Thứ Năm, 17 tháng 3, 2016

Lịch sử hệ thống ký âm - Hoa hồng - HIV

Lịch sử hệ thống ký âm - Hoa hồng - HIV

Lịch sử hệ thống ký âm

1. Từ khi nào người ta biết viết nhạc?

Nhạc để nghe chớ không phải để đọc. Sáng tác nhạc thì đã có từ ngàn xưa. Viết nhạc thì mãi đến thời kỳ cổ điển bên châu Âu mới có người "viết" nhạc. Nhưng biết " chép" nhạc, ghi lại những nét nhạc đã được đàn và hát biết " ký âm " thì lâu hơn. Bên phương Tây có hai nhà nhạc học Kurt Sachs và Galpin "phỏng đoán" mà chưa "xác nhận" rằng cách ký âm xưa nhứt có thể là cách chép tìm thấy ở các dân tộc vùng Tây Á (phương Tây gọi là Trung Đông) Sumer, Babylone, Assyrie là thế kỷ thứ IX trước Công nguyên, (theo Từ điển The New Grove Dictionary of Music and Musicians thì lối 3500 trưóc Công nguyên) có loại chữ góc (écriture cunéiforme) thí dụ như hình hai cây đinh họp lại như chữ Thập là dấu hiệu của một âm độ cao bằng nốt "Sol"..
Ký âm dùng những tín hiệu để ghi lại độ cao của những âm trong một nhạc phẩm. Ghi lại bằng chữ nên trong thời đại Cổ Hy lạp nhạc sĩ đã dùng chữ viết để ký âm như chữ "epsilon" là nốt "Do". Cách ký âm bên phương Tây có trước cách ký âm trên " khuông nhạc 5 dòng" (portée à 5 lignes) là cách dùng chữ A, B, C,.... theo phương pháp cùa Odon, ngày nay người Đức và Anh Mỹ còn dùng là A=La; B=Si, C=Do;D=Ré; E=Mi; F=Fa; G=Sol. Cách ký âm theo phuơng Tây hiện nay là có từ thời Guy d'Arezzo (1032) với 7 notes Do, Ré, Mi, Fa, Sol, La, Si..
Nếu kể cả Đông Tây, thì bên Trung quốc đã có cách ký âm theo Luật lũ từ đời nhà Thương (Theo nhà nhạc học Maurice Courant Trong bài viết vê Nhạc Trung quốc đăng trong Bách khoa từ điển về âm nhạc do A. Lavignac chủ biên) tức là trên 1500 năm trước Công nguyên.
2. Tại sao....7 notes mà không có ghi những notes có thăng (dièse) giáng (bémol)?
Những âm thăng hay giáng theo hệ thống thang âm thiên nhiên hay các loại thang âm khác đều là âm bất thường. Có một tín hiệu #, và b là đủ.
Trong nhạc Ấn độ cũng vậy chỉ có tên cho những âm chánh Sa, Ri, Ga, Ma, Pa, Dha, Ni, Sa, vì 7 âm đó liên hệ với 7 hành tinh trong vũ trụ. Nếu cần ghi những âm ca hơn nửa cung thì thêm hai dấu tivra (dièse) và komal (bémol)
3. Tại sao chỉ có 5 nốt chính?
Trong việc ký âm,Việt Nam cũng như Trung quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, chỉ ký âm tên 5 âm chánh vì tuy trong Luật Lữ có 12 âm cách nhau một bán cung, (nhưng không phải thang âm 12 âm, vì 12 âm đó chỉ sắp theo thứ tự từ thấp lên cao, nhưng đó là 12 âm chuẩn) Chỉ chọn 5 âm chánh theo thứ tự Cung, Thương, Giốc, Chủy, Vũ vì trong vũ trụ có ngũ hành Kim, Mộc, Thủy, Hoả, Thổ. Con người có ngũ tạng: Tâm, Can, Tì, Phế, Thận, Màu  Ngũ sắc Đen, trắng, vàng, xanh, đỏ v.v..
Có 5 âm chánh nhưng thêm 2 âm phụ Biến chủy  Biến Cung thành 7 âm
4. Nguồn gốc của các cách ký âm 
Xem Bách khoa từ điển, The New Grove Dictionary of Music and Musicians Q.13 từ trang 333 đến trang 42O hay là Quyển La notation musicale của A. Machabey Paris 1952.
Muốn biết về Ký âm của phương Đông Đọc quyển Musical Notation of the Orient của Walter Kaufmann (Bloomington, Indiana, 1967).
Lịch sử hoa hồng
Hoa Hồng là hoa Tình yêu và là hoa được nhiều người biết nhất thế giới. Chloris, nữ thần các loài hoa Hy Lạp đã tạo ra hoa hồng nhưng chỉ mới là một cái xác của một Nymphe (1) mà bà đã bắt gặp trong một trận xóa rừng.  Bà nhờ Aphrodite (2), nữ thần Tình yêu cho nàng sắc đẹp.
Dionysos (3) thần rượu vang và mật hoa để thêm cho nàng mùi thơm dịu và Trois Grâces (4) cho nàng duyên dáng, rực rỡ và vui tươi.
Rồi đến Zephyr, ngọn gió phương Tây, đã thổi đi xa những đám mây để cho Thần Apollon (5), thần Mặt Trời, trau chuốt và biến nàng thành Hoa của mọi loài hoa. Và như thế hoa Hồng được sinh ra và  được phong vương là Nữ hoàng của loài hoa 
Tên La Linh của Hồng là Rosa. Nguồn gốc của hoa Hồng từ xứ Ba Tư. Người Ba Tư là những người đầu tiên đã trích tinh dầu bằng cách chưng cất, khoảng giữa 1582 đến 1612. Do đó họ được nổi tiếng là những người thành thạo về ngành sản xuất nước hoa.
Vào thời Phục hưng, vị thơm của nước hoa được phát triển và cách chưng cất nước hoa được đưa vào Âu Châu. Ðể có hoa chưng cất, người ta lấy vùng Grasse và những miền lân cận để trồng những đồn diền Hồng và những loài hoa thơm khác. Sản xuất này ngày nay vẫn còn. Tuy nhiên sự sản xuất nước hoa Hồng Grasse chỉ cho nhu cầu của hãng nước hoa Chanel. Những nước sản xuất chính tinh dầu hoa là Bulgarie và Turquie.
Ngày xưa, hoa Hồng là tượng trưng cho sự huyền bí. Do đó theo truyền thống, người ta treo hoa hồng trên bàn ăn có nghĩa là những lời nói trong bữa ăn sẽ được giữ bí mật.
Nếu như hoa Hồng được xử dụng thiết yếu trong ngành nước hoa thì nó cũng dùng một cách rộng rãi trong gia chánh. Người ta làm xi rô, mứt dẻo, kẹo và những món táng miệng đủ loại. Nó cũng dùng cho y học.

Màu sắc hoa hồng:

Ở phương Ðông, một người đàn bà vứt một hoa hồng héo qua cửa sổ cho người bạn trai của nàng đang đi qua nói lên  nỗi buồn của nàng. Một hoa hồng và một cúc trắng được trả lại diễn tả lòng trắc ẩn. Ở phương Tây thời Trung Ðại (*), người đàn bà mang trên đầu một vòng hoa cúc trắng để chứng tỏ cho chàng hiệp sĩ lịch sự lòng cảm phục lâu dài của nàng. Với vòng hoa hồng nghĩa là nàng tán thành chàng. 
(*) Phương Tây thời Trung đại = Occident médiéval  (médiéval: thuộc Moyen Age: thời Trung Ðại khoảng thời gian từ năm 476 đến năm 1453)
(1) Trong thần thoại Hy Lạp và La Mã, Nymphe là nữ thần nhỏ sống trên sông hồ, cây cối, đồi núi. Trong thi ca thì để chỉ người đàn bà đẹp 
(2) Aphrodite = Thần thoại Hy Lạp  Aphrodite là nữ thần Tình yêu (người La Mã gọi là Vénus)  
(3) Dionysos = Con của Thần ZEUS và SÉMÉLÉ, trong thần thoại La Mã là BACCHUS. Là vị thần trẻ nhất, được biết nhiều nhất mà cũng là vị thần phức tạp nhất của chốn Bồng lai, yêu đời (thần rượu vang), vui vẻ cũng có khi ác độc đến cực điểm. Chuyên về Nghệ thuật, Thơ và sinh ra ngành sân khấu Hy Lạp.
(4)  Trong thần thoại Hy Lạp, Trois Grâces (the Graces) là ba chị em nữ thần Ðẹp, ban sắc đẹp, duyên dáng và hạnh phúc cho nhân loại 
(5) Apollon = (hay còn gọi là Phébus) theo thần thoại Hy Lạp là thần của ban ngày,  biểu hiệu cho Mặt Trời là tượng trưng cho Ánh sáng Văn minh; con của ZEUS  và LÉTO. Apollon nắm nhiều quyền năng mà quyền cao cả nhất là Nghệ thuật và Văn chương 
Thiên văn: Apollon là tên của một hành tinh nhỏ đường kính 3 km được phát hiện năm 1932 bởi Delporte mà quỹ đạo nằm trong quỹ đạo Trái Ðất và Vénus (sao Kim)
Lịch sử HIV
Nguồn gốc  HIV và  AIDS 
Nguồn gốc của  AIDS  và HIV đã làm đau đầu các nhà khoa học  từ  khi phát hiện được những ca bệnh đầu tiên  vào đầu những năm 80  của  thế kỷ trước. Trên 20 năm qua, đây là 1  chủ đề  của  bao  cuộc tranh luận nẩy lửa, từ chuyện 1 tiếp viên hàng không có quan hệ tình dục bừa bãi đến 1 chương trình  thủ nghiệm  vaccin. Vậy   thì  đâu là sự thật,  hay  AIDS  từ đâu mà  có?
Các ca bệnh  AIDS đầu tiên được thừa  nhận  xảy ra  tại Mỹ  vào  đầu những năm 80 thế kỷ trước. Một số người tình dục đồng giới nam   tại  New York và  San Francisco đột  nhiên  mắc  những  bệnh nhiễm trùng cơ hội hiếm gặp (5 người bị viêm phổi do Pneumocystic  carinii  và 26 người bị ung thư  Kaposi)  mà các thầy thuốc  phải  bó tay. Tất cả  các  bệnh nhân đều bị suy giảm  miễn dịch  một  cách kỳ lạ - hệ thống miễn dịch của họ thậm chí không đủ sức chống đỡ  các nhiễm trùngđơn giản. Chẩn đoán ban đầu là GRID, đặt theo chữ đầu của Gay RelatedImmunodeficiency Disease (bệnh suy giảm  miễn dịch liên quan với người tình dục đồng giới nam). Nhưng sau đó  tên  này được đổi thành AIDS. Chẳng bao lâu  sau đó, HIV (Human Immunodeficiency Virus) được  phát hiện .
Dịch AIDS  chính thức  được Michael Gottlieb và  cs công  bố    trên  tờMorbidity and Mortality Weekly Report  ngày 5 tháng 6,1981  các  trường hợp tình dục đồng giới nam bị viêm phổi do nhiễm Pneumocystis carinii. 
Vào cuối năm 1983, GS Luc Montagnier và cs tại viện Pasteur Paris  phát hiện  ra virus  gây bệnh  và  đặt  tên  là LAV- lymphadenopathy associated virus (virus  có liên quan đến bệnh hạch lymphô).
Gần  nửa năm  sau, Gs Robert Gallo  và  nhóm nghiên cứu  tại  NIH (National Institute  of Health)  cũng phát hiện 1 virus  như thế  và đặt tên  là  HTLV III - Human T-cell lymphotropic virus (virus ưa tế bào lymphô T của người) và tự cho mình là người đã phát hiện ra  virus  gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV). Việc này  đã  dấy lên 1 cuộc tranh cãi gay gắt  giữa 2 nhóm nghiên  cứu. Đến tháng 3/1987,  cuộc tranh cãi này mới chấm dứt khi Tổng thống Mỹ Ronald Reagan và Tổng thống Pháp đứng ra dàn xếp, tuyên bố Luc Montagnier và  Robert Gallo là  đồng tác giả  phát hiện ra  HIV.
 Dù rằng hiện nay có bằng chứng rõ ràng chứng minh HIV gây ra AIDS, nhưng cho đến nay vẫn còn có người cứ nhất định không   thừa nhận mối liên hệ này. Cho nên, để tìm ra nguồn gốc của AIDS, cần phải  truy tầm nguồn gốc HIV, và bằng cách nào, khi nào và từ đâu  mà HIV lần đầu tiên bắt đầu gây bệnh cho người.

Vài  nét  về  HIV 
HIV thuộc  nhóm Lentivirus, và giống như  mọi  virus thuộc typ này,   nó tấn công  hệ  miễn dịch. Lentivirus  lại thuộc vào 1 nhóm  virus  lớn   hơn   gọi là  Retrovirus. Lentivirus  có nghĩa  là virus chậm  cần có nhiều thời gian để gây ra  tác dụng có  hại cho cơ thể. Nhóm virus này gặp ở nhiều  loài động vật khác nhau, như  mèo, cừu, ngựa và trâu bò. Tuy nhiên, typ Lentivirus mà ta quan tâm khi nghiên cứu nguồn gốc của HIV là SIV (Simian Immunodeficiency Virus) gây bệnh ở loài khỉ.
HIV  là 1 virus có tính  thay đổi cao, đột biến dễ  dàng. Điều này có  nghĩa là ngay trong cơ thể của 1 ngừơi bị nhiễm cũng có nhiều chủng HIV. Dựa trên  những điểm tương tự  về di truyền, ta  có thể  phân loại vô  số các chủng virus khác nhau đó thành typ, nhóm và  phân typ.
Có 2  typ  HIV:: HIV-1 và HIV-2. Cả 2  typ đều lây truyền qua quan hệ tình dục, qua đường máu, và từ mẹ  sang con. Cả  2 typ này dường như đều gây bệnh cảnh  lâm sàng AIDS khá  giống nhau, khó  phân biệt. Tuy  nhiên, HIV-2 không dễ  lây như HIV-1, và  thời  gian  kể từ  lúc mới bắt đầu nhiễm cho đến khi xuất hiện bệnh dài hơn trừơng hợp HIV-2.
Phân nhóm HIV
Trên toàn thế giới, HIV-1 là nhóm gây đại dịch AIDS, và khi nói  nhiễm HIV  mà không kèm theo typ, tức là   đang  nói tới  HIV-1.
HIV-2 ít gặp, chủ yếu khu trú tại Tây Phi, ít khi thấy ở  nơi  khác. HIV-2  có 8  nhóm  phụ,  từ A  đến H.
hiv01n
Các chủng HIV-1 có thể được phân thành 3 nhóm: nhóm “M” (major= chính),  nhóm “O”  (outlier= ngoài rìa)  và  nhóm  “N”  (new= mới  hoặc  non- M  non- O)  ). 3 nhóm  này   đại diện cho 3  đợt   du nhập  riêng   rẽ của   virus  SIV  gây suy  giảm miễn dịch  của khỉ sang  người.
Nhóm O dường  như chỉ khu trú tại vùng  Tây Phi, còn nhóm N cực kỳ hiếm, chỉ mới đựơc phát hiện năm 1998 tại Cameroon. Trên  90% các trừơng hợp nhiễm HIV-1 đều thuộc nhóm M, do đó, nếu không ghi  chú, các thông tin trong bài này chủ yếu chỉ bàn đến HIV-1 nhóm M.
Trong  HIV-1 nhóm M, có  ít nhất là 9 phân typ (subtype  hoặc clade). Những   phân typ  đó là A, B, C, D, F, G, H, J và K.
Đôi khi  2  virus  thuộc  2 phân typ  khác nhau  cùng hiện diện  trong   tế bào   của  ngừơi nhiễm  và   chúng  hoà trộn  các  chất liệu di truyền để  tạo thành 1   virus lai (hybrid) mới. Đây  là 1 tiến trình  tương tự  như sinh  sản hữu tính,  cho nên đôi khi   còn  được  gọi là  sự giao phối của virus (viral sex). Nhiều  virus thuộc chủng  mới này  không  sống  sót lâu được , nhưng   những  chủng nào   gây   nhiễm   được  cho ngừơi khác  sẽ  đựơc gọi  là CRFs  (các thể  tái tổ  hợp  lưu  thông = circulating recombinant forms). Lấy ví dụ CRF A/B   là  sự kết hợp của  các phân  typ A  và B.  Hiện nay  đã  phát  hiện  có  đến 30 CRF.
Việc   sắp xếp các  chủng HIV   thành  các  phân typ   và CRF  là  1 chủ đề  khá  rối  rắm   và  các  định nghĩa phân  loại  thừơng  phải thay đổi khi  có những  phát  hiện  mới. Một  số  nhà  khoa  học  cứ  gọi A1, A2, A3, F1 và  F2 là  phân typ  mặc  dù   nhiều ngừơi   coi A và F mới đúng   là phân typ.
CRF A/E   đựơc  coi  là do sự lai tạo  giữa phân typ A  và  1 phân typ “gốc “  là  E. Tuy nhiên   chưa ai  thấy được  phân  typ E  ở  dạng  riêng  rẽ. Lại còn rối rắm hơn, khi  nhiều ngừơi   vẫn cứ   coi CRF A/E  là  phân typ E (trên thực   tế  phải gọi  là CRF01_AE mới đúng).
1  virus   được  phân  lập tại  Cyprus   lúc đầu đựơc   xếp   vào   nhóm phụ  mới I,  sau  đó   được phân  loại lại  là   1  thể kết hợp  của A/G/I.  Hiện nay,   virus này đựơc  coi  là  đại diện   cho 1 CRF  phức  tạp  gồm  những  phân nhóm A, G, H, K   và  những  vùng không  phân  loại đựơc.   Thành   ra   tên gọi I  không  còn  được  sử dụng  nữa.
Dưới đây  là phân bố tình hình  nhiễm HIV  theo typ  và  phân typ  của HIV-1  và HIV-2:
Phân bố  HIV theo số ca nhiễm

HIV theo nhóm  hoặc  phân typ
số   ca nhiễm (% tính  theo tổng  số mắc)
HIV-1

Nhóm M  
45,000,000a (99.6)
Nhóm N
6 (0.000013)
Nhóm O
100,000a (0.22)
HIV-2

Phân typ A 
50,000a (0.11)
Phân typ B
25,000a (0.06)
Phân typ C
1 (0.0000002)
Phân typ D
1 (0.0000002)
Phân typ E
1 (0.0000002)
Phân typ F
1 (0.0000002)
Phân typ G
1 (0.0000002
a: ước tính đến  tháng 12/2004
Phân  bố các phân typ và CRF của  HIV-1
Các  phân  typ HIV -1  và CRF  đựơc  phân bố không đều  trên thế  giới,  trong  đó các phân typ  B  và C phân bố rộng  rãi nhất.
Phân typ C  chủ yếu gặp  tại miền đông và  nam châu Phi, Ấn độ  và Nepal.  Phân chủng này   gây ra    các  vụ  dịch HIV    nặng  nề nhất   và  khoảng   một  nửa các trừơng hợp nhiễm   hiện nay là do  phân chủng này.
Về mặt lịch sử,  phân typ  B là  phân typ/CRF  thừơng  gặp  nhất   tại châu Âu, châu Mỹ, Nhật, và  châu Úc.  Tình hình này có thay  đổi chút ít, bởi vì  hiện  nay  ít nhất   25 % những trừơng hợp   mới nhiễm tại châu Âu   là   do  các  phân typ mới  khác.
Phân bố các  phân typ HIV-1  M  theo  vùng địa lý 
(theo S Osmanov et al: J Acquir Imm Def Syndr 29:184, 2002)
Phân  typ A và CRF A/G  nổi trội tại  Tây  Phi và Trung Phi, phân typ A  cũng đóng  vai trò chủ đạo gây vụ dịch tại  Nga. Phân typ D   nói chung  chỉ  khu trú  tại  Đông phi và  Trung Phi;  A/E phổ biến   tại Đông nam Á,  nhưng vốn  có nguồn gốc từ Trung Phi; F đựơc tìm thấy  tại Trung Phi, Nam Mỹ  và  Đông Âu; G và A/G  đựơc ghi nhận tại Tây Phi và  đông Phi  và tại Trung Âu.Phân nhóm H  chỉ tìm thấy  tại Trung Phi; J   chỉ có tại Trung Mỹ;  và K chỉ  có tại Cọng hoà Dân chủ  Congo  và  Cameroon.
Nguồn gốc   HIV
Hiện nay, HIV được  chấp nhận là hậu duệ của SIV bởi vì  một  số chủng  SIV  có cấu   trúc di  truyền rất  giống  với HIV-1 và HIV-2.
HIV-2   tương ứng  với  SIVsm, là 1 chủng  của SIV tìm thấy ở  loài khỉ mặt xanh (sooty mangabey), là loài khỉ  bản địa  vùng  tây Phi.
Còn typ HIV-1, có độc lực  mạnh  hơn, gây đại dịch nhiều hơn. Mãi cho đến năm 1999, mới  xác định được đối tác gần gũi nhất của HIV-1 là SIVcpz, là SIV tìm thấy ở loài tinh tinh (chimpanzee). Tuy nhiên,  chủng virus này  vẫn còn có một số khác biệt với HIV ở nhiều điểm quan trọng.
1999: Phát hiện nguồn gốc  HIV đi  từ  SIV.
Vào tháng  2 /1999, một  nhóm các nhà  nghiên cứu  thuộc  trường  đại học Alabama  (Mỹ)  tuyên   bố   là  họ  đã tìm  thấy    1 typ  SIVcpz   rất   giống   với HIV-1. Chủng   virus này  đươc  phát hiện từ 1  mẫu nghiệm  đông   lạnh  lấy  từ  1 con tinh tinh  bắt được  thuộc phân nhóm Pan troglodytes troglodytes (P. t. troglodytes),  là loài rất phổ biến  tại  vùng  Trung  và Tây  Phi.
Các nhà nghiên cứu (do Paul Sharp  của Nottingham University và   Beatrice Hahn của  Đại học  Alabama  dẫn đầu)  đã đưa ra  phát hiện này sau  10 năm   miệt  mài  nghiên cứu  về  nguồn  gốc của  virus  HIV.  Họ cho  rằng  mẫu nghiệm   này   chúng minh được  HIV-1 đi từ  tinh tinh, và virus này  đã  có   lúc  vượt  qua  được  giới hạn loài  để  đi từ   tinh  tinh sang người.
Kết quả  nghiên cứu  của nhóm được công bố 2  năm sau đó trên tạp chí  Nature, trong đó họ   kết  luận rằng   tinh tinh hoang  dã    đã   bị  nhiễm cùng lúc  2  chủng  SIV  khác nhau,  2 chủng này  “giao  phối “   và sinh   ra 1 chủng virus thứ  3, chủng tứ  3  này  có thể  đã  được lây sang   những  con tinh tinh khác, và  điều  đáng chú ý  hơn, là   chủng  này  có  khả năng gây nhiễm cho người   và  gây  ra AIDS
Người  ta   truy tìm  nguồn  gốc  của 2  virus  này    và lần ra được  1  SIV  gây nhiễm cho  khỉ  mangabey đầu   đỏ   và  1 SIV  khác   gặp  ở loài khỉ lớn  mũi đốm (spot-nosed). Các nhà nghiên cứu   tin  rằng  sự lai tạo  đã xảy ra trong cơ thể  loài  tinh tinh   khi chúng  bị  nhiễm với  cả 2  chủng SIV sau khi  chúng   săn đuổi    và  giết 2  loài  khỉ   kia  vốn nhỏ  con hơn.
Họ cũng  kết luận rằng  3 nhóm   HIV-1  (M, N và  O)   đều  phát  xuất từ  SIV   tìm  thấy   ở    loài tinh tinh P. t. troglodytes,  và  mỗi  nhóm đại diện cho  1  biến  cố  "nhảy"  (crossover) riêng   rẽ   từ lòai tinh  tinh sang người.
Sau  17  năm  nghiên cứu thực địa tại các  vùng  Đông, Tây, Xích  đạo châu Phi,   các nhà khoa học từ nhiều  nứơc chứng minh có  ít nhất  có 40  lòai khỉ khác nhau  bị  nhiễm với 40  typ SIV  khác nhau; 3 nhóm HIV-1  và  8 phân typ   HIV-2  khác nhau  là kết  qủa  của  11  biến cố  nhảy sang lòai khác, trong đó   có sự tham gia  của   8 lòai khỉ mặt  xanh   và 3  tinh tinh  đối với   tất cả các trừơng   hợp gây nhiễm  ở người .
Làm thế  nào HIV nhảy sang loài khác được?
Từ  lâu   người ta biết  rằng một  số virus có thể “ nhảy “ từ loài này sang  loài khác. Thật  vậy,  chính từ việc  tinh tinh “ nhận “ SIV  từ 2 loài khỉ nhân hình khác  chứng  tỏ  rằng  sự  nhảy chéo  này  có thể xảy ra  dễ  dàng như  thế  nào. Con ngừơi là động vật, cho  nên   chúng ta  cũng  sẽ dễ  bị  cảm nhiễm  như loài tinh tinh.  Khi  virus  đựơc  truyền từ  động  vật sang người, ta gọi đó là bệnh  từ  súc vật  (zoonosis).
Dưới  đây   là  một  số  lý  thuyết được  nhiều người nhắc tới    giải thích   về sự hình thành  những  bệnh từ  súc vật   và  bằng  cách nào mà  SIV  trở thành  HIV ở người: 
Thuyết  “ngừơi đi săn“ 
 Thuyết được  chấp  nhận  rộng  rãi nhất  là  thuyết “ngừơi đi săn“.  Theo thuyết này,  thì  SIVcpz đựơc chuyển sang người khi  tinh tinh  bị  thợ săn  giết và ăn thịt hoặc do máu  của chúng vấy vào các  vết   cắt  hoặc thương tích  của ngừơi  săn thú. Bình thừơng, cơ thể  của  thợ săn sẽ đánh bật  SIV, nhưng trong một  vài tình  huống, virus này sẽ  tìm cách thích  ứng  với  cơ thể  vật chủ mới  và trở thành  HIV1.
Thuyết này căn cứ  trên   theo thực tế  là có  nhiều  chủng  HIV sớm khác  nhau,  mỗi chủng có  bộ  gien (make-up)  hơi khác một chút (thừơng gặp  nhất  ở  HIV -1M): mỗi  khi  những chủng HIV ban đầu  này  đi từ 1 tinh  tinh sang 1 người, virus  sẽ  phát triển hơi khác  chút ít trong cơ thể người đó, và  từ đó  sẽ tạo  ra 1 chủng khác  biệt một chút.
Một bài báo trên tờ The Lancet  năm 2004,  cho biết ngay cả đến hiện  nay  retrovirus  từ loài linh trưởng vẫn  còn  chuyển dịch sang người đi săn. Trong số những mẫu bệnh  phẩm  lấy từ 1099 cá thể  tại Cameroon, các nhà nghiên cứu phát  hiện  có  đến 10% bị  nhiễm  SFV ((Simian Foamy Virus),  là 1 bệnh  giống như SIV, trứơc đây  người ta cho rằng chỉ  gây nhiễm  cho loài linh trưởng. Người ta tin  rằng  tất cả các trường hợp nhiễm virus này là do hành động  săn giết  và  ăn  thịt những con khỉ đó. Từ những phát hiện này  đã dẫn đến lời kêu gọi  nên cấm ngay việc tàn sát thú rừng để tránh   lây truyền virus từ  loài khỉ  chuyển  sang ngừơi.  
Thuyết  vaccin  bại liệt  uống  (OPV)
Thuyết  vaccin OPV  bị vấy nhiễm   gây nhiều tranh luận nhất và cũng là  thuyết  gây nhiều  suy nghĩ  nhất. Người  chủ trò  của thuyết này  là Edward Hooper, vốn là  cựu phóng viên đài  BBC đã từng  sống tại châu Phi từ  1981  đến  1986  bằng nhiều nghề khác nhau như  thủ  kho, thầy giáo, người dẫn đường…Vào tháng 8/1986, đang ở tại Kampala, ông ta  nghe là  có hàng trăm  dân làng  Kasensero   ở bờ tây hồ Victoria đang chết  dần mòn vì 1  chứng bệnh bí hiểm   mà các chuyên  gia  y tế   cho rằng  có thể là  do AIDS. Hooper  đến ngay  làng này và tổ chức   gặp  mặt   các già làng  dưới bóng  1 cái cây to duy nhất  trong   làng. Căn bệnh  bí hiểm   này có  các triệu  chứng như   ho, sốt , loét miệng, lở  loét ngoài da  và tiêu chảy  liên tục.   Tất cả  các bệnh nhân  đều  rất  gầy ốm  và suy  mòn,  đựơc gọi là bệnh Slims . Hooper  nhớ  lại  cái cảm giác kinh hoàng  và buồn rầu khi  thấy  cảnh đó. Các già làng   cho biết  là    dân làng mắc   chứng bệnh đó khi  tiếp xúc với   binh lính, các nhà  buôn  và  gái  bán dâm từ  Tanzania tới.  
Kịch bản sau  đó đựơc chuyển  sang Mỹ. Vào ngày  31/5/1987,  trên  1 chương trình  radio   của đài WABC "Natural Living with Gary Null", Eva Lee Snead,  một thầy thuốc   tại  San Antonio  cho   rằng OPV  bị  vấy nhiễm SIV  từ loài khỉ  mặt xanh   châu Phi  và  từ  đó   đã  gây  ra   vụ  dịch AIDS.  Louis Pascal,  một ngừơi  dân New York   vốn   sống  ẩn dật, nghe đựơc   chương trình này.  Vốn không  hề  đựơc đào tạo   gì về y học,  nhưng có  tham gia  1 bài viết   duy nhất trong  1  tuyển tập  triết học.  Pascal quyết định  nghiên cứu về  lý thuyết  này.  Pascal  nghiền ngẫm   các tạp  chí  khoa học cho tới  lúc  ông  ta tin rằng tế bào  thận  của  loài tinh tinh (không  phải  là   của khỉ  mặt xanh châu  Phi  theo ý kiến   của  Bs Snead)  được  sử dụng   để   chế tạo  OPV  trong   1 chiến dịch  thanh toán  polio   vào năm 1950   tại Trung Phi ,   bị vấy nhiễm   virus SIV-SV40, mà   vào những năm 1950   là virus chưa đựơc phát  hiện. OPV vốn đựơc   1 nhà  virus  học nổi danh, Hilary Koprowski, giám đốc  viện Wistar  tại Philadelphia phát triển. Pascal  cũng nhấn  mạnh rằng   có 1   sự  liên hệ  giữa  các địa điểm tiêm chủng  và những  trừơng hợp AIDS   đầu tiên tại châu Phi. Pascal  cố  công  viết  ra  1 bài báo  và tìm cách  đăng  trên  những tạp chí chuyên ngành  như Lancet, Nature và New Scientist. Nhưng  những  gì ông ta nhận được từ cọng đồng khoa học là  sự từ chối hoặc  im lặng.  Sau 5 năm đầy thất vọng, trường đại học Wollongong, NSW, Australia  công bố   bài  báo  của ông này vào tháng 12/1991.  Không  có gì  ngạc nhiên  vì  chẳng  mấy ai chú  ý. Nhưng  tên của bài  báo  khá bắt mắt  “  Điều gì  xảy ra  khi khoa học  sai lầm.  Sự  sai lạc của  khoa  học   và  nguồn gốc  bệnh AIDS -  1  nghiên cứu  về sự hình thành  tự  phát “. Nhưng để hiểu rõ  hơn về diễn biến của vụ  việc,   ta cần  phải hiểu rõ  một  vài  sự kiện  về    việc ra  đời vaccin polio.
Nguyên vào tháng 8/1921, Tổng thống Mỹ   Franklin D. Roosevelt bị mắc bệnh “ polio bại liệt  trẻ em “. Trong  đời  mình,  Roosevelt    đã dành nhiều công sức cho các hoạt động  thanh toán  polio. NFIP  là  tên gọi  của 1 tổ chức  quốc gia  nhằm mục đích thanh toán  polio ra  đời  vào năm 1938  và do Basil O'Connor, bạn thân của Tổng  thống  phụ trách. O'Connor  mở  chiến dịch gây  quĩ và trong 20  năm,  mỗi năm đã  quyên góp đựơc  25 triệu USD. NFIP  tài  trợ cho Jonas Salk - Giám đốc  Phòng thí nghiệm  nghiên cứu virus  tại  trừơng đại học Pittsburg.  Vaccin polio  bất hoạt dùng để tiêm (IPV = Inactivated polio vaccine) ra đời từ viện nay, và   sau đó hàng ngàn trẻ em đã đựơc tiêm  chủng. Nhưng  vaccin tiêm   lại gây  biến chứng:  ngày 26 tháng 5 /1955 – có 5  đứa trẻ   sau khi  tiêm IPV   bị  liệt chi dưới sau khi  tiêm -  vì  thế   ngừơi ta  mới  chuyển  sang sử dụng vaccin  uống OPV. Những ngừơi  tham gia phát triển OPV là  Hilary Koprowski và  Albert Sabin của Đại học  Cincinnati và  Herald Cox của Lederle Laboratories.  Vào   ngày  27 tháng 2/1950, Koprowski là nhà  khoa học đầu tiên   trên thế giới  đem OPV  sử dụng cho người. Koprowski   cho dựng   1   trại thí nghiệm   tại Lindi, gần Stanleyville, Belgian Congo (hiện nay  là  Kisengani, Cọng  hoà  Dân chủ Congo)  để lấy thận  tinh tinh.  Những   quả thận  này được  sử dụng để  bào chế  1 loại  vaccin OPV được gọi  là CHAT. Từ năm 1957  đến  1960, vaccin CHAT  được  đem ra sử dụng cho  khoảng  300.000  người  tại  lãnh thổ  cựu  thuộc địa của Bỉ,  tức là  vùng  đất bao gồm  Cộng hoà dân chủ Congo, Rwanda và Burundi  ngày nay.
Thuyết  vaccin OPV bị  vấy nhiễm  sẽ  trôi  vào quên  lãng nếu  không có một số biến cố sau đây làm sống  lại. Vào ngày 12/3/1992, Tom Curtis, là  1  phóng viên tự do tại Texas  viết 1 bài báo  đăng trên tờ Rolling Stones,  trong   đó  ông  ta  đưa  ra  1  giả thuyết   về   vụ dịch AIDS. 
Thuyết  của Curtis   về  cơ bản cũng  giống  như giả thuyết do   Louis Pascal trình bày năm 1987 . Nhưng không như bài báo của  Pascal, bài của  Curtis  gây  đựơc sự quan tâm rộng rãi  của  các phương  tiện truyền thông. Koprowski  rất lấy làm giận dữ  vì  nhũng  ức đoán của giới không chuyên môn. Tuy nhiên,  khi được  Curtis  phỏng  vấn, ông ta  không nhớ  nổi hoặc  đưa ra đựơc   bằng chứng  là  nhóm  nghiên cứu  của ông   tại viện Wistar   đã dùng tế bào thận  của khì mặt xanh châu Phi, khỉ  macaque   hoặc  tinh tinh. Viện Wistar chỉ định  1 nhóm chuyên  gia  trình bày   những phát hiện của  họ    trong 1 báo cáo dài 8 trang  trứơc  1  hội nghị   báo chí    vào tháng  10/1992.   Báo  cáo  này đã giải tội cho  vaccin CHAT.  Ngay  lập tức, Koprowski và   viện  Wistar    kiện   Tom Curtis và  tờ báo  Rolling  Stones vì tội   phỉ  báng.   Vụ việc đựơc  dàn xếp  tại toà   khi tờ báo    đưa ra   lời  giải trình rằng “ họ  chưa  bao giờ có ý định    cho rằng  có bằng chứng  khoa  học  chứng minh   vaccin gây ra  bệnh AIDS “
Vào tháng  6/1992, Hooper  đọc được   bài  báo của Curtis    và    bị  thuyết  vaccin OPV  vấy nhiễm thuyết  phục.  Ông  ta    kiên trì  bám  lấy lý thuyết   này   và   cuối cùng  trở thành  ngừơi  ủng  hộ  nhiệt  tình nhất.  Hooper  liên   lạc    với Curtis và Pascal   và   xin đựơc  tất cả các   tài liệu nghiên  cứu của  họ. Qua nghiên cứu   về   vaccin  polio,  Hooper tình  cờ   đọc  đựơc   tên   giáo sư William Hamilton. Hamilton   là 1  nhà  sinh học  tiến  hoá   đã từng  đạt đựơc  nhiều   phần thưởng  danh  giá.  Ông giáo sư   bị  những  khía cạnh tiến  hoá  của  bệnh  AIDS lôi cuốn  và  và hết sức quan tâm đến   thuyết  vaccin OPV  bị vấy  nhiễm. Hamilton cho rằng   báo cáo của nhóm Wistar  “không đủ chứng cứ khoa học “  và còn hời hợt  quá.  Tuy nhiên, điều   làm  cho ông lo ngại nhất  là   cọng đồng khoa học  đã thằng thừng gạt bỏ   thuyết vaccin OPV bị  vấy  bẩn   và  việc các tờ báo khoa học  không chịu đăng công trình của Pascal.  Hamilton  đã viết   nhiều thư   cho các  tờ báo  nhưng   đa số đếu không đựơc đăng  và  vì thế  ông  ta  khuyến  khích và  hướng dẫn   cho Hooper   theo đuổi công trình của  mình.
Trong suốt  7 năm sau đó, Hooper    kiên trì   đào sâu   thuyết  vaccin OPV   bị  vấy nhiễm.  Để     bổ sung  kiến thức  cần thiết  cho   nghiên cứu, Hooper   đã    nghiền ngẫm    rất nhiều ngành khoa học  như sinh học phân tử, virus học,    ngành   học  về loài linh trưởng  và  nhiều  chuyên  ngành  khác.  Việc nghiên cứu , bắt đầu từ  năm 1986 , đã  đem  lại 1 công trình đồ sộ   dày 1070 trang  với tiêu đề  -Dòng sông  (The  River) -  việc truy tìm  nguồn  gốc  HIV  và  AIDS  “ đựơc   xuất bản vào tháng 12/1999.  Để  viêt cuốn  sách, Hooper   đã  rà lại  hàng ngàn  trang  bệnh án, các  bài  báo khoa học   và   tài liệu , đã thực hiện  hơn 600 cuộc  phỏng vấn, có khi  gặp những ngừơi  ít  thiện cảm ,  gọi ông là   “đồ  ngoan cố, quá  khích  và  hiếu  chiến  “. Trong  quyển sách, Hooper  đưa ra  các bằng  chứng  gián tiếp chứng minh   rằng CHAT  đã  bị  vấy nhiễm bởi  SIV   và    là nguyên nhân  gây   ra dịch AIDS.  Ông ta cũng chứng minh rằng  có   mức độ tương  ứng cao   giữa các   địa  điểm  cho uống  vaccin  CHAT  và  bằng chứng  đầu tiên  của   bệnh AIDS tại châu Phi.   Hooper    rà soát  hồ sơ   những  mẫu nghiệm   máu HIV dương tính   đựơc  lấy tại châu Phi   trứơc năm 1981.  Có  47   trong số 52  mẫu   nghiệm   lấy tại các địa điểm   cho  uống CHAT.  Tất cả các  mẫu nghiệm  đều được  lấy    trong vòng 100 dặm quanh khu vực chủng ngừa   trong đó có làng Kasensero  mà hồi tháng 8/1986   ông ta đã đựơc  nghe   về  bệnh SLIMS   lần đầu tiên.
Cuốn  sách “ Dòng  sông “ ra đời đã  dấy lên 1 cuộc tranh cãi   gay    gắt, buộc  Koprowski và  viện  Wistarvà   ra sức bác  bỏ thuyết  vaccin. Bill Hamilton   quyết định  chấm dứt  việc tranh cãi này   và tổ chức  1  hội nghị  của Hội Hoàng gia   về đề tài “Nguồn  gốc  của HIV   và  dịch AIDS “  trong 2  ngày từ   11-12/9/2000.
 Thuyết của Hooper đựơc  nhiều nhà  khoa học  tìm cách kiểm chứng. Beatrice Hahn  và  cọng  sự    của trừơng  Đại  học Alabama, chứng  minh rằng  SIV    từ 3 con tinh tinh ở vùng Tây Phi    rõ ràng là  có  liên  quan đến HIV-1, trong lúc  1 con  khác từ  Trung Phi (con tinh  tinh của  trại Lindi)  không tương quan   với HIV-1.  Từ đó , dựa trên bộ gien  (genetic  makeup)   của 1 con  tinh tinh,  họ  cho rằng  vaccin Wistar  không   bị  vấy     nhiễm   bởi SIV cpz.
Năm  2000, Betty Korber   cùng với các  đồng nghiệp từ Los Alamos National Laboratory, sử dụng 1  máy  tính  cực mạnh là Nirvana   để  tìm nguồn gốc  HIV-1   nguyên thủy (Eve HIV-1)  và xác định  thời điểm  xuất hiện là  năm 1930 (xê  xích 20 năm tức là  từ 1910 đến 1950). Còn John Beale, một chuyên gia về   vaccin, cho rằng   không  thể  nào  có  trừơng hợp vaccin vấy nhiễm   vì chỉ có 1  vi hạt  virus   trong  số 10.000  tỉ   mới “ còn sống  được “  trong qúa  trình sản  xuất  vaccin bao gồm   đun nóng, làm lạnh, làm khô  và xử lý bằng  enzyme . Nhưng Hooper  vẫn không  hề nao núng   và  kiên cường  bảo vệ  lý thuyết  của  mình. Xem ra cuộc tranh   cãi vẫn còn tiếp tục.
Vào tháng 2/2000, viện Wistar   cho biết là   họ  đã tìm ra  trong  kho  lưu trữ 1 lọ vaccin polio đã đựơc  sử dụng trong  chương trình tiêm chủng tại châu Phi. Vaccin này được đem  đi phân tích và đến tháng 4/2001  kết qủa đựơc công bố  là  không hề  tìm thấy trong vaccin có vết tích gì của HIV hoặc SIV cpz. Một  phân tích thứ 2  cũng  xác định rằng vaccin  CHAT chỉ sử dụng  tế bào thận khỉ macaque,  mà tế bào này không thể  bị nhiễm bởi SIV hoặc HIV.  Điều này chứng tỏ  thuyết  vaccin  OPV  không đứng vững.
Một thực tế nữa là  thuyết  vaccin OPV  chỉ chú  ý  đến 1  nhóm HIV-1 (nhóm M)  cũng   cho thấy   rằng  sự  lây chuyền  còn phải  đi theo   những  con đường  khác.
Yếu tố cuối cùng   chứng minh rằng   thuyết  OPV  không đáng   đựơc coi  như  là  cách  duy  nhất   để SIV    truyền từ  khỉ   sang người    dựa trên lập luận  rằng HIV  đã    hiện diện   trên con ngừơi khá  lâu trứơc  khi có  các thử nghiệm  vaccin.
Thuyết  kim tiêm  bị  vấy  nhiễm
Thuyết này   là  phần  mở rộng   của   thuyết  “ người đi  săn”   ban đầu.  Vào những năm 1950s, bơm  kim tiêm plastic   sử dụng  1 lần  đựơc   nhiều nứơc  trên thế giới  sử dụng   vì   rẻ    tiền,    vô trùng  khi tiêm   thúôc. Tuy nhiên,  tại các nứơc châu Phi,  thì không  phải như vậy,   trong các chương trình  y tế, số lựơng  bơm  kim tiêm  phải   sử dụng   rất lớn,  cho nên    gây tốn kém nhiều.   Vì thế , nhân viên  y tế  ở đây sử dụng  1  bơm  tiêm  để  tiêm cho nhiều người  nhưng lại  không  tiệt trùng  giữa  2  lần tiêm.  Điều này làm cho   các  vi hạt virus  được   truyền từ  người  nọ  sang ngừơi kia  nhanh chóng,  tạo điều  kiện vô cùng   thuận lợi cho   virus  biến dị  và  sao chép   khi   xâm nhập đựơc vào  1 cơ thể  mới, ngay cả khi  SIV ở ngừơi  ban đầu   bị   nhiễm  nhưng  chưa chuyển đổi thành  HIV.
  Người đóng  vai trò   chủ đạo của thuyết này  là Preston Marx, vốn là 1  nhà  virus học  loài  linh trưởng. Marx đã  làm việc  nhiều  năm   về SIV và    đã thu đựơc  nhiều  mẫu máu   của khỉ   mặt  xanh (sooty mangabeys)  cũng   như  mẫu máu  của  dân  làng  chuyên nghề  săn bắt loài  khỉ  này   khi   đi khảo  sát  tại các tỉnh   miền  bắc , và miền đông   xứ Sierra Leone.   Đem   các mẫu  nghiệm về Mỹ  làm xét  nghiệm, Marx    phát  hiện  là   các mẫu máu khỉ  mặt  xanh  cho  kết  quả dương tính  với SIV   và máu  của   một  số  dân  làng  có chứa  cả 2  gien HIV  và SIV.  
Marx tin  rằng nhiễm  SIV, với tính cách   bệnh  từ  động vật  (retroviral  zoonosis)  đã lưu   hành tại đây  nhiều thế kỷ , nhưng  ông ta  không rõ  cái gì   đã “ kích hoạt ”  thành dịch  HIV   và  thời điểm  xảy ra   dịch HIV  lại xảy ra khá muộn  tức là vào   giữa  những năm tuộc thập kỷ 70 của thế  kỷ trứơc.
Đến   đây,  mới  thấy  vai trò  của   sự tình cờ. Trên chuyến  bay từ  New York đi  New Orleans, Marx  chú  ý đến  1  hành khách  đọc  1 bài báo của  1  trong những đồng sự của mình   tại Manhattan.  Hành khách này  là Ernest Drucker,  giáo sư  tại trường  Y khoa Albert Einstein tại  New York. Drucker cho  biết  là ông ta đang nghiên  cứu  vai trò   của các  kim tiêm   bẩn  đối với sự bùng  phát   dịch AIDS  trong nhóm người   nghiện  heroin  tại  châu Á, Nam Mỹ  và Tây Phi. Marx  mê mẩn  lý thuyết này  ngay  và nghĩ rằng   bệnh  từ  động vật do  retrovirus   và  việc  sử dụng  lại  kim  tiêm   bẩn, vốn được thực hiện tại châu Phi vào những năm 1950, có  thể  đã làm  lây  lan  HIV từ  người này  sang ngừơi khác  và  làm  cho vụ  dịch phát triển  mạnh. Qua đó, Marx  đưa  ra  thuyết lây chuyển  qua  hàng loạt (  serial passage). 
Thuyết lây chuyển  qua  hàng loạt (serial passage)
Tiến trình  lây  chuyển  hàng  loạt   bắt đầu khi 1  người  vốn bị   phơi nhiễm  với  SIV  từ  1 bệnh  retrovirus   súc vật chuyển  sang, được  tiêm 1   mũi  tiêm; sau đó   kim tiêm  tiêm  người này  đựơc  dùng để tiêm thúôc cho 1  người khác, giúp  cho SIV  được  truyền  sang   người thứ 2  và gây nhiễm virus cho  người đó.  Người thứ 2   sau đó   lại  nhận 1  mũi tiêm  khác  bằng 1  cây kim  mới, cây kim này tương  tự   như trường hợp trên, được  sử dụng lại để tiêm cho  người thứ  3.  Qui trình này  cứ  tái  diễn  và  qua  mỗi  lần lây  chuyển   thì SIV thích  ứng   và   trở nên    mạnh hơn  đối với hệ thống miễn dịch   của   con  người.  Con virus  như   thế đựơc  lây chuyển  qua  nhiều người  do   kim tiêm  bị vấy bẩn  và  tiến trình này   rốt  cuộc   đã  chuyển đổi   virus SIV lành tính    trở  thành   HIV  có độc tính cao.  HIV bị   biến  đổi   này  có đủ   độc  lực  để  có  thể lây truyền qua quan hệ tình dục và từ đó ó vụ dịch khởi phát.
Lịch sử sử dụng  bơm tiêm và kim tiêm tại châu Phi đã  chứng  minh cho thuyết  này. Sau chiến tranh thế giới lần 2, Penicilline  đựơc  sử dụng để điều trị nhiễm trùng rộng  rãi.  Vào năm 1943 , chỉ  sử dụng 21 triệu mũi tiêm, đến năm 1949, con số này là 120 triệu. Trong những năm thuộc thập kỷ 1950, WHO và các cơ quan  y tế   khác đã phát động nhiều chương trình y tế khắp châu Phi. Nghèo đói  và nguồn lực hạn chế buộc  châu lục này phải sử dụng lại bơm  tiêm và kim tiêm. Trong 2 năm (1917-1919), để tiêm chủng cho 90.000  người, ngừơi ta chỉ dùng  có  6 bơm  kim  tiêm. Từ 1952  đến 1957,   UNICEF đã cho tiêm 12 triệu  mũi tiêm  trong chiến  dịch thanh toán  bệnh ghẻ cóc (yaw) tại Trung Phi. Cho  đến  năm 2000, bản tin  của  WHO vẫn  còn nêu là  có từ 20% đến 60 % các trạm y tế  tại  một số nứơc quá nghèo tại châu Phi vẫn còn sử dụng kim tiêm không  vô trùng. Việc sử dụng các kim tiêm không vô trùng đã làm tăng theo cấp số nhân cơ hội lây chuyển  hàng loạt virus SIV ở người và đã  kích hoạt virus SIV lành tính trở thành HIV có độc lực cao. Marx đã chứng minh thực  nghiệm  rằng SIV có tính sinh  bệnh cao gấp 1000 lần khi  chỉ đựơc lây chuyển hàng  loạt qua 3 con khỉ. Thuyết này có  ít sơ hở hơn thuyết vaccin OPV nhiễm  bẫn và thuyết  người thợ  săn bị thương (cut hunter).
Theo http://www.maxreading.com/



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Trải nghiệm trong cảm nhận văn chương

Trải nghiệm trong cảm nhận văn chương Đọc văn, đọc thơ đúng và hay cũng là cách dẫn dắt quá trình tiếp nhận tác phẩm văn chương cho người ...