Truyện ngắn Vũ Trọng Phụng - Từ lý thuyết đến
Từ lý thuyết đến thực hành
Anh ta là một người Âu hoá. Thiên hạ kêu: chưa đủ. Riêng anh,
anh tự cho đã Âu hóa hoàn toàn.
ở Pháp về, anh chỉ giao thiệp với người Tây, chỉ yêu quý có
người Tây, nhất là ông Chánh văn phòng của anh. Anh lại chỉ có nói tiếng Tây
thôi, cho dẫu là những khi anh nói với những đồng bào mũi tẹt. Những việc ấy dễ,
bởi không tốn tiền.
Đến những việc tốn tiền... Tuy không bữa nào cũng dùng
"cơm Tây", anh cũng vẫn giấu bọn đồng bào An Nam rằng mình thường phải
ăn cơm ta, có khi ăn cả rau muống và cà pháo. Tự trong thâm tâm, anh vẫn khen
thượng đế đã ban phước cho cả cái giống An Nam được hưởng rau muống và cà pháo,
rẻ lạ, ngon lạ, có thể khiến người ta quên thịt, cá... Nhưng anh không nói thế
trước mặt thiên hạ bao giờ.
Thiên hạ chỉ thấy anh ăn ở, cử chỉ và ngôn ngữ hoàn toàn theo
Tây. Còn đến cái bàn thờ ông vải trong nhà anh, giữa những đồ đạc hoàn toàn Tây
phương, thì anh cắt nghĩa sau một cái so vai: "Để cho bà via khỏi la thét,
nghĩa là để cho phải phép". Câu ấy, anh cũng lại nói bằng Pháp ngôn. Và,
muốn dẫn chứng cho lời tuyên ngôn ấy, thỉnh thoảng anh lại mời các bạn hữu Tây,
Nam đến tổ chức một cuộc khiêu vũ gia đình.
Trước bàn thờ, lẽ cố nhiên. Vì trong nhà chỉ có chỗ ấy là đủ
rộng. Các ông vải đều đã kính phục cái Âu hóa ấy của con cháu đến tái cả mặt, nếu
các ông vải vẫn còn có mặt để tái...
Nhưng sự ấy chưa phải là cái cốt yếu cho chuyện này.
Cái cốt yếu là một quan niệm đặc biệt Tây phương, Âu hóa cả
trăm phần trăm, của anh, đối với một thứ tai nạn cũng từ Tây phương nhập cảng
vào đây, xứ sở của mọi thứ cổ hủ của dân Đại Cồ Việt mũi tẹt da vàng chúng ta.
Sở dĩ anh nói rõ quan niệm ấy ra có lẽ cũng chỉ vì muốn thiên
hạ phục mình là đã hoàn toàn Âu hoá.
Quan niệm ấy, là về nạn mọc sừng.
Nhưng mà, thì các ngài hãy trông xem! Đấy, anh đứng lên, đi
đi lại lại, hai tay đút túi quần, trong khi cao đàm, hùng biện về một vài vấn đề,
thỉnh thoảng lại tô điểm cho lý luận của mình bằng một vài cái gật đầu khoái
chí... Chẳng ai lại có thể hùng hồn hơn! Cử toạ ngồi nghe đều hoặc đã kính phục
hết sức bằng im lặng, hoặc muốn phản đối hết sức đấy, nhưng cũng chỉ dám phản đối
bằng im lặng. Từ mồm diễn giả lần lượt chui ra những nghĩa lý kỳ quặc có khi
ghê gớm, có khi như sự nguỵ biện, cũng có khi như sự lập dị, nhưng bao giờ, từ
trước đến sau, cũng tỏ ra một tấm lòng vô cùng thành thực và một sự hiểu biết
thấu triệt nó bắt buộc những ai muốn ngắt lời cũng phải cứ kính cẩn ngồi yên mà
im lặng. Sự thành thực, dẫu sao đi nữa, ta cũng không thể dễ mà coi khinh, cũng
như sự hiểu biết chu đáo đáng gọi là có đủ thẩm quyền ấy, khiến cho ta phải ngờ:
diễn giả chính là kẻ "đoạn trường ai có qua cầu...".
Nhưng mà... thì hãy lắng tai nghe anh ta đã...
- Mọc sừng, sự ấy, nếu nó là một cái nạn, thì cũng chỉ là một
cái nạn nhỏ, không đáng để ý mấy. Tôi không hiểu sao ai cũng chê cười một người
chồng mọc sừng! Ngay ở bên Pháp nữa, thiên hạ cũng không thiếu lời chế riễu người
mọc sừng. Đó là một sự dã man, vì người mọc sừng chỉ là một kẻ đáng thương. Mà
cũng không đáng thương nữa, nếu ta nghĩ kỹ... Một là vì bị vợ ngoại tình, ấy chỉ
là, như trên tôi đã nói, chịu một cái tai nạn quá đỗi nhỏ mọn, hai là mọc sừng,
nếu là một cái khổ, thì cũng là cái thứ khổ của trí tưởng tượng ốm yếu của anh
chồng mọc sừng mà thôi! Nếu muốn tin chắc chắn điều ấy hơn nữa, ta phải nói
thêm thế này: ở một xã hội mà nhiều người chồng ngoại tình hay mọc sừng, chính
đấy là dấu hiệu của văn minh. Vì sao? Vì hôn nhân, tự nó, là một điều khuyết điểm
vô cùng, khi nó giải quyết vấn đề tình ái... Hôn nhân là cái giấy hợp đồng buộc
lòng người trung thành suốt đời, trong khi lòng người, do đấng Thượng đế sinh
ra, là một sự trừu tượng, tự nó nó chỉ muốn thay đổi, có mới nới cũ đó thôi...
Lấy cái quan điểm của bọn nam nhi chúng ta mà xét, điều ấy càng rõ rệt. Đàn ông
lắm khi chê vợ, chán vợ, thấy không thể chung sống với vợ được nữa, chỉ còn một
cách ly dị, thì may sao đã tìm thấy phương tự cứu chữa, tự giải thoát, để tránh
cảnh tan nát của gia đình và cái hận nghìn thu của lũ con cái thơ dại, ở sự tự
an ủi mình bằng cách thỉnh thoảng lừa vợ một đêm, tìm cái hạnh phúc tạm bợ và
điêu trá trong cánh tay "người vợ một đêm". Đã giản dị chưa? Lừa được
vợ một đêm, thế là người đàn ông chê vợ phỉ chí, tự an ủi, đủ can đảm và hứng
thú cứ chịu đựng mãi được người vợ mà mình đã thấy là khó chịu... Và những phụ
nữ khôn ngoan, biết cái ngôi nội tướng của mình đã có bề lung lay, lắm khi đã
nhắm mắt làm ngơ cho chồng. Phải thế mới được. Phải chịu đựng cái đau đớn nhỏ ấy,
hoạ may mới tránh thoát cái đau đớn lớn hơn nó sẽ đợi ngày tức nước vỡ bờ, nó đến...
Vì rằng đấng Thượng đế sinh ra thằng đàn ông, mục đích Ngài chính là để cho nó
phản trắc đấy! Phản được rồi, nó sướng. Lòng tự ái được mơn trớn rồi, thì nó sẽ
xử một cách nhã nhặn hơn với vợ nó, một người mà nó không lừa được thì nó sẽ
giành cho những vố đau...
Một vài người cười ồ. Những thính giả khác chẳng ai nói gì cả.
Vẫn nguyên cái đà hùng biện, anh ta tiếp:
- Bây giờ... đến lượt chúng ta tự đặt mình vào địa vị người
đàn bà... Ô hay, sao chúng ta có thể ích kỷ đến thế được? Sao chúng ta lại
không công bình một tý nào cả? Sao chúng ta nỡ dã man đến thế? Đàn ông chúng ta
đi chơi gái bừa bãi thì chẳng sao, nếu vợ ta có hành động y như ta, chỉ y như
ta thôi, ta cũng đã coi như đổi đời. Vợ ngoại tình, khốn nạn, thế sao gọi là đại
hoạ, nếu chồng xưa nay vẫn ngoại tình be bét ra đấy thì không sao? Họ cũng đã xử
sự như mình. Chỉ có thế. Họ đã phải ngoại tình có lẽ là để khỏi phải nghĩ đến
cách quyết liệt hơn: ly dị. Cũng như mình, họ cũng chỉ thấy sự an ủi, cái thú sống,
ở sự lừa đảo thôi. Đã thế, sao đàn ông cứ ích kỷ? Khốn nạn, nào có gì, nếu đó
chỉ là vỏ quít dày và móng tay nhọn gặp nhau? Thêm nữa, một khi người đàn bà
dám ngoại tình, tôi cho đó là họ bắt đầu có can đảm, và bắt đầu giác ngộ nữa,
cũng như thuyền thợ dám đình công phản đối Chính phủ, cũng như phụ nữ dám vác
những lá cờ có dấu hiệu cách mệnh, la thét giải phóng và bình quyền! Cho nên,
như tôi đã nói, mọc sừng chính là dấu hiệu của văn minh. Người đàn bà, một khi
bắt đầu lừa chồng, là bắt đầu bỏ cái chính sách tiêu cực đề kháng tổ truyền mà
mấy nghìn năm bị coi là đứa tớ gái không lương đã kết quả nên thái độ...
Một người nói len vào:
- Thế thì ra tội là ở anh chồng đáng mọc sừng, bất cứ anh chồng
là hay, dở như thế nào?
Diễn giả đáp cứng cỏi:
- Bẩm chính thế. Vì dẫu ta tài giỏi, khỏe mạnh, giàu có đến
như thế nào đi nữa mặc lòng, nếu ta chẳng may mọc sừng, ấy là chính ta đã có lỗi,
đã hỏng ở một phương diện nào đó, mà chỉ vợ ta mới biết mà thôi! Cho nên, như
trên tôi đã nói, người chồng mọc sừng chẳng bao giờ đáng thương, nếu ta nghĩ kỹ...
Nếu ta khôn ngoan, đủ tư cách, đủ khỏe mạnh, đẹp cả tinh thần lẫn văn chương,
con vợ ta nó đã chẳng ngoại tình!... Vậy thì quyết nhiên anh chồng mọc sừng bao
giờ cũng có lỗi, và phải coi sự lừa dối của vợ là một lẽ chính đáng hợp tự
nhiên mà thôi. Huống chi, cái vấn đề ấy, phàm đã là người văn minh, thì chỉ nên
coi đó là những việc nhỏ nhặt rất tầm thường, không làm không được, thí dụ như
đói thì phải ăn, khát thì phải uống, hay là một chất đã quá đầy trong bụng thì
phải thoát nó ra ngoài, như là đại tiện, tiểu tiện, có thế thôi. Tôi xin nói
thêm cho rõ hơn nữa: nếu một người chồng vắng nhà lâu chẳng hạn, thì vợ người ấy
có đi ngoại tình, người ấy chỉ nên coi như vợ đã phải làm một sự cần không làm
không được, thí dụ mót đái thì phải đi đái, thế thôi. Sự giao hợp là cái gì? Nó
là điều xưa nay ai cũng coi là nhơ bẩn. Vậy thì sao lại cho nó một cái giá trị
mà nó không có, đại khái như chẳng may mọc sừng thì đau đớn đến nỗi muốn tự tử?
Một người lại hỏi:
- Thế thì triết lý của người chồng mọc sừng là thế nào?
Con người Âu hóa cắt nghĩa:
- Là nhắm mắt làm ngơ. Là phải coi mình có lỗi, cho dẫu chưa
thấy lỗi mình ở chỗ nào! Nếu không có gì khuyết điểm, vợ nó đã phải trung thành
với mình chứ? Cốt nhất là đừng làm om lên. Như trên tôi đã nói: vợ cho chồng mọc
sừng hay chồng ngoại tình càng nhiều, ấy chính là dấu hiệu của văn minh. Quả thật
đó chẳng là điều vu khoát... Trong khi ngày cưới chỉ là ngày tận số của ái
tình, thì ngoại tình chính là sự cách mệnh tự nhiên đối với điều trói buộc nhân
tạo của hôn sự. Muốn tỏ mình đã văn minh, nhân loại chỉ nên coi sự thông dâm là
một điều giải phóng cho cái lòng người ham thay đổi... Tiến bộ là gì, nếu không
là sống tự do! ở Tây phương, người ta đã chiếm được sau những cuộc cách mệnh tốn
hàng triệu nhân mạng, những quyền tự do hội họp, tự do tư tưởng, tự do ngôn luận,
tự do đình công... Còn khuyết điểm, nếu chưa chiếm được hay công nhận một cái tự
do nữa, quý hóa nhất, là cái tự do giao hợp! Có cái ấy nữa, xã hội mới thật là
thiên đường! Vì thế, nên tôi đã nói rằng vợ bị chồng lừa, hay chồng bị vợ cho mọc
sừng, hai bên chỉ nên nhắm mắt làm ngơ đi mà thôi. Vì hai bên đều có lỗi. Thêm
nữa, cái tai nạn ấy, cái đau đớn ấy, nếu ta biết nâng nó lên trình độ một chi
tiết văn hoá, coi sự tự do giao hợp cũng như những cái tự do khác, thì loài người
há chẳng đã thoát khỏi cái vấn đề thiên cổ nó vẫn rình phá hoại hạnh phúc của
gia đình và cá nhân đó sao?
Một người khác cười nhạt phê bình:
- Gớm thật cho những tư tưởng quá khích của ông! Ông đã làm
cho cả bọn nam nhi... tiêu danh dự.
Người Âu hóa hỏi lại:
- Thưa ngài, mọc sừng, người đàn ông nào dám chắc suốt đời
không bị cái nạn ấy? Tôi xin nói để ngài chớ quên rằng người đẹp giai nhất đời,
anh hùng cổ kim chưa có ai bằng, là Nã Phá Luân Hoàng đế, thì ngài cũng đã mọc
sừng đó! Đứng trước một cái nạn nó hăm doạ tất cả các đàn ông trên cõi thế
gian, mà lại không biết nâng sự mọc sừng lên trình độ một chi tiết của văn hóa,
thì chỉ là chẳng biết lo xa một chút nào.
Có người hỏi:
- Ông đã xong cái bài đại luận về nạn mọc sừng chưa?
Anh ta gật đầu:
- Tôi đã kết luận.
Rất nhiều người phê bình:
- Cái anh chàng này Tây quá đi mất! Nguy thật! Tây ở cách ăn ở,
Tây ở cử chỉ, ngôn ngữ, lại Tây nốt cả ở cái linh hồn!
Anh ta mỉm cười đắc chí, thấy mình đã thành công. Mục đích của
các sự lập dị yêu ngôn và nguỵ biện của anh chỉ là để cho thiên hạ phục mình đã
"cả trăm phần trăm Âu hoá". Những câu chê bai kia, trái lại, anh cho
là lời khen.
Và, trong khi ai cũng để ý nghe diễn giả, thì không ai để ý
nhìn một thiếu niên đẹp giai lúc ấy chỉ đưa mắt liếc trộm cô vợ trẻ măng và đẹp
nõn, của diễn giả, ngồi ở phòng bên pha trà và sai đầy tớ rót tiếp cho đám
khách khứa đông đúc, từ lúc đầu cho đến lúc cuối cuộc diễn thuyết ấy, đã lắng tai
nghe mớ lý thuyết của chồng một cách cực kỳ chăm chú...
Riêng tôi, tôi tự nhủ: "Chính chỉ vì anh chồng này đã bị
mọc sừng rồi nên mới gián tiếp bênh vực bằng cái quan niệm ghê gớm kia".
Tôi đã lầm.
Việc ấy xảy ra sau, chứ không phải đã xảy ra trước như tôi tưởng.
Đã chừng một năm sau, thấy con người Âu hóa ngày ngày đi nằm
dài tại một tiệm hút. Thiên hạ nói thì ra anh đã bỏ vợ. Rõ mới buồn! Nguyên
nhân cuộc ly dị, chẳng ai hiểu rõ đầu đuôi ra sao. Chỉ biết hiện anh ta đau khổ
lắm. Tiệm hút, chỗ ẩn dật của anh, của những kẻ chán đời, anh chỉ còn có nó là
quý thôi!
Đáp lại các bạn chí thân, anh ta chỉ nói kín hở về nỗi khổ:
- Tôi... tôi đã yêu một người đàn bà!
Nhưng một hôm có người bạn thân khác không hiểu gì, trách anh
bạc tình, tồi tệ với vợ, dã man, và... đủ tất tả những trạng từ khác nữa. Thì
anh nổi giận hỏi lại:
- Mày ngu lắm! Thế khi vợ mày nó cắm sừng vào đầu mày thì liệu
mày có còn cứ muốn ăn ở suốt đời với nó không?
Tôi, kẻ ngoại cuộc, bỗng đâu tôi cũng chán đời. Và hoài nghi.
Thật thế, tôi tin rằng đất Đại Cồ Việt ta là cái đất cằn cỗi, những lý thuyết
và tư tưởng ở đâu đâu, tốt đẹp thế nào mặc lòng, cũng cứ đến đây là thành thối
nát. Tôi không tin dân An Nam ta lại có nổi một điều tín ngưỡng nào, một quan
niệm chắc chắn gì. Bởi thế, con người Âu hóa cực đoan ấy chỉ Âu hóa được ở cái
lỗ mồm mà thôi. Và, than ôi! Suy một người ra nghìn người, suy một sự ra vạn sự!
1939
Đời là một
cuộc chiến đấu
(Truyện vui)
Trong thiên hạ này, ai dám bảo Pierre Quyền là một người khổ
sở? Ai! ừ, đứa nào dám hỗn láo đến thế? Há đó lại chẳng là một tội nặng cũng
như tội phạm thượng?
Phải biết: Pierre Quyền là con bố của một tay trọc phú lừng
danh. Phải biết: P. Quyền đã sang tận Pháp để làm du học sinh, rồi, về nhà, lấy
được một cô vợ đẹp nõn, cho dầu chẳng giật được mảnh văn bằng nào, cái đó cũng
lại là rất hợp thời trang nữa, vì ở xã hội này may mà đã có một số trí thức
chân chính kia không coi văn bằng là chứng cớ về chân giá trị của con người. Lại
phải biết nữa: P. Quyền, mới ba mươi tuổi đầu, cũng đã được hân hạnh là một dân
bẹp tai chính thức, mỗi ngày hút xoàng mất ba đồng bạc thuốc phiện, - cái điều
lý tưởng của một số đông thanh niên Nam Việt... Đứa nào nói ngoa thì không đáng
gọi là giống người! Xưa kia, lý tưởng thanh niên là khôn lớn thì làm quan. Bây
giờ cái lý tưởng ấy đã đổi: khôn lớn thì giầu, thì trúng số độc đắc, để có thể
an tâm nằm một chỗ mà hút, và không làm một việc gì cả, bất kể là hay hoặc dở,
nhưng hễ thấy ai làm việc gì cũng chửi chơi! - Nói tóm lại một câu thì Pierre
Quyền là một người hoàn toàn sung sướng, vì đã là một cái gương hưởng thụ đáng
cho bạn trẻ soi chung. Vậy bảo anh ta khổ sở là thằng nào? Đồ láo!
Tôi đương lấy làm ngạc nhiên vô cùng ở chỗ thấy trong đời là
có sự quái gở ấy, thì, một hôm, tôi lại ngạc nhiên hơn nữa, mà khám phá ra rằng
cái con người dám bảo Pierre Quyền là một kẻ khổ sở, lại chính là Pierre Quyền.
Thì có lạ không?
Vậy thì... ta không nên nóng vội. Mặc dầu những điều kiện hưởng
thụ của ta là "thư bất tận ngôn" đi nữa, nhưng khi óc ta đã có một
cái lý tưởng, bất cứ về loại nào - chỉ có một cái thôi - ta cũng có thể rất khổ
sở được, như những kẻ khổ sở nhất trần đời.
Và cũng như số đông những nhà trí thức ở nước Nam này, than
ôi! Pierre Quyền của chúng ta cũng có trong óc một thứ lý tưởng.
Tôi xin kể "mặt ngang mũi dọc" cái lý tưởng ấy nó
ra sao.
° ° °
Cái lý tưởng ấy, anh Quyền chơi khoảnh, cứ giữ lấy một mình
như một mối tâm sự đau thương riêng, chứ không nói rõ cho tôi biết. Cho nên tôi
phải đoán phỏng, nếu có võ đoán cũng mặc kệ, vì nếu Quyền lại biết rằng tôi ngờ
anh là kẻ khổ sở thì có phen anh tuyệt giao với tôi! Vốn tròn, tôi không muốn mất
lòng ai cả.
Lần đầu mà anh mời tôi đến nhà, lên cái gác riêng tại đó anh
đóng bản doanh cho cái bàn đèn phù dung, thì đó là anh tỏ cho tôi biết rằng tôi
được hưởng một cái thân mật ít có, bạn hữu anh ít kẻ được thế. Anh đã, trong
khi phô phang những cái gì là đắc thắng trong đời, thì cũng đồng thời thổ lộ
cho tôi biết cái gì là đau khổ của anh. Thổ lộ bằng việc, chứ tất nhiên không bằng
ngôn ngữ. Quyền có là một nhà triết học chăng? Cái triết lý của con người ta ở
đời này có phải là hễ sống thì phải biết mùi tân toan chăng? Mà phải chăng một
bậc triết nhân là một người biết sáng tạo cho mình một cái khổ, nếu đời mình sống
chưa đủ thấy khổ?
Tôi cứ băn khoăn mãi về mấy câu hỏi ấy, quên cả rằng ngay trước
mặt mình, đó là một cảnh Bồng Lai hẳn hoi. Phòng hút của Quyền bài trí lịch sự
đặc biệt, toàn những đồ dùng lọc lõi, thật đã đúng như câu anh vẫn kiêu ngạo
nói: "Cái gì tôi đã chơi thì không ai có; cái gì ai đã có thì tôi không
thèm chơi".
Nhất là bộ khay đèn.
Thật là một kỳ công mà người sành sỏi nhất đời có thể thực hiện
nổi. Thật là một lý tưởng mà một bậc anh hùng hiệp sĩ nhất đời có thể thành tựu
được. Bao nhiêu cái tài hoa, bao nhiêu cái kiến thức thu lại và hiện hình ra,
trong cái tiểu giang sơn ấy! Kể cũng bõ công sang Tây du học lắm thay! Đèn thì
là đèn pha lê trong vắt như nước lọc. Tẩu thì là tẩu "sái tách",
nghĩa là khi ta kéo xong một mồi thuốc, nằm lơ mơ vừa được một phút, thì tự nhiên
nghe thấy một tiếng "tách" rất bí mật, rất hữu tình: đó là sái trong
tẩu đã rời ra tự nhiên, để cho về sau, ta chẳng cần lùa vào ruột tẩu cái móc
thô lỗ nó có thể hỗn xược như một sự khám xét của tây đoan tại nhà một ông nghiện
đã nức tiếng là trung quân ái quốc, Pháp Nam trung tín cả hai triều, vì xưa nay
chỉ có dùng thuốc ty mà thôi. Giọc thì là thứ giọc trúc tối cổ, bóng hơn sơn
quang dầu, tay mó vào, dầu có mồ hôi, không phải lau cũng không thấy ướt. Kéo
khêu bấc thì không phải là thứ kéo có bán tại các hiệu tạp hoá, nhưng là thứ
kéo đặc biệt dùng để cắt ruột người của những ông đốc tờ chuyên nghề mổ xẻ, mua
ở hiệu thuốc tây. Còn những cái lặt vặt khác như lọ đựng rượu, vịt dầu, lọ đựng
kéo, gác tiêm, cũng toàn bằng pha lê cả. Và nổi hơn hết, cầu kỳ hơn cả, là một
cái bàn tính nhỏ, khung bạc, chốt ngà mà con triện là những viên ngọc tròn, đỏ
và xanh. Cái bàn tính ấy, Pierre Quyền dùng để đo lường sức tiêu thụ thuốc, cái
lượng của khói đã lùa vào phổi. Một ông nghiện biết tự trọng, có đâu lại tính
nhẩm số những điếu thuốc đã hút bao giờ! Một bà vãi đọc kinh có đâu lại đếm cái
số câu kinh đã thốt ra khỏi miệng bao giờ! Vậy thì cái bàn tính ở khay đèn này
cũng có cái công dụng của giây tràng hạt của bà vãi ẻn. Một khi hút xong một điếu,
Pierre Quyền chỉ việc gạt một con triện bằng cái mũi tiêm là xong.
Than ôi cũng như nhân vô thập toàn bởi cớ Tạo hóa ố toàn, cái
bàn tính ấy vừa là biểu hiện, hạnh phúc lại vừa là tượng trưng đau khổ của con
người có lý tưởng ấy.
Và đấng cứu thế Christ bằng gỗ vàng tâm mà anh Quyền treo bằng
cách đóng đinh cả cái câu rút ấy một lần nữa trên tường, ở chỗ danh dự, lúc nào
cũng như nhăn nhó, cảm động, về cái khổ sở của con chiên chỉ ghẻ lở một cách
tinh thần kia. Vì tôi quên nói rằng Pierre Quyền là một tín đồ tin Kinh Thánh nữa.
Lúc mới nằm vào, tôi được hân hạnh bạn giao hẹn thế này:
- Chả mấy khi anh đến chơi, vậy đã phạm tội thì cũng nên phạm
thế nào cho bõ với sự thú tội, nghĩa là tôi hút một điếu thì anh cũng phải hút
một điếu.
Tôi gật đầu liền, vì lúc ấy chưa rõ cái đức tiêu sài đại lượng
của anh đối với nhà Đoan. Nhưng sau, hỏi và được anh đáp là mỗi bữa anh hút ít
nhất năm chục điếu, tôi mới thất đảm kinh hồn! Phải lạy van mãi mới được anh
ưng cho tôi chỉ phải theo anh 1 phần 10 thôi. Tôi hút điếu thứ ba, anh Quyền
hút đến điếu thứ ba mươi, thì vợ anh lên, ngồi chỗ dưới chân chúng tôi, pha cà
phê một cách vô cùng ngoan ngoãn.
Thấy người vợ trẻ măng như thế, mà lại không tỏ một tí gì là
oán giận chồng hoặc hổ thẹn về cái đức nghiện hút của chồng, tôi mới nhớ ra cái
gia tài ba cửa hiệu thợ may tây rất to thuộc quyền sở hữu của bạn tôi. Bỗng đâu
tôi có thể có được cái ý nghĩ khoan dung này: "ừ, nói cho cùng thì thằng
cha này hút cũng là phải! Tội gì mà chẳng nghiện, khi ta ở giữa một xã hội khó
thở, mà bao nhiêu kẻ có học thức, có tâm huyết, ngoài cái sự hy sinh làm mồi
cho ngục thất và máy chém thì thôi, cũng đến khoanh tay chịu vậy, chẳng làm được
trò gì!" Rồi, xa xôi, tôi khen Quyền là một người may mắn được hưởng hạnh
phúc.
Nhưng Quyền lại ra ý không bằng lòng. Bảo anh sung sướng, anh
cho thế cũng thí dụ như bảo anh là đồ ngu! Vì rằng anh cãi:
- Anh nói nông nổi lắm. Con người ta ở đời, phàm đã có một quả
tim để sốt sắng, một khối óc để nghĩ ngợi, thì có thể nào lại sung sướng được!
Tức quá, tôi bèn hỏi:
- ừ, thế như anh, thì anh còn thiếu thốn cái gì để khao khát
cái gì nữa nào?
Vợ anh Quyền cũng họa theo:
- Thưa bác, ấy nhà tôi cứ nói ương thế đấy, mà không biết rằng
được thế này cũng đã là sung sướng hơn tiên.
Quyền lim dim cặp mắt, đáp bằng những lời triết lý viển vông:
- Vì rằng người ta ai cũng thế cả, dầu nghèo, hay giàu, dẫu
thừa thãi hay thiếu thốn, thì đều cùng khổ sở cả, duy cái khổ của thằng giàu
khác với cái khổ của thằng nghèo, thế thôi. Tôi không nói rằng tôi cũng có một
hoài bão riêng, một lý tưởng riêng, nhưng tôi nói rằng đối với ai cũng vậy cả,
cuộc đời chỉ là một chặng đường dài đi thì nhọc mệt, chán nản; vì rằng đời là một
cuộc chiến đấu...
Tôi chưa hiểu rõ nhưng rồi chúng tôi cũng nói sang những chuyện
khác. Quanh bàn đèn, ta có thiếu gì đầu đề mà bảo cứ phải bám mãi vào một lý
thuyết mà ta không hiểu cho nhau!
Anh Quyền, lúc ấy đã hút đến điếu thứ năm mươi.
Tự nhiên thấy anh ngồi lên, sốt sắng mời:
- Này! Làm một điếu nữa nhé?
- Thôi chịu! Say lắm rồi.
- Thì một điếu nữa thôi thì đã làm sao? Nghiện ngay đấy mà sợ!
- Không phải sợ nghiện nhưng thấy buồn nôn rồi. Khó chịu lắm.
- Thôi thế thì anh về đi cho xong.
- Anh đuổi, chứ anh giết tôi, tôi cũng xin chịu thôi.
Tôi thấy anh Quyền nằm xuống, ruỗi thẳng cả chân lẫn tay, thất
vọng hết sức. Mặt anh có những nét buồn rầu, đáng cho ta động mối thương tâm. Đến
lúc này, tôi mới hiểu ra rằng tuy vậy, Quyền vẫn không là người sung sướng thật!
Tôi bèn vội cứu chữa:
- Ờ thì tiêm cho tôi một điếu nữa vậy.
Rồi tôi hút, rồi bạn tôi gạt con triện trên bàn tính một cái,
rồi bạn tôi ngoay ngoáy tiêm một hồi dài. Để hút chứ không phải để mời tôi nữa.
Trên cái mặt hốc hác ấy, ở cặp mắt lờ đờ ấy, kể từ điếu thứ 52 trở đi hạnh phúc
hiện ra bằng nét và hào quang.
Tôi hỏi:
- Gớm, anh hút thêm mà sao hút nhiều thế?
Anh đáp rất tự nhiên:
- Nếu đã hút thêm, thì cứ phải hút từng mười điếu một dịp,
không hơn cũng không kém được.
- Sao lại không thể nào hút thêm một vài điếu mà thôi?
- Vì kiêng. Hút thêm dưới một chục sợ sái mất Thần Tài. Nếu
Thần Tài mà sái, có khi không có thuốc đâu mà hút nữa.
Câu mê tín ấy, Quyền đã nói một cách sốt sắng, cũng như đức
Giáo Hoàng có thể nói quyết: "Tôi tin rằng Thượng Đế!" vậy. Từ đấy,
tôi nằm yên, lim dim mắt lại xem anh ta "làm ăn" ra sao... Tiêm đến
điếu thứ 59, bỗng Quyền lại gạ tôi:
- Này, lại hút một điếu cuối cùng nữa nhé?
Biết từ chối là thất sách, tôi không đáp, chỉ ngồi lên nhăn mặt,
một tay nắn cổ. Rồi tôi "oẹ" một cái để chảy nước bọt vào ống nhổ, vờ
như đã buồn nôn. Thì Quyền không nài ép nữa.
Anh ta hút điếu thứ 59, điếu thứ 60, rồi thở dài một cái thật
là chán đời.
Anh gắt như tôi có lỗi nặng:
- Chó thật! Có một thằng bạn, mà lại không hút!
Rồi anh quay mặt vào tường, lại thở dài. Chẳng biết có phải
đó là anh đương đau đớn vì có nhân ngãi mới chết đó chăng! Chẳng hiểu có phải ấy
là anh đương khóc lóc đó chăng!
Nhưng bỗng anh cựa mình đánh thình một cái, quay mặt lại bàn
đèn một cách rất cả quyết. Trên mặt anh, tôi thấy cả một sự sốt sắng phi thường,
cả một cái can trường xuất chúng. Anh hút điếu thứ 61 để rồi thở dài một cái
sung sướng như một đứa trẻ vừa uống xong thìa dầu gan cá thu. Thế là, từ điếu
62 trở đi, tiếng thuốc chui vào nhị tẩu vo vo như máy xe hơi mở tốc lực mỗi giờ
70 cây số! Anh tiêm thuốc, hút, gạt bàn tính thoăn thoắt như một cô gái quay tơ
gieo thoi... Tôi đã hiểu cái gì là sự nhanh nhẹn, cái gì là mỹ thuật.
Cho đến điếu thứ 69, đã xe lại chậm chậm rồi. Người ấy lại tỏ
vẻ thẫn thờ nhớ tiếc, như một người nạ giòng than phiền cái tuổi xuân qua. Quyền
đã để một thời khắc khá lâu mới hút nốt điếu 70, chẳng khác một đứa trẻ rụt rè
mãi mới dám ăn cái bánh ngọt mà nó vừa muốn nếm lại vừa muốn giữ.
Dẫu sao, tôi cũng tưởng thế là xong bữa rồi.
Tuy vậy, vờ dở ngủ dở thức, lúc ấy mắt tôi vẫn lim dim...
Anh Quyền lại nằm đườn ra, rất lâu... Rồi anh co chân, ruỗi
chân, co tay, ruỗi tay, thở dài, khó chịu, ngán ngẩm. Rồi anh lại quay mặt vào
tường, như giận nhau với đèn dầu lạc, hoặc với tôi. Sau cùng thì, chao ôi! Anh
lại cựa mình đánh sầm một cái, quay mặt ra một cách vô cùng quả quyết lần thứ
hai nữa! ấy thế là điếu thứ 71 và 72 nhanh nhẹn, vui vẻ, hùng hồn bao nhiêu,
thì điếu thứ 78 và 79 buồn rầu, uể oải, phân vân, thất vọng bấy nhiêu... Anh để
cách 15 phút mới hút điếu thứ 80, tức là điếu hạ hồi phân giải.
Vì đến thế thì thôi, chứ anh ta không quay mặt vào tường đau
đớn để lại có dịp cựa mình hùng hồn.
° ° °
Trong thiên hạ này, ai dám bảo Pierre Quyền là một người khổ
sở? Ai? ừ, đứa nào mà dám hỗn láo đến thế?
Tôi!
Đối với anh đời là đầy rẫy những cái tai biến, đại họa tức là
những điếu thứ 8, thứ 9, và điếu chẵn chục, tuy đời cũng có nhiều hứng thú cho
anh, như điếu thứ 1, 2, thứ 3, vân vân... kể từ số 50 trở đi.
Những lúc quay mặt vào tường nằm im lặng, cái xác thịt yên
nghỉ ung dung ấy, chính nó đương gói một linh hồn lao đao tan tác vì giông tố,
đương gắt gao chiến đấu, chẳng kém cái phương pháp trường kỳ để kháng chiến Nhật
của Tàu!
Anh Quyền có thể cứu chữa cái khổ ấy bằng cách mời một vài
người bạn sẵn lòng hút hộ cái điếu thứ... linh một để làm khởi điểm cho anh khỏi
bứt rứt lương tâm mà kéo những điếu sau. Nhưng đó là sự tốn tiền!
Mà bắt một ông nghiện tốn tiền, thì khó khăn khác gì bắt nhân
loại không đau khổ nữa.
Gương
.... tống tiền
- Thôi chả chừa nổi đâu! Dậy cầm lấy hai hào đi mua về mà
kéo.
- Không, không việc gì. Tôi còn chịu được, bác cứ mặc tôi.
Lê Vân đáp xong bạn, mím môi quay mặt vào tường. Chàng tuy rất
khốn khổ, nhưng không muốn chịu luỵ bạn nữa. Nghiện hút đã ba năm mà muốn
"cai khan" là chuyện rất khó, song Vân đã quả quyết dám có ý nghĩ: chết
thì thôi. Nếu không thoát nạn phù dung, rồi Vân cũng đến phải tự tử. Vân đã
chán cái sống bêu rếu ở đời.
Hơn nữa, người bạn ấy chưa chắc đã có bụng chân thành. Biết
đâu chẳng định bắt chàng chịu ân rồi thì để có cớ buộc Vân làm một việc nhẫn
tâm mà Vân không muốn nghĩ đến nữa.
Trước kia, Vân đã là kẻ thắng trận trong tình trường. Nhưng
những phút sung sướng bao giờ cũng ngắn. Sau, người yêu của Vân phụ Vân. Chàng
bèn làm bạn với ả phù dung, những muốn hưởng hạnh phúc trong cái quên, muốn lên
cái cảnh thiên đường mà người ta có thể thò tay ra với được.
Từ một thiếu niên có tương lai tốt đẹp, Vân đã hóa ra kẻ bị
xã hội khinh bỉ... ma dại thân tàn. Giữa lúc này, người bạn cưu mang chàng xui
chàng... đem đánh giá những dòng chữ ái ân mà người yêu Vân đã gửi cho Vân khi
xưa.
Không, thà chịu chết còn hơn bị ghét. Hoặc phải có cách gì
sang trọng hơn kia. Chứ để bị khinh bỉ, Vân không muốn làm. Thà chàng cứ chịu
cho những cơn nghiện vô hình nó vật vã đã.
° ° °
Sự tê mỏi các đầu xương và đau quặn ruột gan lôi Vân phải ngồi
nhỏm lên mà ôm bụng như bị có kẻ đâm: "Trời! Đau chết!". Người bạn vội
tung chăn dậy, đấm lưng cho chàng. Hai mắt Vân lúc đó quắc lên những ánh sáng,
long sòng sọc như mắt người điên. Mặt Vân chằng chịt những nét răn đau đớn.
Không thể chịu nổi nữa, Vân đã muốn đổi ý. Chàng đã thấy rằng
vẫn cứ yêu kẻ đã phụ mình là ngu. Lại thêm người bạn thừa cơ xúc xiểm:
- Anh Vân, nên biết nghe lẽ phải. ở đời này... tội gì? Đời bạc
như vôi mà mình cứ chung tình thì mình là thằng ngốc. Tôi vẫn còn nhớ cái ngày,
năm năm trước đây, anh đến tìm tôi nói ba hoa như đã nắm được hạnh phúc ở đời,
vì Loan thương yêu anh. Thế nhưng mà tôi còn nhớ rõ hơn: một ngày tiết lạnh gió
đông, anh đến tìm tôi để phô cái dáng người lừ đừ, nhọc đời của anh, rồi kéo
tôi đi hút thuốc phiện. Loan đã không đủ can đảm cưỡng lời mẹ cha, đã vâng chịu
lấy chồng! Anh còn nhớ không? Nằm dài bên khay đèn, anh kêu không còn cần gì nữa,
vì đời anh đã là đời bỏ đi! Bây giờ... bây giờ, đời anh quả thật đã là đời bỏ
đi! Nhưng mà, bây giờ thì... đời Loan ra làm sao? Loan là vợ một ông Tham! Có
hai đứa con, có một ô tô, có năm nóc nhà! Tôi muốn hỏi anh về cái khốn khổ của
anh đây, phải chăng Loan đã có một phần trách nhiệm?
Vân không đáp, nhắm mắt để rơi hai hàng lệ. Người bạn khẽ bảo:
- Những thư từ trước của Loan gởi cho anh đâu? Đưa quách đây
tôi!
Vân thở dài, thò tay móc túi rồi vứt xuống chiếu cái chìa
khóa va li của chàng.
° ° °
Bà Tham ngồi nghe như một người chịu tội. Vân nằm đó ngượng lắm,
nhưng biết chạy trốn đi đâu? Hai nữa, chính vì Loan, thân thế chàng nay mới đổ
sụp đến thế. Rồi Vân nghĩ: "Phải chăng ta là kẻ đáng thẹn trước mặt người
đàn bà bạc tình?". Nghĩ rồi, hình như chàng thấy lương tâm đáp hộ rằng:
Không. Đã thế thì Vân cứ việc nằm dài, ngạo mạn nhìn Loan chứ ngại gì nữa.
Ông bạn của Vân cứ nói mãi, khiến Loan đến táng đởm kinh hồn:
- Thưa bà, không phải tôi có ý tống tiền bà. Tôi chỉ muốn
giúp bạn tôi. Bà trông lại mà xem cái bộ mặt ghê gớm, xanh xao vì ả phù dung của
một kẻ thất vọng vì tình. Nếu bà đã chung tình, bạn tôi có đâu đến nỗi. Bây giờ
bạn tôi cần độ ba trăm bạc để tính đường buôn bán, mong bà giúp cho. Rồi bạn
tôi sẽ trả lại hết những bức thư xưa của bà. Tôi cũng mong không khi nào ông
Tham nhà phải lo phiền về những cuộc ái ân mà vợ ông ta đã trải cảnh... trước
khi về với ông.
Bà Tham đứng dậy:
- Thưa ông vâng. Cảm ơn ông đã cho gọi tôi đến nói rõ mọi
chuyện. Nhưng tiền không có ngay bây giờ, ông để đến chiều, tôi xin cầm sang.
Ông bạn của Vân cười gằn:
- Vâng, chiều mời bà sang cho. Mà xin bà nghĩ cho kỹ. Hay bà
có đi trình sở Liêm phóng thì để tôi dự bị làm vỡ chuyện một thể!
Bà Tham tái mặt, lắp bắp: "Có khi nào!" Rồi, trước
khi xuống thang, Loan quay lại nói với Vân: "Tôi không đời nào để cậu khổ
sở, cậu cứ yên tâm!".
° ° °
Hai tay đút túi quần, người bạn của Vân lắc lư cái đầu, đi đi
lại lại, giọng nói tuy ôn tồn nhưng gằn từng tiếng một mà hăm doạ bà Tham:
- Thưa ông, ông cũng xét cho... Giữa lúc này, chạy được ba
trăm bạc nào phải chuyện dễ!
- Mỗi phút bà để chậm là một phút khổ cho bạn tôi.
- Thế mới khốn nạn cho tôi! Trời ơi! Làm thế nào có ngay bây
giờ?
- Bà thử ngó lại mà đoán bệnh trạng bạn tôi xem? Xin tùy bà.
Loan đưa mắt nhìn thì lúc đó Vân đang mải miết đọc lại một lá
thư. Mặt Vân cứ theo dòng trong thư mà mỗi lúc một thêm tươi tỉnh. Sau cùng, chợt
thấy Vân ngồi lên xua tay reo lớn: "Hãy khoan!" Cả hai người chưa kịp
hiểu ra sao, Vân đã lại thêm: "Thôi, không! Tôi không muốn bắt đền Loan nữa!
Đó là lỗi tại tôi, chỉ tại tôi mà thôi!".
Người bạn đạp mạnh một cái xuống bàn. Nhưng Vân cứ bình tĩnh
tiếp:
- Thật thế bác ạ. Đây để tôi đọc bác nghe lời lẽ trong một lá
thư của Loan...: "Muốn cho vẹn chữ yêu thương cùng nhau, tất phải có thể
tính với nhau cuộc trăm năm mới được. Hai gia đình chênh lệch như vậy, chắc
không khi nào mình lấy nổi tôi đâu. Vậy thì, thà ta không nên yêu nhau, mai sau
mới mong khỏi phải đau lòng. Tôi van mình, xin đừng đem chữ yêu thương ra cám dỗ
tôi, để tôi sa ngã, rồi mai sau biết đâu chẳng đến đau khổ...?" Đấy, bác
xem!... Có phải lỗi tại Loan đâu. Sở dĩ tôi thế này là vì thân làm tội đời,
mình làm mình chịu! Thôi, Loan ạ, anh xin lỗi em. Em cứ việc về.
- Thế này là nghĩa lý gì?
Không đáp lời, Vân ném cả tập thư vào lò sưởi.
- Trời ơi! Thằng điên! Mày đốt mất ba trăm bạc!
Người bạn kêu xong chạy lại lò sưởi nhưng Vân nhanh chân đã đứng
ngăn được. Bị bạn đẩy, Vân ôm xốc lấy bạn đè xuống giường, chờ lúc tập thư đã
ra tro cả mới đứng lên. Cáu quá, người bạn sửa lại tóc và cổ cồn quát:
- Đồ khốn nạn! Thế này rồi thì mày bước khỏi nhà tao!
Vân gượng cười:
- Tôi xin lỗi bác. Mà bác có mời tôi cũng không mặt nào dám ở.
° ° °
- Mời anh cứ ở chơi. Nhà tôi dắt các cháu đi xem hát, khuya mới
về.
- Thôi, thế là đủ, chả còn chuyện gì nữa. Mình sung sướng là
tôi sung sướng. Thôi, tôi đi được an lòng.
Vân nói xong, hấp tấp lại cầm lấy va li. Loan vội đưa ra tập
giấy bạc.
- Ô hay! Thế là cái gì?
- Tiền, số tiền ba trăm. Lúc ấy tôi đã toan đưa ra song sợ chỉ
béo thằng cha ấy nên tôi tìm kế trì hoãn. Tôi vẫn nghi hoặc lắm, không lẽ mình
lại nỡ xử thế với tôi. Chắc chỉ cái thằng khốn nạn ấy xúi giục! Thế rồi khi
mình vứt thư vào lửa, tôi sung sướng vô cùng. Không phải vì khỏi mất tiền,
nhưng vì mình vẫn có lòng yêu tôi. Tôi lại toan đưa ngay tiền ra. Song chợt
nghĩ rằng như vậy chỉ béo thằng khốn nạn kia, tôi lại không đưa nữa. Bây giờ
tôi mới đưa mình, để mình hưởng riêng mà thôi. Cầm lấy!
- Không! Tôi không muốn lấy thế. Đối với bạn tôi, như vậy là
bất lương. Dù người ấy hết là bạn tôi, tôi cũng không muốn bất lương với người
ta. Ai nỡ mặt chó lấy tiền tiêu riêng một mình!
- Ôi, chà vẽ! Việc gì mà phải đạo đức thế! Anh muốn không bất
lương, nhưng em đã có lòng thành. Xin chớ phụ lòng thành của em.
- Không, Loan ạ, anh không đáng hưởng. Năm năm xưa, anh đã
yêu em. Bây giờ anh lại yêu em. Nhưng còn cái lúc gọi em sang tống tiền. Lúc
đó, anh đã định phụ em, làm hại em. Tại sao trước sau đã chẳng giữ vững một
lòng yêu mà thôi? Tại sao lại có phút điên rồ mà... đổ khốn? Do thế, anh tuyên
án cho anh không đáng được hưởng sự giúp đỡ của Loan chút nào.
- Thôi thì dù sao anh cũng đã biết hối hận rồi. Người biết hối
không đến nỗi là người bỏ. Anh cứ nhận cho. Loan van anh.
Vân ngần ngừ một lát rồi giơ tay nhận tiền.
° ° °
Vân lừ lừ cầm va li vào, đến giường ngồi phịch xuống. Chàng
chờ xem bạn có thái độ thế nào, nhưng bạn chỉ ngồi im. Vân làm ra bộ chịu nhục:
- Bác ơi! Bây giờ bác đuổi tôi đi thì tôi biết đi đâu? Thôi,
bác tha thứ cho tôi, tôi sẽ kiếm cách đền bù bằng cách khác.
- Bác dại lắm! Ba trăm bạc đối với nó mùi gì?
- Khốn nỗi tôi không muốn bạc tình.
- Thì nó chung tình gì với bác?
- Nhưng mà tôi đã trót yêu. Yêu nghĩa là tha thứ. Muốn tỏ với
đời rằng mình cũng đáng có lòng yêu thì phải quân tử.
- Bác là thằng gàn!
- Thế bác có dung cho tôi được nhờ vả những ngày tàn ở đây nữa
không?
- Có gì mà chẳng được. Nghĩa là cùng lúc túng quẫn, anh em mới
phải xui nhau "làm tiền". Song bác đã muốn quân tử thì thôi. Còn lúc
nãy, lúc quá nóng vì tiếc tiền, tôi đã nói những điều gì thì bác bỏ ngoài tai
cho. Bác đi xong tôi hối quá. Tôi thấy tôi đê tiện. May sao bác lại quay trở lại.
Thôi, những việc xảy ra ta nên quên đi. Bác cứ ở đây với tôi, tôi sẽ nghĩ cách
khác làm tiền.
- Trời ơi! Làm thế nào cho có tiền bây giờ!
- Lúc nãy thì lại chả nhớ đến cái lo ấy.
- Tôi không thể nào cai được, bác ạ.
- Hay là hút? Còn hai hào đây! Dù khuya, tôi cũng xin đi đấm
cửa.
- Dễ tôi phải hút đến bốn hào!
- Thôi, chỉ còn hai thì hãy hút hai. Mai ta lại chạy vậy.
Vân nghe xong đứng lên vỗ vào vai bạn:
- Anh thật là người tri kỷ của tôi.
Đoạn Vân vất xuống chiếu tập giấy ba trăm đồng. Người bạn ngẩn
người ra nhìn, kinh ngạc đến nỗi không nói được nữa. Vân cười sằng sặc khoan
thai kéo điếu thuốc lào rồi mới cắt nghĩa cho bạn nghe:
- Anh không tinh chút nào. Cách tống tiền của anh chỉ tổ để
nó oán. Đằng này, tôi tống tiền mà nên ơn nên nghĩa, mà nó phải yêu thương kia.
Lúc bước vào, trông thần thái nó rất mạnh bạo, đứa không có tiền tất không thế
được. Nó trì hoãn vì nó căm những sự hằm hè của anh mà thôi. Lúc ấy, chả lẽ lạy
nó? Tôi mới đánh vào mặt cảm tình. Những lúc đọc thư, vứt thư vào lửa chỉ là
đóng kịch cả. Thế cho nên có tiền ngay đấy, đấy anh xem. Mà trước khi muốn để
anh cùng chung hưởng giàu sang, tôi còn về thử anh đã. Cũng may cho anh vẫn giữ
được lòng tốt nên mới có sự này. Nếu anh đểu cáng thì tôi đã đi ngay, hưởng
riêng một mình tôi. Chúng ta là tri kỷ với nhau: tuy anh thiếu khóe gian hùng,
song có lòng trung hậu gỡ lại. Mà phải nhớ rằng không phải ba trăm này mà thôi
đâu. Ta tống tiền nó nhưng nó vẫn phải thương yêu ta, có thế mới đáng làm việc...
không danh giá gì cho lắm. Bây giờ tôi lại hút. Hết tiền sẽ lại có tiền, có tiền
bằng cách không phải tống tiền! Vậy anh đã vui chưa?
Nói xong, Vân nằm xuống giường bắc tay ngang trán mà cười gằn,
cười cái cười chua chát, ý vị: khinh người và cũng tự bỉ mình.
Ăn mừng
Bữa nay cụ Phán Uyên, đã được hiểu rõ cái gì là cái vinh
quang, những đồ mừng quý giá, những tấm câu đối đỏ treo la liệt khắp tường, đã
đủ an ủi về số tiền bỏ ra. Cái cảnh "ăn uống ầm ầm" hai hôm nay không
khiến cụ sốt ruột nữa. Đọc những chữ chúc mừng rất văn chương bằng dạ đen trên
nền đỏ, cụ mới khám phá ra rằng: chao ôi thì ra mình xưa nay vẫn có nhiều đức
tính mà chính mình không biết, để mà sướng như một kẻ chết được lắm câu đối
khóc có thể được thỏa cái vong hồn... Thật là linh đình, và vui vẻ. Thật là vinh
dự cho tổ tiên.
Trong hai ngày ăn uống thì hôm qua để cho họ hàng và con cháu
trong nhà. Chính hôm nay mới là để mời khách ở tỉnh. Đây, bàn các bạn đồng sự của
cụ, phần nhiều là nhà nho, số đông đã có nhiều phẩm hàm, huy chương. Tô điểm
cho dăm đám người ấy có một quan Bố và một quan Phủ, họ bên nhà vợ của cụ, và
đã làm cho cụ tăng thêm sĩ diện. Kia là bàn các ông cũng tai to mặt nhớn thuộc
tân học, bạn hữu của "anh tham" nghĩa là vào hàng con cháu cụ mà
thôi. ở buồng xép bên cạnh thì các cô đốc, cô giáo, bạn hữu của con gái cụ vậy.
Ai cũng về dự tiệc vui vẻ và đông đủ. Thì phải biết cái cách xử thế xưa nay cụ
là tròn trĩnh thế nào! Một khi cụ đã về làng thì cũng phải thế nào cho đẹp mặt
với người làng! Khách tỉnh về tới tấp hết lượt này đến lượt khác, phần nhiều bằng
xe nhà, và có cả hai chiếc xe hơi đỗ ngoài cửa đình nữa! Nghĩ như thế, cụ lại
kiêu ngạo như một đứa bé con...
- Chúng mày đâu cả rồi! Rõ thế đấy! Ngần ấy con người để sai
bảo mà gọi lấy thêm có một ít dấm nữa cũng không đứa nào đi lấy được đấy!
Lời gắt của cụ lẫn lộn mất vào tiếng đàn, tiếng trống, tiếng
hát, tiếng phách... Cụ nhìn trước nhìn sau, lắc đầu thở dài... Vì có ba tên người
nhà thì hai đứa đương bưng những bát cỗ mới hâm cho những bàn ở xa, còn một đứa
thì đương chới với, buộc bánh pháo dài vào ống máng. Cụ toan tiến bước xuống
phía nhà bếp thì chợt một bàn tay nắm cụ lại, trước một câu nói sốt sắng thế
này:
- Cụ ơi, cụ hãy vào đây với con!
Đó là một khách trẻ tuổi, mà cụ không nhớ rõ tên, âu phục chải
chuốt khiến cụ kính nể lắm.
- Con tấp tểnh cũng làm được một bài hát để mừng cụ, chẳng biết
hay dở như thế nào, xong cũng xin mạn phép các quan khách đây một phen...
Người ấy mời cụ ngồi xuống ghế, đưa ra một bài thơ bằng mực
đen giấy trắng, lại nhét luôn cả cái dùi trống vào tay cụ nữa, nói tiếp:
- Bài hát mừng cụ thì xin cụ thưởng thức mấy tiếng trống cho
chúng con cùng nghe.
Thẹn quýnh cả người, cụ Phán Uyên đẩy cái trống ra, ấp úng:
- Văn chương của ông... thì xin... để phần ông, vì thật tình,
tôi cũng không biết đánh trống cô đầu.
Rồi cụ giương mục kỉnh lên đọc bài hát nói ấy; xong mỗi câu lại
thấy mặt cụ vui tươi thêm lên. Sau cùng, cũng không biết bình phẩm dài lời, cụ
chỉ đưa trả tác giả bài hát với cái dùi trống và từ chối:
Khi đưa cho đào nương mảnh giấy, cụ rất hổ thẹn, thấy rằng
mình quê mùa một cách đáng giận, và thú ả đào quả thật là một thứ văn chương
tao nhã thật, chứ không phải chỉ là những trò bậy bạ như người ta vẫn nói xưa
nay.
Cố nhiên, tác giả những câu hát nói kia nhất quyết chối từ.
Cuối cùng, danh dự thưởng văn về tay người cao chức nhất bàn tiệc, là quan Bố
Chánh, ông anh họ nhà vợ của cụ chủ. Quan Bố gọi cụ Phán đến ngồi bên mình, rót
một cốc rượu nhỏ để trước mặt cụ, giao hẹn bằng một thứ tiếng đồng sang sảng,
nghiêm nghị và đáng sợ như những lệnh ban ra giữa công đường:
- Đây, cứ mỗi tiếng chát thì ông lại cạn một cốc rượu, vì mỗi
tiếng chát của tôi không những là thưởng một câu văn mà thôi, nhưng còn đồng ý
với tác giả để ca tụng cái cảnh phú quý, an nhàn của ông nữa.
Mọi người vỗ tay, rồi có đến hàng mấy chục người nữa vỗ tay
theo. Bên buồng xép ở tận trong kia, đám phụ nữ cũng bỏ đũa bát để đứng thấp
thoáng trong mành nhìn ra, chú ý đến cái đại sự ấy nó làm tăng phần trang trọng
cho cuộc vui tuy vậy trước vẫn tẻ ngắt. Cụ Phán Uyên xoa tay xin lỗi một cách
hiền lành đáng tức cười:
- Bẩm, mỗi tiếng chát lại một cốc rượu thì có lẽ cũng nhiều
quá, vậy xin cho xong bài thì hãy cho một cốc.
Tuy có một vài cụ phản đối lại cụ phán để về bè với quan Bố
nhưng sau cùng các quý khách cũng biết nể cái sức khỏe của mái tóc hoa râm. Rồi
thì cô đào e hèm dọn giọng, rồi bác kép vặn lại dây đàn, rồi quan Bố tom tom
tom cho khách ngừng đũa lắng tai nghe để trở nên một cử toạ nghiêm chỉnh.
Cành mai hạc đậu thêm xinh,
Bốn mươi năm nữa, khang ninh còn dài,
Ngày xuân cảnh thế tươi cười,
Đào nguyên há để riêng người ngày xưa!
Gia nhân chinh cát,
Trên tiệc đào kẻ trước dắt người sau...
Cuộc trăm năm trời có hẹn ai đâu?
Con hạc trắng bấy lâu về bến Nhuệ,
Mai cốt cách mai già mai vẫn thế
Đào nhởn nhơ đào thắm vẻ thêm xuân.
Lắng tai nghe tiếng chúc lẫn cung đàn,
Cất chén cúc mừng người trên thọ tịch,
Khách bạch ốc nào ai tiên trích
Xin dang tay "giật phịch" quả đào tiên...
Cõi trần cũng có Đào nguyên.
Quan Bố ngất ngưởng đánh luôn: tom tom tom chát tom!
Đoạn cụ gật gù nói rõ to:
- Hay thật đấy chứ! Văn chương như thế mới gọi là tân thời...
"Xin dang tay giật phịch quả đào tiên". Thế có lẳng lơ không? Chuyến
này thì cụ phán nhà tôi sẽ vì câu thơ ấy mà cải lão hoàn đồng!
Quan Bố ngừng một lát, trông trước nhìn sau, rồi vẫy tay gọi
một cô trong bốn cô đào rượu mải tiếp cho các quan khác gần đấy:
- Này, cô kia! Cô áo đỏ kia! Lại đây đỡ hộ chén rượu cho chủ
nhân cạn hộ đi.
Khi cô đào trẻ tuổi đến đứng bên cụ phán, bẽn lẽn nâng cốc rượu
thì nhanh như cắt, quan Bố đã nắm lấy một bên cánh tay cụ phán mà quệt một cái
vào ngực cô ả, để rồi cười nức nở cắt nghĩa:
- Này thì đây: xin dang tay giật phịch quả đào tiên! Các ngài
đã thấy chưa?
Lúc ấy cụ Phán Uyên đương mải hớp chén rượu, cho nên khi cụ vội
lôi được tay ra, cái cử chỉ bó buộc kia cũng đã xong hoàn toàn. Cụ thẹn đỏ cả mặt,
sung sướng, đến ứa nước mắt, vì lúc ấy, cử toạ khen cụ sốt sắng như khi họ đi
xem đá bóng mà gặp lúc có quả vừa sút vào gôn. Cụ vội vàng đứng lên chạy tuy
không biết định chạy đi đâu, như người muốn đi trốn. Sau cùng, cụ đánh trống lảng
bằng cách gọi đầy tớ ra mà mắng:
- Lấy thêm ít dấm tây vào bàn này! Sao mày đốn thế, mày để
tao gào rát cả cổ!
Tuy nhiên giọng gắt của cụ thật tình lúc ấy cũng không dữ tợn
là mấy, vì cụ vẫn còn thấy rõ cái cảm giác dịu dàng về một bên ngực cô đào trẻ
nó chưa tiêu tan hẳn mà lại còn như đọng quyện lại ở cả năm đầu ngón tay già
nua đã mấy chục năm rồi chẳng còn biết gì là mùi xuân.
Chợt thấy quan Phủ gọi cụ rồi nói một hồi dài:
- Này chủ nhân ơi! Nhà nho là thâm lắm đấy nhé! Thôi xin các
ngài cũng đừng ai nỡ ép duyên ông anh tôi nữa. Ông anh tôi đã trình bày cái cảnh
ngộ éo le, khó xử, của ông anh tôi, ra với thiên hạ rồi! Đấy các cụ xem: quan Bố
tôi vừa mới ép duyên xong thì ông anh tôi tức khắc gọi người nhà lấy thêm dấm.
Chao ôi, thế thì ông anh tôi đã đủ thâm trầm hay chưa? Vì rằng trong Kiều có
câu: Dấm chua lại tội bằng ba lửa nồng!
Rất nhiều người lại vỗ tay ran, cười to đến vỡ nhà vỡ cửa. Một
cụ bảo cô đào non áo đỏ:
- Này em ơi, thôi thế thì em cứ cam chịu ở trầm luân khổ hải
thôi chứ người quân tử chẳng vớt em đâu!
Một người trẻ tuổi đứng lên nói:
- Thưa các cụ trăm điều chẳng qua chỉ tại tác giả cái bài hát
nói ấy.
Ông khách âu phục trẻ tuổi từ nãy ngồi lặng im vừa thẹn vừa
kiêu ngạo về cái bài văn của mình, đương lắng tai nghe xem có ai thì thào chỉ
trích gì không, bấy giờ đành phải đứng lên, đón đỡ:
- Bẩm các cụ, chúng tôi không ngờ rằng cụ Bố tôi đây ngài lại
hiểu bài văn ấy một cách kỹ đến thế để mà đem lý thuyết thực hành ngay như thế.
Quan Bố cười khà khà, lên râu bảo thiếu niên:
- Thế thì đôi ta tri kỷ lắm chứ còn gì nữa! à quên, xin các cụ
thưởng một cốc cho tác giả bài văn hữu tình. Chị áo đỏ đâu, chị lại mời ông ấy
cho tôi một cốc nữa.
Lại vỗ tay...
Nhưng chợt một ông khác, cũng trẻ tuổi, mặt đỏ nhất tất cả, đứng
lên trịnh trọng nói:
- Bẩm trên các cụ, dưới các ông...
Mọi người giật mình lắng tai nghe biết là sắp có chuyện. Ông
kia tiếp:
- Quan Bố chánh thưởng tác giả bài hát nói ấy cốc rượu là vì
nó có tính cách hữu tình. Tôi cũng xin hoan nghênh. Nhưng mà xong rồi thì tôi
xin các cụ và các ông cho tôi phạt nhà thi sĩ ấy ba chén vì đó là một nhà thi
sĩ tham lam! Vì sao? Vì cụ phán nhà tôi đây bữa nay chỉ có khánh thành nhà mới
thôi, vậy mà bài hát mừng có câu mừng cả tiệc thượng thọ nữa, thì, cái lối
"tiện dịp" như thế là có hại cho tôi, vì sang năm đúng sáu mươi mà cụ
phán tôi không khao thượng thọ nữa thì là lỗi ở nhà thi sĩ ấy. Vậy thì phải phạt.
Tác giả bài hát nhìn quanh một lượt thấy trong dăm chục quan
khách có một số đông gật gù biểu đồng tình với ông phản đối kia, thì rất lấy
làm lo, bèn cãi:
- Tôi xin uống ba chén rượu ông phạt! Nhưng nếu sang năm cụ
Phán tôi lại khao thượng thọ nữa, thì ông sẽ đáp tôi ra sao? Và có lẽ ông chưa
nghe kỹ bài hát!
Ông kia gân cổ lên, hùng hồn chẳng kém:
- Tôi cho ông phạt trước tôi ba chén nữa, sau khi ông uống ba
chén mà các cụ phạt ông!
Nhiều người lên tiếng xôn xao, không chịu nhận trách nhiệm về
ba chén rượu phạt ấy, ông kia lại nói:
- Sao tôi lại chưa nghe kỹ! Ông chả có câu: "Cất chén
chúc mừng người trên thọ tịch" là gì! Vậy ông thử đọc tất cả câu đối đây
xem có ai mừng thọ tịch không?
Có một người cãi hộ:
- Nhưng mà thọ tịch ở đây là ý phụ không phải ý chính!
Tham Châu vỗ vai ông kia, khẽ gắt:
- Thôi đi, tôi van ông nữa, ông đừng gây sự thế! Ông say lắm
rồi! Và ông uống ít chứ!
- Thưa chú, tôi chưa say, và trước mặt công chúng thế này,
xin chú đừng mắng tôi! Chú còn là đàn em biết chưa!
Ông ấy vừa nói được có thế thì đã đưa tay lên giữ cổ, khòm
lưng xuống, rồi nôn ồng ộc ngay ra đấy như một cái ống máng! Thiên hạ ghê tởm
quay nhìn đi chỗ khác và nhà thi sĩ thì khẽ so vai một cái hả hê. Đầy tớ mau
quét dọn, trong khi Tham Châu nhăn nhó ôm xốc ông quý khách ấy vào bàn đèn thuốc
phiện:
- Các ông mau tiêm cho ông ấy một điếu cho giã rượu... Rõ khổ
quá, cứ uống như một cái phễu!








Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét