Lịch sử hệ thống ký âm - Hoa hồng - HIV
Lịch sử hệ thống ký âm
1. Từ khi nào người ta biết viết nhạc?
Nhạc để
nghe chớ không phải để đọc. Sáng tác nhạc thì đã có từ ngàn xưa. Viết nhạc thì
mãi đến thời kỳ cổ điển bên châu Âu mới có người "viết" nhạc. Nhưng
biết " chép" nhạc, ghi lại những nét nhạc đã được đàn và hát biết
" ký âm " thì lâu hơn. Bên phương Tây có hai nhà nhạc học Kurt Sachs
và Galpin "phỏng đoán" mà chưa "xác nhận" rằng cách ký âm
xưa nhứt có thể là cách chép tìm thấy ở các dân tộc vùng Tây Á (phương Tây gọi
là Trung Đông) Sumer, Babylone, Assyrie là thế kỷ thứ IX trước Công nguyên,
(theo Từ điển The New Grove Dictionary of Music and Musicians thì lối 3500
trưóc Công nguyên) có loại chữ góc (écriture cunéiforme) thí dụ như hình hai cây đinh họp lại như chữ Thập là dấu hiệu của một âm độ cao bằng
nốt "Sol"..
Ký âm
dùng những tín hiệu để ghi lại độ cao của những âm trong một nhạc phẩm. Ghi lại
bằng chữ nên trong thời đại Cổ Hy lạp nhạc sĩ đã dùng chữ viết để ký âm như chữ "epsilon"
là nốt "Do". Cách ký
âm bên phương Tây có trước cách ký âm trên " khuông nhạc 5 dòng"
(portée à 5 lignes) là cách dùng chữ A, B, C,.... theo phương pháp cùa Odon,
ngày nay người Đức và Anh Mỹ còn dùng là A=La; B=Si, C=Do;D=Ré; E=Mi;
F=Fa; G=Sol. Cách ký âm theo phuơng Tây hiện nay là có từ thời Guy d'Arezzo
(1032) với 7 notes Do, Ré, Mi, Fa, Sol, La, Si..
Nếu kể cả Đông Tây, thì bên Trung quốc đã có cách ký âm theo
Luật lũ từ đời nhà Thương (Theo nhà nhạc học Maurice Courant Trong bài viết vê
Nhạc Trung quốc đăng trong Bách khoa từ điển về âm nhạc do A. Lavignac chủ
biên) tức là trên 1500 năm trước Công nguyên.
2. Tại sao....7 notes mà không có ghi những notes có thăng
(dièse) giáng (bémol)?
Những âm
thăng hay giáng theo hệ thống thang âm thiên nhiên hay các loại thang âm khác đều
là âm bất thường. Có một tín hiệu #, và b là đủ.
Trong nhạc Ấn độ cũng vậy chỉ có tên cho những âm chánh Sa, Ri, Ga, Ma, Pa, Dha, Ni, Sa, vì 7 âm đó liên hệ với 7 hành tinh trong vũ
trụ. Nếu cần ghi những âm ca hơn nửa cung thì thêm hai dấu tivra (dièse) và
komal (bémol)
3. Tại sao chỉ có 5 nốt chính?
Trong việc
ký âm,Việt Nam cũng như Trung quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, chỉ ký âm tên 5 âm
chánh vì tuy trong Luật Lữ có 12 âm cách nhau một bán cung, (nhưng không phải
thang âm 12 âm, vì 12 âm đó chỉ sắp theo thứ tự từ thấp lên cao, nhưng đó là 12
âm chuẩn) Chỉ chọn 5 âm chánh theo thứ tự Cung, Thương, Giốc, Chủy, Vũ vì trong vũ trụ có ngũ hành
Kim, Mộc, Thủy, Hoả, Thổ. Con người
có ngũ tạng: Tâm, Can, Tì, Phế, Thận,
Màu có Ngũ sắc Đen, trắng, vàng, xanh,
đỏ v.v..
Có 5 âm
chánh nhưng thêm 2 âm phụ Biến chủy và Biến Cung thành 7 âm
4. Nguồn gốc của các cách ký âm
Xem Bách
khoa từ điển, The New Grove Dictionary of Music and Musicians Q.13 từ trang 333
đến trang 42O hay là Quyển La notation musicale của A. Machabey Paris 1952.
Muốn biết
về Ký âm của phương Đông Đọc quyển Musical Notation of the Orient của Walter
Kaufmann (Bloomington, Indiana, 1967).
Lịch sử hoa hồng
Hoa Hồng là hoa Tình yêu và
là hoa được nhiều người biết nhất thế giới. Chloris, nữ thần các loài hoa Hy
Lạp đã tạo ra hoa hồng nhưng chỉ mới là một cái xác của một Nymphe (1) mà bà đã bắt gặp trong một trận xóa
rừng. Bà nhờ Aphrodite (2), nữ thần Tình yêu cho
nàng sắc đẹp.
|
Dionysos (3) thần rượu vang và mật hoa để thêm cho nàng
mùi thơm dịu và Trois Grâces (4) cho
nàng duyên dáng, rực rỡ và vui tươi.
Rồi
đến Zephyr, ngọn gió phương Tây, đã thổi đi xa những đám mây để cho Thần
Apollon (5), thần Mặt Trời, trau chuốt và biến nàng thành Hoa của mọi loài
hoa. Và như thế hoa Hồng được sinh ra và được phong vương là Nữ hoàng của
loài hoa
Tên La
Linh của Hồng là Rosa. Nguồn gốc của hoa Hồng từ xứ Ba Tư. Người Ba Tư là những
người đầu tiên đã trích tinh dầu bằng cách chưng cất, khoảng giữa 1582 đến
1612. Do đó họ được nổi tiếng là những người thành thạo về ngành sản xuất nước
hoa.
Vào
thời Phục hưng, vị thơm của nước hoa được phát triển và cách chưng cất nước hoa
được đưa vào Âu Châu. Ðể có hoa chưng cất, người ta lấy vùng Grasse và những
miền lân cận để trồng những đồn diền Hồng và những loài hoa thơm khác. Sản xuất
này ngày nay vẫn còn. Tuy nhiên sự sản xuất nước hoa Hồng Grasse chỉ cho nhu
cầu của hãng nước hoa Chanel. Những nước sản xuất chính tinh dầu hoa là
Bulgarie và Turquie.
Ngày
xưa, hoa Hồng là tượng trưng cho sự huyền bí. Do đó theo truyền thống, người ta
treo hoa hồng trên bàn ăn có nghĩa là những lời nói trong bữa ăn sẽ được giữ bí
mật.
Nếu như
hoa Hồng được xử dụng thiết yếu trong ngành nước hoa thì nó cũng dùng một cách
rộng rãi trong gia chánh. Người ta làm xi rô, mứt dẻo, kẹo và những món táng
miệng đủ loại. Nó cũng dùng cho y học.
Màu sắc hoa hồng:
Ở
phương Ðông, một người đàn bà vứt một hoa hồng héo qua cửa sổ cho người bạn
trai của nàng đang đi qua nói lên nỗi buồn của nàng. Một hoa hồng và một
cúc trắng được trả lại diễn tả lòng trắc ẩn. Ở phương Tây thời Trung Ðại (*),
người đàn bà mang trên đầu một vòng hoa cúc trắng để chứng tỏ cho chàng hiệp sĩ
lịch sự lòng cảm phục lâu dài của nàng. Với vòng hoa hồng nghĩa là nàng tán
thành chàng.
(*)
Phương Tây thời Trung đại = Occident médiéval (médiéval: thuộc Moyen Age:
thời Trung Ðại khoảng thời gian từ năm 476 đến năm 1453)
(1) Trong thần thoại Hy
Lạp và La Mã, Nymphe là nữ thần nhỏ sống trên sông hồ, cây cối, đồi núi. Trong
thi ca thì để chỉ người đàn bà đẹp
(2) Aphrodite = Thần
thoại Hy Lạp Aphrodite là nữ thần Tình yêu (người La Mã gọi là
Vénus)
(3) Dionysos = Con của
Thần ZEUS và SÉMÉLÉ, trong thần thoại La Mã là BACCHUS. Là vị thần trẻ nhất,
được biết nhiều nhất mà cũng là vị thần phức tạp nhất của chốn Bồng lai, yêu
đời (thần rượu vang), vui vẻ cũng có khi ác độc đến cực điểm. Chuyên về Nghệ thuật,
Thơ và sinh ra ngành sân khấu Hy Lạp.
(4) Trong thần
thoại Hy Lạp, Trois Grâces (the Graces) là ba chị em nữ thần Ðẹp, ban sắc đẹp,
duyên dáng và hạnh phúc cho nhân loại
(5) Apollon = (hay còn
gọi là Phébus) theo thần thoại Hy Lạp là thần của ban ngày, biểu hiệu cho
Mặt Trời là tượng trưng cho Ánh sáng Văn minh; con của ZEUS và LÉTO.
Apollon nắm nhiều quyền năng mà quyền cao cả nhất là Nghệ thuật và Văn
chương
Thiên văn: Apollon là
tên của một hành tinh nhỏ đường kính 3 km được phát hiện năm 1932 bởi Delporte
mà quỹ đạo nằm trong quỹ đạo Trái Ðất và Vénus (sao Kim)
Lịch sử HIV
Nguồn gốc HIV và
AIDS
Nguồn gốc của
AIDS và HIV đã làm đau đầu các nhà khoa học từ khi phát
hiện được những ca bệnh đầu tiên vào đầu những năm
80 của thế kỷ trước. Trên 20 năm qua, đây
là 1 chủ đề của bao cuộc tranh luận nẩy lửa, từ
chuyện 1 tiếp viên hàng không có quan hệ tình dục bừa bãi đến 1 chương trình thủ nghiệm vaccin. Vậy
thì đâu là sự thật, hay AIDS từ đâu mà có?
Các ca bệnh
AIDS đầu tiên được thừa nhận xảy ra tại Mỹ
vào đầu những năm 80 thế kỷ trước. Một số người tình dục
đồng giới nam tại New York và San Francisco đột
nhiên mắc những bệnh nhiễm trùng cơ hội hiếm gặp
(5 người bị viêm phổi do Pneumocystic carinii
và 26 người bị ung thư Kaposi) mà các thầy thuốc phải
bó tay. Tất cả các bệnh nhân đều bị suy giảm
miễn dịch một cách kỳ lạ - hệ thống miễn dịch của họ thậm
chí không đủ sức chống đỡ các nhiễm trùngđơn giản. Chẩn đoán ban đầu là GRID, đặt theo
chữ đầu của Gay RelatedImmunodeficiency Disease (bệnh
suy giảm miễn dịch liên quan với người tình dục đồng giới
nam). Nhưng sau đó tên này được đổi thành AIDS. Chẳng bao
lâu sau đó, HIV (Human Immunodeficiency Virus) được phát hiện .
Dịch AIDS chính thức
được Michael Gottlieb và cs công bố trên tờMorbidity
and Mortality Weekly Report ngày 5 tháng 6,1981 các trường hợp tình dục đồng giới nam bị viêm phổi do nhiễm Pneumocystis
carinii.
Vào cuối năm 1983, GS Luc
Montagnier và cs tại viện Pasteur Paris phát hiện ra virus gây bệnh và đặt tên là LAV- lymphadenopathy
associated virus (virus có liên quan đến bệnh hạch lymphô).
Gần nửa
năm sau, Gs Robert Gallo và nhóm nghiên cứu
tại NIH (National Institute of Health) cũng phát hiện 1 virus như thế và đặt tên là HTLV III
- Human T-cell lymphotropic virus (virus ưa tế bào lymphô T của
người) và tự cho mình là người đã phát hiện
ra virus gây suy giảm miễn dịch ở người
(HIV). Việc này đã dấy lên 1 cuộc tranh
cãi gay gắt giữa 2 nhóm nghiên cứu. Đến tháng 3/1987, cuộc tranh cãi này mới chấm dứt khi Tổng thống Mỹ Ronald Reagan và Tổng thống
Pháp đứng ra dàn xếp, tuyên bố Luc Montagnier và
Robert Gallo là đồng tác giả phát hiện ra HIV.
Dù rằng hiện nay có bằng chứng rõ ràng chứng minh HIV gây ra AIDS, nhưng cho đến nay vẫn còn có người cứ
nhất định không thừa nhận mối liên hệ này.
Cho nên, để tìm ra nguồn gốc của AIDS, cần phải truy tầm nguồn gốc HIV, và bằng cách nào, khi nào và từ đâu mà HIV lần đầu tiên bắt đầu gây bệnh cho người.
HIV thuộc nhóm
Lentivirus, và giống như mọi virus thuộc typ này,
nó tấn công hệ miễn dịch. Lentivirus lại thuộc vào 1 nhóm virus lớn hơn gọi là
Retrovirus. Lentivirus có nghĩa là virus chậm cần có
nhiều thời gian để gây ra tác dụng có hại cho cơ
thể. Nhóm virus này gặp ở nhiều loài động vật
khác nhau, như mèo, cừu, ngựa và trâu bò. Tuy nhiên, typ Lentivirus mà ta quan tâm khi nghiên cứu nguồn gốc của HIV là SIV (Simian
Immunodeficiency Virus) gây bệnh ở loài khỉ.
HIV là 1
virus có tính thay đổi cao, đột biến dễ
dàng. Điều này có nghĩa là ngay trong cơ thể của 1 ngừơi bị nhiễm cũng có nhiều chủng HIV. Dựa
trên những điểm tương tự về di truyền, ta
có thể phân loại vô số các chủng virus khác
nhau đó thành typ, nhóm và phân typ.
Có 2 typ HIV:: HIV-1 và HIV-2. Cả 2 typ
đều lây truyền qua quan hệ tình dục,
qua đường máu, và từ mẹ sang con. Cả 2 typ này dường
như đều gây bệnh cảnh lâm sàng AIDS
khá giống nhau, khó phân biệt. Tuy nhiên, HIV-2 không dễ lây như HIV-1, và thời gian kể từ lúc mới bắt đầu nhiễm cho đến khi xuất hiện bệnh dài hơn trừơng hợp HIV-2.
Phân nhóm HIV
Trên toàn thế giới, HIV-1 là nhóm gây đại dịch AIDS, và khi nói nhiễm HIV mà không kèm theo typ,
tức là đang nói tới HIV-1.
hiv01n
Các chủng HIV-1 có thể được phân thành 3 nhóm: nhóm
“M” (major= chính), nhóm “O” (outlier= ngoài rìa) và
nhóm “N” (new= mới hoặc non- M non- O) ). 3
nhóm này đại diện cho 3 đợt du nhập riêng rẽ của virus SIV gây suy giảm
miễn dịch của khỉ sang người.
Nhóm O dường
như chỉ khu trú tại vùng Tây Phi, còn
nhóm N cực kỳ hiếm, chỉ mới đựơc
phát hiện năm 1998 tại Cameroon. Trên
90% các trừơng hợp nhiễm HIV-1 đều thuộc nhóm M, do đó, nếu không ghi chú, các thông tin trong bài này chủ yếu chỉ bàn đến HIV-1 nhóm M.
Trong HIV-1 nhóm
M, có ít nhất là 9 phân typ (subtype
hoặc clade). Những phân typ đó là A, B, C, D, F, G, H, J và
K.
Đôi khi 2
virus thuộc 2 phân typ khác nhau cùng hiện diện
trong tế bào của ngừơi nhiễm và
chúng hoà trộn các chất liệu di truyền để tạo thành
1 virus lai (hybrid) mới. Đây là 1 tiến trình tương tự
như sinh sản hữu tính, cho nên đôi khi còn được
gọi là sự giao phối của virus (viral sex). Nhiều virus thuộc chủng
mới này không sống sót lâu được , nhưng những
chủng nào gây nhiễm được cho ngừơi
khác sẽ đựơc gọi là CRFs (các thể tái tổ
hợp lưu thông = circulating recombinant forms). Lấy ví dụ CRF
A/B là sự kết hợp của các phân typ A và B.
Hiện nay đã phát hiện có đến 30 CRF.
Việc sắp xếp
các chủng HIV thành các phân typ và
CRF là 1 chủ đề khá rối rắm và
các định nghĩa phân loại thừơng phải thay đổi khi
có những phát hiện mới. Một số nhà
khoa học cứ gọi A1, A2, A3, F1 và F2 là phân
typ mặc dù nhiều ngừơi coi A và F mới
đúng là phân typ.
CRF A/E đựơc
coi là do sự lai tạo giữa phân typ A và 1 phân typ “gốc
“ là E. Tuy nhiên chưa ai thấy được
phân typ E ở dạng riêng rẽ. Lại còn rối rắm hơn,
khi nhiều ngừơi vẫn cứ coi CRF A/E là
phân typ E (trên thực tế phải gọi là CRF01_AE mới
đúng).
1 virus được
phân lập tại Cyprus lúc đầu đựơc xếp
vào nhóm phụ mới I, sau đó được
phân loại lại là 1 thể kết hợp của
A/G/I. Hiện nay, virus này đựơc coi là đại
diện cho 1 CRF phức tạp gồm những
phân nhóm A, G, H, K và những vùng không
phân loại đựơc. Thành ra tên gọi
I không còn được sử dụng nữa.
Dưới đây là phân bố
tình hình nhiễm HIV theo typ và phân typ của
HIV-1 và HIV-2:
Phân bố HIV theo số
ca nhiễm
|
HIV theo nhóm hoặc
phân typ
|
số ca nhiễm (%
tính theo tổng số mắc)
|
HIV-1
|
|
Nhóm M
|
45,000,000a (99.6)
|
Nhóm N
|
6 (0.000013)
|
Nhóm O
|
100,000a (0.22)
|
HIV-2
|
|
Phân typ A
|
50,000a (0.11)
|
Phân typ B
|
25,000a (0.06)
|
Phân typ C
|
1 (0.0000002)
|
Phân typ D
|
1 (0.0000002)
|
Phân typ E
|
1 (0.0000002)
|
Phân typ F
|
1 (0.0000002)
|
Phân typ G
|
1 (0.0000002
|
a: ước tính đến tháng
12/2004
Phân bố các phân typ
và CRF của HIV-1
Các phân typ HIV
-1 và CRF đựơc phân bố không đều trên thế
giới, trong đó các phân typ B và C phân bố rộng
rãi nhất.
Phân typ C chủ yếu
gặp tại miền đông và nam châu Phi, Ấn độ và
Nepal. Phân chủng này gây ra các vụ
dịch HIV nặng nề nhất và khoảng
một nửa các trừơng hợp nhiễm hiện nay là do phân chủng
này.
Về mặt lịch sử, phân
typ B là phân typ/CRF thừơng gặp nhất
tại châu Âu, châu Mỹ, Nhật, và châu Úc. Tình hình này có thay
đổi chút ít, bởi vì hiện nay ít nhất 25 % những
trừơng hợp mới nhiễm tại châu Âu là
do các phân typ mới khác.
Phân bố các phân typ HIV-1 M theo vùng địa lý
(theo S
Osmanov et al: J Acquir Imm Def Syndr 29:184, 2002)
Phân typ A và CRF A/G nổi trội tại Tây Phi
và Trung Phi, phân typ A cũng đóng vai trò chủ đạo gây vụ dịch tại Nga. Phân typ D nói chung
chỉ khu trú tại Đông phi và Trung Phi; A/E phổ biến
tại Đông nam Á, nhưng vốn có nguồn gốc từ Trung Phi;
F đựơc tìm thấy tại Trung Phi, Nam Mỹ và Đông Âu; G và
A/G đựơc ghi nhận tại Tây Phi và đông Phi và tại Trung
Âu.Phân nhóm H chỉ tìm thấy tại Trung Phi; J chỉ có tại
Trung Mỹ; và K chỉ có tại Cọng hoà Dân chủ
Congo và Cameroon.
Nguồn gốc HIV
Hiện nay, HIV được chấp nhận là hậu duệ của SIV bởi vì một số
chủng SIV có cấu trúc di truyền
rất giống với HIV-1 và HIV-2.
HIV-2 tương ứng
với SIVsm, là 1 chủng của SIV tìm thấy ở
loài khỉ mặt xanh (sooty mangabey), là loài khỉ bản
địa vùng tây Phi.
Còn typ HIV-1, có độc lực mạnh hơn, gây đại dịch nhiều hơn. Mãi cho đến
năm 1999, mới xác định được đối tác gần gũi
nhất của HIV-1 là SIVcpz, là SIV tìm thấy ở loài tinh tinh (chimpanzee). Tuy nhiên, chủng virus này vẫn còn có một số khác biệt với HIV ở
nhiều điểm quan trọng.
1999: Phát hiện nguồn gốc
HIV đi từ SIV.
Vào tháng 2 /1999, một
nhóm các nhà nghiên cứu thuộc trường đại học
Alabama (Mỹ) tuyên bố là họ đã
tìm thấy 1 typ SIVcpz rất
giống với HIV-1. Chủng virus này đươc phát
hiện từ 1 mẫu nghiệm đông lạnh lấy từ
1 con tinh tinh bắt được thuộc phân nhóm Pan troglodytes
troglodytes (P. t. troglodytes), là loài rất phổ biến tại
vùng Trung và Tây Phi.
Các nhà nghiên cứu (do Paul
Sharp của Nottingham University và Beatrice Hahn của Đại
học Alabama dẫn đầu) đã đưa ra phát hiện này sau
10 năm miệt mài nghiên cứu về nguồn gốc
của virus HIV. Họ cho rằng mẫu nghiệm
này chúng minh được HIV-1 đi từ tinh tinh, và virus
này đã có lúc vượt qua được giới
hạn loài để đi từ tinh tinh sang người.
Kết quả nghiên cứu
của nhóm được công bố 2 năm sau đó trên tạp chí Nature, trong đó họ
kết luận rằng tinh tinh hoang dã
đã bị nhiễm cùng lúc 2 chủng SIV khác
nhau, 2 chủng này “giao phối “ và
sinh ra 1 chủng virus thứ 3, chủng tứ 3 này
có thể đã được lây sang những con tinh tinh khác,
và điều đáng chú ý hơn, là chủng này
có khả năng gây nhiễm cho người và gây ra AIDS
Người ta
truy tìm nguồn gốc của 2 virus
này và lần ra được 1 SIV gây nhiễm
cho khỉ mangabey đầu đỏ và 1
SIV khác gặp ở loài khỉ lớn mũi đốm (spot-nosed).
Các nhà nghiên cứu tin rằng sự lai tạo đã xảy ra
trong cơ thể loài tinh tinh khi chúng bị
nhiễm với cả 2 chủng SIV sau khi chúng săn đuổi
và giết 2 loài khỉ kia vốn nhỏ con
hơn.
Họ cũng kết luận rằng
3 nhóm HIV-1 (M, N và O) đều
phát xuất từ SIV tìm thấy ở
loài tinh tinh P. t. troglodytes, và mỗi nhóm đại diện
cho 1 biến cố "nhảy" (crossover)
riêng rẽ từ lòai tinh tinh sang người.
Sau 17 năm
nghiên cứu thực địa tại các vùng Đông, Tây, Xích đạo châu
Phi, các nhà khoa học từ nhiều nứơc chứng minh có ít nhất
có 40 lòai khỉ khác nhau bị nhiễm với 40 typ SIV
khác nhau; 3 nhóm HIV-1 và 8 phân typ HIV-2 khác
nhau là kết qủa của 11 biến cố nhảy sang
lòai khác, trong đó có sự tham gia của 8 lòai khỉ
mặt xanh và 3 tinh tinh đối với tất cả
các trừơng hợp gây nhiễm ở người .
Làm thế
nào HIV nhảy sang loài khác được?
Từ lâu người
ta biết rằng một số virus có thể “ nhảy “ từ
loài này sang loài khác. Thật vậy, chính từ việc tinh
tinh “ nhận “ SIV từ 2 loài khỉ nhân hình khác chứng tỏ
rằng sự nhảy chéo này có thể xảy ra dễ dàng
như thế nào. Con ngừơi là động vật,
cho nên chúng ta cũng sẽ dễ bị cảm
nhiễm như loài tinh tinh. Khi virus đựơc truyền từ
động vật sang người, ta gọi đó là bệnh từ
súc vật (zoonosis).
Dưới đây
là một số lý thuyết được nhiều người nhắc tới
giải thích về sự hình thành những bệnh từ súc vật
và bằng cách nào mà SIV trở thành HIV ở người:
Thuyết “ngừơi đi săn“
Thuyết được chấp
nhận rộng rãi nhất là thuyết “ngừơi đi săn“. Theo thuyết này, thì SIVcpz đựơc chuyển
sang người khi tinh tinh bị thợ
săn giết và ăn thịt hoặc do máu của
chúng vấy vào các vết cắt hoặc thương
tích của ngừơi săn thú. Bình thừơng, cơ thể của
thợ săn sẽ đánh bật SIV, nhưng trong một vài tình huống, virus này sẽ tìm cách
thích ứng với cơ thể vật chủ mới và
trở thành HIV1.
Thuyết này căn cứ trên
theo thực tế là có nhiều chủng HIV sớm khác nhau, mỗi chủng có bộ gien
(make-up) hơi khác một chút (thừơng gặp nhất ở
HIV -1M): mỗi khi những chủng HIV ban đầu
này đi từ 1 tinh tinh sang 1 người, virus sẽ
phát triển hơi khác chút ít trong cơ thể người đó, và từ
đó sẽ tạo ra 1 chủng khác biệt một chút.
Một bài báo trên tờ The
Lancet năm 2004, cho biết ngay cả đến hiện nay
retrovirus từ loài linh trưởng vẫn còn chuyển dịch sang người
đi săn. Trong số những mẫu bệnh phẩm lấy từ 1099 cá thể tại Cameroon, các nhà nghiên cứu phát hiện
có đến 10% bị nhiễm SFV ((Simian Foamy
Virus), là 1 bệnh giống như SIV, trứơc đây người ta cho rằng chỉ gây nhiễm cho loài linh trưởng. Người
ta tin rằng tất cả các trường hợp nhiễm virus này là
do hành động săn giết và ăn thịt những
con khỉ đó. Từ những phát hiện này đã dẫn đến lời kêu gọi nên cấm ngay việc tàn sát thú rừng để tránh lây truyền virus từ loài khỉ chuyển sang
ngừơi.
Thuyết vaccin
OPV bị vấy nhiễm gây nhiều tranh luận nhất và cũng là thuyết gây nhiều suy nghĩ nhất. Người chủ trò của thuyết này là Edward Hooper, vốn là cựu
phóng viên đài BBC đã từng sống tại châu Phi từ
1981 đến 1986 bằng nhiều nghề khác nhau như thủ
kho, thầy giáo, người dẫn đường…Vào tháng 8/1986,
đang ở tại Kampala, ông ta nghe là có hàng trăm dân
làng Kasensero ở bờ tây hồ Victoria đang chết dần mòn
vì 1 chứng bệnh bí hiểm mà các chuyên gia y
tế cho rằng có thể là do AIDS. Hooper đến
ngay làng này và tổ chức gặp mặt các già
làng dưới bóng 1 cái cây to duy nhất trong làng.
Căn bệnh bí hiểm này có các triệu chứng
như ho, sốt , loét miệng, lở loét ngoài da và tiêu
chảy liên tục. Tất cả các bệnh nhân đều rất
gầy ốm và suy mòn, đựơc gọi là bệnh Slims . Hooper
nhớ lại cái cảm giác kinh hoàng và buồn rầu khi thấy
cảnh đó. Các già làng cho biết là dân làng
mắc chứng bệnh đó khi tiếp xúc với binh lính, các nhà buôn và gái bán dâm từ Tanzania tới.
Kịch bản sau đó đựơc
chuyển sang Mỹ. Vào ngày 31/5/1987,
trên 1 chương trình radio của đài WABC "Natural
Living with Gary Null", Eva Lee Snead, một thầy thuốc tại
San Antonio cho rằng OPV bị vấy nhiễm SIV từ
loài khỉ mặt xanh châu Phi và từ
đó đã gây ra vụ dịch AIDS.
Louis Pascal, một ngừơi dân New York vốn sống
ẩn dật, nghe đựơc chương trình này. Vốn không hề
đựơc đào tạo gì về y học, nhưng có tham gia 1 bài
viết duy nhất trong 1 tuyển tập triết học.
Pascal quyết định nghiên cứu về lý thuyết này.
Pascal nghiền ngẫm các tạp chí khoa học cho tới
lúc ông ta tin rằng tế bào thận của loài tinh
tinh (không phải là của khỉ mặt xanh châu
Phi theo ý kiến của Bs Snead) được sử dụng
để chế tạo OPV trong 1 chiến dịch
thanh toán polio vào năm 1950 tại Trung
Phi , bị vấy nhiễm virus SIV-SV40, mà
vào những năm 1950 là virus chưa đựơc phát hiện. OPV vốn đựơc
1 nhà virus học nổi danh, Hilary Koprowski, giám đốc viện Wistar tại Philadelphia phát triển. Pascal cũng nhấn mạnh
rằng có 1 sự liên hệ giữa các địa điểm
tiêm chủng và những trừơng hợp AIDS đầu tiên tại
châu Phi. Pascal cố công viết ra 1 bài báo
và tìm cách đăng trên những tạp chí chuyên ngành
như Lancet, Nature và New Scientist. Nhưng những gì ông ta nhận
được từ cọng đồng khoa học là sự từ chối hoặc im lặng. Sau 5
năm đầy thất vọng, trường đại học Wollongong, NSW, Australia công bố
bài báo của ông này vào tháng 12/1991. Không có
gì ngạc nhiên vì chẳng mấy ai chú ý. Nhưng
tên của bài báo khá bắt mắt “ Điều gì xảy
ra khi khoa học sai lầm. Sự sai lạc của
khoa học và nguồn gốc bệnh AIDS - 1
nghiên cứu về sự hình thành tự phát “. Nhưng để hiểu rõ hơn về diễn biến của vụ việc, ta cần
phải hiểu rõ một vài sự kiện về việc
ra đời vaccin polio.
Nguyên vào tháng 8/1921, Tổng
thống Mỹ Franklin D. Roosevelt bị mắc bệnh “ polio
bại liệt trẻ em “. Trong đời mình, Roosevelt
đã dành nhiều công sức cho các hoạt động thanh
toán polio. NFIP là tên gọi của 1 tổ chức
quốc gia nhằm mục đích thanh toán polio ra đời
vào năm 1938 và do Basil O'Connor, bạn thân của Tổng thống
phụ trách. O'Connor mở chiến dịch gây quĩ và trong
20 năm, mỗi năm đã quyên góp đựơc 25 triệu USD.
NFIP tài trợ cho Jonas Salk - Giám đốc Phòng thí nghiệm
nghiên cứu virus tại trừơng đại học Pittsburg. Vaccin
polio bất hoạt dùng để tiêm (IPV = Inactivated polio vaccine) ra đời từ
viện nay, và sau đó hàng ngàn trẻ em đã đựơc tiêm chủng.
Nhưng vaccin tiêm lại gây biến chứng: ngày 26
tháng 5 /1955 – có 5 đứa trẻ sau khi tiêm
IPV bị liệt chi dưới sau khi tiêm - vì thế
ngừơi ta mới chuyển sang sử dụng vaccin uống
OPV. Những ngừơi tham gia phát triển OPV là Hilary Koprowski
và Albert Sabin của Đại học Cincinnati và Herald Cox của
Lederle Laboratories. Vào ngày 27 tháng 2/1950,
Koprowski là nhà khoa học đầu tiên trên thế giới đem
OPV sử dụng cho người. Koprowski cho dựng
1 trại thí nghiệm tại Lindi, gần Stanleyville, Belgian
Congo (hiện nay là Kisengani, Cọng hoà Dân chủ
Congo) để lấy thận tinh tinh. Những quả thận này được sử dụng để bào chế 1 loại vaccin
OPV được gọi là CHAT. Từ năm 1957 đến 1960, vaccin
CHAT được đem ra sử dụng cho khoảng
300.000 người tại lãnh thổ cựu thuộc
địa của Bỉ, tức là vùng đất bao gồm Cộng
hoà dân chủ Congo, Rwanda và Burundi ngày nay.
Thuyết vaccin
OPV bị vấy nhiễm sẽ trôi vào
quên lãng nếu không có một số biến cố
sau đây làm sống lại. Vào ngày 12/3/1992, Tom Curtis,
là 1 phóng viên tự do tại Texas viết 1 bài
báo đăng trên tờ Rolling Stones, trong đó
ông ta đưa ra 1 giả thuyết
về vụ dịch AIDS.
Vào tháng 6/1992,
Hooper đọc được bài báo của Curtis
và bị thuyết vaccin OPV vấy nhiễm thuyết
phục. Ông ta kiên trì bám lấy lý thuyết
này và cuối cùng trở thành ngừơi ủng
hộ nhiệt tình nhất. Hooper liên lạc
với Curtis và Pascal và xin đựơc tất cả
các tài liệu nghiên cứu của họ. Qua nghiên cứu
về vaccin polio, Hooper tình cờ đọc
đựơc tên giáo sư William Hamilton. Hamilton
là 1 nhà sinh học tiến hoá đã từng đạt
đựơc nhiều phần thưởng danh giá. Ông giáo
sư bị những khía cạnh tiến hoá của bệnh
AIDS lôi cuốn và và hết sức quan tâm đến thuyết
vaccin OPV bị vấy nhiễm. Hamilton cho rằng báo cáo của
nhóm Wistar “không đủ chứng cứ khoa học “ và còn hời hợt
quá. Tuy nhiên, điều làm cho ông lo ngại nhất
là cọng đồng khoa học đã thằng thừng gạt bỏ thuyết
vaccin OPV bị vấy bẩn và việc các tờ báo khoa học
không chịu đăng công trình của Pascal. Hamilton đã viết
nhiều thư cho các tờ báo nhưng đa số đếu
không đựơc đăng và vì thế ông ta khuyến
khích và hướng dẫn cho Hooper theo đuổi công
trình của mình.
Trong suốt 7 năm sau
đó, Hooper kiên trì đào sâu thuyết
vaccin OPV bị vấy nhiễm. Để bổ
sung kiến thức cần thiết cho nghiên cứu,
Hooper đã nghiền ngẫm rất nhiều
ngành khoa học như sinh học phân tử, virus học,
ngành học về loài linh trưởng và nhiều
chuyên ngành khác. Việc nghiên cứu , bắt đầu từ
năm 1986 , đã đem lại 1 công trình đồ sộ dày 1070
trang với tiêu đề -Dòng sông (The River) - việc
truy tìm nguồn gốc HIV và AIDS “ đựơc
xuất bản vào tháng 12/1999. Để viêt cuốn sách,
Hooper đã rà lại hàng ngàn trang bệnh án,
các bài báo khoa học và tài liệu , đã
thực hiện hơn 600 cuộc phỏng vấn, có khi gặp những ngừơi
ít thiện cảm , gọi ông là “đồ ngoan cố,
quá khích và hiếu chiến “. Trong quyển
sách, Hooper đưa ra các bằng chứng gián tiếp chứng minh
rằng CHAT đã bị vấy nhiễm bởi SIV
và là nguyên nhân gây ra dịch AIDS.
Ông ta cũng chứng minh rằng có mức độ tương ứng
cao giữa các địa điểm cho uống
vaccin CHAT và bằng chứng đầu tiên của
bệnh AIDS tại châu Phi. Hooper rà soát hồ
sơ những mẫu nghiệm máu HIV dương
tính đựơc lấy tại châu Phi trứơc năm 1981.
Có 47 trong số 52 mẫu nghiệm lấy
tại các địa điểm cho uống CHAT. Tất cả các mẫu
nghiệm đều được lấy trong vòng 100 dặm quanh khu
vực chủng ngừa trong đó có làng Kasensero mà hồi tháng
8/1986 ông ta đã đựơc nghe về bệnh
SLIMS lần đầu tiên.
Cuốn sách “ Dòng
sông “ ra đời đã dấy lên 1 cuộc tranh cãi
gay gắt, buộc Koprowski và viện
Wistarvà ra sức bác bỏ thuyết vaccin. Bill
Hamilton quyết định chấm dứt việc tranh cãi
này và tổ chức 1 hội nghị của Hội Hoàng
gia về đề tài “Nguồn gốc của HIV và dịch
AIDS “ trong 2 ngày từ 11-12/9/2000.
Thuyết của Hooper đựơc
nhiều nhà khoa học tìm cách kiểm chứng. Beatrice Hahn
và cọng sự của trừơng Đại học
Alabama, chứng minh rằng SIV từ 3 con tinh tinh ở
vùng Tây Phi rõ ràng là có liên quan đến
HIV-1, trong lúc 1 con khác từ Trung Phi (con tinh tinh
của trại Lindi) không tương quan với HIV-1. Từ
đó , dựa trên bộ gien (genetic makeup) của 1
con tinh tinh, họ cho rằng vaccin Wistar
không bị vấy nhiễm
bởi SIV cpz.
Năm 2000, Betty
Korber cùng với các đồng nghiệp từ Los Alamos National
Laboratory, sử dụng 1 máy tính cực mạnh là
Nirvana để tìm nguồn gốc HIV-1 nguyên thủy
(Eve HIV-1) và xác định thời điểm xuất hiện là năm 1930
(xê xích 20 năm tức là từ 1910 đến 1950). Còn John Beale, một chuyên
gia về vaccin, cho rằng không thể nào
có trừơng hợp vaccin vấy nhiễm vì chỉ có 1 vi hạt
virus trong số 10.000 tỉ mới “ còn sống
được “ trong qúa trình sản xuất vaccin bao gồm
đun nóng, làm lạnh, làm khô và xử lý bằng enzyme . Nhưng
Hooper vẫn không hề nao núng và kiên cường
bảo vệ lý thuyết của mình. Xem ra cuộc tranh cãi
vẫn còn tiếp tục.
Vào tháng 2/2000, viện Wistar cho biết là họ đã
tìm ra trong kho lưu trữ 1 lọ vaccin
polio đã đựơc sử dụng trong chương trình tiêm chủng tại
châu Phi. Vaccin này được đem đi phân tích và đến tháng 4/2001 kết qủa đựơc công bố là không hề
tìm thấy trong vaccin có vết tích gì của HIV hoặc SIV cpz. Một phân tích thứ
2 cũng xác định rằng vaccin
CHAT chỉ sử dụng tế bào thận khỉ macaque, mà tế bào này
không thể bị nhiễm bởi SIV hoặc HIV. Điều này chứng tỏ thuyết
vaccin OPV không đứng vững.
Một thực tế nữa là
thuyết vaccin OPV chỉ chú ý đến 1 nhóm HIV-1
(nhóm M) cũng cho thấy rằng sự lây
chuyền còn phải đi theo những con đường
khác.
Yếu tố cuối cùng
chứng minh rằng thuyết OPV không đáng đựơc
coi như là cách duy nhất để
SIV truyền từ khỉ sang người
dựa trên lập luận rằng HIV đã hiện diện
trên con ngừơi khá lâu trứơc khi có các thử nghiệm
vaccin.
Thuyết kim tiêm
bị vấy nhiễm
Thuyết này
là phần mở rộng của thuyết “ người
đi săn” ban đầu. Vào những năm 1950s, bơm kim
tiêm plastic sử dụng 1 lần đựơc nhiều nứơc
trên thế giới sử dụng vì rẻ tiền,
vô trùng khi tiêm thúôc. Tuy nhiên, tại các nứơc châu
Phi, thì không phải như vậy, trong các chương
trình y tế, số lựơng bơm kim tiêm phải sử dụng
rất lớn, cho nên gây tốn kém nhiều. Vì thế ,
nhân viên y tế ở đây sử dụng 1 bơm tiêm để
tiêm cho nhiều người nhưng lại không tiệt trùng giữa
2 lần tiêm. Điều này làm cho các vi hạt
virus được truyền từ người nọ sang ngừơi
kia nhanh chóng, tạo điều kiện vô cùng thuận lợi
cho virus biến dị và sao chép
khi xâm nhập đựơc vào 1 cơ thể mới, ngay cả khi
SIV ở ngừơi ban đầu bị nhiễm nhưng
chưa chuyển đổi thành HIV.
Người đóng vai
trò chủ đạo của thuyết này là Preston Marx, vốn là 1
nhà virus học loài linh trưởng. Marx đã làm việc
nhiều năm về SIV và đã thu đựơc nhiều
mẫu máu của khỉ mặt xanh (sooty mangabeys)
cũng như mẫu máu của dân làng chuyên
nghề săn bắt loài khỉ này khi đi khảo
sát tại các tỉnh miền bắc , và miền
đông xứ Sierra Leone. Đem các mẫu
nghiệm về Mỹ làm xét nghiệm, Marx phát hiện
là các mẫu máu khỉ mặt xanh cho kết
quả dương tính với SIV và máu của một
số dân làng có chứa cả 2 gien HIV và
SIV.
Đến đây, mới
thấy vai trò của sự tình cờ. Trên chuyến bay từ
New York đi New Orleans, Marx chú ý đến 1 hành
khách đọc 1 bài báo của 1 trong những đồng sự của
mình tại Manhattan. Hành khách này là Ernest
Drucker, giáo sư tại trường Y khoa Albert Einstein tại
New York. Drucker cho biết là ông ta đang nghiên cứu
vai trò của các kim tiêm bẩn đối với sự
bùng phát dịch AIDS trong nhóm người nghiện
heroin tại châu Á, Nam Mỹ và Tây Phi. Marx mê mẩn
lý thuyết này ngay và nghĩ rằng bệnh từ động
vật do retrovirus và việc sử dụng lại
kim tiêm bẩn, vốn được thực hiện tại châu Phi vào những năm
1950, có thể đã làm lây lan HIV từ người
này sang ngừơi khác và làm cho vụ dịch phát triển mạnh. Qua đó, Marx đưa ra thuyết
lây chuyển qua hàng loạt ( serial passage).
Thuyết lây chuyển
qua hàng loạt (serial passage)
Tiến
trình lây chuyển hàng loạt bắt đầu khi 1 người vốn bị phơi nhiễm với
SIV từ 1 bệnh retrovirus súc vật chuyển
sang, được tiêm 1 mũi tiêm; sau đó kim
tiêm tiêm người này đựơc dùng để tiêm thúôc cho 1
người khác, giúp cho SIV được truyền sang
người thứ 2 và gây nhiễm virus cho người đó. Người thứ
2 sau đó lại nhận 1 mũi tiêm
khác bằng 1 cây kim mới, cây kim này tương tự
như trường hợp trên, được sử dụng lại để tiêm cho người thứ
3. Qui trình này cứ tái diễn và qua mỗi
lần lây chuyển thì SIV thích ứng
và trở nên mạnh hơn đối với hệ thống miễn dịch
của con người. Con virus như thế đựơc
lây chuyển qua nhiều người do kim tiêm bị vấy
bẩn và tiến trình này rốt cuộc
đã chuyển đổi virus SIV lành tính trở
thành HIV có độc tính cao. HIV bị biến
đổi này có đủ độc lực để
có thể lây truyền qua quan hệ tình dục và từ đó ó vụ dịch khởi phát.
Lịch sử sử dụng bơm tiêm và kim tiêm tại châu Phi đã chứng
minh cho thuyết này. Sau chiến tranh thế giới lần
2, Penicilline đựơc sử dụng để điều trị nhiễm
trùng rộng rãi. Vào năm 1943 , chỉ sử
dụng 21 triệu mũi tiêm, đến năm 1949, con số này là 120 triệu. Trong những năm thuộc thập kỷ 1950, WHO và các cơ quan y tế khác đã phát động nhiều chương trình y tế khắp châu
Phi. Nghèo đói và nguồn lực hạn chế buộc châu lục này phải sử dụng lại bơm tiêm và
kim tiêm. Trong 2 năm (1917-1919), để tiêm chủng cho 90.000 người, ngừơi ta chỉ dùng có 6
bơm kim tiêm. Từ 1952 đến 1957,
UNICEF đã cho tiêm 12 triệu mũi tiêm
trong chiến dịch thanh toán bệnh ghẻ cóc (yaw) tại
Trung Phi. Cho đến năm 2000, bản tin của
WHO vẫn còn nêu là có từ 20% đến 60 % các trạm y tế tại một số nứơc quá nghèo tại châu
Phi vẫn còn sử dụng kim tiêm không vô trùng. Việc
sử dụng các kim tiêm không vô trùng đã làm tăng theo cấp số nhân cơ hội lây chuyển
hàng loạt virus SIV ở người và đã kích hoạt virus SIV lành tính trở thành HIV có độc lực cao. Marx đã chứng minh thực nghiệm rằng SIV có
tính sinh bệnh cao gấp 1000 lần khi chỉ đựơc
lây chuyển hàng loạt qua 3 con khỉ. Thuyết
này có ít sơ hở hơn thuyết vaccin OPV nhiễm
bẫn và thuyết người thợ săn bị thương (cut hunter).









Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét