76 tuổi đầu, mỗi bữa thất thểu
ăn một lưng cơm, bà lão lòa ở nhờ một đứa cháu họ, thật đã lắm phen cực nhục.
Cháu bà, một bác đánh giậm, với vợ, một chị mò cua bắt ốc, khốn thay, dưới nách
hai đứa con mọn, cũng đã lắm phen nhăn nhó vì chẳng đủ ăn.
Hai mươi năm về trước, bà lão
lòa này còn là người có của trong làng. Con trai bà nó chơi, nó phá, nó bán ruộng,
cầm nhà rồi nó bỏ bà nó đi, chẳng biết đi đâu, lòng mẹ đối với con tuy có giận
mà vẫn có thương, bà khóc lóc một mình đến nỗi lòa cả mắt. Trong thời bà còn
giàu có, ngoài những việc cúng tiền tô tượng đúc chuông, bà còn năng giúp đỡ kẻ
nghèo khó; trong họ ngoài làng, nhiều người đã được nhờ bà mà đến khi gặp bà bước
khốn cùng thì chẳng ai thương cả. Cũng vì xưa kia đã nhiều phen ngửa tay nhận lấy
đồng tiền cứu giúp của bà, bác đánh giậm đành cắn răng, vuốt bụng, nhắm mắt
nuôi cô trong lúc hoạn nạn.
Nhưng vốn bị ma nghèo ám ảnh,
mới nuôi cô được độ ba năm, bác đánh giậm đã thấy nản lòng. Cái cảnh túng bấn
nó thường đẩy người ta vào chốn bùn nhơ, nó thường buộc người vào vòng tội lỗi,
đối với bác đánh giậm, ác hơn, nó làm bác quên bỏ cả lương tâm. Quên hẳn cái ơn
ngày trước, bác ta chỉ còn biết xót ruột khi bà lão lòa lò rò ngồi vào mâm, cướp
cơm của vợ, của con nhà bác.
Buổi chiều hôm ấy...
Trước túp lều tranh xiêu vẹo
như chỉ còn chờ một trận gió to là đổ ụp xuống, cái sân đầy những bã mía, lá
khô, một mâm cơm bát đàn đũa mộc trong để đĩa cá rô kho chuối với đĩa cá đen sịt
đen sì, cầm trên tay mấy bát cơm ngô vàng ói, bà lão lòa, bác gái và hai đứa bé
chỉ còn chờ bác trai rửa mặt rửa chân tay, ngồi vào là cùng cầm đũạ Đàn ruồi vù
vù bay lung tung như đánh trận, hết bâu đầy vào mấy nốt mụn chốc trên đầu thằng
cu con lại bay xuống đặt mình vào đĩa cá.
Bác trai, người mảnh khảnh,
đen như củ súng, trán răn, má hóp, mắt kèm nhèm, mặc cái áo vải vá đã đến năm
mười miếng mụn, đóng khố, vừa ngồi xổm xuống đất cầm lấy bát cơm, vợ đã vội hỏi:
- Bố nó hôm nay kiếm được
bao nhiêu tất cả...? Ấy tôi chỉ được có bốn sóc cua hai xu với một mẹt tôm riu
năm xu là bảy đấy thôị Gạo ăn bữa mai hết rồi...
- Hôm nay được thêm mẻ lươn
thì, ác quá, gặp đứa nào cũng trả rẻ, lang thang khắp chỗ, mãi đến chiều chẳng
thấy ma nào hỏi lại phải bán tống bán tháo đi... cả ếch cả cá cũng chỉ được
ngót hai hào.
Vợ nhìn chồng thở dài rồi lại
nhìn đến niêu cơm. Thằng cu lớn xới một bát nhường cho em, còn mình thì cầm cái
đũa cả, gắp những hột còn dính lại. Bà lão lòa, ăn hết một lưng, tay lẩy bẩy
chìa bát ra toan xin ít nữa, chưa kịp nói, bác gái đã quát:
- Hết rồi...! Còn đâu nữa mà
chìa mãi bát ra... Đến tôi đây quần quật suốt ngày, đã ốm cả xác mà cũng chỉ được
có ba lưng thôi đấy... Bà không phải làm gì, ngồi nhà ăn ít cũng được.
Bà lão giật mình, đớ người
ra một lúc rồi đứng lên đi vào trong nhà, ngồi xuống bậu cửa, lấy cái tăm gài
trên mái tóc xuống xỉa răng.
Mặt trời sắp lặn, còn xiên
qua lũy tre xanh, tầu lá chuối mà rọi ánh sáng đỏ đó vào gian nhà. Dưới những
đám mây thiên hình vạn trạng mầu cá vàng chăng dọc chăng ngang phủ kín một bầu
trời, một đàn sếu xếp hàng chữ nhân bay từ Bắc về Nam, vươn cổ kêu oang oác.
Trên mấy ngọn tre gió thổi ngả nghiêng, dăm ba con chèo bẻo tung tăng chuyền
cành này sang càng khác, còn đua nhau hót như muốn cất giọng chào mặt trời truớc
khi vào tổ.
Bà lão lòa ngồi trầm ngâm chống
tay lên trán, nhân hôm ấy chiều trời êm ả, gió thổi hây hây, chim kêu xào xạc
mà một mảnh đời dĩ vãng như một luồng chớp nhoáng, trong trí bà lại thấy hiện
ra:
Ngoài cổng, một ông lão ăn
mày lụ khụ đến ăn xin. Con vện con vàng đang nằm trong sân bỗng nhảy xổ ra cắn
xa xả. Tiếng một bà ngồi trên sập gụ bên trong quát thằng nhỏ ra mắng chó, giắt
ông lão ăn mày vào thết một lưng cơm.
Bác nhiêu B, vừa bị nạn hỏa,
rủi đâu, vợ lại hậu sản mà chết. Trong gian nhà lụp xụp, thằng cu lớn, cái đĩ
con ngồi mã la mã lệnh với thằng cu mới đẻ, cuộn tròn trong cái tã nâu, nằm
ngay cùng giường cái xác mẹ nó. Tiếng ba đứa trẻ khóc như rị Cả đêm hôm trước,
bố chúng nó ôm đầu mà khóc, sáng hôm sau mới bảnh mắt đã thấy đội nón ra đi, mặt
trời lên đến đỉnh đầu rồi mà chưa thấy về, bụng chúng nó đói cào như muối xát.
Bỗng thấy ai nói văng vẳng như tiếng bác nhiêụ Thằng cu lớn quệt nước mắt, lủi
thủi bước rạ.. Quái thay! Một bà khách lạ nào miệng bỏm bẻm nhai trầu, váy sồi,
áo lụa, xệ nệ trên đôi dép da cong, bước vào nhà ôm lấy thằng cu con mà kêu: tội
nghiệp! Rồi thấy bà khách cởi hầu bao, lấy ra một cuộn giấy bạc, bác nhiêu đưa
hai tay nhận lấy, dòng dòng nước mắt tạ ân.
Giữa chợ gần chỗ hàng gà,
hàng cá, mùi hôi tanh xông lên nhức đầu, một đám đông xúm quanh một người đàn
bà ăn mặc rách rưới, tay ôm đứa bé chừng bốn năm tháng.
- Thưa bà, cháu chỉ lấy có
năm đồng thôi đấy ạ.
- Thôi, chả của đâu mà trả đến
năm đồng. Trông gầy thế kia, biết rồi có sống được không? Ba đồng đấy, bằng
lòng đi!...
Người nọ xô người kia, chen
nhau len vàọ Có người đứng ngoài, không hiểu chuyện, tưởng họ mặc cả gà, khi kiễng
chân, nghển cổ nhìn vào mới rõ. Giọng nói phều phào một bà cụ già lụ khụ:
- Rõ tội nghiệp chưa! Tôi mà
có năm đồng thì tôi trả ngaỵ..!
Bỗng có một bà ăn mặc lụa
là, người trông phúc hậu, len lỏi vào cất tiếng dõng dạc hỏi:
- Này nhà bác kia! Làm gì mà
đến nỗi phải bán con đi thế?
- Thưa bà, nhà con phải bệnh,
liệt giường liệt chiếu đã hơn nửa tháng nay, không có tiền thuốc thang gì thì
chết mất. Con phải bán cháu đi để cứu lấy nhà con, mất đứa này còn mong đẻ đứa
khác chứ để chồng chết thì rồi tất chết cả mạ con cháu.
Nước mắt chảy xuống dòng
dòng, nỗi thương đưa lên nghẹn cổ, người đàn bà không nói được nữa, gục đầu xuống
mặt con mà khóc nức nở.
- Nàỵ..! Cứ ẵm cháu về, đừng
có bán nó đi mà phải tội đấy! Năm đồng đây tôi xin giúp. Hãy cầm về mà liệu thuốc
men cho bác trai.
Người kia ngạc nhiên ngơ
ngác nhìn lên, mãi chưa dám tin là thật, bàng hoàng như đang lúc chiêm bao, giơ
tay ra nhận tiền, rồi không biết nói thế nào với vị ân nhân của mình, phục ngay
xuống đất mà rưng rức khóc. Đám người tản mát, có kẻ thì thào: người đâu mà
phúc đức tệ!
Ấy đó, đổi lại bao nhiêu điều
thiện xưa kia ông trời cay nghiệt nay đều trả bà bằng hai con mắt lòa với một cảnh
ăn gửi nằm nhờ cực kỳ khổ sở. Cho rằng kiếp xưa tiền oan nghiệp chướng chi đây,
nghĩ thương mình, thương đứa con bất hiếu, thương vợ chồng con cái bác đánh giậm,
bà lão lòa thổn thức, trên hai gò má răn reo lại thấy mấy giọt nước mắt chảy
ròng ròng. Bà lão gục đầu xuống gối tỉ tê khóc không ra tiếng, chỉ thấy sụt sùi
hậm hực, khiến thằng cu con lò rò bò đến với bà, không hiểu ra sao bỗng cũng
khóc thét lên. Bác gái chạy vào bực mình xỉa xói:
- Này bà! Bà đừng làm sốt ruột...!
Bà ăn xong bà đã chẳng làm được việc gì thì cứ ngồi yên một chỗ hay ẵm cháu
giúp tôi, bà đừng có sụt sùi khóc lóc, đây không ai chết mà bà phải khóc...
Giọng nói day dứt mà lanh lảnh
như từng nhát búa bổ vào thành sắt vang động bên tai, bà lão hoảng hốt trong
hai con mắt lòa trợn trạo cầm nước mắt cho khỏi chảy ra, trông rõ đôi tròng trắng
đảo đi đảo lại...
- Trời làm đói kém thế này,
vợ chồng chúng tôi không thể nuôi bà được nữa đâu, bà phải liệu mà giúp đỡ
chúng tôi mới được. Rồi từ mai trở đi, để thằng cháu nó giắt bà ra đầu đê, bà
ngả nón dưới bóng cây gạo mà ngồi, thấy tiếng người chợ búa qua lại thì bà chìa
rá ra xin, nếu có được mỗi ngày một vài xu cũng là đỡ được cái mồm bà rồi đấy...
Đã được nửa tháng nay, sáng
nào cũng thấy thằng cu lớn dắt bà ra ngồi đầu đê rồi chiều đến lại dắt về.
Trong bọn những người chợ búa qua lại con đường cái quan, tạt vào đường đê, thấy
một bà lão lụ khụ, hổn hển thở, ngẩng đầu chìa nón kêu van, cũng đôi khi có người
vứt cho một vài đồng kẽm. Chẳng may, nếu hôm nào về tay không thì vợ bác đánh
giậm - cháu bà - lại nghiến răng xỉa xói thậm tệ:
- Hôm nay chẳng ai thí cho
bà đồng nàọ..! Bà có biết thế là bà lại ăn phần cơm của thằng cu lớn đấy không?
Từ mai, bà liệu mà kêu to lên mới được... Hay tại bà ngồi dưới bóng cây mát mà
ngủ thiếp đi...? Bà liệu đấy...!
Bát cơm ngô điểm quả cà
thiu, bà lão lòa trước khi và vào mồm đã chan đầy như canh bằng nước mắt.
Một ngày kia, trời tháng ba
nắng gay gắt, bà lão lòa dưới gốc cây gạo, ngồi từ sáng đến quá trưa, bụng đã
đói mềm mà chẳng thấy nguời khách đi đường nào vứt cho lấy một đồng trinh. Trên
cành cây, thỉnh thoảng lộp độp rơi xuống đường đê một vài bông hoa gạo, mỗi khi
quạ cái tha mồi về tổ cho con lại đập cánh sập sè vươn cổ kêu: quà! quà...! như
gợi một mối thương cho người ngồi dưới gốc.
Xa xa, trong cánh đồng bát
ngát một màu xanh, mấy người làm ruộng nhễ nhại mồ hôi, chẳng ai buồn nói chuyện
với ai. Một đàn chim vành khuyên trong bụi rậm kia đang chuyền cành này sang
cành khác cũng không con nào kêu hót, kiếm ăn một cách rất lặng lẽ. Phong cảnh
dường như mệt mỏi. Những tiếng vang động đều bị sức nóng mặt trời át mất hẳn
đi. Trên con đường cái quan, thỉnh thoảng thấy tiếng một cái xe hơi như một mũi
tên bay, vo vo chạy qua rồi biến mất vào trong đám bụi mù xa tít,... bốn bề im
lặng như tờ. Hai cánh tay khẳng khiu ôm lấy bụng mà nhăn nhó, cố quật lại với
cái đói nó cào xé ruột gan, bà lão lòa thở hổn ha hổn hển.
Chợt có tiếng người dẫm lạo
xạo trên đống lá khô, đi về phía mình bà lão vội chìa ngay nón:
- Lạy ông đi qua, lạy bà đi
lại...! Cứu cho thân tôi lấy một miếng cơm...
- Tôi đây...! Phải ai đâu mà
lạy với lục...? Bà được đồng nào chưa thì đưa đây cho tôi...
- Đã được đồng nào đâu...?
Chẳng thấy ai đi qua đây cả... Mẹ nó có dắt tôi về thì dắt, tôi đói lắm rồi...!
- Bà đói à? Bà đói thì dễ
tôi no à? Bà hãy ngồi đấy xem sao, buổi chợ chiều nay, rồi họ về qua đây nhiềụ..
chốc nữa, tôi sẽ bảo thằng cu nó ra nó dắt...!
Rồi bác ta thoăn thoắt bước
đi, cái váy cũn cỡn để lộ hai ống chân trùng trục, đen thui, giỏ cua đeo sau
lưng cũng theo nhịp từng bước mà lắc đi lắc lại... Về đến nhà, sung sướng thay
đã thấy bác trai ngồi phì phèo thổi lửa làm cơm dưới bếp. Nghĩ thầm hẳn bố nó
hôm nay được mẻ phát tài, bác ta rửa chân tay xong, vào hú hí ngay với con.
Bỗng trên trời mây kéo đen
nghịt tối sầm hẳn lại, rồi nổi một cơn giông. Bác đánh giậm chạy vội ra sân vơ
quần áo đem vào nhà, giục thằng cu lớn mau mau chạy ra để dắt bà về kẻo mưa to
gió lớn. Nghe câu ấy, bác gái ngồi ôm con một góc giường cau mày ngẫm nghĩ: thật
vậy! Ba bốn năm nay, bác ta đã nhịn như nhịn cơm sống ấy rồi, quá lắm thì không
chịu được. Mặc kệ bà ấy! để bà ấy chết quách đi cho rảnh mắt...!
Rồi hiện ra lần lượt trong
trí bác những ngày trở trời trái gió, những ngày lửa hạ chang chang, ruộng khô
đồng nứt, kiếm chẳng ra tiền, hai đứa bé bò nheo bò nhóc, một niêu cơm ngô chia
khắp cả nhà, bụng mẹ đã chẳng được no, còn lấy đâu ra sữa nuôi con... Mà bà lão
lòa kia thì, ngày kiếm được một vài xu cũng như ngày không kiếm được đồng nào,
chẳng nhịn được bao giờ, cứ đến bữa là ngồi vào mâm, chìa bát ra cho thằng cu sới.
Không, không! Không thể thế được...! Bà lão ấy chỉ là một bà cộ.. mà lại là cô
họ một người chồng, có lẽ nào báo hại mãi nhau...?
- Kìa! Thằng cu! Tao bảo thế
nào...? Không bỏ bếp đấy mà ra dắt bà về à? Ông lại đét cho bây giờ.
Bỗng bác gái đặt phịch con
xuống giường, quặn mình nhăn nhó:
- Ối trời dất ôi...! Ối trời
dất ôi...!
- Chết chửạ.. làm sao thế?
Sao thế hở mẹ nó?
- Sao mà bụng tôi cứ thấy
đau xoắn lại thế này! Ối trời dất ôi, đau thế này thì đến chết mất thôi...
- Chết chửa! Kìa thằng cụ.. ẵm
em dỗ đi... dỗ đi cho nó nín đi rồi dậy đấm cho u mày một chốc... để tao đi nướng
hòn gạch mà chườm bụng vậỵ.. Rõ khổ chửa?
Bên ngoài mấy hạt mưa bắt đầu
ném vào mái tranh lộp độp rồi trời đổ cơn xuống rào ràọ Dần dần mưa càng to,
gió càng mạnh, mỗi lần một luồng gió thổi trên không nghe ào ào là một lần nước
đổ như trút xuống sân. Trời tối mịt. Thấy mẹ đã ngủ được yên, thằng cu bước xuống
đất, phong phanh trong tấm áo vải, ra tựa cửu đứng nhìn.
Tiếng sấm động ù ù, mỗi khi
chớp nhoáng chớp nhoàng nó lại nom rõ thấy giữa những vũng bong bóng phập phồng,
những dây nước ròng ròng từ mái tranh rỏ xuống. Rồi thỉnh thoảng lại đánh
"đoành" một cái, những tiếng sét vang trời đánh nhịp, hòa theo với tiếng
mưa rả rích, tiếng sấm hục hặc, nổi sôi...
Chợt nghĩ đến bà nó ở ngoài
đầu đê không biết ra sao, quay lại nhìn thì bố nó vẫn lúi húi dọn cơm, nét mặt
thản nhiên như không, thằng cu phụng phịu nét mặt, hỏi gắt:
- Kìa thày! Thế bà ở ngoài đầu
để
Nó chưa nói hết câu, bố nó
đã như bị một luồng điện giật, nẩy người ra, mắt tròn xoe, mãi mới nói được.
- Chết chửa! Biết làm thế
nào bây giờ? U mày đau bụng, kêu rối rít lên, làm tao cũng quên bẵng đi mất...
- Thế thì chắc bà chết rét mất
rồi... Còn gì nữa...
Nghĩ đến cái chết của bà lão
lòa ở ngoài đầu đê - tình cháu đối với cô - bác đánh giậm rùng mình, rợn tóc gáỵ
Nhưng bác tự dối lương tâm, bác đáp lại con:
- Ôi già... chả việc gì phải
sợ... dễ bà lại không biết lần mò đến một cái quán nào đấy mà ẩn hay sao...?
Rồi bác gọi vợ con dậy ăn
cơm. Bữa ấy bác gái tuy kêu đau bụng mà cũng cố ăn được đến bốn năm lưng, mặc dầu
hai đứa bé không thấy bà nó đâu, thường nhắc đi nhắc lại.
Trời vẫn mưa, lúc to lúc nhỏ,
rả rích suốt đêm.
Sáng hôm sau, ánh sáng mặt
trời xé những đám mây bay tan tác, chiếu xuống, trông lại càng tươi càng đẹp.
Trên mặt đường đê, nước đóng từng vũng, những người đàn bà gồng gánh ra chợ phải
xắn váy vén quần, lội bì bõm, hễ ai hơi trượt chân muốn ngã là cả bọn lại khúc
khích cười. Những đám cỏ bấy lâu phơi nắng xám cả màu, sau một trận mưa rào đã
trông thấy ngay cái vẻ tươi tốt. Trên mấy cây bàng, một đàn chim sâu, con ngửa
cổ uống nước, con đập cánh rũ lông, kêu hót vang tai. Vệ đường loáng thoáng thấy
cành cây rơi rải rác...
Phong cảnh trông có vẻ khoan
khoái. Cái khoan khoái của phong cảnh sau trận mưa rào cũng như cái khoan khoái
của người sau khi tắm gội.
Bác đánh giậm hôm ấy dậy rất
sớm, đóng khố, cài rổ, vác vợt ra đi... Mon men ở dưới chân đê, lội lõm bõm qua
mấy vũng bùn lầy xa xa, phía dưới cây gạo - chỗ bà lão lòa vẫn ngồi, bác thấy
giữa ruộng, trong một đám mạ xanh tươi tốt, một đàn quạ, con bay con liệng, kêu
sào sạc rồi đậu xúm xít vào một chỗ. Bụng tưởng hẳn là một tổ rắn chi đây, bác
ta vác ngay một vợt tre lên mặt rồi phăm phăm chạy lại. Đàn quạ vùng bay lên rồi
tản mác đi... Chao ôi! Bước vừa đến nơi thì bỗng bác ta rú lên một tiếng, trợn
mắt rít răng mà ngã phục xuống cạnh một cái xác, cái xác một người đã bị quạ mổ
nát nhừ, xác bà lão lòa bị gió thổi xuống ruộng đêm hôm trước.
Avril 1931
7 giờ tối.
Hai chúng tôi, cơm chiều
xong, vừa định thắng bộ vào dạo chơi loanh quanh mấy phố thì trời bỗng đổ cơn
mưa như trút.
Phải bó cẳng ngồi nhà cặm cụi
với mấy tờ báo, chúng tôi xem đã uể oải, mắt đã thấy mờ thì cửa vẫn khép chặt,
bỗng có người đẩy đánh xầm một cái tung ra.
Giật mình, chúng tôi ngơ
ngác nhìn lên thì một ông lão ăn mày vừa lòa vừa cụt chân, người quắt như con mắm
nướng, áo tơi, nón lá, chống nạng lê vào.
- Lạy ông, lạy bà... bố thí
cho con đồng cơm bát cháo trong lúc khốn cùng...
- Không sẵn! Đi đi!!! Cửa
nhà người ta khép thế mà cũng đẩy ra được...
Đã bực mình sẵn, lại thấy
ông lão xông xáo quá đáng thế, tôi không chút thương mà gắt rầm lên. Bạn tôi vội
xua tay ngăn lại, đứng dậy, ra ân cần để vào tay ông lão một xu. Ông lão cúi rạp
xuống đất tạ ơn rồi lủi thủi bước ra, để lại chỗ đứng một vũng nước dây ở cái
áo tơi trút xuống. Bạn tôi cài then cửa rồi vào:
- Không bao giờ tôi nỡ đuổi
một người ăn mày như anh đã đuổi.
Tôi mỉm cười một cách nhạo
báng. Bạn tôi xưa nay vẫn hay giảng đạo đức, thuyết luân lý.
- Anh đừng tưởng chuyện đùa.
Những chuyện rất thường mà đối với người ngoài cuộc, lắm khi có ảnh hưởng lại rất
sâu xa. Một người ăn mày đến kè nhè bên ngoài. Người trong nhà chạy ra mắng đuổi
hắt đi rồi đóng cửa đánh xầm một tiếng. Tưởng chẳng có chuyện gì bình thường
hơn thế nữa. Thế mà cũng chỉ vì một chuyện đuổi ăn mày mà chính tôi đây, tôi đã
được mục kích một tấn kịch rất đỗi bi thương.
Nói đến đó, bạn tôi ngồi xuống
ghế, vớ lấy bao thuốc lá lấy ra một điếu đánh diêm châm, rồi tiếp.
- Hồi ấy, cách đây sáu bảy
năm trời, phải, sáu bảy năm trời rồi mà câu chuyện xảy ra tôi còn nhớ mồn một
như mới hôm qua.
Năm mười sáu tuổi, học lớp
nhất trường Hàng Vôi, tôi ở trọ phố Bờ Sông, nhà một thầy cai lấy thuế chợ. Con
trai thầy mới lên mười một, học lớp dự bị, ngày ngày bốn buổi đi về có tôi dắt
dìu. Tối đến dưới ngọn đèn dầu cũng tôi chỉ bảo.
Gia thế thầy cai tôi không
được rõ. Vì có người quen mách giúp nên việc tôi đến trọ nhà thầy là việc ngẫu
nhiên. Chỉ biết hôm tôi khuân hòm đến thì, trên chỏm mũ trắng điểm vành băng
đen, thằng Hợi - con thầy - đã ngót hai năm trở mẹ.
Thằng Hợi! Tôi nhắc đến tên
thì người, tôi cũng nhớ được ngay... Anh thử tưởng tượng xem, một thằng bé mới
mười một tuổi đầu, mặt mũi sáng sủa, ăn nói lễ phép, đến trường học hành đã
chăm chỉ, về nhà việc vặt lại hay làm. Thầy cai rất yêu quý con trai, sợ cảnh
dì ghẻ con chồng, chuyện lấy vợ kế thầy không hằng nghĩ đến.
Nhưng xem ý tôi biết, thằng
Hợi không yêu bố nó chút nào. Chắc anh cũng chẳng lạ gì, một đứa trẻ, rất ngoan
mà không ưa bố, một người bố cũng thương yêu con như trăm nghìn người bố khác,
chỉ vì cái nghề mà đến con đẻ rứt ruột nó cũng không yêu.
Anh thử tính xem, cái nghề
mà cửa miệng thiên hạ vẫn nói... nó đầy đoạ con người một thời xông pha mưa nắng,
chỉ vì bổn phận mà đối với người nghèo hèn, buôn thúng bán mẹt đã bị họ coi như
kẻ tử thù.
Mỗi lần thầy cai đi "sơ
vít"(1) qua cửa trường Hàng Vôi là lại một phen thằng Hợi khóc. Nó khóc vì
nó chẳng đang tâm trông thấy bố nó thẳng cánh đánh đập một bà lão bán bún hay
đá túi bụi một thằng bé con cho hòm kẹo đổ xuống đất tung tành, nó khóc vì bạn
bè trong trường khinh bỉ nó vô cùng, thường rõ rẹo vào mặt nó mà rằng:
"Chúng tao không chơi với mày! Bố mày làm cai lấy vé chợ".
- -------------------------------------------------------
1. Service: Thi hành công vụ
(tiếng Pháp) - B.T.
Sau những trận đau lòng ấy,
chẳng biết trông cậy vào ai, thằng Hợi chỉ còn ôm đầu lủi thủi lại cầm tay tôi,
ngước mắt nhìn lên tỏ ý kêu van, dưới ánh sáng mặt trời xiên qua bóng mấy cây
bàng, tôi còn thoảng nhớ cái nét mặt ủ rũ của thằng Hợi, hai hàng nước mắt chạy
quanh rơm rớm. Anh, nếu anh có đứng vào địa vị tôi bấy giờ, anh mới rõ được cái
cảnh thương tâm ấy.
Thành thử nó coi tôi như một
người anh, có lẽ hơn một người anh nữa, vì càng khinh bỉ bố nó bao nhiêu, tôi lại
càng ái ngại cho thằng Hợi bấy nhiêu. Nó cũng hiểu lòng tôi thế lắm.
Nhưng có lẽ anh đã nóng ruột
rồi, câu chuyện "đuổi ăn mày" anh để tâm, đây, tôi kể đến rồi đây.
Buổi tối hôm ấy, cũng vào độ
bảy, tám giờ, cũng về cuối tháng giêng ta như hôm nay, chỉ khác là bây giờ thời
tiết dễ chịu mà năm ấy thì rét như cắt.
Cái nhà chênh vênh hứng gió,
cửa trông thẳng ra bờ sông, chúng tôi ngồi trong, nghe bên ngoài tiếng gió ào
ào, cột nhà chuyển lắc rắc mà những rùng mình.
Phải, cái cảnh tượng đêm hôm
ấy trí tôi chẳng quên mất một mảy may: cửa đóng kín im im, ngồi chùm đầu trong
một cái chăn bông mà hai hàm răng tôi vẫn thấy chọi nhau lập cập. Thằng Hợi ngồi
học cùng bàn với tôi nhưng không biết nó nghĩ vơ vẩn điều gì, mắt nó thường
không nhìn đến sách. Thầy cai thì ngồi chễm chệ giữa giường, bên đùi kê một hoả
lò than đỏ rực, trên để mấy con mực khô đang sèo sèo, mùi mực nướng pha lẫn mùi
rượu ngang thơm nức cả nhà, nghĩ đến mà thèm rỏ dãi.
Chợt có người khẽ gõ vào cửa
mấy tiếng rồi đánh "huỵch" một cái như có vật gì rơi xuống đó. Vừa
toan bỏ chăn, xỏ chân vào đôi guốc bước ra thì thầy cai giơ tay ngăn lại, cầm
khăn ung dung chùi mồm, vuốt lại bộ râu cong đâu đấy rồi mới cau đôi lông mày
sâu róm lại, lên tiếng dõng dạc:
- Ai hỏi gì...?
Bên ngoài lại thấy mấy tiếng
gõ vào cánh cửa.
Thầy cai lộn tiết, quát:
- Hỏi gì, nói lên!!!
Nhưng gió vẫn ào ào, bạt cả
lời thầy muốn nói. Chúng tôi lắng tai nghe, bên ngoài đưa vào một cơn ho lụ khụ,
rời rạc như của một người mắc bệnh kinh niên, rồi thấy giọng run run đưa qua
hơi thở hổn ha hổn hển:
- Lạy ông lạy bà, ông bà cứu
con, vừa đói vừa rét thế này con chết mất...
Chẳng cần nói tất anh cũng
hiểu là một người ăn mày. Trong lúc đó túi tôi cũng có sẵn vài xu rúc rích, vừa
toan mở cửa cho thì con người vô lương tâm kia đã lên giọng quát tháo ầm ầm:
- Bước ngay! Đi nhà khác!
Đây không sẵn...!
Anh tính, người ta đang đuổi
thế mà mình lại cho tiền chả hoá ra chửi mát người ta hay sao? Nghĩ thế, tôi
đành khoanh tay ngồi nín lặng xem cái tấn kịch ấy nó diễn ra trong ba, bốn
phút.
- ối trời ơi! Con lạy ông...
ông... không thương, con chết mất!!!
- à... Quân này lại muốn ra
gan... Muốn sống thì xéo đi không lại vào bóp sớm.
Bên ngoài, tiếng nói lẫn tiếng
khóc:
- ối trời đất ơi! Con chết mất
rồi đây, ông có cứu con không...?......
Gớm! Đến cái con người tàn
nhẫn ấy thì không thể nào kể được. Tôi không ngờ lão ta nỡ đứng phắt dậy, sẵn
chậu thau nước lạnh để gần đấy, liền nhắc ngay lên nhằm khe cửa đổ hắt ra đánh
"rào" một cái rồi khoanh tay đứng nhìn.
Mỗi phút một xa, mấy tiếng gậy
lộc cộc chống vào hè lát gạch, theo sau một tiếng thở dài... trừ ngọn gió ào ào
thổi mạnh, bốn bề lại im phăng phắc.
Nét mặt vẫn thản nhiên như
không, thầy cai lại ngồi vào mâm, gật gù mãi đến nửa đêm. Nằm trong chăn, thấy
khác hẳn mọi khi, thằng Hợi hôm ấy vừa đặt mình đã ngủ say như chết. Nhưng gần
về sáng bỗng bàng hoàng tỉnh giấc, tôi thấy nó quay mặt vào tường mà khóc tỉ
tê. Tôi nghĩ mà thương nhưng cũng không khuyên giải, biết rằng có nói cũng chỉ
gợi thêm một mối thương tâm.
Hôm sau, nhằm ngày thứ năm,
phải buổi chữ nho, thằng Hợi ở nhà, còn tôi đi học.
Đến trưa, cắp cặp về, đã thấy
nó đứng cửa, mắt đỏ hoe:
Rồi chẳng để tôi kịp hỏi, nó
đã xốc lấy tay tôi. Đi thẳng ra bãi, trèo qua dải đê, tôi thấy xa xa một đám
đông, vừa trẻ con, người lớn. Đến gần lặng nghe họ bàn tán, tôi hiểu ngay tất
có chuyện buồn:
- Thôi, thế cũng xong! Chết
là may, chết là hết... Nhiều người muốn chết mà chẳng được cơ...!
Lời nói lạnh lùng của một
ông lão trên đầu hai thứ tóc, mắt kèm nhèm, quần áo rách như tổ đỉa. Một thằng
bé độ sáu tuổi nhăn răng bảo thằng đứng bên cạnh:
- Mày ạ! Trông đầu ông ấy
như một quả bóng sanh (cinq).
Rồi mấy người đàn bà cười ồ.
Chẳng để ý đến mấy người họ
lấy khuỷu tay đẩy mình, chúng tôi rẽ đám đông ấy, cố len lỏi vào cho được.
Anh ạ, tôi quyết không bao
giờ quên được cái cảnh buồn tê buồn tái ấy nó hiện ra trước mắt tôi, lần ấy là
lần đầu.
Trời vẫn rét, gió vẫn thổi
ào ào.
Trong miệng cái cống tròn bằng
xi măng một cái xác ông lão ăn mày nằm còng queo, hai chân co lên bụng, còn hai
tay vẫn như ôm lấy bị gậy. Cái nón lá rơi ra một bên, bộ tóc lơ thơ, mấy chòm
râu lốm đốm phất phơ bay theo ngọn gió, cái thân da bọc ngoài xương nằm đó cho
ruồi bâu nhặng bám phải chăng là người hành khất đêm qua lê đến cửa nhà tôi mà
đã bị một chậu nước lạnh đuổi đi...?
Nghĩ thế rồi chẳng nỡ nhìn
lâu cảnh ấy, tôi dắt tay thằng Hợi kéo ra chỗ khác. Nào ngờ, nó cũng nghĩ như
tôi, rầu rầu nét mặt mà rằng:
- Chính người ăn mày đêm qua
rồi, anh ạ.
Lời nói của một đứa trẻ ngây
thơ ấy theo sau một tiếng thở dài mới tha thiết làm sao... Một khối óc còn non
mà đã thấy cái chân tướng cuộc đời, trong lòng xúc cảm bao mối thương tâm mà chỉ
biết phát lộ ra bằng một tiếng thở dài, một tiếng thở dài mà ngụ bao nỗi đắng
cay, ý vị...
Tuy chúng tôi không đứng lại
xem lúc xe "măng ca" đến xe cái xác ấy đi ra sao mà buổi chiều hôm ấy,
như bị một sức mạnh vô hình xô đẩy, lòng tôi bỗng thấy buồn tê tái, bài chẳng
muốn học, cơm chẳng muốn ăn. Muốn giải trí, tôi rủ thằng Hợi đi xem chiếu bóng
thì nó cười, cái cười giả dối ấy, tôi còn nhớ mãi. Rồi nó hỏi vay tôi năm hào,
nói là để mua đền anh em quả bóng mà nó đã nhỡ chân đá vỡ cách đây mấy hôm. Tôi
cho vay ngay, nào ngờ chỉ vì chẳng nghĩ xa xôi mà một đời tôi, rồi đây tôi còn
phải lắm phen ân hận.
Đi xem về, tôi vừa gặp thằng
nhỏ còn xách thùng đi gánh nước. Bấy giờ thấy cai đang giờ "service"
thành cũng vắng nhà. Mở cửa bước vào, tôi thấy thằng Hợi đã nằm kín mít trong
chăn. Tưởng cũng như mọi khi, thấy rét thì đi ngủ, tôi đến bên giường khẽ lật
chăn ra, ý muốn kể lại câu chuyện vừa xem với nó. Anh ơi! Thật một đời tôi,
chưa bao giờ tôi phải một phen lo sợ mà cảm động như lúc bấy giờ.
Đây này, anh...! Trái tim
tôi đã thấy đập thình thình, chẳng khác gì lúc ấy, lật cái chăn ra, tôi thấy mặt
nó xám ngắt, mắt nó nhắm nghiền mà tay nó thì lạnh giá như đồng, một thứ lạnh của
những xác chết khiến ta chỉ hơi chạm vào là đủ rùng mình ghê sợ.
Tôi biết ngay là có chuyện,
cố nén cái sợ, ôm lấy ngang lưng nó mà lay gọi một hồi, chẳng thấy gì, tôi đưa
mắt nhìn ra bàn thì bộ chén để úp đấy thấy lẻ bên ngoài một cái. Tôi vội cầm đến
thì còn thấy cặn...
Chao ôi! Cặn dấm thanh thuốc
phiện mùi hãy còn sực nức đưa lên.
Không biết sao, lúc bấy giờ
tôi đã toan chạy đâm bổ ra ngoài đường kêu cứu mà rồi tôi lại quay vào, ôm lấy
cái xác mà kêu, mà gọi một hồi lâu nữa... Mặt mũi nó trắng trẻo, phương phi,
trông mà thương, mà tiếc vô cùng, tôi tưởng chừng như ôm vào lòng xác một đứa
em.
Rồi không biết tôi nghĩ lẩn
thẩn thế nào mà tôi nâng đầu nó dậy, in cặp môi tôi vào trán nó mà hôn... như
hôn một người yêu đang ngủ... thì mắt nó bỗng thấy mở hé ra, tôi còn nhớ mãi đến
giờ, hai con mắt ấy lờ đờ mà nhìn tôi như người ngái ngủ. Bỗng nó trợn mắt lên,
há miệng như muốn nói, cố vùng tay giơ lên như muốn ôm lấy cổ tôi mà toan gọi:
anh! anh!...
Thương thay! Thằng Hợi chửa
kịp nói được điều gì thì, chừng như thuốc độc đã thấm đến ruột gan nó, nó nhắm
mắt giãy mạnh một cái rồi buông xuôi hai tay mà ngặt cổ xuống giường... bọt mép
sùi ra...
Chuyện về sau thế nào, tưởng
anh đoán lấy cũng hiểu.
Riêng tôi, tôi coi cái ngày
hôm ấy như một ngày mà tôi phải để tang, nhân thấy anh đuổi một ông lão ăn mày
nên tôi kể chuyện lại anh nghe...









Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét