Bàn về cuốn “Trịnh Công Sơn -
vết chân dã tràng” của Ban Mai
Tin UBND tỉnh Bình Định
ngày 13/8/2009 ra quyết định cấm lưu hành cuốn “Trịnh Công Sơn- vết chân dã
tràng” của Ban Mai làm sửng sốt giới văn học nghệ thuật cả nước về một văn bản
trái luật và ngạo mạn kiểu “phép vua thua lệ làng”! Trái luật bởi ấn phẩm ra
đời đúng theo trình tự của Luật Xuất bản, còn nội dung trình bày kết quả
nghiên cứu về một nhạc sĩ thiên tài, danh nhân văn hóa được cả nước mến mộ,
thế giới ghi nhận. Ngạo mạn bởi Nxb Lao Động thuộc Trung ương quản lý, nội
dung ấn phẩm là luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ, được Hội đồng các GS, PGS thẩm định
kỹ càng, mấy ông quan chức hàng tỉnh sao không nhớ câu ngạn ngữ “Sơn ăn tùy mặt,
ma bắt tùy người”? Lại có luồng dư luận coi lệnh cấm chỉ như ném vào hư
không, bắt gió đuổi mây bởi sách đã in, nộp lưu chiểu Quý IV/2008, phát hành
rộng rãi trên cả nước thì một tỉnh lẻ miền Trung làm sao thu hồi? Lệnh cấm
sách sao dường như không nhằm vào sách mà nhằm vào người viết sách, trong bối
cảnh nội bộ Hội VHNT Bình Định tổ chức đang nát như tương, nhân tình rối như
canh hẹ trước kỳ đại hội?...Song dư luận vẫn chỉ là dư luận. Lời nói gió bay.
Ta hãy thử tìm hiểu trong cuốn “Trịnh Công Sơn- vết chân dã tràng” tác giả
Ban Mai viết gì?
Lướt qua cuốn sách
Cuốn “Trịnh Công Sơn- vết
chân dã tràng” của tác giả Ban Mai, (tên thật Nguyễn Thị Thanh Thúy), Thạc
sĩ, giảng viên ĐH Quy Nhơn. Sách do Nxb Lao Động phối hợp với Trung tâm Văn
hóa Ngôn ngữ Đông- Tây ấn hành theo Quyết định xuất bản số523- QĐLK/LĐ ngày
22/8/2008 và giấy XNĐKKHXB/CXB số 38-133/LĐ ngày 22/8/2008. Sách in xong nộp
lưu chiểu vào Quý IV/2008. Bìa trình bày của họa sĩ Văn Sáng khá đẹp trong sự
giản dị, tao nhã. Hai mảng màu tương phản, bố cục chữ và những nét vẽ chấm
phá minh họa khơi gợi cho ta cảm nhận về chiều sâu văn hóa, triết lý vô thường
của người nhạc sĩ tài hoa họ Trịnh. Ở trang lót bìa cuối sách chỉ ghi mấy lời
giới thiệu rất vắn tắt của Nxb Lao Động:
“Tác giả tập chuyên luận Trịnh
Công Sơn- vết chân dã tràng tái hiện cuộc hành trình làm người và thế giới
nghệ thuật của Trịnh Công Sơn, qua những phân tích, soi chiếu vào hệ thống ca
từ của ông, giúp người đọc có được cái nhìn khách quan, thấu đáo hơn về Nhạc
Trịnh, một hiện tượng văn hóa Việt Nam hiện đại…”
Sách dày 472 trang, chia
hai phần chuyên luận và phụ lục. Phần chuyên luận, Trịnh Công Sơn- vết chân
dã tràng ngắn gọn (trang 17- 142) gồm các chương: Quá trình nghiên cứu- TCS
tiếng hát dã tràng- Vết chân dã tràng ngàn năm in dấu- TCS và chiến tranh Việt
Nam- TCS người tình cuộc sống- TCS người ca thơ- Kết luận và tài liệu tham khảo.
Theo lời giới thiệu của GS Nguyễn Đình Chú (ĐH Sư phạm Hà Nội) ở đầu sách, phần
này vốn là luận văn tốt nghiệp cao học của tác giả, với tên đề tài được Ban
Mai chọn là “Thân phận con người và tình yêu trong ca từ Trịnh Công Sơn”. Ông
nhận xét: “Đây là vấn đề cốt lõi trong nội dung ca từ của Nhạc Trịnh. Do đó,
nhiều bậc thầy, bậc đàn anh đi trước đã nói tới và nói đến nhiều điều rất
hay, nhưng chưa có điều kiện nói hết. Ban Mai với yêu cầu một luận văn Thạc
sĩ dĩ nhiên trên cơ sở tiếp thu thành quả của người đi trước, phải có sự phát
triển, nâng cao bằng những phương pháp khoa học khác nữa mà kết quả đã được
ghi nhận.” Ở phần phụ lục (trang 143- 471) bao gồm: Danh mục các tập nhạc
TCS, danh mục các ca khúc TCS và đặc biệt là nội dung ca từ của 242 ca khúc
do tác giả Ban Mai dày công sưu tầm, chỉnh lý và lựa chọn đưa vào sách. Đây
là kết quả của quá trình lao động kiên trì, cực nhọc, say sưa, nghiêm cẩn của
chị cần được tôn vinh bởi lâu nay, người yêu Nhạc Trịnh không mấy ai có cơ hội
tiếp cận đầy đủ gia tài đồ sộ của người nhạc sĩ tài hoa đã quá cố. Tôi đọc lướt
qua 242 ca khúc được chị chỉnh lý, công bố nội dung ca từ chợt có nhận xét,
dường như chị đã thanh lọc bớt đi nhiều ca khúc có ca từ “nhậy cảm” chăng?
Không nói đến con số 300, 500 hay 800 ca khúc theo lời đồn đại của công
chúng, nhưng tại thời điểm ra sách, Ban Mai biết rất rõ 288 ca khúc được ông
Phạm Văn Đỉnh (người Việt tại Pháp) công bố trên mạng Internet.
Tôi đọc cuốn “Trịnh Công
Sơn- vết chân dã tràng” lần đầu vào dịp tết Kỷ Sửu. Ngày xuân, sau giờ khai
bút, được đọc cuốn sách nghiên cứu có văn phong mềm mại, lời văn khúc triết,
kiến giải tường minh của một cây bút nữ cũng thấy nhẹ lòng, đọng lại trong
tôi ít nhiều ấn tượng đẹp về tác giả Ban Mai. Nay nghe tin sách bị cấm lưu
hành, có cái gì thôi thúc tôi đọc kỹ lại phần chuyên luận (trang 17- 142)
trong sách của chị.
Công bằng mà nói, Ban Mai
đã chọn một đề tài khó cho luận văn thạc sĩ của mình, bởi đối tượng nghiên cứu
là Trịnh Công Sơn thân phận khá phức tạp, lại quá nổi tiếng, được nhiều người
suy tôn là nhạc sĩ viết tình ca hay nhất thế kỷ XX của Việt Nam. Và vì
thế đã có quá nhiều người viết về con người và sự nghiệp âm nhạc đồ sộ của
ông. Là người đi sau, Ban Mai chắc phải dũng cảm, tin ở bản lĩnh của mình. Chị
chọn hướng nghiên cứu đột phá vào ca từ của Trịnh Công Sơn, chú ý đến tính
triết học của nó, trong mối tương quan nhân quả với hoàn cảnh cá nhân, gia
đình, xã hội, bầu khí quyển triết học, các trào lưu chính trị… Tình yêu Nhạc
Trịnh từ thủa bé thơ kết hợp với cảm quan mỹ học hiện đại và việc sử dụng các
phương pháp xếp chồng văn bản của Charles Mauron, phương pháp liên văn bản do
Mikhail Bakhtin khởi sướng… là chìa khóa giúp chị mở vỉa quặng
ngôn ngữ trong mỏ quặng quý hiếm của ca từ Trịnh Công Sơn.
Đi sâu vào nội dung chuyên
luận, ngoại trừ chương I, Quá trình nghiên cứu là yêu cầu bắt buộc
của luận văn Thạc sĩ, các chương còn lại đều có dấu ấn riêng về sự đóng góp của
tác giả ở mức độ khác nhau, với tư cách nhà nghiên cứu ca từ Nhạc Trịnh. Theo
thiển nghĩ của tôi, có 3 chương không có nhiều khám phá, phát hiện mới lạ về
Nhạc Trịnh là: Chương II, TCS- Tiếng hát dã tràng (trang 28- 41),
lược thuật quá trình làm người, hành trình sáng tạo đan quyện vào nhau trong
con người nghệ sĩ họ Trịnh. Chương III, Vết chân dã tràng ngàn năm in dấu (trang
42- 51), nói về sức lan tỏa và ảnh hưởng của Nhạc Trịnh trong cộng đồng trước
và sau năm 1975; dù khác nhau tuổi tác, học vấn, vị thế xã hội hay đối lập
nhau về chủ thuyết, khuynh hướng chính trị thì người nghe vẫn yêu Nhạc Trịnh
theo cách cảm của riêng mình. Chương V, TCS- người tình của cuộc sống (trang
69- 98), nói về biên độ rộng lớn của tình yêu, sự dấn thân và triết lý vô thường
trong ca từ Nhạc Trịnh. Nhìn chung, đóng góp của tác giả Ban Mai trong 3
chương nói trên chủ yếu là công phu sưu tầm nhân chứng và sự kiện lịch sử, sự
hệ thống hóa và chắt lọc tinh hoa của những người viết trước. Nhờ đó, người đọc
có được hiểu biết khá đầy đủ về con người Trịnh Công Sơn, cùng sự toàn mỹ về
gia tài âm nhạc đồ sộ của ông. Nói như vậy không có nghĩa ở 3 chương này Ban
Mai chỉ thụ động trong đánh giá Nhạc Trịnh. Khi so sánh văn bản Thơ Mới của
Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử… với văn bản ca từ Trịnh Công
Sơn, chị vẫn chủ động đưa ra nhận xét riêng, khá tinh tế, sâu sắc mà những
người viết trước chưa đề cập đến: “ Tuy nhiên, ở đây ta thấy Thơ Mới luôn níu
kéo thời gian, luôn muốn quay về quá khứ nên “chắn nẻo xuân sang”. Còn Trịnh
Công Sơn cũng buồn, cũng tiếc nuối thời gian, nhưng ông hiểu đó là quy luật
muôn đời của tạo hóa nên chấp nhận chứ không níu kéo, cùng hòa vào thiên
nhiên để “chăn gió mưa sang”. Những ca khúc viết về thân phận con người của
Trịnh Công Sơn trước sự sống cái chết và nỗi tàn phai cũng chỉ là đi tìm cái
hữu hạn của kiếp sống. Sự hiện diện của mỗi số phận bắt buộc phải đi qua một
khoảng thời gian nào đó, do định mệnh an bài và cái không gian vô định phải
nhận diện. Theo nhà Phật, đó là nhân quả, là luân hồi, là sự sinh trưởng
không ngơi nghỉ và biến hóa vô cùng để phát triển, tạo nên cái “nghiệp” cho số
phận.” (trang 76). Song có lẽ những kiến giải độc lập, sáng tạo và phát hiện
riêng mới của Ban Mai về Nhạc Trịnh nói chung, ca từ Nhạc Trịnh nói riêng nằm
tập trung nhiều ở chương IV và chương VI.
Trước hết nói về chương
VI, TCS- người ca thơ (trang 99- 133). Đây là cái lõi của chuyên luận,
là hướng tiếp cận chủ đạo và mục tiêu vươn tới của tác giả Ban Mai nên ngòi
bút của chị khá họat và sắc. Mở đầu chương VI, Ban Mai tóm lược hệ thống lý
luận về ca từ khá tinh gọn, chịu ảnh hưởng nhiều của GS Dương Viết Á. Nhưng
chị vẫn có phát kiến riêng mới về mối quan hệ giữa các thành tố: âm nhạc,
ngôn ngữ, bài thơ, lời ca. Đó là mối quan hệ tương đồng, tương sinh, tương hỗ,
song không thoát ly tính dị biệt giữa lời ca với bài thơ. Từ cơ sở lý thuyết
này, tác giả soi dọi vào ca từ Trịnh Công Sơn, đưa ra nhiều kiến giải tường
minh, lý thú.
Nửa thế kỷ qua, nhiều nhạc
sĩ, nhà nghiên cứu đều thống nhất chung một nhận định rằng, ca từ Trịnh Công
Sơn là những thi phẩm kiệt tác ông viểt ra để hát. Ngay cái tiêu đề của
chương VI, Ban Mai cũng mượn lời của Văn Cao-cây đại thụ của âm nhạc VN thời
tiền chiến: “Tôi gọi Trịnh Công Sơn là người ca thơ bởi ở Sơn , nhạc và thơ
quyện vào nhau đến độ khó phân định cái nào là chính, cái nào là phụ.” Bởi thế,
nhiều người công nhận ông là nhà thơ lớn, thậm chí là “Nguyễn Du của thế kỷ
XX”. Song trước Ban Mai, chưa ai tổng hợp ca từ Trịnh Công Sơn theo các thể
loại thơ: 4 chữ, 5 chữ, 6 chữ, 7 chữ, 8 chữ, lục bát và thơ tự do, ca dao, tục
ngữ. (trang 107- 110). Vấn đề tưởng đơn giản, nhưng nó chứng minh nhà thơ viết
nhạc họ Trịnh đã rất giỏi chọn thể loại thơ cho từng ca khúc phù hợp với chủ
đề, đối tượng mà ông phản ánh sao cho nhuần nhuyễn âm luật nhất. Phát kiến thứ
hai về sự lạ hóa ca từ, tuy trước đó đã có nhiều người bàn tới (Bửu Ý, Bùi
Vĩnh Phúc…), nhưng chị là người trình bày kỹ, đầy đủ nhất về cách cắt chữ cuối
câu, thêm chữ thuần Việt vào sau động từ, danh từ và ( trang 117- 125) đặc biệt
là phần trình bầy phương phápĐiệp. Ban Mai đã đưa ra dẫn chứng đầy thuyết phục
các thủ pháp điệp ngữ cách quãng, điệp ngữ vòng tròn, điệp câu với tần số đậm
đặc trong 2 bài “Cát bụi” và “Bống ơi” (trang 114- 115), khiến tôi không khỏi
cúi rạp mình trước thiên tài thơ và âm nhạc Trịnh Công Sơn. Có thể nói hai
phát kiến của tác giả Ban Mai giúp ta hiểu sâu hơn về “thương hiệu” Nhạc Trịnh
lừng lững trong bầu trời âm nhạc Việt Nam nửa cuối thế kỷ XX, dù trước chị mọi
người đã nghĩ hoặc nói đến, nhưng không trọn vẹn.
Chương IV, TCS và chiến
tranh Việt Nam (trang 52- 68), tôi chọn đề cập sau cùng bởi tính nhậy
cảm mà những người như ông Nguyễn Hoàn đã lợi dụng để bài xích cuốn sách và
UBND tỉnh Bình Định ra quyết định cấm lưu hành! Không phải ngẫu nhiên nước Mỹ
gọi Trịnh Công Sơn là một Bob Dylan của người việt và năm 2004, ông qua đời
đã 3 năm vẫn được trao “Giải thưởng âm nhạc hòa bình thế giới” (WPMA). Trước
Ban Mai, năm 1991, cô Yoshi Michiko (Nhật) đã làm luận văn Thạc sĩ tại Pháp về
đề tài “Những bài hát phản chiến của Trịnh Công Sơn”. Nhạc phản chiến của Trịnh
công Sơn có sức lan tỏa ra thế giới bởi ông không đứng về phe nào trong cuộc
chiến. Ông đứng về phe CON NGƯỜI. Trái tim ông thuộc về nhân loại. Ban Mai với
tư cách nhà nghiên cứu ca từ Nhạc Trịnh, chị phải khách quan và trung thực với
lịch sử. Trong chương IV, Ban Mai có quyền nhắc lại những sự kiện sau năm
1975, Trịnh Công Sơn có giai đọan bị nghi ngờ, hắt hủi, thậm chí bôi nhọ là
có thật, nhân chứng vẫn còn sống và họat động. Chị cũng có quyền ca ngợi bài
hát “Cho một người nằm xuống”, nhạc sĩ viết tặng một sĩ quan Cộng hòa Lưu Kim
Cương thay cho bất cứ ai chết trận trong cuộc chiến ở cả hai phía… Tôi tin
đông đảo bạn đọc thông cảm và ủng hộ lời chị viết ở cuối chương IV: “Cho đến
ngày nay, sau hơn 30 năm kết thúc chiến tranh, nhìn lại những chặng đường
thăng trầm của đất nước, có lẽ đã đến lúc chúng ta dũng cảm nhìn nhận lại cuộc
chiến đã qua và thân phận các ca khúc phản chiến của Trịnh Công Sơn” (trang
68).
Gấp cuốn “Trịnh Công Sơn-
vết chân dã tràng” của Ban Mai lại, tôi trộm nghĩ, tác giả có thể có vài thiếu
sót về học thuật, bạn đọc sẽ công tâm đánh giá, nhưng toàn bộ tác phẩm là
khách quan, trung thực, ít nhiều có đóng góp cho nền học thuật nước nhà. Có
thể người ra quyết định cấm lưu hành chưa chắc đã đọc hoặc chỉ đọc lướt qua.
Tôi ngờ rằng có ai đó trong giới văn học nghệ thuật tỉnh Bình Định đã ác ý thổi
phồng mặt nhậy cảm của chương IV mà tham mưu cho “Sếp” lớn trên tỉnh
chăng? Hy vọng công luận và các cơ quan hữu trách ở Trung ương sẽ
trả lại sự công bằng cho tác giả- tác phẩm…
Hà Nội 16/8.2009
|







Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét