương-diện tinh-thần và luân-lý, thì hẳn rằng Phật-giáo có ảnh hưởng lớn.
Nó đã đổi cái triều-đình vũ-phu và mộc-mạc của các đời Ðinh, Lê, đóng ở chỗ đầu
ngàn cuối sông, ra một triều-đình có qui-mô, có lễ-độ, ở giữa bình-nguyên, có
thể so-bì với các nước khác ở miền bắc.
2.
Ðạo Phật tới Việt
Nhờ một câu chuyện giữa thái-hậu
Linh-nhân, tức là Ỷ-lan, mẹ Lý Nhân-tông, với một nhà sư có học uyên-bác, mà ta
còn biết gốc-tích đạo Phật ở nước ta. Sách TUTA (1) còn ghi chuyện ấy rất
rõ-ràng trong chuyện Thông-biện quốc-sư (TUTA 19a).
Ngày rằm tháng 2 năm Hội-phong
thứ 5 (1096), thái-hậu đặt tiệc chay ở chùa Khai-quốc, thết các tăng. Tiệc
xong, thái-hậu kê-cứu đạo Phật với các vị sư già học rộng. Thái-hậu hỏi:
"Nghĩa hai chữ Phật và Tổ thế
nào? Bên nào hơn? Ðạo tới xứ ta đời nào? Truyền-thụ đạo ấy, ai trước ai sau? Mà
sự niệm tên Phật, hiểu tâm tổ là do từ ý ai? "
Các sư đều im-lặng. Chỉ có vị Trí-không trả
lời rất tường-tận từng khoản. Vì đó, thái-hậu ban cho sư hiệu Thông-biện
quốc-sư. Về đoạn truyền giáo vào xứ ta, lời sư đại-khái như sau:
"Phật và Tổ là một. Phật
truyền đạo cho Ca-diệp. Về đời Hán có Ma-đằng đem đạo vào Trung-quốc, Ðạt-ma lại truyền vào nước Lương
và nước Ngụy. Ðạo rất thịnh khi dòng Thiên-thai thành-lập. Dòng ấy gọi là Giáo-tông.
Sau lại có thêm dòng Tào-khê, tức là dòng Thiền-tông.
Hai dòng ấy vào nước ta đã lâu năm. Về dòng Giáo, có Mâu
Bác và Khang-tăng-hội là đầu. Về dòng Thiền, trước nhất
có Tì-ni-đa-lưu-chi ; sau đó, Vô-ngôn-thông lại lập ra một dòng Thiền khác nữa.
"
Trí-không trả lời như thế đã khá
rõ-ràng. Nhưng thái-hậu có óc phán-đoán, lại hỏi thêm chứng những điều nói
trên. Sư trả lời rành-mạch, dẫn những sách cũ, những lời của các người xưa, mà
nay ta còn tìm lại được một phần, nó có thể khiến ta tin rằng những chứng
Trí-không đem ra đều là đích-xác.
Trí-không viện lời của hai người
xưa bên Trung-quốc, một người nói đến sự truyền dòng Giáo-tông, một người chứng
việc truyền dòng Thiền-tông vào nước Việt.
Chứng đầu là lời pháp-sư Ðàm-thiên kể lại một câu chuyện mà sư này
nói với vuaTề Cao đế (479-483). Vua Tề khoe với sư rằng
mình đã xây-dựng chùa tháp khắp mọi nơi, kể cả Giao-châu; rồi vua nói thêm rằng: "Xứ
Giao-châu tuy nội-thuộc, nhưng chỉ là một xứ bị ràng-buộc mà thôi. Vậy ta nên
chọn các sa-môn có danh-đức, sai sang đó để giảng-hóa. May chi sẽ làm cho
tất-cả nhân-dân được phép Bồ-đề."
Vua Tề tưởng rằng nước ta còn kém
về đạo Phật cho nên mới có ý ấy. Nhưng sư Ðàm-thiên biết rõ rằng sự thật là
trái ngược: nước ta đã được Phật-hóa từ lâu, trước cả nước Tề ở vùng Sơn-đông
nữa. Sư trả lời rằng:
"Xứ Giao-châu đường thông
với Thiên-trúc (Ấn-độ). Khi Phật, Pháp chưa tới Giang-đông (nước Tề), thì ở
Luy-lâu (kinh đô Giao-chỉ, nay là làng Lũng-khê ở phủ Thuận-thành tỉnh
Bắc-ninh), đã có xây hơn hai mươi ngôi chùa, chọn hơn năm trăm vị tăng và tụng
mười lăm quyển kinh rồi. Vì đó, mà người ta đã nói rằng Giao-châu theo Phật
trước chúng ta. Lúc ấy, đã có những vị sưMa-la-kê-vực, Khang-tăng-hội, Chí-cương-lưu-chí và Mâu
Bác ở đó."
Sau đó dẫn lời Ðàm-thiên ở trên,
sư Trí-không còn nói thêm một chứng của sư, là: "Sau đó lại có sư Pháp-đắc-hiền được Tì-ni-đa-lưu-chi truyền tông phái
của tổ thứ ba là bồ-tát Ðạt-ma cho. Sư ấy ở chùa Chúng-thiện và dạy hơn 300
đệ-tử."
Chứng thứ hai là thuộc về dòng
Thiền-tông. Sư Trí-không viện lời Quyền Ðức-Dư ,
là viên tể-tướng đời Ðường, về cuối thế-kỷ thứ tám. Ðức-Dư đã viết trong tựa
sách Truyền-pháp rằng: "Sau khi Tào-khêmất,
phép Thiền rất thịnh, và dòng Thiền nối-dõi không dứt. Có thiền-sư Chương
Kính-Huy là học trò Mã-tổ
đi truyền giáo ở các xứ Ngô Việt và có đại-sư Vô-ngôn-thông đi truyền ý phái Bách-trượng và giảng pháp ở xứ Giao-châu".
Ðó là hai chứng mà sư Trí-không
đã bày trước thái-hậu. Ta có thể tin vào đó chăng? Ông Trần
Văn-Giáp trong sách BA (3) đã
khảo-cứu các sách Phật, và đã thấy rằng, tuy những lời của Ðàm-thiên kể lại
trên không còn thấy trong những sách còn lại, nhưng những nhân-vật kể trong đó
đều có thật, và còn có chuyện hợp với lời trên. Vả sách TUTA cũng chép lại
gốc-tích các dòng Thiền, nó chứng thật lời Quyền Ðức-Dư, mà nay vẫn thấy trong
sách Tàu còn lại.
Trong những nhân-vật kể trong lời
Trí-Không, thì Mâu Bác là
xưa nhất. Bác nguyên người Thương-ngô, sang Giao-châu ở với mẹ, vào khoảng cuối
đời Hán Linh-đế (năm cuối là 189). Bấy giờ Sĩ Nhiếp coi quận Giao-châu. Ðất
Giao-châu được yên-tĩnh, trong khi nước Hán bị loạn; cho nên nhiều người học
giỏi chạy sang ở đó. Sự học càng bành-trướng ở Giao-châu. Mâu Bác ban đầu theo
học Ðạo-giáo và phép thần-tiên. Nhưng vào khoảng năm 194-195, Bác lại theo đạo
Phật. (BA)
Xem vậy thì trước Mâu Bác,
Phật-giáo đã được hành ở Giao-châu rồi. Ðạo Phật từ đâu đã vào đất Việt? Có thể
từ đất Hán, vì đạo đã vào Hán chừng một trăm năm trước. Nhưng đạo cũng rất có
thể từ Ấn-độ được theo đường bể đem vào, theo các thuyền buôn đi dọc bờ biển
Ấn-độ, sang biển Trung-hoa. Khi sư Ðàm-thiên nói xứ Giao-châu đường thông với
Thiên-trúc, có lẽ sư muốn nói đường thủy. Những người Tây-vực, tức là ở vùng
tây-bắc Ấn-độ, đã sang buôn-bán dọc bờ biển. Những đồng tiền bạc, tìm thấy ở
nội-địa trong Nam, chứng tỏ rằng đồng-thời với các hoàng-đế ở Rome, xứ Tây-vực
đã có liên-lạc với đất Ðông-dương. Trong chuyện phật chùa Pháp-vân ở Luy-lâu,
có nói rằng đời Sĩ Nhiếp, đã có hai vị sư Ấn-độ, là Kì-vực và Khâu-đa-laqua
đó. Những chuyện kể sau sẽ làm ta tin thêm vào thuyết ấy.
3.
Ðạo Phật bành-trướng
Ba vị sư, mà Ðàm-thiên kể tên
trên kia, đều là người Ấn-độ hay Tây-vực (ở xứ Sogdiane) gần phía tây-bắc
Ấn-độ.
Ma-la-kì-vực, tên chữ
Phạn là Marajivaka, là người Ấn-độ, đến Giao-châu, rồi qua Quảng-châu. Tới
Lạc-dương đời Tấn Huệ-đế, năm 294. Ông giỏi phù-pháp. Sau gặp loạn ở
Trung-quốc, ông lại trở về Ấn-độ.
Khang-tăng-hội vốn người Tây-vực, theo cha buôn ở Giao-châu rồi học
đạo Phật ở đó. Nguyên người Tây-vực mà ở xứ Việt, cho nên ông học giỏi hai thứ
tiếng Phạn và Việt. Nhờ đó, ông đã dịch nhiều sách Phật ra Hán-văn. Sau đó, ông
sang nước Ngô, giảng đạo cho Ngô Tôn-Quyền, rồi mất tại nước Ngô vào năm 280.
Còn như Chi-cương-lương,
thì Trần Văn-Giáp cho là Cường-lương-lưu-chi chép
trong sách Thập-nhị-du-kinh. Tên Phạn của sư là Kalaruci theo Pelliot, hay là Kalganaruci theo Trần Văn-Giáp. Vị sư này tới
Giao-châu vào khoảng năm 255-256, và có dịch kinh Pháp-hoa
Tam-muội. (BA)
Xem mấy thí-dụ trên, ta thấy rằng
nhiều vị tăng dịch kinh Phật là người Ấn-độ hay người Tây-vực. Ngoài số những
vị đã do đường bộ tới Trung-quốc, một số đã đi đường bể. Những vị này tất-nhiên
phải học Hán-tự. Các vị ấy chắc phần lớn đã qua và ở đất Giao. Vì thế, đạo Phật
rất có thể đã tới nước ta trước khi đến nước Trung-quốc.
Cho đến sư Ðàm-thiên, cũng là
người Indoscythe, ở phía tây-bắc Ấn-độ. Sư rất giỏi Hán-văn. Sở-dĩ sư lại rõ
tình-hình Phật-giáo ở Giao-châu, chắc vì cũng có thời-kì qua ở đó.
Lịch-sử Phật-giáo ở nước ta, từ
ban đầu đến lúc phái Thiền-tông xuất-hiện, không được biết rõ nữa, vì không ai
biên-chép lại. Về Thiền-tông, thì sách TUTA còn chép khá kĩ-càng.
Dòng Thiền-tông lại có hai phái:
phái Nam-phương và phái Quan-bích. Phái Nam-phương vào trước, phái Quan-bích
vào sau. Nhưng từ đời Ðinh, hai phái đều phát-triển một cách thịnh-vượng.
Tổ phái NAM-PHƯƠNG là Tì-ni đa-lưu-chi, tên Phạn là Vinitaruci, nguyên người Thiên-trúc, hoặc đạo
Bà-la-môn (Braman). Sau theo Phật-giáo, rồi sang các xứ đông-nam để tới
Tràng-an, kinh-đô nước Trần bên Trung-quốc (573). Sau, sư tới Quảng-châu; ở đó
sáu năm dịch các kinh Phật. Tháng ba năm Canh-tý 580, sư sang Giao-châu, tới
trụ-trì ở chùa Pháp-vân tại Luy-châu. - đó được mười lăm năm. Ðến năm Giáp-dần
594, đời Tùy Khai-hoàng, mới mất.
Ðệ tử Vinitaruci có sư Pháp-hiền,
mà sách TUTA đã chép ra Pháp-đắc-hiền, trong chuyện quốc sư Thông-biện. Vị này
được coi như là tổ thứ nhất của dòng Nam-phương. Sư người Chu-diên, họ Ðỗ; ở
chùa Chúng-thiện, tại núi Thiên-phúc, hạt Tiên-du. Sư có rất nhiều học-trò.
Thứ-sử Lưu Phương mời tới Luy-lâu, ở chùa Pháp-vân. Rồi đi giảng đạo, dựng chùa
khắp mọi nơi ở Phong-châu (Sơn-tây), Hoan-châu (Nghệ-an) Tràng-châu (Ninh-bình)
và Ái-châu (Thanh-hóa). Ðến năm Bính-tuất 626, đời Ðường Vũ-đức, mới mất. (TUTA
44a).
Nhờ đó, phái Nam-phương rất được
phát đạt, và đã bành-trướng nhất trong vùng phủ Từ-sơn. Có sư Ðịnh-không, là tổ
thứ tám, lập chùa ở làng Dịch-bảng, là quê nhà Lý về sau (trước 808). Sau đó
phái Nam-phương có nhiều can-hệ với các triều-đại độc-lập ở nước ta. Sư
Pháp-thuận giúp Lê Ðại-hành, sư Vạn-hạnh giúp
Lý Thái-tổ, sư Ðạo-hạnh mà
tục-truyền là tiền-thân của Lý Thần-tông, sư Minh-không giúp Lý Thần-tông, đều
thuộc phái này cả.
Phái QUAN-BÍCH thì đến đời Ðường Nguyên-hòa mới
vào nước ta, do vị sư người Ðường là Vô-ngôn-thông đem tới. Sư người
Quảng-châu, họ Trịnh. Sau khi đi học với Mã-tổ ở Giang-tây, sư về Quảng-châu.
Sư sang Giao-châu, năm canh-tý 820; ở chùa Kiến-sơ, tại Phù-đồng (TUTA 4a).
Phái này phát-đạt cũng chóng và đã phát ra nhiều vị cao-tăng còn để tiếng về
sau. Sư Khuông-việt
giúp Ðinh Tiên-hoàng, sư Trí-không tức
là Thông-biện quốc-sư, sư Khổng-lồ ,
sư Giác-hải đều thuộc phái này cả.
Không những ở chung-quanh kinh-kỳ
đạo Phật thịnh-hành, mà đến những chốn xa, như Ái-châu, Phật-giáo trong đời
Ðường cũng đã phát đạt. Trong các vị tăng quê nước ta đã từng đi Thiên-trúc cầu
đạo (3), có hai vị người Ái-châu, là Trí-hành và Ðại-thặng-đăng.
(BA). Vả bia HN (4) cũng cho ta biết rằng về đời thuộc Hậu-đường (923-937),
châu-mục Lê Lương ở Ái-châu có dựng ba chùa ở trong hạt ấy.
Tuy đạo được thịnh-hành, nhưng
nước ta bấy giờ vẫn còn bị người Tàu thống-trị. Cho nên Phật-giáo, cũng như các
ngành tư-tưởng khác, hình như cũng chỉ đạt đến một hạng người quyền-quí, hay
gần-gũi người ngoại-quốc cầm quyền, chứ không phổ cập đến dân-gian. Phải đợi
đến thời-kỳ độc-lập, mới bắt đầu có những chứng rằng Phật-giáo có tổ-chức và ăn
sâu vào dân-chúng.
4. Chế-độ tăng và chùa
Trong khi các nước ở Trung-quốc
phải đương đầu với Tống trong cuộc chiến-tranh thống-nhất, thì ở nước Giao-chỉ,
tông-giáo cũng như hành-chính, dần dần tự cởi dây ràng-buộc, và trở nên tự-trị.
Các phái Thiền-tông phát-đạt, và tăng-đồ càng bành-trướng ảnh-hưởng trong
xã-hội.
Kẻ cầm quyền không những cần đến
thiền-sư về phương-diện tín-ngưỡng mà tôi, mà cả về phương-diện chính-trị, cũng
cần nữa. Nhất là trong đời Ðinh Lê, các vua đều là những bậc võ-biền, nhân loạn
mà nắm được chính-quyền. Học-thức vua ít; mà kẻ nho-học cũng chưa đông, và phần
nhiều chắc có lòng trung-thành với triều-đại bị tiếm, nên không được tin dùng.
Chỉ có kẻ tăng-đồ có đủ thì-giờ, đủ phương-tiện sinh-sống để đọc nhiều, hiểu
rộng. Vả nhà tu-hành lại ít có thành-kiến thiên-vị về chính-trị, cho nên dễ
được vua mới tin-dùng.
Lúc nhà Ðinh mới lập nước, liền
trọng-đãi các nhà sư. Năm đầu sau khi lên nôi, Ðinh Tiên-hoàng đã định phẩm-hàm
và giai-cấp cho các nhà tăng và đạo. Tăng và đạo cũng được coi như là những
công-chức văn võ (TT 961) (5). Tuy đời Lý, cũng có đặt lại phẩm-hàm và giai-cấp
cho tăng-đạo, nhưng vẫn theo qui-chế đời Ðinh.
Ðầu hàng Tăng, có chức Quốc-sư.
Sau, theo thứ-tự trên dưới, có những chức tăng-thống, tăng-lục, tăng-chính, đại-hiền-quan.
Quốc-sư chỉ có nghĩa là người sư của nước, chứ không phải là chức tể-tướng như
vị thái-sư. Cũng như các chức kia, quốc-sư coi việc giữ các chùa trong nước,
giảng đạo, lập đàn, và giúp vua trong những việc cầu may, cầu phúc.
Ngoài những chức phẩm trên, ta
còn nhận thấy những hiệu như đại-sư,trưởng-lão,
cư-sĩ (Bia LX, TUTA). Có lẽ đó chỉ là huy-hiệu mà thôi.
Chùa thì do vua, quan hay dân
làng xây dựng lên. Những chỗ danh-lam thì chắc thuộc nhà vua và được vua cấp
tiền của, ruộng đất, phu-hầu. Năm 1088, Lý Nhân-tông định chia chùa làm ba
hạng, đại, trung và tiểu-danh-lam, do các quan văn và quí-chức đề-cử. Sách TT
chép việc ấy, và thêm rằng: " Ấy vì bấy giờ, các chùa có điền-nô và của
kho ". Ðiền-nô là phu cày ruộng cho chùa.
Ở các trấn, cũng có tăng-quan coi
các chùa và phật-giáo. Sư Hải-chiếu có nói trong bia LX rằng sư "
kiêm coi công-sự ở Thanh-hóa ", và là " thuộc hạ " của Lý
Thường-Kiệt.
Ðược làm sư không những là một
vinh-hạnh. Sư có chức-phận đã đành, mà về phần vật-chất, lại khỏi bắt làm xâu,
làm lính; ở chùa lại được bổng-lộc dân chúng cúng và vua ban. Vì thế muốn được
làm sư, phải có bằng của nhà nước cấp cho. Như thế, gọi là được độ.
Sử-sách ta còn chép một vài năm, vua chọn dân để cho làm sư. Năm 1014,
tăng-thống Thẩm Văn-Uyển xin lập giới-trường ở chùa Vạn-thọ trong thành
Thăng-long để cho tăng-đồ thụ giới. Năm 1016, vua chọn hơn nghìn người ở
Kinh-sư để cho làm tăng và đạo-sĩ. Năm 1019, Lý Thái-tổ lại độ dân khắp nước để
làm tăng. Sau mãi đến năm 1134, Lý Thần-tông mới sai hội dân ở đài Nghinh-tiên
để độ tăng một lần nữa. (TT).
Ðó là những cơ-hội lớn chọn tăng
một cách tập-đoàn. Còn hàng ngày, vẫn cấp bằng cho những trai-tráng được rút
tên ra ngoài sổ bạ (Bia LX). Ðồng-thời ở Tống, bằng-cấp độ tăng lại là một
lợi-khí làm tiền cho công-quĩ. Sách TB (6) thường chép rằng vua Tống cấp cho các
lộ một số lớn bằng-cấp ấy, để hưng-công xây thành, đào sông. Không biết ở triều
Lý có lợi-dụng sự độ tăng như thế không. Nhưng ta biết rằng nhà-nước có dùng
cách ấy để thưởng một hạng người có công. Như năm 1128, Lý Thần-tông sai chọn
bốn người lính già, cho làm tăng (TT).
Con cháu những nhà quyền-quí cũng
không ngần-ngại bỏ nhà theo Phật-giáo, như các cháu họ Lý Thường-Kiệt (bia LX),
sư Mãn-giác con Lý Hoài-Tố,Diệu-nhân ni-sư con nuôi Lý Thánh-tông và sư Viên-chiếu cháu thái-hậu Linh-nhân.
Xem chuyện các cao-tăng trong
sách TUTA, ta thấy phần nhiều các vị này giỏi nho-học, hay khi bé thường học
Nho rồi sau mới theo Phật. Nhưng trong khoảng đầu đời Lý, chưa mở khoa thi nho.
Sau, dần-dần nho-học tiến-mạnh. Tam-giáo tịnh-hành. Các khoa thi nho được mở
đều, và các khoa thi tam-giáo cũng được lập vào cuối đời Lý Cao-tông (năm 1179
và 1194, TT). Các nho-thần như Ðàm Dĩ-mông đã bắt đầu kiềm-chế tăng-đồ,
kiểm-điểm khảo-hạch tăng-chúng. Năm 1179, Lý Cao-tông sai thi các đệ-tử
tăng-quan tụng kinh Bát-nhạ (TT).
Nhân các vua trước, như
Thần-tông, Anh-tông mê đạo nhiều dân-đinh xin độ làm tăng để trốn khỏi
dao-dịch. Lại có những ác-tăng làm điều phạm-pháp. Cho nên năm 1198, Ðàm
Dĩ-Mông nói với vua rằng: " Bây giờ, tăng-đồ gần bằng số dịch-phu. Chúng
tự kết bè, bầu chủ, họp nhau thành từng bầy. Chúng làm nhiều việc bẩn-thỉu.
Hoặc ở nơi giới-trường, tĩnh-xá, mà công-nhiên rượu thịt; hoặc ở trong
trai-phòng tĩnh-viện, mà âm-thầm gian-dâm. Ngày ẩn, tối ra, thật như đàn cáo
chuột. Chúng làm bại tục, thương giáo; dần-dần thành thói quen. Nếu mà không
cấm, thì lâu thành quá lắm. "
Vua Cao-tông cho lời Dĩ-Mông nói
là phải. Sai Dĩ-Mông triệu-tập tăng-đồ trong xứ lại ở các nơi cốc-xá; chọn từng
mười người có tiếng, lưu lại làm tăng. Còn dư, thì đánh dấu vào tay mà bắt hoàn
tục.
Chắc rằng lời Dĩ-Mông quá đáng,
và sự sa-thải triệt-để tăng-đồ là một phần do nho-gia bài-xích dị-đoan. Tuy
vậy, đạo Phật không phải vì đó mà suy. Trạng-nguyên Lê Quát, là dòng-dõi Lê
Văn-Thịnh, phải phàn-nàn, trong bia chùa Thiệu-phúc dựng đời Trần, rằng: "Làng xóm nào cũng có chùa, mà không đâu thấy thờ Khổng-thánh. "
Chú thích
(*) Trích từ: "Lý
Thường-Kiệt" của Hoàng Xuân-Hãn, nhà xuất-bản Sông-Nhị, Hà-nội, 1949.
(1) TUTA: Thiền-uyển tập-anh
ngự-lục (Trần)
(2) BA: Bia chùa Báo-ân (Lý)
(3) Theo T.V.Giáp, các vị tăng đã
qua Ấn-độ là: Vận-kỳ, người Giao-châu, Mộc-soa-đề-ba (Moksadeva) người
Giao-châu, Khuy-xung người Giao-châu (mất ở Thiên-trúc), Tuệ-diệm người Ái-châu
(ở lại Thiên--trúc), Trí-hạnh người Ái-châu (mất ở bắc-ngạn sông Hằng-hà), Ðại-thặng-đăng
người Ái-châu (mất ở Ấn-độ).3.
(4) HN Bia chùa Hương-nghiêm (Lý)
(5) TT Ðại-việt sử-ký toàn-thư.
Ngô Sĩ-Liên (Lê)
(6) TB Tục-tư-trị thông giám
trường-biên. Lý Ðào (Tống)






Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét