Nhà văn sĩ T.L. một hôm kể lể
với tôi:
- Một đời tôi, tôi chỉ yêu
có một người. Trong hai năm giời tôi cùng người ấy ăn ở với nhau, tình yêu thật
là thiết tha, đằm thắm, tôi được sung sướng đến cực điểm.
Tôi phải thú thực rằng sở dĩ
tôi có cái danh dự ngày nay là nhờ nàng cả, vì, được gần gụi nàng thì cầm tới
bút, tôi mới mong được thấy cảm hứng chứa chan. Mới gặp nàng lần đầu, tôi đã tưởng
tượng ngay rằng nàng vẫn là người yêu của tôi tự bao giờ ấy! Dung nhan diễm lệ
và đức tính của nàng thực làm thỏa lòng tôi quá, khiến tôi đến phải mê tơi.
Con người ấy không bao giờ bỏ
tôi, chẳng phải hạng ăn xổi ở thì, đã... đã từ trần trên giường tôi nằm, trong
cánh tay tôi ôm ấp, thực đến lúc chết mà vẫn yêu tôi, rõ thảm!...
ấy thế mà mỗi khi chợt nghĩ
đến nàng thì tôi giận lắm! Nếu lúc nào tôi cố lục tìm trong trí nhớ, cố tưởng
tượng cho thấy trong óc cái hình dung yểu điệu, thướt tha của con người ấy, cái
đường ngôi lệch, lời nói dịu dàng thỏ thẻ, cặp mắt rất say sưa, nếu lúc nào tôi
lại được thấy trong trí tưởng tượng con người nõn nà nghiêng nước nghiêng thành
đã cũng tôi ăn ở non vợ chồng mà già nhân ngãi ấy thì chỉ cốt để tôi được chau
mày, chau mặt mà thét lớn rằng: "Tao ghét mày!...".
Tên nàng, nàng bảo: Bích
Nga. ở nhà một bà bạn mà chúng tôi được cái hân hạnh gặp nhau, người ta gọi
nàng là bà tham Ngọc, bà tham Ngọc đã góa chồng, chồng bà, một ông tham tá công
chánh, đã dắt vợ đi khắp thâm sơn cùng cốc ở cõi Đông Dương, rồi vì nước độc đã
bỏ mặc vợ mình bơ vơ trên cõi thế.
Mà hình như nàng cũng đã đi
lắm nơi xa thì phải. Khi trò chuyện, có lúc thốt nhiên nàng nói "... một
buổi chiều, ở cổ viện Đế Thiên, Đế Thích..." hay "... sáng sớm tinh
sương hôm ấy trên bờ sông Cửu uốn khúc tại kinh thành Luang Prabang...".
Ngoài ra, không có sự gì tỏ rằng con người ấy đã đi nay đây mai đó, trong vẻ
người, giọng nói, không một nét nào chứng thực được cái vội vàng, hấp tấp những
lúc khuya sớm, đi, về. Nàng vốn là gái Huế. Cứ trông lối y phục thanh tao, dáng
người bệ vệ ấy thì không ai dám bảo nàng đã là vợ một người luôn luôn nay đó,
mai đây.
Khi tôi hiểu rằng tôi đã
quên ăn bỏ ngủ vì nàng thì điều trước nhất của tôi là muốn xin cưới ngay nàng
làm vợ. Tôi nhờ bà bạn gái kia đem lời cầu hôn khẩn khoản nói giúp tôi nhưng,
thất vọng thay! Nàng kêu là nàng đã giập tắt lửa lòng, không đời nào còn mong
tái giá.
Thế là tôi phải tìm đường
gìn giữ, sao cho khỏi gặp mặt nàng. Nhưng nào có được? Lòng yêu chuộng xưa kia
đã khiến tôi vì nàng mà quên ăn, bỏ ngủ thì sự thất vọng ngày nay làm tôi chẳng
còn khối óc làm lụng được một việc gì, nên, lẩn thẩn, tôi nghĩ cách... đi xa.
Tôi đang sửa soạn hành
trang, lòng buồn tê tái, đứng trông mấy chiếc hòm và chiếc va ly há rộng miệng
ra nuốt những áo quần với đồ lặt vặt của kẻ đi xa thì chợt cánh cửa hé mở từ từ;
để lộ ra vẻ mặt âu sầu của bà tham Ngọc.
Phải, chính Bích Nga đứng
đó, thỏ thẻ nói rằng:
-... Nghe như ông định thu xếp
vào Sài Gòn làm ăn thì phải...
- Vâng! Tôi chưa kịp lại biệt
chào bà.
Thấy tôi chỉ nói đủng đỉnh,
lạnh lùng, Bích Nga bấy giờ vừa run vừa hỏi:
- Mình... (phải, nàng gọi
ngay tôi là mình!), mình định đi thật đấy ư? Tôi vẫn biết, khổ lòng lắm, mình ạ.
Mình vì yêu tôi nên phải tìm cách xa tôi, còn tôi, tôi cũng xin thú thực rằng đối
với lòng yêu chân thật của mình, tôi rất lấy làm cảm động. Nhưng, khốn nỗi,
tôi, tôi không phải... góa chồng!!!
Thế là đến tận bây giờ, cái
tiểu sử đau đớn của nàng tôi mới được nàng kể rõ cho nghe.
Thực là một cuốn tiểu thuyết
trường thiên về tình yêu, tình phụ. Chồng nàng rượu chè be bét, thường đánh đập
nàng, ba năm nay rồi, hai người đã bỏ lửng nhau. Nàng bồ côi cha mẹ từ thuở
ngây thơ nên được một ông chú thương yêu lắm lắm. Ông chú ấy hiện giờ làm quan
tại Huế, nhưng vì đã ép duyên nàng nên nàng cũng giận từ độ ra ngoài Hà Nội
này, nàng chẳng hề có lấy một chữ gửi thăm. Chị ruột nàng lấy kế ông phủ Vĩnh
Tường mà cậu nàng thì hiện giờ là một ông giáo, người đã cao niên, dạy học
trong một trường công ở ngay Hà Nội. Vì xưa kia trong nhà có chuyện hiềm khích
nên dù nàng là cháu mà nàng cũng chẳng hề đến cửa bao giờ. Còn Bích Nga, buồn
vì thân thế, mấy năm nay đã ăn ở ra con người liêu tịch, cố lấy cái vỏ ngoài điểm
trang lòe loẹt để giấu kín một trái tim đau khổ bên trong.
Nhưng nàng tuy bơ vơ một
mình mà chẳng phải luỵ ai, vốn có tài về nghệ thuật nữ công nên vẫn sống một
cách thảnh thơi, phú quý. Hiện giờ, mấy cô tiểu thư nhà mấy ông quan lớn đang cầu
nàng đến dạy cho thêu thùa, bánh trái và cả ca hát, địch đàn.
Thiên lệ sử ấy, nàng kể tôi
nghe rất là cảm động, dẫu rằng trong khi trò chuyện, nàng thường nói đi nói lại
mãi chẳng nên lời, một cái kém hèn của bọn phụ nữ ngây thơ.
Chúng tôi bèn thuê một căn
nhà rất đẹp, rất xinh ở con đường Hàng Cỏ. Cứ chiều chiều, chúng tôi cùng nhau
sánh vai ra ban công hóng mát, nhìn hai rặng cây lá xanh tươi tốt, con đường vắng
vẻ, vỉa hè cỏ mọc um tùm mà tưởng tượng như mình ở cảnh Bồng Lai.
Trong một năm tròn, tôi cứ
muốn được luôn luôn quấn quýt lấy Bích Nga để ngắm nàng tha thướt ra vào, để
nghe nàng ngây thơ cười nói, mặc quách cả những anh em, nếu nàng không giục tôi
mau mau trở về toà soạn. Nàng luôn luôn nhắc tôi chớ hững hờ với cây viết để
nàng cũng đem ngón nữ công, đàn địch ra dạy bọn tiểu thư vẫn hết lòng mong đợi
nàng kia. Suốt ngày, chúng tôi phải cách xa nhau, gặp nhau chỉ chờ đến chiều, đến
tối.
Từ tòa báo trở về căn nhà
chúng tôi nương náu, mỗi bước chân đi đối với tôi là trút được một ít nặng nề,
vô vị của đời, tới nhà phải đợi nàng thì nóng lòng sốt ruột quá chừng, nhưng nếu
thấy nàng đã tựa cửa chờ mình thì sung sướng bằng mở cờ trong bụng. Thỉnh thoảng
nàng lại mua về một cụm hoa tươi. Cũng có khi tôi ép nàng nhận một vài cái quà
quý giá nhưng nàng đều nhất nhất chối từ. Nàng kêu giàu có hơn tôi nhiều, vả lại,
cứ suy lối ăn mặc toàn lượt là, gấm vóc của nàng, cứ tính những đồ xa xỉ nàng
thường dùng như phấn, sáp, nước hoa thì đủ hiểu là bọn học trò kia trọng đãi
nàng lắm lắm. Cho nên tôi rất lấy làm cảm kích tấm lòng quảng đại của nàng, nó
chẳng như "trái tim" vẩn đục của bọn bom xu1. Nàng yêu tôi mà chẳng
phải luỵ tôi, con người tự lập, khẳng khái ấy đã lắm khi khiến tôi đem cái
nghèo của mình ra đọ với ái tình mà tự thấy âm thầm hổ thẹn.
Kể ra thì nghề nàng cũng chẳng
có gì là vất vả.
Bọn học sinh kia, con quan,
con các nhà tư bản, toàn là những công nương phong phú, yêu vì tài, trọng vì nết,
coi nàng như một đóa hoa. Một lần nàng phô với tôi một đôi vòng vàng một chiếc
"nhẫn đồng hồ" lấp lánh kim cương, kêu là của học trò tặng làm kỷ niệm.
Chúng tôi chẳng hề xa nhau nửa
bước, ngoài cái thời giờ bận việc hàng ngày. Duy chỉ chủ nhật nào là nàng cũng
xin phép tôi lên phủ Vĩnh Tường thăm bà chị và chơi với cháu, mỗi tuần lễ chỉ
ngày chủ nhật mà thôi.
Thì cứ sáng sớm tôi ra ga lấy
vé cho nàng bước lên xe lửa, cầm mù xoa vẫy theo ngơ ngẩn rồi đến chiều lại ra
ga để đón nàng về. Lắm khi, tôi hẹn đón nàng ở một vài ga khác, như Yên Viên,
Xuân Kiều, Đông Khê chẳng hạn, rồi những cảnh quê xinh đẹp, êm đềm, chúng tôi
cùng nhau thăm thú, lúc thì vào một quán hàng ăn bún riêu cua, bánh đúc, lúc
thì trên những con đường vắng vẻ chúng tôi cười cười, nói nói, ném mắt đuổi
theo con chích chòe tha mồi vào tổ, vừa đi vừa gặm mỗi người một chiếc bánh đa.
Nàng kể lại tôi nghe cảnh
gia đình rất vui vẻ, êm đềm của bà phủ Vĩnh, vừa trên xe bước xuống, con bé
cháu đã lon ton chạy lại đón đi, quan anh thường thường say "khướt cù
đèn" nhưng mỗi khi diễu cợt, làm hề thì đố ai nín cười được đấy, bà chị
tuy cấm cẳn, xấu ăn xấu nói nhưng nói sau quên trước, cũng chẳng "bụng dạ"
gì.
Nghe lời nói có duyên một
cách lạ lùng, tôi tuy mỉm cười, nhưng thực đau đớn, âm thầm trong dạ. Phải, tôi
đau đớn lắm vì thấy cái đời hoa trôi bèo dạt của nàng, chẳng hề được hưởng hạnh
phúc chân chính của gia đình như những ai ai.
Sung sướng quá, không bao giờ
tôi đem lòng nghi ngờ nàng cả. Nhưng điều nàng nói tự nhiên đến thế, thực thà đến
thế, ngây thơ đến thế, bảo ai mà chẳng phải tin?
Nhưng nàng phải cái tật cứ
nói rườm lời khi kể chuyện lại những nhà mà nàng lui tới, những nhà của học trò
nàng thì hình như nàng cố bày đặt cho ra những sự không đâu. Tôi đây, tôi là
người đem tấm chân ái tình ra thương yêu, kính mến nàng, muốn trong cặp mắt
nàng chỉ có riêng một mình tôi thì nàng lại cứ để trí vào những sự không đâu ra
đâu sất cả!...
Nhưng đối với những người
còn xanh mái tóc mà đã trải qua đủ mùi đau khổ như nàng, mà cuộc đời từ lúc bé
tới giờ chỉ là một thiên lệ sử, thì cái tật mọn ấy, tôi cũng vẫn bỏ qua đi cho.
Chỉ độc một lần là tôi ngờ vực,
hơi hơi ngờ vực.
Tối chủ nhật ấy, nàng lên phủ
Vĩnh mà chẳng thấy về.
Tôi thất vọng quá!... Làm thế
nào đây? Đáp ngay tàu lên phủ Vĩnh tìm nàng chăng? Nếu thế thì cuộc tình duyên
kín đáo kia lộ mất. ấy thế mà sau một đêm trằn trọc, tôi quyết định ra ga đáp
tàu lên phủ Vĩnh thì Bích Nga đẩy cửa, mặt mày xám ngắt, bước vào. Bà phủ, chị
nàng, mệt nặng!...
Nàng nói thế nào tôi cũng
cho là lọt tai tất cả, cũng chẳng để ý rằng hễ tôi hơi hỏi qua đến lẽ gì một tí
là nàng liến thoắng đáp lại một thôi. Việc cần nàng chẳng nói ngay, cứ luẩn quẩn
vào những điều tỉ mỉ: những là thuê xe ra ga phải thằng phu kéo chậm, lúc trả
tiền lại còn kỳ kèo lôi thôi, em bảo thế này, nó cãi lẽ thế nọ, lấy vé nhiều
người chen quá, suýt nữa bị kẻ cắp xẻo mất túi, lúng túng... nhỡ tầu!
Rồi, tuần lễ ấy, nàng lại
lên phủ Vĩnh ở luôn 4, 5 ngày mới về, kêu chị mình, nhờ có mình săn sóc, thuốc
thang chỉ ít lâu thì bình phục.
Khốn thay, chưa được bao lâu
thì lại đến lượt nàng cũng ốm. Đốc tờ mời lại, bảo người yêu tôi mắc chứng đau
phổi, bấy lâu ngấm ngầm, nay mới phát ra. Không còn thuốc nào chữa khỏi!
Bấy giờ tôi đau khổ quá, đã
đến phát điên lên mất, vì nàng sắp phải từ trần. Rồi tôi nghĩ ra rằng đã đến
lúc này thì bao nhiêu họ hàng, thân thích của nàng, mặc lòng xưa kia giận dữ với
nàng, nay tôi cũng gọi đến. Cả gia tộc rất danh giá ấy tôi phải lo sao gọi cho
đủ mặt để trong khi hấp hối, nàng được cùng những người thân yêu thứ tội, và ngộ
có dặn lại gì chăng.
Thế là chẳng kịp ngỏ ý với
người yêu, tôi vội viết ngay hai lá thư, một cho bà phủ Vĩnh Tường, một cho ông
quan tai to tại Huế. Rồi hôm sau, tôi chỉnh tề khăn áo, tìm đến nhà ông cụ
giáo, cậu ruột Bích Nga.
Tôi cũng không còn nhớ lúc đến
nhà ông cụ ấy vào độ mấy giờ. Hình như ông cụ đang vào bữa cơm trưa, hay cơm
chiều thì phải. Thấy dáng điệu tôi vội vàng, hấp tấp, ông cụ vội quăng đũa,
bát, tiếp ngay.
- Thưa cụ, ở đời này, cũng
có lúc mà những chuyện hờn giận trong gia đình phải vứt bỏ đi, mà tha thứ cho
nhau mới phải...
Bộ mặt bình tĩnh đáng kính ấy
bỗng quay lại nhìn tôi một cách ngạc nhiên.
Tôi - lố thật! - Tôi vẫn cứng
cỏi thêm rằng:
- Thưa cụ, cô cháu ruột cụ
đã đến lúc hấp hối rồi, bây giờ chỉ còn chờ có cụ...
- Cháu ruột tôi, ông bảo?...
Thì nào tôi có đứa cháu gái nào đâu?
- Thôi đi, con xin cụ, cụ đừng
cố chấp thế. Tội nghiệp lắm. Cháu ruột cụ, người sắp qua đời là bà tham Ngọc,
thuở trẻ cụ vẫn gọi là: cháu Bích Nga.
- Thôi, dễ ông lầm nhà rồi!
Cô Bích Nga hay bà tham Ngọc là ai, nào tôi có biết!!!...
Rồi ông cụ từ từ đẩy tôi ra
khỏi cửa, chắc rằng trong bụng cho tôi là một thằng hoá dại. Cái mặt một thằng
đã mất trí khôn, bấy giờ hẳn giống mặt tôi thì phải. Cơ sự xảy ra đến thế này
thì thực bất ngờ quá đỗi, hay là Bích Nga lừa dối tôi chăng?
Bất thình lình, óc tôi chợt
nảy ra một ý: đến hỏi vị tiểu thư Bích Nga vẫn bảo là cô học trò giỏi nhất về cả
thêu thùa, bánh trái, ca hát, địch đàn.
Giựt chuông xong, tôi hỏi
tên bồi ra mở cửa.
- Bà tham Ngọc?
- Không phải đây!...
- Vẫn biết thế rồi, nhưng bà
ấy vẫn lại đây dạy con gái cụ lớn học tập nữ công...
- Cụ lớn nhà tôi làm gì có
cô nào? Lạ thật! Không biết ông định hỏi việc gì mà... lại thế!
Rồi nó đẩy sầm cánh cửa vào
mũi tôi một cách bất bình. Thì ra tôi đánh thức nó dậy lúc ấy đúng một giờ đêm.
Tôi tất tả ra về, không còn
định đi đâu hỏi nữa. Chắc rồi ai cũng đáp mình đến thế chứ gì? Bước chân vào
nhà, tôi thấy dưới đất vứt một phong thư, thư trả lời của bà phủ Vĩnh. Tay bóc
thư mà lòng đã biết trước, ông phủ Vĩnh rất lấy làm lạ vì bà vợ ông chẳng hề có
cô em gái gọi là Bích Nga hay bà tham Ngọc bao giờ!
Thì ra trong hai năm giời ăn
ở với nhau, mỗi lời nói của người yêu quý của tôi là một lời bịa đặt. Trăm
nghìn mối ghen mới đua nhau dày vò tôi lúc ấy, tôi cũng chẳng biết mình định
làm gì, đẩy cửa bước đến gần giường bệnh, mắt nhìn chòng chọc, muốn chỉ dùng
đôi mắt căm hờn, đau đớn để hỏi bệnh nhân.
Bao nhiêu điều xưa nay làm
khổ tôi mãi, trước mặt người yêu bấy giờ tôi mới đem trút xuống:
- Này cô, những ngày chủ nhật,
cô làm gì mà lên phủ Vĩnh Tường?... Những buổi tôi ngồi cặm cụi trong toà báo
thì cô đi nhảy những đâu? Những đêm vừa rồi, cô ngủ những đâu... mà ngủ với
ai??? Ô hay! Mau lên, trả lời đi cho tôi biết chứ!
Rồi tôi cúi mặt xuống nhìn,
nhìn bộ mặt vẫn còn đẹp đẽ, say sưa ấy, cố ép nàng phải đáp. Nhưng nàng vẫn thản
nhiên, tỉnh trí, chẳng hề hé cặp môi son.
Tức quá đi mất, tôi lại vỗ
ngực, bứt tóc, rít lên rằng:
- Mày có đi dạy học ai đâu?
Mày tuy thêu thùa giỏi thật, nhưng nữ công, nữ hạnh gì mày? Tao đã đi hỏi khắp
nơi rồi, không một ai biết mày là người ở đâu sất cả! Vậy thì những đồ trang sức
kia ở đâu mà đến, tiền bạc mày ăn tiêu phung phá, mày lấy đâu ra?
Nàng chỉ nhìn tôi một cách rất
đỗi đau đớn, buồn rầu, ấy thế! Giá tôi cứ để nàng được tĩnh tâm mà nhắm mắt có
lẽ phải hơn.
Khốn nỗi! Tôi rất yêu nàng,
yêu quá đi mất. Lửa ghen vẫn mạnh hơn lòng xót, nên tôi chẳng nhịn được lời.
- Mày đã lừa dối tao trong
hai năm giời, trong hai năm giời tao ăn ở với mày, ngày nào mày cũng lừa tao,
lúc nào mày cũng dối tao. Đời tao có những chuyện gì là mày biết tất mà đời mày
thì thật là tối tăm, bí mật, tao chẳng được biết một tí ti gì... Cả đến tên mày
là gì, tao cũng không biết nốt!... Phải, tên mày tao cũng không được biết vì
Bích Nga hay bà tham Ngọc là chuyện mày bịa đặt, có phải không? Giời ôi! Người
đâu có người man trá, lọc lừa! Trong hai năm nay nó dan díu với tôi mà bây giờ
nó chết trong cánh tay tôi, tôi cũng không biết tên nó là gì, thảm chửa?! Này
mày là ai? Hở? Mày ở đâu mà đến dan díu với tao? Đời tao chỉ có thế đấy thôi,
mày quyến rũ tao để định làm cái trò gì? Nào! Ơ hay! Nói đi, nói mau lên cho
tao biết chứ???...
Công toi cả! Đáng lẽ đáp những
lời tôi dày vò, đay nghiến, nàng chỉ khẽ quay mặt vào tường, hình như sợ để tôi
nhìn mãi cặp mắt nàng còn mở thì đoạn đời bí mật của con người ấy tôi khám phá
ra chăng.
ấy thế là con người đáng
ghét mà cũng đáng thương ấy chết, chết mà còn để lộ tiếng là con người gian dối,
con người đã cùng tôi hai năm dan díu ấy, mà đến bây giờ tôi cũng không được rõ
gốc tích và tên tuổi là gì!...
Février 1932
Cuộc vui
ít có
Tôi ở chơi nhà một người bạn ở làng này đã trọn năm hôm, sợ
phiền nhiễu mãi người anh em không tiện nên buổi trưa hôm ấy đã định tâm xin
phép "xách khăn gói" lên đường.
Giữa lúc khách xin ra đi, chủ nhất định giữ lại, chưa ngã ngũ
ra sao, chợt thấy chó sủa vang lên với tiếng người nhà quát chó ầm ĩ. Rồi một
người đã đứng tuổi, mặt đỏ bừng nhiệt khí của thần rượu, bước vào. Bạn tôi quay
ra tiếp khách, tôi cũng phải giữ lễ, lại ngồi xuống ghế, lặng im.
- Gớm, ông anh bận gì mà cho nó sang mời năm bảy lượt cũng chửa
chịu sang cho.
- Tôi đã xin đến chiều sang mà lại...
Ông khách đó tức khắc hiểu ý, quay lại phía tôi mà rằng:
- Hay là nhân tiện chẳng mấy khi ngài về, mời ngài dời gót ngọc
lại tệ xá xơi chén rượu nhạt mừng cho ông tôi thì chúng tôi lấy làm hân hạnh
quá. Thế nào? Ông anh bảo thế có tiện không ?
Tôi chưa biết đáp ra sao, cũng chưa hiểu đầu đuôi thế nào,bạn
tôi đã đỡ lời hộ:
- Vâng, để tôi xin nói với anh tôi. Nhưng dù sao cũng xin cho
đến bữa chiều...
Ông kia ra ý rất hài lòng:
- -Vâng, thì đến chiều. Miễn các ông anh nhận lời cho là đủ.
Thật là may quá ! Thôi, thế tôi xin phép...
- Kìa, hãy ngồi chơi uống chén nước đã...
- Thôi, tôi phải về thu xế cho bọn khách ấy trổ tài cống hiến
chư vị trong làng đây !
- Cái gì ? Bọn khách nào trổ tài?
- Kìa, thế ông anh chưa biết à? Bọn khách làm trò quỉ thuật
mà lại...
- Thế à? Lôi ở đâu về thế? Sao bảo hát chèo ?
- Không, hát chèo sợ tẻ và thường quá. Nhân tiện có bọn khách
đang kiếm ăn ở phủ nên tôi thuê về nhà làm trò cho thêm vui. Này, ôi chà ! Họ lắm
cái giỏi lắm!
- Thích nhỉ! Thế thì nhất! Nhưng bao giò? Họ đã về chưa?
- Rồi! Đang sắp sửa đấy... Hay là mời hai ông anh cùng sang một
thể ?
- Thôi được, bác cứ về. Dăm phút nữa thì chúng tôi đi.
Khi ông ta đi rồi, bạn tôi mới " giới thiệu vắng mặt
" đó là ông thủ quĩ, nhà đang có việc mừng vì ông bố ăn khao bảy mươi.
Tôi chưa kịp trách bạn tôi sao đã vội nhận trước khi biết ý
tôi thế nào, bạn tôi đã nói chặn:
- Nhận cũng phải. Người ta là người trung hậu tử tế, mình phải
nể lời. Vả lại... có ngại gì ? Trước lạ thì sau quen !...
Rồi bạn tôi ra với lấy cái khăn trên mắc áo
oOo
Gần khắp mặt già trẻ lớn bé trong làng tề tựu cả ở sân nhà
ông thủ quĩ để chờ sẵn cuộc cầu vui cho mắt.
Các cụ ngồi đạo mạo trên những bộ ghế trải chiếu cạp điều,
người lớn với trẻ con đứng thành một ô vuông, mấy chú khách thì đang soạn mọi
thứ đồ dùng, thỉnh thoảng lại khoan tay lục hòm để võ về vuốt ve một con bú rù
(*) và một con chó.
Đến lúc đồ lề đã bày ra la liệt đâu đấy rồi, ông thủ quĩ ra
giữa sân, đứng cạnh một chú khách cởi trần trùng trục, đầu trọc lốc, hai mắt nhỏ
tí như mắt lươn nhưng bắp thịt ở ngực với tay nổi như những khúc rắn quấn khắp
người, rồi ông lên tiếng:
- Thưa các cụ, các ông, các bà đã có lòng yêu đến mừng cho cụ
tôi, tôi thật cảm tạ lắm. Đáng lẻ chúng tôi xin hiến các cụ với các quan viên
hàng xã một buổi tối xem hát chèo, nhưng vì nghĩ rằng chèo là sự thường và sợ tẻ
nên tôi phải mời mấy chú này về trổ tài ở đây. Những chú này có võ nghệ, có nhiều
thuật rất tài tình, lại có nội công nữa. Một chú sẽ cầm thiết côn đập vào ngực
mình cho mà xem. Rồi chú ta lại lấy dao nhọn đâm vào cánh tay nữa. Xong chú ấy
sẽ hiến thụ thuốc cao để rịt đòn... Các chú sẽ trổ tài về võ nghệ và nội công
(ông quay hỏi chú khách), có phải nội công không ?
Chú kia gật đầu:
- Nội koòng, nội koòng, pải !
Một cụ râu ba chòm phán:
- Nếu đích là nội công thì mới thật là giỏi chứ nếu quỉ thuật
là có khóe riêng rồi, là không giỏi...
Một cụ khác, có ria mép, thêm:
- Nội công hay không nhưng nếu sau phải lấy thuốc cao rịt thì
cũng chẳng có gì là phi thường.
Ông thủ quĩ hơi có ý bất mãn:
- Nếu các cụ không tin những nhời tôi tiến dẫn thì cứ việc
xem xét cho kỹ lưỡng mọi vật dụng đi. Đây, thiết côn, đây dao, với thuốc cao nữa
này... Tôi xin cam đoan cuộc này là một cuộc vui ít có.
Một cụ cao niên hơn cả đỡ lời:
- Đây chỉ có cụ Tỳ, cụ Phế là hai vị danh sư thì mới đủ tư
cách...
Bọn người làng cũng vội:
- Chính thế, nhân tiện hai cụ xem hộ cả thuốc cao cho chúng
con.
Cụ lang Phế, cụ lang Tỳ - hai cụ hoài nghi lúc nãy - cùng vội
vàng xuống ghế ton ton ra khám xét ngay.
Cụ lang Phế cầm cái thiết côn:
- Cái này không rỗng ruột đấy chứ? À, không.
Cụ lang Tỳ bĩu môi:
- Không, đã chắc là không à ?
- Con dao này có lò xo ở chuôi không ? À, không thật.
- Phải khám cho kỹ vào chứ !
- Thuốc cao đây à ? Dễ thường không phải...
- Đưa tôi xem nào ! Chả thuốc cao thì còn là...
- Cụ làm gì lối thế? Cụ coi tôi là thằng ngu ư? Dễ thường chỉ
một mình cụ biết nghề thuốc !
- Thế này mà bảo là không phải thuốc cao!
- Thôi, tôi chịu ông rồi mà!... Ở vùng này chỉ có một ông biết
nghề thuốc!
- Biết hay không biết mặc xác tôi ! Anh không phải cà...
- Thì việc gì anh phải khoe giỏi? Đám ma nhà chị hai Vòm lăn
đường mẹ mới ngày hôm kia... Anh bốc thuốc tài hơn tôi thật chứ lại !....
- A! a!... Nhưng bà cụ mẹ chị ta thọ đã ngoài sáu mươi rồi.
Anh muốn đổ tại tôi ư? Thôi, sao anh không nhắc đến chuyện con đĩ Chắt anh bốc
có hai thang mà lăn ra chết?
- Hai thang? Hai thang? Đứa nào ngoa ngôn thì giời đánh nhé ?
Ai bảo nó sốt lại đi ăn chuối tiêu vào !... Hai thang à? Thế anh chỉ bán có một
gói thuốc đau bụng mà thàng nhiêu Toét suýt bỏ mạng thì sao? Thế mà cũng đòi là
lang? Lang thế mấy lúc mà tù mọt gông! Lang băm ấy à!
- Lang băm? Có lẽ!... nhưng không làm đọa thai người ta nào
thì thôi!
- À! Anh này to gan nhỉ? Nói nốt đi, nói nốt đi xem nào?
- Chứ lại sợ à? Sẽ nói tại tòa sứ cho mà xem...
- Này không phải dọa... Quan tỉnh sẽ trói anh lại có ngày. Dễ
không có người đau mắt nhờ anh đánh mộng rồi nổ con ngươi ra đấy ư?
- Số nó mù thì ai biết làm thế nào ? Anh có muốn tôi nói rõ
tên thằng bé sài suyễn mà anh cứ bốc mãi thuốc chữa dạ dày không ?
- Anh là thằng khốn nạn nhé. Cả nhà chánh hội Bầu mắc ghẻ ruồi
mà anh dám nấu cho nó thuốc timla anh quên rồi à?
(Cả nhà chánh hội Bầu kéo nhau ra về)
- Thế còn nhà trưởng Toe thì sao? Nó hôi nách mà chữa mãi bằng
lá ô nhĩ trong sáu tháng trời à?
(Trưởng Toe đẩy ba người, đỏ mặt chạy)
- Sáu tháng? Thế trong hai năm sao anh không chữa cho tan cái
hạch ở háng cô Thoa đi?
(Cô Thoa trước khi chạy, kêu to: Đồ khốn nạn!)
- Anh có muốn tôi kể đến cái mụ góa chồng mà ngày nào anh
cũng lại đốt ngải cứu ở mông đít không ?
- Anh không sợ tôi réo tên con bé mới mười lăm tuổi mắc bệnh
đau tức mà anh cứ lấy rượu thuốc để xoa vú nó à? Lang gì? Dê già thì có!...
Người xem bỏ chạy gần hết. Chỉ còn hai anh giai làng tuổi còn
lấc cấc, bò lăn ra giữa sân không dậy được, vì cười...
Chú khách giơ hai tay lên giời:
- Tỉu nà ma cái lổ phồ! Ngổ ti về cái nội koòng!...
Trong mấy chục năm giời, thật chỉ có độc một lần này tôi xem
được một "cuộc vui ít có"...
THIÊN HƯ







Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét