Dịch tám bài thơ thu của Nguyễn Khuyến
Mục lục
|
Bài 1: Thu Sơn tiêu vọng -
Đêm thu trên núi
|
|
Bài 2: Thu dạ hữu cảm - Cảm
xúc đêm thu
|
|
Bài 3 Thu dạ châm
thanh - Tiếng đập vải đêm thu
|
|
Bài 4: Giáp Thân
trung thu ngụ Hà Nội hữu cảm - Hà Nội trước tết Trung thu năm Giáp Thân
|
|
Bài 5: Thu nhiệt - Mùa thu
nóng
|
|
Bài 6: Trung thu tiền
nhất nhật dữ huyện doãn Dương quân Nam bang vũ quân chu trung xướng ca - Trước
hôm trung thu một ngày cùng ông huyện họ Dương và ông bang tỉnh Nam họ Vũ
nghe hát ở dưới thuyền
|
|
Bài 7: Thu tứ 1
|
|
Bài 8: Thu tứ
2
|
Bài 1
秋山宵望
八靣村墟一嵿孤
纔登萬象入中都 風輕雲弄嫦娥影 霧霽天高北斗區 品物一天金世介 江山四顧玉輿圖 霜鳴何處秋声答 喚起欧陽澡思蘇
Phiên âm:
Thu Sơn tiêu vọng
Bát diện thôn khư nhất đính cô
Tài đăng vạn tượng nhập trung đô Phong khinh vân lộng thường nga ảnh Vụ tễ thiên cao bắc đẩu khu Phẩm vật nhất thiên kim thế giới Giang sơn tứ cố ngọc dư đồ Sương minh hà xứ thu thanh đáp Hoán khởi Âu Dương * táo tứ tô
Dịch nghĩa:
Đêm thu đứng trên núi trông
Tám mặt xóm làng một ngọn núi trơ
trọi
Vừa leo lên đã thấy hình tượng muôn vàn thu vào chính giữa Gió nhẹ những đám mây giỡn bóng Hằng Nga Mù tan trục bắc đẩu nhô cao trên vòm trời Đầy trời phẩm vật như một thế giới vàng Bốn mặt non sông như một tấm dư đồ bằng ngọc Một tiếng sương thu từ đâu đáp lại Gợi nhớ đến bài phú của Âu Dương khi xưa.
Dịch thơ:
Đêm thu trên núi
Tám mặt xóm làng một đỉnh cao
Vừa lên trăm cảnh chợt thu vào Mây vờn gió ghẹo vầng trăng sáng Mù sạch trời quang bắc đẩu cao Thế giới một bầu vàng khắp cõi Non sông bốn mặt ngọc đồ bao Sương rơi một tiếng thu đâu lại Gợi nhớ Âu Dương phú thuở nào.
Ghi chú:
*Âu Dương: tức Âu Dương Tu đời Tống
(TQ) có bài phú "Tiếng thu" nổi tiếng
|
Bài 2
秋夜有感
山河寥落四無声
獨坐書堂看月明 何處秋風吹一葉 引來無限故園情
Phiên âm:
Thu dạ hữu cảm
Sơn hà liêu lạc tứ vô thanh
Độc tọa thư đường khán nguyệt minh Hà xứ thu phong xuy nhất diệp Dẫn lai vô hạn cố viên tình
Dịch nghĩa:
Cảm xúc đêm thu
Non sông bốn mặt lặng ngắt như tờ
Một mình ngồi trong nhà học ngắm trăng sáng Gió thu từ đâu thổi một chiếc lá đến Khêu gợi lên biết bao mối tình nhớ nhà
Dịch thơ:
Cảm xúc đêm thu
Non sông bốn mặt im lìm
Ngồi trong nhà học lặng nhìn trăng thanh Gió thu chiếc lá lìa cành Lòng man mác xiết bao tình nhớ quê |
Bài 3
秋夜砧聲
更深霜重晏裘輕
四顧寒砧枕畔縈 搗月高低侵角嚮 隨風斷續散虫聲 驚回戍婦襄城夢 喚起征夫魏闕情 一種幽愁消未得 遠山何處又鐘鳴
Phiên âm:
Thu dạ châm thanh
Canh thâm sương trọng án cừu khinh
Tứ cố hàn châm chẩm bạn oanh Đảo nguyệt cao đê xâm giác hưởng Tùy phong đoạn tục bán trùng thanh Kinh hồi thú phụ tương thành mộng Hoán khởi chinh phu ngụy khuyết tình Nhất chủng u sầu tiêu vị đắc Viễn sơn hà xứ hựu chung minh
Dịch nghĩa:
Tiếng đập vải đêm thu
Canh khuya sương nặng áo cừu tía nhẹ
Tiếng đập vải bốn bề vang quanh bên gối Dồn dập dưới trăng cao thấp át cả tiếng tù và Theo làn gió đứt nối lẫn vào tiếng dế Khua tỉnh giấc mộng Tương Thành của người thú phụ Gợi dậy tình ngụy khuyết của kẻ chinh phu Một thứ u sầu chưa tiêu tan được Ở ngọn núi xa nào đó lại nghe tiếng chuông rền.
Dịch thơ:
Tiếng đập vải đêm thu
Canh khuya áo nhẹ sương dày
Nghe quanh bên gối tiếng chày gần xa Thấp cao át tiếng tù và Dưới trăng đứt nối lan hòa tiếng sâu Mộng hồn thú phụ tan mau Gợi tình ngụy khuyết mối sầu chinh phu Khối buồn mãi chẳng tan cho Núi xa đâu đó chuông chùa lại vang. |
Bài 4
甲申中秋寓河內有感
寄同年举人吳金鼓人
十年此地此中秋
城郭依依景已殊 白燭紅燈迷遠近 素冠青蓋雜誰吾 蘇江有恨濤声急 濃領無情夜月孤 夜禁近聞严肅甚 詩翁曾意舊遊不
Phiên âm:
Giáp Thân trung thu ngụ Hà Nội hữu
cảm
Ký đồng niên cử nhân Ngô Kim Cổ Nhân
Thập niên thủ địa thử trung thu
Thành quách y y cảnh dĩ thù Bạch chúc hồng đăng mê viễn cận Tố quan thanh cái tạp thùy ngô Tô giang hữu hận đào thanh cấp Nùng lĩnh vô tình dạ nguyệt cô Dạ cấm cận văn nghiêm túc thậm Thi ông tăng ý cựu du phầu
Dịch nghĩa:
Cảm nghĩ nhân dịp tết Trung thu năm
Giáp Thân (1884)
ở Hà Nội viết gửi cho bạn đồng niên là ông cử họ Ngô (Người làng Kim Cổ)
Cũng tết trung thu ta ở nơi đây mười
năm về trước
Thành quách còn y nguyên nhưng cảnh đã khác Nến trắng đèn đỏ lấp loáng như gần như xa Mũ trắng dù xanh lẫn lộn ta với người Sông Tô như giận tiếng sóng vỗ dồn dập Núi Nùng vô tình mảnh trăng đêm trơ trọi Lệnh cấm đi đêm gần đây nghe nghiêm ngặt lắm Nhà thơ có còn nhớ cuộc đi chơi trước kia không ?
Dịch thơ:
Hà Nội trước tết Trung thu năm Giáp
Thân (1884)
Mười năm về trước cũng nơi đây
Thành quách như xưa cảnh đổi thay Nến trắng đèn hồng trưng đấy đó Dù xanh khăn đỏ lẫn tao mày Dòng Tô nuốt hận dồn cơn sóng Ngọn Lĩnh thờ ơ lạnh áng mây Lệnh cấm đi đêm nghiêm ngặt lắm Trước kia ông có nhớ chăng hầy ? |
Bài 5
秋熱
已過重陽氣尚温
含杯盡日倚柴門 綠環水帯疑將束 青染天衣不見痕 風水常如五六月 雨雷遠入两三村 歸來遂我田園趣 世事搔頭笑不言
Phiên âm:
Thu nhiệt
Dĩ quá trùng dương khí thượng ôn
Hàm bôi tận nhật ỷ sài môn Lục hoàn thủy đới nghi tương thúc Thanh nhiễm thiên y bất kiền ngân Phong thủy thường như ngũ lục nguyệt Vũ lôi viến nhập lưỡng tam thôn Uy lai toại ngã điền viên thú Thế sự tao đầu tiều bất ngôn
Dịch nghĩa:
Mùa thu trời nóng
Đã qua tiết trùng dương mà khí trời
vẫn còn nóng 1
Suốt ngày chỉ ngồi tựa cửa sài uống nước Vòng nước biếc vây quanh tưởng như cái đai thắt lại Da trời xanh biếc như chiếc áo không thấy vết khâu Nắng gió vẫn như ngày tháng năm tháng sáu Tuy có mưa sấm nhưng ở tận mấy làng xa Về nghỉ là được thỏa cái chí điền viên của ta Còn mọi việc trên đời có nghe thấy cũng chỉ gãi đầu mỉm cười không nói.
Chú thích:
1. Trùng dương: cũng còn gọi
là trùng cửu , tên một tiết, tức ngày mồng chín tháng 9 âm lịch
hàng năm.
Dịch thơ:
Mùa thu nóng
Qua tiết trùng dương khí vẫn nồng
Suốt ngày tựa cửa uống rượu suông Vây quanh dòng nước như đai thắt Xanh biếc da trời chiếc áo nhung Nắng gió nóng oi như giữa hạ Sấm mưa xa mãi phía hừng đông Trở về thỏa chí điền viên trước Mọi việc trên đời biết cũng không. |
Bài 6
中秋前一日與縣尹楊君
南帮武君舟中唱歌
入夜烟波未十分
孤舟蕩漾一風薰 半空篙櫓侵江月 满坐琴歌遏白雲 劇兴未應愁此老 幽懷聊為慰諸君 近来只欲南窗卧 瀟瑟胡笳不忍聞
Phiên âm:
Trung thu tiền nhất nhật dữ huyện
doãn Dương quân
Nam bang vũ quân chu trung xướng ca
Nhập dạ yên ba vị thập phân
Cô chu đãng dạng nhất phong huân Bán không cao lỗ xâm giang nguyệt Mãn tọa cầm ca át bạch vân Kịch hứng vị ưng sầu thử lão U hoài liêu vị úy chư quân Cận lai chỉ dục nam song ngọa Tiêu sắt hồ già bất nhẫn văn
Địch nghĩa:
Trước hôm trung thu một ngày cùng
ông huyện họ Dương
và ông bang tỉnh Nam họ Vũ nghe hát ở dưới thuyền
Lúc chập tối trên mặt sông khói mới
tỏa sóng mới gợn lăn tăn
Một con thuyền dập dờn trong làn gió nhẹ Sào và chèo cao lưng trời lấn cả sóng trên sông Tiếng đàn hát nhộn nhịp trong tiệc làm cho đám mây trắng ngừng lại Hứng vui quá mạnh xin chớ lấy lão làm phiền Nỗi lòng thầm kín chỉ mong làm khuây cho các bác Gần đây chỉ muốn nằm khểnh trước cửa sổ phía nam Những tiếng kèn hồ buồn rứt không muốn để lọt tai.
Dịch thơ:
Trước Trung thu một ngày đi nghe hát
trên sông
Chập tối mặt sông khói sóng nhen
Một cơn gió nhẹ lướt con thuyền Lưng trời sào mái sông trăng lấn Đàn sáo đầy thuyền mây lắng yên Cao hứng chớ lo phiền dạ lão Lòng riêng những muốn thỏa anh em Lâu nay chỉ muốn nằm chơi khểnh Những thứ kèn hồ chẳng thích xem . |
Bài 7
Thu tứ 1
秋 思
一聲萧瑟動高梧
去歲今朝景不殊 霄暵虛空青未了 斜陽煙水淡如無 少陵亂後詩聲苦 彭澤歸來酒興孤 甚矣吾衰無一事 出門聊復倩人扶
Phiên âm
Thu tứ (1)
Nhất thanh tiêu sắt động cao ngô
Khứ tuế kim triêu cảnh bất thù Tiêu hán hư không thanh vị liễu Tà dương yên thủy đạm như vô Thiếu Lăng loạn hậu thi thanh khổ Bành Trạch quy lai tửu hứng cô Thậm hĩ ngô suy vô nhất sự Xuất môn liêu phục thiến nhân phù
Dịch nghĩa:
Tiếng đâu xào xạc làm rung động ngọn
cây ngô đồng
Hôm nay, năm nay so với hôm nay năm ngoái phong cảnh vẫn như nhau Bầu trời quang đãng xanh ngắt một mầu Dưới bóng chiều khói nước coi nhạt như không Thiếu Lăng sau lọan lời thơ đau khổ Bành Trạch về hưu hứng rượu chỉ có một mình Ngán nỗi thân ta suy yếu không làm được gì Mà khi ra cửa lại phải nhờ người nâng đỡ.
Dịch thơ:
Thu tứ 1
Gió buồn xào xạc cành ngô
Giờ này năm ngoái cũng như thế này Bầu trời xanh ngắt mầu mây Bóng chiều khói sóng nhạt vầy như không Thiếu Lăng 1 sau loạn thơ buồn Về hưu Bành Trạch 2 rượu suông một mình Ta càng vô vị buồn tênh Muốn đi chẳng cất nổi mình mà đi.
Chú thích:
1. Thiếu Lăng: tức Đỗ Phủ, nhà
thơ đời Đường
2. Bành Trạch: tức Đào Tiềm, nhà thơ đời Tấn. |
Bài 8
秋思
翠竹遶篱溪壑幽
北窗 獨坐對清秋 狂吟何必千人誦 縱飮難消萬古愁 平野地寬先得月 寒汀水浅不通舟 迷途暗恨歸來晚 一度江山一白頭
Thu tứ (2)
Thúy trúc nhiễu ly khê hác u
Bắc song độc tọa đối thanh thu Cuồng ngâm hà tất thiên nhân tụng Túng ẩm nan tiêu vạn cổ sầu Bình dã địa khoan tiên đắc nguyệt Hàn đinh thủy thiển bất thông châu Mê đồ ám hận quy lai vãn Nhất độ giang sơn nhất bạch đầu
Dịch nghĩa:
Tre xanh quanh giậu, khe ngòi êm
tĩnh
Trước cửa sổ hướng bắc một mình ngồi ngắm thu trong Thơ ngâm phiếm, không cứ gì phải hàng nghìn người đọc Rượu uống tràn vẫn khó tan được mối sầu muôn thuở Bãi bằng đất rộng được ngắm trăng sớm hơn Bến lạnh nước nông thuyền không qua được Đã trót lầm đường vẫn ân hận rằng quay về muộn quá Cứ mỗi phen trải qua cảnh sông núi, lại một phen bạc đầu thêm.
Dịch thơ:
Tre xanh êm tĩnh rãnh ngòi
Ngắm thu cửa bắc ta ngồi giờ lâu Thơ nghìn người đọc cần đâu Rượu tràn cũng khó tan sầu nghìn năm Bãi bằng sớm được ngắm trăng Nước nông bến lạnh thuyền sang được nào Lầm đường hận ở quá lâu Một phen sông núi bạc đầu một phen. |



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét