Mấy hôm nay, thằng Hai Xuân xem ra có ý lo buồn lắm. Phải, ở
vào cái cảnh như nó bây giờ, thì đến ai mà chả đâm lo; bảo nó không buồn sao được?
Từ ngày mọi người còn thấy nó cầm đôi tay xe chạy trên đường
đê Gia Quất thì thằng Hai vẫn là người vui tính nhất làng.Vào những buổi chiều
mùa hạ sáo diều vo vo réo rắt hay buổi chiều mùa thu gió vàng hắt hiu,trong những
cảnh hoàng hôn của tiết xuân mát mẻ hay của trời đông lạnh lùng;mỗi khi hình thằng
Hai tay vòng càng đi trước cái xe,vẽ cái bóng thật dài trên giải đường trắng
xoá,thì tận trong làng xa lắc xa lơ cũng có người nghe thấy nó cất giọng ồ ồ,nghêu
ngao hát cái bài “xẩm” của nó tuy cụt đầu cụt đuôi thật,nhưng nghe nó cũng hay
hay:
...Còn trời (mà)còn nước,còn non...
Còn cô (mà) còn cô bán rượu,(ý y)anh (a) còn (thì)say
sưa...(chừ này mình ơi... ý y ỳ ý y tang tình tính tang... ! ! !)
Thật vậy ! cái đoạn đời ấy tuy trước mắt bọn giàu chỉ là cái
đời khốn nạn của con “ngựa người” ngày ngày “dang”chân trên mạt đường rải nhựa
khi lửa hạ chang chang,hay bì bõm trên giải đê trơn mỡ đổ khi mưa phùn gió bấc...mà
đối với thằng Hai,nó vẫn cho là vui vẻ lắm...
Nó được vui vẻ nhất là sau khi,trước cái mái trnh lụp xụp nó
đặt “phịch” càng xe,rảo cẳng chạy vào sân, đến chỉnh nước ngửa cổ “tu” một hơi
nước lã thật dài xong thở đánh “hà à à”một cái rất khoái trí rồi cầm mảnh mo vừa
quạt vừa bước vào nhà ngơ ngác nhìn xem bố mẹ đã thổi chín cơm chưa, để liệu dọn
mâm bát,không thì giốc nẹp áo lấy ra một nắm đầy bàn tay những mảnh tròn tròn bằng
đủ thứ:thau, đồng,kền,bạc vừa hào vừa xu đưa cho mẹ mà rằng: “U mua vào đây cho
tôi vài xu diêm thuốc”.
Mâm cơm dọn xong,nó chỉ còn chờ anh Cả cho nó đi làm về là
cùng ngồi vào,tuy bữa nào cũng chẳng hơn gì bữa nào,chỉ rặt cà,tương,dưa muối
mà thằng Xuân ăn thấy ngon.Nó ăn được ngon là vì nó đã kéo xe nhọc mệt cả
ngày,là vì không những nó đã chẳng phải ăn nhờ ai mà lại còn nuôi được bố được
mẹ, đỡ anh,anh nó,một người phu kíp ở ga Gia Lâm,mỗi tháng kiếm không đầy chục
bạc.
Khốn nạn thay cho thằng Hai Xuân! Bây giờ khác hẳn xưa rồi...
đến cái nghề kéo xe kể đã là cùng cực mà nó cũng không đang nổi nữa vì người ta
đã cướp cơm của nó,một cái xe hơi đã vồ phải nó, đánh gẫy của nó mất một bên
chân,rồi vào nhà thương,người ta đền cho nó một cái khác bằng gỗ để mặc nó lộc
cộc chống nạn về nhà...
Bay giờ nó đành phải ăn nhờ vào anh,mà từ khi nó được cái
chân gỗ thì những bữa rau cháo buổi xưa cũng ra điều chểnh mảng,không được đúng
hẹn nữa.Không đầy chục bạc mà bốn miệng ăn... ! lại tiền thuê nhà, ấy là chưa kể
đến những món vặt khác như áo,quần củi lửa...tuy không để đem chôn vào bụng mà
cũng cần như hạt muối,hạt gạo,gia đình nhà nó sống trong một cảnh túng bấn cực
kỳ,chỉ hơn được ăn mày một nước là không phải ngửa tay xin lấy của ai.Gạo đỏ
còn phải ăn kém hơn ngô khoai nên bố mẹ nó,tuy trên đầu tóc đã pha mùi,hàm răng
chiếc đã lung lay,chiếc rụng mặc dầu,cũng đành bưng đến bát cơm ngô,cơm khoai
mà...khốn thay! vẫn thiếu... ! Ðã nhiều lần bố mẹ thằng Hai và nó phải bấm bụng
nhịn đi để anh Cả nó về được ăn no đủ - vì là người kiếm ra tiền – anh nó chẳng
phải tay vừa,nếu để thiếu cơm thì nó sẽ thấy ngay anh nó mắng bố,gắt mẹ,chửi nồi,chửi
rế,chửi đôi guốc đang đi mà đứt quai,chửi xó nhà lắm muỗi vo vo...
Thằng Xuân mấy hôm nay xem ra có ý lo buồn lắm
Một buổi chiều hè kia,sau khi chống nạn lang thang đi khắp đó
đây - từ độ nó què,không có việc gì nó vẫn lang thang như thế - thằng Hai lên cầu
ngồi hóng mát.Lúc ấy có lẽ đến 6 giờ rồi,bụng nó đã thấy đói như cào mà nó vẫn
chưa dám tưởng đến sự về nhà vì nó chắc thế nào anh nó cũng cau cau nét mặt
nhìn nó ra ý bất bình hay hỏi căn vặn nó bằng những câu chẳng được nhẹ nhàng
như khi nó chửa cụt cẳng.Nó đói lắm nhưng nó vẫn cố gượng cho khuây,ngồi nép
vào sát với thành cầu,nó lẳng lặng trông mây,trông nước.
Mặt trời đỏ hỏn như một hòn than tròn đã từ từ rẽ những đám
mây chồng chất lên nhau mà lặn xuống chân trời,trước mắt nó,giẫy núi Tản Viên
ba chòm xanh biếc,mập mờ trong đám sương nhoà dưới chân điểm ngang một nét xanh
xanh biết bao làng mạc, đứng sừng sững như một bức trường thành trên mặt nước đỏ
ngầu.Sông Nhị bấy giờ đang ào ào đập bọt vào mấy chân cầu,dữ dội mà hung hăng
như một người điên bị ai trêu ghẹo.Trông về đằng đông,lại dòng nước Nhị Hà,dài
rộng mênh mang,hai bên bờ xa nhau mờ mịt,mấy cánh buồm căng thẳng,xa lơ xa lắc,sxa
đến nổi tuy con thuyền đang chạy băng băng mà trông vẫn phải tưởng như
không,như chỉ cắm sào một chỗ.
Thành phố Hà Nội,phơi mình dưới một tầng mây dài dằng dặc mà
đỏ ối như thể đám lửa hung hăng,phô lên những rặng mái nhà chi chít nhấp nhô,mảng
đen mảng đỏ,rồi,nhoi lên cao hơn hết thảy,này ngọn cột cờ và ống khói sở Máy tơ
tiêu điều vì không đắc dụng,này đôi trụ nhà Thớ chính đưa ra những hồi chuông
văng vẳng chiều hôm,này mấy cột vô tuyến điện làng Vọng mập mờ mà cao ngất,lênh
khênh như muốn chọc trời.
Trên cầu lúc ấy không thấy bọn người áo quần lam lũ,gồng gánh
qua lại nữa.Cái giờ ấy là cái giờ đuổi bọn người kém phúc này tất tả về
nhà,chúi đầu vào bếp vần nồi cơm gạo đỏ bưng lên xới cho một ông bố hay một bà
mẹ mù loà hoặc ôm vội lấy đứa con gầy ngẳng,từ sáng chưa trông thấy mặt mẹ,nhét
cái vú mướp vào miệng nó mà cất giọng: “à ơi...”,rủ nhau náu mình dưới những
mái tranh lụp xụp cho khỏi làm bẩn mắ bọn tỉnh thành,bọn giàu hay có cái vẻ
giàu bấy giờ đã nghênh ngang,lũ lượt,kéo nhau lên hóng mát.
NHững đoàn xe hơi bệ vệ mà không lịch sự, nối đuôi nhau, tiếng
còi inh ỏi,sang sang,về về,dồn các bác phu xe ngửa ngực kéo, hớt hơ hớt hải chạy
vào những chỗ tránh của họ, hình ảnh cái mãnh lực tuyệt đối của cơ khí bao giờ
cũng chỉ lợi riêng cho một bọn.
Thấy vẽ rỏ ra trước mắt nó cái cảnh phồn thịnh nhường kia, Hai
Xuân tuy là một thằng què, một thằng chân gỗ thật mà vẫn có lòng quảng đại nhìn
đời bằng con mắt lạc quan, chẳng vì thấy mình tàng tật kém người mà thù hằn oán
ghét họ.
Một cặp uyên ương người vận tây, người quần trắng áo lam thung
dung lướt qua mắt nó.
Nó ngẩn người ra! Chưa bao giờ nó được trông thấy cô nào xinh
đẹp đến thế. Nhất là cái mũ nhung đang quay vòng tròn trên hai ngón tay cái với
đôi hoa kim cương lóng lánh với làn tóc mây phất phơ bên đôi má mơn mởn cô làm
nó phải lõ mắt nhìn. “Hai vợ chồng nhà nầy hẳn sướng hơn người !...” lần thần
nó nghĩ.
Người dạo chơi trên cầu dần dần càng đông, đôn gnhư thể rủ
nhau trảy hội.Theo sau cặp trai gái xinh đẹp ấy,một ông béo phục phà phục phịch,hai
bên má chảy xệ xuống như má lợn xề,hình như trời xinh ra chỉ để nhai toàn những
của ngon vật lạ nên cái bụng nghênh ngang trên bộ giò chữ bát chẳng đủ sức
khiêng ông,bắt cái đầu và cái ngực phải dồn cả lại đằng sau. Ông bày bụng ra một
cách vênh váo,bệ vệ đi trước để theo sau,một bà gầy nhẳng cao lênh khênh,mình
lép như bồ kếp,một cái mái đẻ sắp đến hồi phế thải.Hai Xuân cứ bịt mồm nhịn cười
chẳng được vì nó nghĩ ngay đến một miếng đồng dần dần tất phải dài ra nếu bị một
cái búa nặng bên trên cứ ngày ngày nện xuống.
Rồi đến những cậu đầu trần,tóc mượt nhẹ nhàng cưỡi trên những
con “ngựa sắt” sáng choang hay phong phanh trong những bộ áo lót mình kẻ dọc kẻ
ngang sặc sỡ,rồi đến các con nhởn nhơ trong những bộ “cánh cào cào”vàng, đỏ,tím,lam,rồi
có cả một vài cụ già quần lụa áo sa,tay quạt,mắt kính,ung dung dạo gót nhìn non
nước mà chẳng buồn nhìn đến bọn trẻ ranh.
Thằng Hai trông đám người ấy chẳng bằng con mắt ác cảm.Nó rất
ước ao được có ngày thảnh thơi như họ,nó coi họ như hạn người đã được trời
thương,mà trời đã thương ai, đã ban hạnh phúc cho ai thì người ấy đã đành là xứng
đáng.
Còn nó nghèo, nó khổ,nó đổ là tại số. Tại số? Phải, những bộ óc
rắn đặc như óc nó thì bao giờ lý hội sự đời cũng chỉ thấy toàn số,mệnh. Nó không
biết rằng bố mẹ nó đã bị xã hội hắt hủi vào cái cấp hạ lưu đê tiện thì không
còn mong gì ngoi ngóp được lên, đã không ngoi ngóp được lên, thì tiền đâu nuôi
nó,cho nó học hành, mà nó chẳng phải cầm đến cái tay xe? Ðã cầm đến bộ tay
xe, không những nó phải ra sức kéo người có tiền cỡi nó,nó còn phải đem mảnh
thân cát bụi của nó ra chiế đấu với tạo vật,với những tia mắt mặt trời dữ dội
chiếu xuống đốt lưng đốt gáy nó,với những trận mưa trận gió phũ phàng ném những
hạt nước nặng nề thẳng vào mặt nó,thổi tung cát bụi lên làm tối mắt nó hay đưa
lạng cả xe nó kéo về đằng sau,làm tròng trành sang bên phải,bên trái,tròng
trành như một chiếc thuyền.Nào đã hết đâu !...Thắng được tạo vật rồi,nó còn lại
phải chiến đấu nữa,chiến đấu với cơ khí,chiến đấu để nuôi thân.Những ông đại tư
bản,giàu có hàng triệu,có thể nuôi nổi không biết cơ man nào hạng người như
nó,cũng cạnh tranh với nó. Rồi các ông ấy mang ra đường sắt những đoàn xe lửa
hùng hổ để chạy thi với anh cu li bé nhỏ yếu ớt kia.Những ông tiểu tư bản cũng
chẳng tha nó nào,cũng lại cướp cơm của nó. Mỗi khi nó khom lưng kéo chiếc xe tay
thì những tiếng còi inh ỏilàm lọan óc nó,những chiếc xe hơi máy chạy vo vo phun
khói mù trời, dồn nó,hắt nó vào một bên đường để tranh lên bước trước.
Mặt trời vẫn “tưới” trên lưng nó một lớp mồ hôi,khúc đường tráng
nhựa chang chang không một bóng cây vẫn ở dưới châm kim lên hai bàn chân nó,hỏa
trong mình nó bắt lên hai mắt đỏ ngầu,cát bụi bốc lên làm nó tối xẩm mắt lại,
đoàn xe hơi vẫn sùng sục đuổi nhau,rồi không biết thế nào,một chiếc vồ phải
nó, hắt người khách của nó vào một góc đường, hắt nó té nhào xuống đấy.
Khi nó mỡ mắt ra thì nó thấy nó đã được nằm trong một gian buồng
nhà thương Hà Nội. Bố mẹ nó ngồi cả bên giường, tay bưng lên mặt mà khóc tỉ tê;
quan đốc tờ bảo nó đến phải cưa chân.
Nó ngơ ngác nhìn hết mọi người rồi hỏi họ rằng:nó được người
ta đền cho bao nhiêu tất cả?Người ta chỉ nhìn nó mà cười một cách chế nhạo rồi
bảo rằng người ta đền cho nó một cái chân gỗ,chỉ một cái chân gỗ và một cái nạn
thôi,nó đã đi trái luật.Trái luật ư? Không,quyết là không,chẳng khi nào nó đi
trái luật bao giờ,nó còn nhớ rõ,quả thật hôm ấy nó vẫn đi bên tay phải.
Vẫn đi bên tay phải ư?... Ðối vớ hạng người như nó,họ chỉ cần
đáp lại một câu:mặc kệ ! – Thân nó từ đấy què cụt,ai nuôi? -Mặc kệ ! - Bố mẹ nó
già lão thế kia rồi sẽ ra sao? - Mặc kệ !...Họ mặc kệ hết thẩy,nó chỉ đành từ đấy
lê cái chân gỗ suốt đời,vì chẳng ai đã làm chứng cho nó trong lúc tai nạn xảy
ra nó vẫn đi bên phải.
Trên cầu người dạo chơi bóng mát lại càng đông thêm.Thỉnh thoảng,một
cặp trai gái lướt qua mặt nó, để lại cho nó một ít hương thơm thoang thoảng.Nó
bỡ ngỡ đưa hai con mắt nhìn hết người,mà ồ nầy ! chả ai buồn nhìn đến nó,nó chỉ
là một thằng què cụt,rách rưới,khốn nạn,ai nhìn đến nó làm gì...!
Thằng què ! thằng què lòng tự nhủ lòng,Hai Xuân rầu rầu nét mặt
nhìn xuống cái chân gỗ...Những người chung xóm nó,những anh em đồng ngiệp nó ít
lâu nay đã cải tên của nó, đã gọi nó là thằng Hai Què.Thằng què ! ôi đau đớn
!...
Mặt trời lúc ấy đã lặn hẳn,nhường cho những ngôi sao lăn tăn
lấp lánh trên khoảng không trung.Dẫy đèn điện trên cầu,trong một cái chớp mắt,
đã rủ nhau bật đều lên cả,ló ra những đám lửa đỏ hung hung có vẻ buồn rầu và
kèm cho mỗi người dạo mát một cái bóng hiện trên những thửa gỗ lim,nó lặng
im,bé lại hay dài ra tùy ở con người đứng trên một chỗ hay đi đi lại lại.
Trông về Hà Nội,dưới tầng mây bạc lộn vẩy tê tê,thành phố
tung lên một giải hào quang sáng lòa cả mắt mà kéo dài một mạch từ ô Yên Phụ đến
tận Lò Lợn giáp với Thanh Trì,dẫy đèn điện bờ sông ra công “phá tối” sáng quắc
và thẳng băng như chuỗi hạt kim cương.
Cảnh vật đều vui,nhưng Hai Xuân chỉ là một thằng què cụt... !
Nó buồn,buồn lắm!
Rồi nó bỗng thấy nó rất đáng hổ thẹn trong đám đông người ấy,hổ
thẹn như một con vật ghẻ lở trốn vào đâu cũng bị hắt hủi đuổi ra.
Nó không dám nhìn họ nữa,quay mặt vào thành cầu,nó tựa cằm
vào một thanh sắt mà nhìn xuống nước,nhìn những ngọn đèn điện từ trên ánh xuống
bị dòng nước l-oi cuốn đi làm tan nát ra như muôn nghìn mảnh kính,như muốn trôi
đi mà lại như muốn đọng đấy,lửng lơ một chỗ,lạ mắt vô cùng.Rồi nó vẳng nghe thấy
dưới nó tiếng chèo bì bõm,tiếng trẻ khóc oa oa,tiếng cái điếu cày có người rít
một hơi sòng sọc.
Nó cố định thần nhìn xuống;một chiếc tưyền từ từ ở gầm cầu
chui ra,lù lù mà bí mật như một con quái vật nó thường gặp ta trong những đêm
trằn trọc có chiêm bao ghê gớm vậy.
Từ khoang thuyền chiếu ra ánh sáng hiu hắt một ngọn đèn con để
thằng Hai thoáng nhìn thấy bóng một người đàn bà cầm chèo ngả nghiêng đằng
mũi,ngả nghiêng một cách rất táo bạo như có lúc muốn lăn tòm xuống nước,táo bạo
như bóng một con ma đen.
Chiếc thuyền cứ đủng đỉnh mà đi để lại mặt nước chỗ sóng sôi
cuồn cuộn, bọt trắng ngầu ngầu, chỗ xô nhau,xoáy nhau, tròn như một cơn gió lốc,chỗ
lăn tăn vẩy cá và chỗ phẳng lặng lạ lùng, phẳng lặng mà bì bì đóng váng như một
bát nước cơm.
Thằng Hai chợt nghĩ thế,nghĩ đến cách tự tử ấy một cách âm thầm. Nó
sống mà làm gì nữa?...nó chết đi là phải,rất phải, np& chẳng còn nên tiếc gì
đời, cái đời què cụt không kế sinh nhai.Rồi nó khỏi phải đau lòng trông thấy những
tấn tuồng “con mắng mẹ vì thiếu cơm ăn”mà rồi đâu anh nó lại đem diễnra trước mắt
nó,nó sẽ khỏi phải trông thấy cái cảnh tượng bố nó mẹ nó vêu vao nét mặt,ngồi mỗi
người một xó mà nhỏ lệ đầm đìa. Ðược lìa đời,nó sẽ thoát khỏi mọi điều đau khổ.Cái
đời nó nay xoay ra đến thế là tuyệt vô hy vọng,trời không thương nó nữa vì xưa
nay nó chỉ mong có lấy được một bộ chân khỏe mạnh để kéo cái xe tay, để nuôi
thân và nuôi cha mẹ mà thôi. Ông trời ngày nay bắt nó què cụt,nó còn sống nữa
làm gì?...Nó đã đau khổ lắm...Vì đâu nó đến nõi phải liều thân như vậy?Chao ôi
! nếu nó vẫn có đủ cả hai chân như mọi người !...
Hai Xuân mệt quá,mệt lả người đi,thiếp mất đi.
Nhưng một sức mạnh vô hình đã đến bao phủ lấy nó,lay nó dậy,dựng
nó đứng lên,giục nó trông trước nhìn sau chẳng thấy ai đứng đấy thì trèo lên
thành cầu, đăm đăm nhìn xuống nước.Chỉ trong một vài giây đồng hồ nó cũng đủ thấy
rợn,nó nhấm nghiền mắt lại,liều buông tay ra. Ðánh bõm một cái thân nó đã bị
làn sóng cuồn cuộn xuống,nước lạnh ùa vào tai,vào mắt,vào mũi,vào mồm nó,nó như
ngây như dại,nhưn gnó vẫn thấy hình như trên cầu có tiếng người rộn rịp chạy,tiếng
kêu tiếng thét lào xào,họ túm cả vào một chỗ mà chỉ chỏ cho nhau,thảy đều sửng
sốt,những con mắt long sòng sọc xiên qua quãng tôi tìm tòi xác nó,lại văng vẳng
có tiếng người kêu...
Hồ ồ ồ ồ ồ ồ ha a a a a a !...
Một tiếng còi đinh tai làm Hai Xuân giật mình đánh thót một
cái.
Nó bàng hoàng cả người,chớp mắt luôn mấy cái rồi định thần
nhìn kỷ mới biết nó vẫn ngồi gục đầu xuống đấy mà ngủ quên đi mất tự bao giờ,nước
dãi nó đã chẩy ra đầy một bên má nó.Như một vòng trong đèn cù,những người hóng
mát vẫn ung dung lướt qua mặt nó, đến bấy giờ họ mới dừng chân cả lại đứng chờ
xem một chuyến tầu về...
Sình sình sình sình ! sình sình sình sình!...cả cầu chuyển động,trên
đường sắt hiện ra trong đám tối hai con mắt lửa đỏ ngầu,một cái miệng phun khói
ra đen nghịt,rồi như một trận cuồng phong,cái đống sắt đen lù lù ghê gớm ấy
phăng phăng trôi qua mắt nó,kéo một dẫy dài đến mười cái toa những người đông
nghịt,họ đứng lố nhố mà nghênh ngáo nhìn quanh.
THằng Hai đực mặt ra trông chuyến tầu ấy nó đi đến đâ làm
rung chuyển đến đấy như một trận động đất dữ dội,nó làm nhấp nháy muốn tắt cả
hai dãy đèn điện trên cầu mãi đến lúc nó đã đi xa,chỉ để lại cho mọi người một
ngọn lửa đỏ tù mù ở sau toa cuối cùng nó dần dần biến mất đi trong đám tối...
Không,Hai Xuân chưa chết.Nó hãy còn trơ trơ ngồi đó,nó chưa
ném mình xuống nước bao giờ;Nó nghĩ đến cái chết dại dột kia mà chợt rùng
mình,rùng mình lạnh toát cả người như trong một cơn (...) 1 thấy muốn
đứng dậy lần về nhà nhìn mặt bố mẹ nó,nhìn mặt anh nódẫu rằng anh nó,nó cũng bằng
lòng.Rồi nó cầm lấy nạng.
Bỗng nó thấy đói lắm, đói đến nổi không đứng lên được nữa,
đói quá đi mất.Nó lại thấy lâm râm hơi đau bụng mà chân tay nó mỏi lả đi như đã
mất hết cả gân.Nhưng biết làm thế nào?nó chỉ đành cố sức đứng lên,chống nạng mà
đi,cái nạng gỗ rắn quá,cứ đâm nhoi nhói vào chỗ xương nách nó chửa quen
dùng,làm đau chết điếng người đi được.
Ði hết cầu,xuống đường đê thì trời tối đen như mực.Nó cứ nghe
tiếng mấy người đàn bà đi trước nó mà lần theo họ,theo mãi đi đến nữa giờ. Rồi
nó dừng chân trước một mái gianh, một cái lều tồi tàn, đổ nát, rách rưới ở ngay đầu
xóm,bên trong có ngọn lửa to bằng hạt đậu, ánh sáng tiêu điều lách qua phên cửa
chiếu ra. Nó chưa dám vào ngay, nó còn lẳng lặng nghe xem sao đã.
Thốt nhiên như có một cơn gió buốt xiên vào tai, vào gáy thằng
Hai làm nó rét lạnh cả người, từ đầu đến chân run như cầy sấy,rõ ràng như có tiếng
mẹ nó,người mẹ rất thân yêu của nó sụt sùi, như muốn khóc mà như cố nín,cố nín
vì phải sợ ai. Nó rón rén tiến gần đến cửa,vén cái mành mành rách lên,nhịn thở
nhìn vào. Ôi ! một cảnh buồn!...buồn chết người đi được!...
Bố nó,một ông lão ngót 60 tuổi,cởi trần,gầy gò như một bộ
xương,ngồi một góc phản,hai tay để trên hai đầu gối, đầu cúi về đằng trước,ngây
người ra như một cái tượng.Mẹ nó ngồi sệp dưới đất,gục mặt xuống đầu gối,hai
tay ôm chân,còn anh Cả nó thì nằm thẳng cẳng trên giường,chốc chốc lại dằn vặt
chân tay như đang có chuyện gì làm bực tức đến cực điểm.Mẹ nó vẫn tỉ tê khóc
lóc,chợt anh nó ngồi vùng dậy như bị một cái lò xo sai khiến rồi đập tay xuống
bàn đánh “bộp”một cái mà quát:
-Bà thương nó phải không?Bà cũng phải biết mới được chớ!Nó có
là bố tôi đâu?Bà còn tỉ tê nổi gì?
Hai Xuân đứng ngoài tái mặt đi.Vì nó,anh nó đã sinh chuyện với
bố mẹ rồi.Nhưng nó vẫn phải lẳng lặng đứng nghe,bố nó vẫn ngồi yên,chẳng nói chẳng
rằng,mẹ nó vẫn sụt sùi,tay bưng lấy mặt.Anh nó lườm mẹ nó một cách trông rất khả
ố rồi lại nằm vật xuống giường,thở dài một cái ra chiều rất chán nản.Sau một
lát,anh nó lại xấn xổ nói:
- Này tôi bảo thật,lần này là lần cuối cùng đấy...nếu cái thằng
mặt chó ấy nó vác xác về đây thì cả ông cả bà liệu mà bảo nó đi đâu thì đi...biết
chưa? Ông bà đã nghe chưa?...tôi chỉ có một bố thôi nhé!...Năm nay tôi ngót ba
mươi tuổi đầu rồi mà chưa có vợ con gì cả,vẫn cô độc cô quả thế này là vì những
ai?... ông bà có biết không?Nếu bà thương nó thì bà đi ngay đi...có gì ghói
ghém ngay lại mà đi theo nó... đi ăn mày với nó...Rồi lại chả lo được ăn mày cả
lũ cho mà xem à?...nay mai nhà máy loại người thì biết ngay chứ khó gì...!
Mẹ nó đến bây giờ mới hậm hực nói:
-...Thì rồi tao bảo nó,việc gì mày phải vội mắng tao...?mày
không nuôi nó nữa thì thôi mà... để tao bảo nó mà... để tao đuổi nó đi mà...tao
vẫn bảo.
Anh nó lần này quát lại to hơn trước:
- Vẫn bảo à?vẫn bảo mà để mấy tháng nữa?sao không bảo ngay đi
có được không?
Bố nó bấy giờ mới khẻ nói:
- Ở thì ở chứ mấy hôm nay nó có dám xin ăn xin uống gì đâu!
Anh nó ra ý tức đến cực điểm lại gắt:
- Thôi đi ông... ông đừng vào hùa nữa...nó không ăn gì thì
chó ăn à?chó ăn cả đấy à...
Nghe đến đây,thằng Hai thấy trong mình sôi máu lên sùng sục.Nó
những muốn nhảy xổ ngay vào nhà,giơ nạng lên mà phang cho anh nó luôn mấy
cái,nhất là đến vỡ đầu sứt trán thì thôi.Nhưng anh nó bỗng lại thấy ngồi nhỏm
lên,vớ lấy cổ cái chai để trên bàn,nện xuống đánh “thình” một cái rồi giơ chai
như muốn xỉa xói vào mặt ông bố:
-Ðể tí nữa nó về đây xem! Tôi sẽ hỏi nó xem mấy hôm nay,nó
không ăn gì sao nó sống được...tôi sẽ đập cái chai này vào mặt nó xem nó có phải
nói thực không thì sẽ biết...muốn chối mà được à?
Hai Xuân rùng mình...Trống ngực nó bỗng thấy đập mạnh,hơi thở
nó bổng thấy hồng hộc,nó thở ra khò khè cả lổ mũi.Rồi nó sợ hải quá,sợ hải quá
đi mất,tưởng chừng như anh nó đã nghe thấy nó thở, đã biết là nó đứng đấy nên
nhẩy xổ ngay ra,cầm chai thẳng cánh dơ lên,toan đập vào giữa trán nó.Nó vội dơ
tay lên như muốn đỡ,chống nạng giật lùi mấy bước rất kinh hãi,ngẩn ngơ như kẻ mất
hồn,như đã bị một thương vào trán thật.Trước túp lều tranh ấy,trong đám tối ấy,nó
đứng ngây người ra một lúc rất lâu.Rồi nó thấy ghê quá,sợ quá,không dám (...) 2 gót
lủi thủi chống nạn bước đi,bước liều đi chẳng biết đi đâu,trong lòng nửa buồn nửa
tủi,phần thương bố mẹ,phần giận anh đau đớn đến tê dại cả người,nó cứ lủi thủi
bước đi,trốn tránh đi,buồn rầu như một con chó cụp đuôi mà chạy vì có người đuồi
theo ném đá.
Nó cứ lần mò trong tối,chống nạn mà đi,cứ đi thế mãi.Chợt nó
đứng dừng lại,ngạc nhiên lắm,rồi tự hỏi:ta định đi đâu bây giờ?...rồi nó đứng ỳ
ra đấy,chẳng biết nghĩ sao.Nhưng sau nó nhớ ngay đến một chỗ bờ đê gần đấy có một
cây nhãn rất to,dưới gốc mặt đất nhẵn lì vì ban ngày,những trẻ chăn trâu vẫn họp
nhau đánh đáo,cây cao bóng mát, có thể hứa với nó được một giấc ngũ no say,không
phải lo gì đến chuyện rắn,rết. Nó lại trông thẳng mà bước chân đi,chưa được bao
lâu đã thấy hiện ngay ra trước mắt nó cái bóng nhãn lù lù mà nó đang mong mỏi.
Nó ném mình vào chỗ tối ghê tối gớm ấy,tay quờ quạng tìm một
rễ cây để gối đầu nằm kềnh xuống đất,vắt tay lên trán mà thở hồng hộc như bò.
Chung quanh chỗ ấy,cánh đồng rộng thênh thang,lác đác vài nơi
ngoi lên những rặng tre lố nhố, đều đắm đuối trong một bức màn dày,lúc đó càng
thêm mù mịt vì những đám mây đen nghịt đã kéo đâu về,che lấp cả các ngôi sao.
Những tiếng “ộp oạp” đưa lên inh ỏi,những tiếng chó sủa văng
vẳng lao xao,lại trên không,những đàn vạc ăn đêm thỉnh thoảng bay qua, đua nhau
kêu líu ta líu tíu.Một cơn gió mát lạnh, đượm những hơi mưa,thổi điều hòa, đập
rào rào vào vòm lá nhãn,khởi ra mùi bọ xít thoang thoảng hôi nồng nặc.
Hai Xuân nằm lăn dưới gốc,chân tay uy đã mỏi như dần mà mắt vẫn
còn thao lắo nhìn đêm,cái đêm tối tăm, đau khổ,cái đêm không giăng,không
sao,cái đêm bí mật,nặng nề của những chuyện tự tử,quyên sinh..
Thôi,từ đêm ấy trở đi,nó không còn mong gì bước chân về nhà nữa,nó
đành phải bỏ túp lều tranh rách rưới,tồi tàn mà rất thân yêu ấy,bấy nay trong
hai mươi mấy năm trời đã quây quần dưới mái nào cha,nào mẹ,nào anh và nó, đã đếm
qua những ngày giờ vui sướng cũng như ngày giờ đau khổ, đã bao lần che chở cho
nó được yên thân trong những cơn vũ bão tưạ như lở đất long trời.Rồi đây,thân
phận nó sẽ nổi,chìm,rôi,giạt,lênh đênh như những cánh bèo mặt nước,như những mảng
bọt giữa sông,cái chân gỗ nặng nề đã phá tan trong óc nó mất mối hy vọng đến những
ngày no ấm, đã bầy ngây ra trước mắt nó cái đoạn đời khốn nạn của người hành khất;lúc
mưa cũng như lúc nắng, đến cửa nhà nào cũng chỉ như để đợi nghe cái câu bất tử:
“không sẳn !... đi đi”.
Ðau lòng quá đổi,thằng Hai tay bưng lấy mặt,khóc lên rưng rức.Chợt
một cơn sấm động u ù làm nó sợ hãi đến bay hồn.Trên trời bấy giờ sấm chớp đùng
đùng,gió thổi lại càng thêm mạnh. “Chết nổi ! mưa bây giờ thì mình ra sao?...dễ
thường số mình bị trời đánh chắc?”Nó vừa bâng khuâng nghĩ thế thì đã thấy “lộp
bộp” một vài hạt nước mưa to ném xuống như mấy tiếng dạo trong một khúc đàn rồi,theo
sau vài cơn gió mạnh,bài âm nhạc sầm sập,rào rào chỉ những cơn gió thổi từng
cơn,tiếng nước tơi rả rích kéo dài cái điệu buồn buồn mà tẻ ngắt vì không thay
đổi,cái khúc âm nhạc rả rích “trời mưa”.
Thằng Hai phải vớ nạng đứng ngay lên,tìm cách náu mình,lom
khom ẩn dưới gốc cây.Thỉnh thoảng,một vài giọt nước rơi vào mặt,vào đầu,vào
gáy,vào lưng nó,làm nó rét run lên cầm cập mà dưới đất,những hạt mưa lăn tăn bắn
lên chân nó làm nó thấy ngứa ngáy khó chịu vô cùng.Nhưng nó chỉ đành lom khom đứng
yên một chỗ,lưng mõi rả rời,chốc chốc ngoáp dài một cái rồi lại nhìn đến cơn
mưa,cái cơn mưa trút nước của những ngày hè uể oải,có dư sấm sét rất đáng lo ngại.Hai
ba lần,nó phải bưng tai,nhắm mắt,trong lòng hồi hộp mà chờ cái chết vì ngay
trên đầu nó thấy những cơn “ùng ục”dữ dội.Cũng may,những con ma chắc không bay
đến ẩn mình vào cây nhãn ấy (?)nên những tiếng sét “đoành đoành” đi sau ngững
giây chớp sáng quang đã tha cho nó,chỉ đánh xuống những nơi ở tận đầu xa.
Nó cứ đứng thế,mặt đất sũng nước đã ngập cả một bên chân nó
tưởng chừng như mưa không bao giờ tạnh được.Nhưng độ một vài giờ sau thì hết
cơn mưa.
Hai Xuân bấy giờ đã nhọc lắm, đến chân tay cũng không buồn cử
động nữa.Rồi cái đói giúp cái nhọc nó chẳng còn bận tâm lo nghĩ chuyện gì,nó đổi
chỗ đứng,một tay vòng nạng,một tay kê sau gáy để đỡ lấy đầu,nó cứ việc tựa lưng
vào gốn nhãn,chống tay vào nạng gỗ mà đánh một giấc ngủ rất say sưa,cái giác
nguy hiểm của những nguời bụng đói như cào,có khi ngủ không dậy nữa.
Nó cứ đứng thế mà ngủ được mãi đến khi trời tang tảng
sáng;mãi đến khi có một đàn kiến bị nước phá tổ nhung nhúc bò ra,một vài con đỏ
như lửa mà to như hột thóc bò lên bàn chân thịt của nó,cong đuôi đốt nó,nhoi
nhói như kim châm.Hai Xuân bấy giờ mới vùng thức dậy,dụi mắt,rũ kiến rồi ngơ
ngác nhìn cũng hơi ngạc nhiên vì mình đã ngủ,trời tuy đã sáng nhưng chung quanh
nó,nó chẳng nom được rỏ vật gì,nó chỉ thấy một mầu trắng toát,một bức màn
sương,nhưng vì nghĩ ngay đến chuyện về nhà,nó cũng cầm lấy nạng.
Trên đường đê lầm lội mà trơn hơn rêu bám,thằng Hai lủi thủi
chống nạng về nhà, đi giữa cái “đám rước”những cốc và giun,những con nòng nọc mới
đứt đuôi lăn tăng nhảy trước mặt nó và những con giun đen xì xì,to như cái đũa
ngọ nguậy bò dọc bò ngang,vẽ trên đường đi những vết dài dài. Thằng Hai cứ việc
bước đi, lội lõm bõm mà đi.
Về đến gần nhà, nó dừng chân lại đứng ngẫm nghĩ. Chắc hẳn bây
giờ thể nào anh Cả nó cũng ra ga rồi, trời chưa sáng rõ là vì có sương, nó vào
bây giờ chỉ còn việc là lạy từ cha mẹ. Nó đến cửa,khẽ gõ mấy cái vào phên thì cửa
mở ngay. Mẹ nó có vẻ ngạc nhiên hỏi nó:
-Mày ngủ đâu về thế con?
-Dạ,tôi ngủ đằng nhà anh Xã.
-Thế à... thế đã cơm nước rồi đấy chứ?
-Ðã,anh ấy gọi tôi đánh chén vì hôm qua,anh ấy phát tài to.
-Sao quần áo mày ướt đầm cả thế kia?
-Nhà giột
-Sao tối hôm qua mày không về?
-Có,tôi có về.Anh Cả nói với thày u những gì tôi đã biết hết...Tôi
thấy thế nên tôi lại đi...thế anh ấy đi làm chưa u?
-Nó đi rồi...vào,con... !
Theo sau tiếng thở dài của mẹ,nó bước chân vào, ố ! này lại...bố
nó vẫn ngồi một chỗ như đêm hôm trước.
-Thầy đã dậy làm gì thế?
-Ðã ngủ đâu mà dậy? Đêm qua có ai ngủ đâu?
Rồi bố nó cũng thở dài như mẹ nó.Hai Xuân bấy giờ mới định
nói thật,có nói vì thấy ấp úng,khó khăn chẳng khác gì một đứa trẻ con bập bẹ:
-Thầy u ạ,tối hôm qua,anh ấy nói với tôi những gì,tôi đã biết
cả.Tôi về bây giờ là để lấy mớ quần áo cũ và cái thẻ của tôi để tôi đi đây...tôi
phải đi chứ tôi ở nhà thế nào được?
Rồi nó đứng cúi mặt nhìn xuống đất,trong lòng thật đau đớn,cố
cầm lấy nước mắt lúc đó đã thấy chạy quanh.Mổi phút im lặng mà tưởng như rất
lâu,bố mẹ nó vẫn không đáp nó,nó chỉ nhận được hai tiếng thở dài áo não vô cùng.Hai
Xuân nói tiếp:
-Tôi cũng biết...thế này là phiền não cho thầy u lắm...thầy u
chẳng nỡ,thầy u vẫn có bụng thương tôi,nhưng khốn nổi là nếu ở nhà,tôi không
làm gì kiếm ăn được...Thầy u có nuôi được tôi đâu?tôi không đi cũng không xong
mà... !
Mẹ nó vẫn đứng ngây người như một khúc gỗ,nó phải giục:
-Kìa u ! u lấy đi cho tôi... để tôi đi cho sớm sủa.Tôi đi thế
này tôi cũng khổ lòng lắm,nhưng thôi,thầy u cũng chứ lo phiền,rồi dăm ba ngày một
lần,tôi sẽ về thăm thầy u,thầy u không sợ.
Mẹ nó bấy giờ đưa cho nó một gói nhỏ trong cái khăn bọc ngoài
đã bạc phơ,bảo nó:
-Cả mấy cái quần áo cũ và cái thẻ u gói kín trong này đây, đừng
bỏ mất đâu mà khốn.
Nó đỡ lấy gói,lần đến một góc nhà với một cái nón rách xuống,
đội vào đầu:
- Thôi,thầy u ở lại,tôi đi đây...tôi đi rồi tôi về luôn, đừng
nói gì cho anh ấy biết.
Ông cụ ấy vẫn không đáp nó,chỉ nằm xuống giường để tay lên
trán.Hai Xuân vừa bước chân ra khỏi nhà đã thấy bên trong bố khóc lên hậm hực.Nó
đau lòng quá đỗi,mẹ nó cũng theo nó bước ra,nắm chặt lấy nó như chẳng nỡ dời
tay.Nó giương to con mắt nhìn cái mặt răn reo, đau đớn mà thân yêu ấy một lần
cuối cùng,nhìn túp lều tranh âu sầu, ủ dột,l&uc đó cũng đang thanh thót rỏ
lụy,rồi khẻ bảo mẹ:
-U buông con ra buông con ra cho con đi...
Bà cụ đờ đẫn buông tay,ngơ ngẩn nhìn con,mi mắt và mồm như bị
một cái gân tai ác giật lấy giật để.Rồi bà cụ đưa ngang cánh tay lên mặt.Hai
Xuân tần ngần đứng đấy,trông mẹ khóc mà cảm động quá,thương quá nhưng sau ý chừng
cũng biết rằng đem nước mắt mà chống với cuộc đời thật chẳng lợi gì,nó dằn lòng
quay mình,mắt đăm đăm nhìn xuống đất,mặt có vẻ dữ tợn đáng ghét,nó rảo cẳng bước
đi,bước thẳng đi một mạch.
Bà cụ mẹ nó,vẫn tay bưng lấy mặt,rung động hai vai,mãi đến
lúc con đã đi xa mới mỡ mắt ra nhìn.
- Hai ơi !... ời Xuân ơi !...Xuân ơi...
Không biết bụng nghĩ ra sao mà bà cụ ấy gọi con rối rít,nhưng
vì đã đi xa lắm,nó không nghe tiếng,cứ việc cắm cổ mà đi.Rồi thấy bà cụ ấy chạy
theo con,vẫn ra sức gọi
Thương thay ! mái tóc hoa râm đã điểm 60 tuổi trên đầu mà bà
cụ ấy vẫn chưa biết mình thân già tuổi yếu, ton ton chạy được vài mươi bước thì
chổ mặt đê trơn như đổ mỡ đã làm bà cụ té nhào lắm lét từ dầu đến chân, nằm
trong vũng nước đầy vừa run vừa khóc. Bà cụ ấy ngã đau, đau lắm nhưng cũng cố gượng
chống tay nghểng cổ mà nhìn,nhìn đến đứa con thân yêu kia, nhìn đến thằng Hai
lúc ấy chỉ còn như một cái chấm trông thẳng về Cầu Sắt Hà Nội mà đi, dần dần biến
mình vào đám sương mù...








Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét