Buổi chiều hôm ấy, bà chủ vừa gãi đỏ cả hai bàn chân vừa kêu:
"Rõ khổ lắm! Nhiều muỗi quá thế này này!". Ông chủ lập tức gọi thằng
xe lên.
- Mày bận những công việc gì mà ba bốn tháng nay mày để cái
vườn hoa cứ rậm như cái rừng ấy thôi! Rõ đốn quá đi mất!
- Bẩm con không thấy ông bà bảo gì cả... Đã có hôm con toan lấy
kéo ra sửa thì cô Thư lại mắng, bảo cứ để rậm thế cho đẹp!
- Cô ấy là trẻ con... cô ấy còn biết gì nữa! Sáng sớm mai thì
tao cho mày nghỉ ở nhà mà sửa sang lại cái vườn!
- Bẩm vâng.
Ông chủ vừa nói vừa đi ra hiên.
Ông nhìn ra vườn lại kêu:
- Thế kia, chả trách được lắm muỗi! Mày cứ việc phạt cả đi
cho tao một lượt, không tiếc cái gì cả. Hoa hồng, râm bụt, rào găng, mày cứ cắt
phăng đi một nửa. Còn lá sả thì mỗi khóm mày nhổ bớt một nửa đi. Khi tao nói nhổ,
nghĩa là lấy cuốc mà đánh, chứ đừng nhổ thật, đứt tay, chết!.
° ° °
Sáng sớm hôm sau, khi thằng xe một tay vác cuốc, một tay xách
cái kéo khổng lồ ra vườn, thì nó gặp cô Thư đã vác chiếc ghế con ra định cùng
ngồi dưới gốc cam. Lúc ấy, ông chủ và bà chủ đều chưa dậy.
Thằng xe bèn nạt nộ con gái chủ nhà như những đầy tớ biết tự
trọng khác, những khi vắng mặt chủ nhà:
- Đi vào! Đem ghế vào! Bảnh mắt ra đã ra vườn làm gì cho vướng
người ta!
Thư, cô bé mới 12 tuổi, không những không giận thằng xe, lại
chỉ mỉm cười một cách ngây thơ, trỏ tay lên một cành cây vải, nói giọng khẩn
khoản:
- Anh xe! Anh bắt con chuồn chuồn kia cho tôi đi nhé!
Thằng xe vứt cuốc và kéo xuống đất, ngơ ngác tìm con vật
trong đám lá xanh. Khi thấy rồi, nó rón rén tiến đến chỗ ấy, từ từ đưa tay
ra... nhưng con chuồn chuồn vụt bay đi một cách ranh mãnh như là nhờ có người
muốn bắt mình thì mới bay vậy. Đâm ra bực mình, thằng xe lại gắt với cô con gái
chủ vô tội:
- Đi vào cho người ta sửa vườn.
Cô Thư phụng phịu gần khóc:
- Không, tôi không cho anh sửa vườn, nào nào!
- Này, khóc thì tôi mách cậu cho đấy! Cậu bảo thế chứ tôi tự
nhiên muốn sửa làm gì!
Cô Thư đến đây khóc thật. Những hạt nước mắt từ từ chảy ra
long lanh như hạt trai. Giọng cô bé nức nở như của một người đau đớn về một nỗi
buồn tê tái. Động tâm, thằng xe tức khắc phải đổi giọng:
- Thôi, chị Thư nín đi nào! Nín đi rồi tôi bắt cho một con
cào cào có nhiều áo tân thời y như của mợ, áo tím, áo đỏ, áo xanh! Thế cơ! Nín
đi cho ngoan nhé!
Lời hứa ấy có một sức mạnh đủ khiến cô bé không những nín bặt
mà lại còn bắt đầu cười gượng nữa.
Thằng xe bèn nhìn cái vườn hoa một lượt xem nên bắt đầu làm từ
chỗ nào. Những cây lá sả đã mọc rậm rạp và cao như những cây lau và nhảy bừa
bãi ngoài cái trật tự của những luống. Những cành hồng lều nghều vươn cành ra tứ
phía như chỉ rình cào xước cổ những khách thăm vườn để họ nhớ rằng hoa hồng nào
cũng có gai. Những cỏ tóc tiên mọc hỗn loạn làm cho những bờ cỏ không còn có vẻ
gì là tóc tiên nữa. Những cây dâm bụt thì để hoa rụng xuống đất úa ra ngả thành
màu nâu, nhớp nháp như những vũng bùn lầy. Chung quanh vườn, cái rào găng um
tùm và bề bộn như một tụm găng vô chủ sống tự do trong rừng sâu. Nhất là nó lại
che tịt mít cả: khách đi ngoài đường không tài nào trông thấy cái biệt thự xinh
đẹp ở bên trong nữa!
Trước nhất, đứa đầy tớ sửa cái hàng rào.
Cô Thư chờ đợi mãi, đã vào nhà ăn quà sáng và quên khuấy mất
con cào cào có những bộ áo tân thời như của mợ.
° ° °
Vào lúc nắng từ trên đỉnh đầu chiếu thẳng xuống, thằng xe,
trong khi cắt một cành găng rồi lẳng xuống bãi cỏ, nghe thấy một hồi tiếng chim
non kêu: "Chích chích chích chích!...". Nó dừng tay nhìn rồi vội từ
trên cái thang gập nhảy bổ xuống, vồ lấy con chim lúc ấy đương sã hai cánh trên
một đám cỏ hoa. Nó sướng như một đứa trẻ thơ, vội chạy vào nhà, gọi to:
- Chị Thư ơi! Tôi bắt chim cho đây này!
Từ mấy đứa trẻ cho đến ông chủ và bà chủ, cả một gia đình lúc
ấy sướng bằng trúng số độc đắc. Người ta bỏ lửng bữa cơm. Người ta xúm quanh thằng
xe để nhìn con chim bị nắm trong một bàn tay thô bạo đương thất thanh kêu như
muốn nói: "Chết chết chết chết!".
Ông chủ nói to như tuyên bố một sự phát minh:
- à! Chim chào mào đây mà!
Thằng xe để con chim xuống đất rồi đứng khoanh tay như một
nhà binh vừa mới có chiến công.
Quả vậy, đó là một con chào mào. Hai cánh nó đã đủ lông tuy
trước ngực thì sợi tơ trắng chưa đủ che kín mảng thịt đỏ hỏn; đằng sau thì cái
bọng vẫn còn nặng nề, to tướng, cái mỏ hình chữ V có hai màu vàng dầy dặn ở hai
bên. Tuy vậy, một rúm lông trên đỉnh đầu đã nhu nhú mọc lên như một cái mào sổi.
Bà chủ bĩu mồm nói:
- Thế mà bảo là chào mào! Nó là con chim chìa vôi!
Thằng xe đáp ngay:
- Bẩm, chào mào hay chìa vôi cũng là nó!
Con chim non ngơ ngác nhìn quanh một cách sợ hãi; hai cánh vẫy
vẫy như muốn bay, nó vẫn kêu, nhưng lần này kêu khác lần trước... Tri huy!
Tri huy! Tri huy!... Nó như muốn nói "chí nguy!" để kêu gọi bố mẹ.
Rồi bất kỳ, nó bay bổng đánh vụt một cái qua đầu cô Thư, thẳng ra lối cửa ở mái
hiên. Cả nhà giật mình hồi hộp... Nhưng con chim chưa đủ tư cách ấy chỉ bay đến
bức tường con ở hàng hiên để đập ngực vào đấy, rồi rơi xuống đất một cách đáng
thương hại. Cô Thư chạy lon ton ra để vồ... Con chim lại cất cánh bay, và lần
này lái ra được vườn hoa để sa xuống một gốc cam. Phải thằng xe chạy ra mới vồ
nổi. "Chích chích chích chích!", trong cái bàn tay thô bạo, con
chim lại giẫy giụa kêu thất thanh. Giữa lúc ấy, trên cành cam ở đỉnh đầu thằng
xe cũng có chim kêu choáng lên:
Kể về ngôn ngữ của "loài hai chân không lông vũ"
thì cái câu nói của loài có lông vũ ấy nó na ná cái hình thanh của một câu văng
tục vậy. Và hai con chim ở trên cành chính là bố mẹ con chim con.
Trông thấy con bố và con mẹ, thằng xe tinh nghịch giơ con con
ra. Hai con kia liệng bay xuống gần bàn tay nó như muốn tìm cách đánh tháo cho
con, hai cánh tuy đập đập nhưng toàn thân ở nguyên một chỗ giữa không khí, như
những lúc loài chim bói cá đứng ngắm cá trên mặt ao trước khi văng mình xuống
nước. Sau khi biết thật là không có cách nào, hai con bố mẹ mới lại bay lên đậu
ở cành cao. Hồ hồ ri íu! Hồ hồ ri íu!... Đồ... đồ láo! Đồ láo!
Ông chủ nhìn vợ, hỏi:
- Ghê không? Gớm chưa?
Bà vợ đáp:
- ấy tình mẫu tử của loài chim mà cũng đến như vậy.
Ông chủ lại bảo xe:
- Chim non rơi thế này, ắt phải rơi cả tổ. Mày ra xem chỗ ấy
có còn cái gì nữa không. Tao chắc còn con nữa, vì bao giờ loài chim cũng nở từng
đôi một.
Đứa đầy tớ ra tìm kiếm trên bãi cỏ gần hàng rào. Một lát sau
nó đem vào một cái tổ chim, với một chú chim non lại còn non hơn con trước, bé
hơn, chưa biết kêu.
° ° °
Cả nhà đều ngạc nhiên. Con chim trước lồng lộn lên muốn bay
đi như thế, mà vừa bị đặt vào tổ, đã nằm ngay xuống cạnh "đứa em" -
hoặc "đứa vợ", vì loài chim không sợ loạn luân như loài người - một
cách vô tư lự, rồi, sau cùng, nhắm ngay mắt lại. Nó ngủ! Nó tưởng cái tổ của nó
lúc ấy vẫn như ở trên cành cây. Thư đưa tay đập khẽ vào vành tổ, tức thì cả hai
con vươn cổ lên để há mỏ ra như hai cái phễu.
Hai cái cổ mảnh dẻ lúc ấy lại bị phô ra đỏ hỏn, trông như có
thể đứt rất dễ, giữa hai làn lông măng còn tơ. Ông chủ lại nói to:
- A! Nó đói! Đi bắt cho nó vài con châu chấu! Bắt những con
non ấy!
Thằng xe lại chạy ra vườn. Hai con chim mất tổ lúc ấy ngơ
ngác vì cảnh gia đình tan nát, cứ bay lại đậu gần mái hiên, chuyền từ cành ổi
sang cây cam, từ cây cam sang cây chanh. Hồ hồ ri íu! Hồ hồ ri íu! Đồ láo! Trên
đầu có cái mũ chào mào giống như hình cái chìa vôi, dưới đuôi có một đám lông đỏ
màu hoa lựu, đeo cái can đảm trắng xoá ở trước ngực, hai con chim vẫn luôn mồm
chửi rủa những người đã phá tổ và cướp con của chúng. Nó cũng đau đớn đến bậc
hóa ra táo tợn như loài người.
Thằng xe đem vào mấy con châu chấu. Ông chủ bóp bẹp đầu con bọ,
ngắt càng của nó rồi đập vào vành tổ cho hai con chào mào vươn cổ lên. Ông mớm
mồi cho hai con chim non mãi đến lúc chúng ăn no. Thư rất sung sướng khi thấy bố
cũng nuôi chim cho mình.
Bữa ấy, hai người nhớn đã sống lại một khoảnh khắc của tuổi
trẻ.
Nhưng mà, trò đời thế, sau cùng thì cái gì người ta cũng có
thể chán được.
Cho nên lúc chiều, khi Thư vào phòng yêu cầu bố ra cho chim
ăn, ông bố bèn lấy dây gai buộc cái tổ chim rồi treo lủng lẳng dưới cành một
cây ổi, ở vườn hoa. Ông bảo con gái:
- Để thế cho con bố, con mẹ nó mớm cho con chúng nó.
° ° °
Từ lúc cái tổ chim được treo ở cây ổi, vườn hoa bắt đầu có một
quang cảnh hoạt động, tới tấp... Đôi chào mào bay đi, bay về, rộn rịp, săn sóc
hai đứa con. Mỗi lần bay ở đâu xa về, một con (ý chừng là con vợ, vì bé nhỏ hơn
con kia) - lại có ở mỏ hoặc một con chuồn chuồn, hoặc một con sâu xanh, hoặc một
con bọ gì đó. Còn chồng thường đứng đề phòng loài người để báo những hiệu lệnh
riêng cho con vợ, những khi con vợ mạo hiểm đến chỗ cái tổ để mớm mồi cho hai
con.
Lần đầu, chúng nó còn e sợ, bay liệng quanh cái tổ như nghi
hoặc loài người cạm bẫy gì chúng. Mấy cái dây gai lòng thòng chung quanh nút buộc
dưới tổ cũng đủ làm cho đôi chim ấy, trong nửa giờ đồng hồ, chỉ dám mon men
chung quanh chứ không dám quyết định đến đậu vào vành tổ để mớm cho con. Mỗi
khi con vợ sắp sà vào cái tổ rơm, con chồng lại chuyền hết cành này sang cành nọ,
cứ đập cánh vù vù kêu luôn mồm: Hồ hồ ri íu!... Nào! Nào! Khéo! Nào
khéo!...Và, những khi nghe thấy tiếng bố mẹ, hai con con lại vươn cao cái cổ đỏ
hỏn và nhỏ như sợi sắp đứt, há hốc mỏ, cũng kêu gào... Chiết chiết chiết
chiết!
Lúc ấy, cô Thư ngồi nghiêm chỉnh trên ghế dưới hàng hiên chăm
chú nhìn sự vật, không bỏ qua một cử chỉ nào của loài chim. Thằng xe thì, sau
khi sửa xong cái rào găng, đã hỏi tội đến những đống lá sả. Ông bố, bà mẹ, thỉnh
thoảng từ bên trong ra hiên xem chim. Hôn con gái một cái, rồi lại vào.
Bỗng Thư reo lên:
- A a! Con mẹ nó đã mớm!
Quả vậy, con chim mẹ đã liều chết đậu vào cái tổ mớm mồi cho
con. Thấy bình yên như thường, nó nhìn chung quanh tổ một lượt như một người đi
xa, lúc về nhà cần phải xem xét nhà cửa và đồ đạc. Sau cùng, nó mổ một viên gì
trăng trắng ở tổ, móc lên, ngửa cổ nuốt... Cô Thư hỏi thằng xe thì nó đáp:
- Nó dọn cứt cho con nó đấy!
- Chỉ dối!
Thư nguẩy đầu nói thế, vì không tin.
Hai con chim, trên cây, lại vụt bay đi kiếm mồi. Năm phút
sau, cả hai cùng về, có mỗi con một con sâu ở mỏ.
Hồ hồ riu! Nào, nào, khéo!
Đến lúc trời tối sậm, hai con bố mẹ đậu yên một chỗ cao chót
vót ở ngọn cây xoan, giữa vườn hoa.
° ° °
Sáng sớm hôm sau, thằng xe lại buộc cái tổ chim ra cành cây ổi.
Nó kêu:
- Mới có một đêm mà lông lá nó đã xù ra rồi! Chóng quá đi mất!
Vì lẽ thằng xe lại còn đi chợ, nấu cơm, giặt quần áo, làm những
việc vặt khác, nên hôm ấy, Thư ngồi một mình xem chim, không có người nói chuyện
với. Ông bố và bà mẹ cũng chẳng còn sốt sắng săn sóc đến cái tổ chim như hôm
qua. Tuy nhiên, Thư cũng được một ngày sung sướng. Cô bé vẫn có thể ngồi cả
ngày nhìn ra vườn, hoặc trốn vào một góc tường những khi thấy chim e ngại đến gần
tổ, hoặc nhô ra nhìn, những khi hai con chim con vừa được mớm xong. Cô bé không
thấy chán tí nào cả.
Ông bố chạy ra hỏi con:
- Thế nào? Nó có mớm không?
Thư quay lại, nghẹo cổ, cười và đáp:
- Bốn con sâu rồi cơ, ba ạ!
- Thế à!
Bà mẹ cũng chạy ra. Thư đòi:
- Mẹ ơi, mẹ mua cho con cái lồng chim đi mẹ! Mua để nhốt nó lại!
Bà mẹ khất lần:
- ừ, mai rồi mẹ đi mua.
Lúc ấy, hai con chim bố mẹ lại bay đến tổ, lần lượt mớm mồi
cho con. Tuy đã dạn người lắm rồi, chúng cũng vẫn còn dặn nhau: "Nào, nào,
khéo! Nào khéo!". Trông thấy cái tình của loài chim sâu xa đến thế, nồng
nàn đến thế, bố mẹ Thư nhìn nhau, đắm đuối, hôn trộm nhau sau lưng con. Người vợ
nói:
- Giời sinh ra tài thật, nhỉ cậu nhỉ?
Người chồng gật gù cái đầu, đáp một câu vô vị:
- Chính thế.
Giữa lúc ấy, tiếng chim kêu bỗng líu la líu tíu khiến cho mọi
người vội quay nhìn ra. Con chồng thì cứ bay liệng từ cành này sang cành khác,
mỏ vẫn ngậm một con châu chấu mà vẫn hót được: "Hồ hồ ri íu!... Nào, nào
khéo!" Còn con chim vợ thì lại thay đổi ngôn ngữ bằng cách nói: "Tri
huy tri huy tri huy!" Nó cứ đập đập hai cánh bay nhảy ở một cành cây giáp
với cái tổ nhưng không đậu hẳn vào vành tổ. Nghe thấy tiếng mẹ, hai con con lại
há hốc mỏ, vươn cổ rõ cao. Nhưng mẹ chúng cứ bay đến gần chúng mà vỗ cánh, múa
may và hót bằng đủ các thứ giọng. Con bố cũng bay quanh, ra ý đề phòng bọn người.
Trên cây ổi, đó là hai chấm đỏ, lập lòe đâm bông như hoa lựu về mùa hạ của Nguyễn
Du. Hai con con kêu thế nào, con mẹ cũng không vào mớm.
Bọn người đứng dưới hiên đương ngạc nhiên về cái cử động khác
thường ấy, thì chợt, vù một cái, một con chim non đã bỏ tổ bay theo mẹ. Nó bay
lên đậu ở một ngọn cao ngất ngưởng. Hai con bố và mẹ hát khúc ca khải hoàn của
loài chào mào những lúc tự do ngửa cổ hót trước gió: "Thích tinh nào!
Thích tinh nào! Huých tô rô! Huých tô rô!" Rồi chúng dìu dắt đứa con cho
nó bay chuyền từng đoạn ngắn một cho đến lúc lên được ngọn cây xoan!
- Giời ơi! Nó bay! Nó bay mất!
Kêu xong, ông bố chạy vội ra cởi dây gai, đem cái tổ chim vào
nhà. Trong tổ vẫn còn lại con kia, chưa đủ sức bay theo bố mẹ.
° ° °
Mấy hôm sau, con chim non vô phúc kia bị nhốt vào một cái lồng
son. Thằng xe đã phải suốt ngày bắt châu chấu. Cô Thư cứ việc lấy cái que xiên
vào con bọ để đưa qua nan lồng. Nằm nguyên một chỗ trong tổ, con chim hưởng sự săn
sóc của cô bé cũng như của ông bố nó. Cái mào trên đầu nó nhô cao lên. Ngực nó
đã kín. Cái bọng dưới đuôi nó dần dần bé đi. Sau ba ngày, nó cũng đã nghiễm
nhiên trông ra mẽ lắm, đã đến cái thời kỳ "kiếm lấy mà ăn" vậy.
Nó bắt đầu mổ được, và nhảy nhót bậu vào những nan lồng.
Nhưng đồng thời, hai con bố mẹ và con con ở ngoài vườn cũng cứ
ngày ngày đến khiêu khích nó, xui giục nó kiếm cách mau xổ lồng tháo cũi mà ra.
Nghe thấy những tiếng "Hồ ríu! Huých tô rô!..." con chim trong lồng
cũng đập cánh ngửa cổ hót đáp:
- Tri huy tri huy tri huy!
Ngây thơ, cô Thư lại đem lồng chim ra treo ở cây ổi. Ba con
chim bên ngoài tức khắc bay quanh cái lồng, ca hát véo von... Con chim ở bên
trong lồng lộn lên, rúc mỏ qua cái nan lồng, như điên, như cuồng, nhưng cô bé
ngây thơ lại tưởng nó nhảy nhót gì vui vẻ.
Trong lồng có một nửa quả chuối tiêu và một cóng nước lã. Dần
dần, con chim bỏ cả uống, quên cả ăn. Nó hóa ra gầy còm. Nhưng cái sự ấy người
ta không để ý đến.
Cô bé Thư cứ sáng sớm lại xách lồng ra treo vào cành ổi, để đến
chiều lại cất vào dưới mái hiên.
Ông bố, bà mẹ, cũng đôi khi nhìn đến cái lồng để không có một
cảm tưởng nào cả.
Thằng xe có bổn phận sáng nào cũng thay cóng nước lã, và bỏ
vào cái lồng một mẩu chuối, sau khi lôi mẩu chuối cũ đã xám xịt ở trong lồng
ra. Nó không để ý xem rằng mẩu chuối bị ít hay nhiều vết mổ. Nhưng lần nào thấy
người, con chim non cũng bay loạn xạ cả lồng.
Thế rồi, một hôm con chim chào mào non tuyệt thực, và chết,
giữa những câu ca hát quyến rũ của bố mẹ nó và chồng nó.
1937
Lấy vợ xấu
Vì có "việc quan", bữa ấy tôi phải vào tòa xứ Hà
Ðông. Tôi bước chân vào công đường lúc 9 giờ sáng, phải ngồi khoanh tay đợi trên
một chiếc ghế dài mãi cho đến 11 giờ. Cụ phán buồng giấy ấy, theo những thông lệ
thiêng liêng của nước Việt Nam cố hữu, đã tiếp tôi bằng sự nhăn nhó, sự gắt gỏng,
để mà, sau cùng, bảo tôi đến chiều thì quay trở lại để cụ tiếp một lần nữa. Tôi
đã vâng vâng dạ dạ như một người công dân hiểu rõ cái quyền hạn vô hạn của một
quan phán đầu tòa là thế nào.
Khi ra khỏi vườn hoa của tòa sứ, tôi phải đành đi tìm một
hàng cao lâu. Và, tại đó, tôi đã tình cờ được gặp anh Doãn, một người bạn đồng
học cũ ở lớp nhất một trường sơ học.
Anh ta có bộ âu phục rất chải chuốt. Xưa kia, lúc còn cắp
sách, anh ta cũng đã có tính làm đỏm như một cô con gái, và mãi cho đến bây giờ,
tính ấy cũng không thay đổi, sau một chặng đường mà anh ta đã đi trong mười
năm. Cái cổ áo không xộc xệch một tị, đôi mũi giầy không có một hạt bụi, cái ca
vát rất hợp thời trang, với cái khuy áo cài vào tử tế, đủ tỏ rằng anh thận trọng
y phục lắm. Chính anh Doãn nhận được ra tôi là ai, và đã đến bên bàn tôi, giơ
tay ra, kính cẩn như người ta muốn hỏi chuyện một khách lạ chưa quen biết một lần
nào.
- Thưa ông, ông chắc còn nhớ tôi, tôi là Doãn, trường Sinh Từ...
- À à! Anh Doãn! Vẽ chuyện lắm! Việc gì còn xưng hô kiểu
cách...
Mới có đến đấy, một người đàn bà to lớn đã bước vào, ngơ ngác
đứng sau lưng anh. Doãn bèn quay lại, giới thiệu tôi là bạn; giới thiệu người
đàn bà là vợ. Sau khi kéo ghế ngồi rồi, vợ anh Doãn gọi ngay một ấm chè Long Tỉnh,
thạo đời như một người đàn ông "cơm hàng cháo chợ, vợ cô đầu". Tôi
nhìn người đàn bà ấy, thấy đó là một sự trái ngược với người bạn cũ. Thật vậy,
đó không phải là một cặp vợ chồng tốt đôi. Tức thì tôi nhớ lại tất cả những đức
tính buổi xưa của Doãn.
Anh ta vốn thông minh, lại rất có óc mỹ thuật. Không kể về y
phục của Doãn xưa kia đã được cả trường khen là sang trọng, ngay đến một cái
bút chì, một hộp thuốc vẽ của anh, cũng đều là những đồ dùng đắt tiền và lọc
lõi vô cùng. Ngoài cái chức là một thiếu niên sành sỏi, Doãn hồi ấy lại còn được
chúng tôi gọi là một chàng Don Juan. Thật thế, anh có tài ngôn ngữ, có tài văn chương,
nên chim gái rất thạo. Những thiếu nữ si mê anh phần nhiều là những gái đẹp có
tiếng, vì cô nào không là hoa khôi thì anh ta không thèm bắt chim! Anh đã thường
khoe chúng tôi những giấy viết thư tình của anh với những cái phong bì kiểu
cách, đáng bảy xu một chiếc. Trong những lúc ấy, trước sự kính phục ghê gớm của
chúng bạn, anh Doãn thường đứng ưỡn ngực, chỗ cái xe đạp Peugeot grand luxe
khác của anh mà rằng: "Chúng mày xem! Phi hơn người thì thôi, tao không
thèm chơi".
Bây giờ thấy anh ngồi với một người vợ không có "mỹ thuật"
chút nào cả, lại thấy cái tính cầu kỳ của anh vẫn không thay đổi, tôi chợt nhớ
ngay đến câu phương ngôn: "Sướng lắm thì khổ nhiều". Ðó là một sự
nhãn tiền quả báo.
Vợ anh, thật vậy, là một người đàn bà có cái nhan sắc của một
người đàn ông không đẹp giai. Hai con mắt nhỏ, đôi gò má cao, cặp môi phàm phũ,
dáng người thô tục, những ngón tay tròn và dài như những quả chuối ngự. Như vậy
mà lại đi ăn mặc tân thời! Răng trắng nữa, trời ạ! Cái áo dài lượt thượt mầu
xanh, cái quần nhiễu trắng trai lơ, đôi giầy cao gót có quai kiểu gái nhảy, với
mẩu khăn vành dây, ngần ấy thứ lại càng làm lộ cái mỹ miều của sự thô tục, lại
càng làm tăng cái choáng lộn của sự kệch cỡm. Ðã thế, trong khi chuyện trò, thỉnh
thoảng lại chêm vào một vài câu tiếng tây, ra ý khoe khoang mình vốn là nữ học
sinh. Tôi bỗng có cái cảm tưởng man mác rằng người đàn bà này, những lúc nhà vắng,
hẳn đã huýt còi như một ông lính tây say rượu, hoặc là đã hát ầm ĩ bài J'ai
deux amours, bài Les gars de la marine... vân vân.
Tôi không ngạc nhiên ở chỗ anh Doãn lấy vợ xấu. ở đời, tôi đã
từng thấy cái câu "thánh nhân hay đãi khù khờ" hiện ra nhiều sự thực
và càng những thằng "thiên tinh địa quỷ" như Doãn mới lại càng... chết;
anh ta muốn chừng như cũng đoán nổi cái ý nghĩ kín đáo ấy trong lòng tôi.
Trong khi còn nói những chuyện nắng mưa theo khách sáo, chưa
kịp gọi món ăn nào cả, vợ anh Doãn đã làm ngay một câu:
- Thôi, tôi đói lắm, cho tôi xin bát mì, rồi tôi còn đi đằng
này! Hai ông xơi rượu thì cứ việc mà kề cà...
- Vâng, xin mời bác cứ tự nhiên cho tiện công việc.
Thế rồi người đàn bà ấy ăn uống nhồm nhoàm, và ho, và ợ nữa,
như một người đàn ông bình dân xứng đáng. Lúc ăn xong bát mì, người đàn bà cầm
hai cái đũa quệt ngang cặp môi như một bà lão nhà quê!
Sau khi vợ anh ra phố mua bán, Doãn bèn hỏi tôi:
- Chắc anh rất ngạc nhiên khi thấy một người như tôi mà lại
đi lấy một người vợ như thế ấy?
Tôi vội vàng ngừng đũa, làm ra vẻ ngạc nhiên:
- Sao? Sao anh lại hỏi tôi thế nhỉ?
Có lẽ sự vờ vĩnh của tôi không được tự nhiên mấy nên anh Doãn
mỉm cười mà rằng:
- Chà! Cái thằng mới sính đóng kịch làm sao! Thôi, trong chỗ
chúng ta, tôi cho phép anh cứ việc nói thẳng những điều anh nghĩ.
Tôi bèn nói:
- Vợ chồng là duyên số. ở đời này không phải hễ mình muốn thì
là được và không muốn thì là thoát.
Doãn gật đầu:
- Thật thế. Và, tôi xin kể vì lẽ gì mà tôi lại lấy nhà tôi.
Tôi giơ tay ngăn lại:
- Khoan đã! Thế anh có yêu vợ anh không? Vợ chồng anh có được
hưởng hạnh phúc không? Nếu không, xin đừng kể chuyện.
- Có chứ! Chúng tôi yêu nhau và hưởng hạnh phúc cũng như những
cặp vợ chồng chẳng biết hạnh phúc và ái tình là cái gì.
Từ đây trở đi là lời anh Doãn:
- "Trên một chuyến tàu từ Lào Cai về Hà Nội, cách đây
hai năm... Cũng như số đông thiếu niên, mỗi khi đi xe lửa, tôi dạo một lượt từ
toa đầu đến toa cuối cùng với cái hy vọng trông thấy một mỹ nhân để mình bắt
chuyện làm quen, ngỡ hầu quên được cái vô vị của mấy trăm cây số phong cảnh với
những tiếng bánh xe xình xịch nghiến trên đường sắt nó khiến ta mệt mỏi vô
cùng, buồn ngủ vô cùng. Cả chuyến hỏa xa ấy, than ôi, chỉ có một người đàn bà
là đẹp nhưng mà lại có chồng cùng đi theo. Còn thì phần nhiều là dân quê cả.
Tôi chán nản kiếm một chỗ rộng rãi, rồi thấy... nhà tôi trước
mặt tôi. Hồi ấy, người đàn bà ấy còn ăn mặc lối cổ: khăn nhung, giầy láng kiểu
mõm nhái, có đuôi gà, và có ba trăm hột vàng ở cổ. Cái "nhan sắc" của
người ấy thì như anh vừa trông thấy đó, ta chẳng rườm lời mà làm gì. Tôi nghĩ đến
đám phụ nữ có nhan sắc, được đời kính trọng... Tôi đã bảo tôi: "Tạo hóa thật
là bất công. Những người xấu như thế này, hẳn sẽ không bao giờ được hưởng ái
tình. Xưa nay ta yêu người đẹp đã nhiều để mà nhận thấy rằng sự yêu đương của họ
cũng nhiều khi vô vị lắm. Âu là ta thử yêu một người xấu xí xem ra làm
sao!" Thế là tôi đến ngồi bên cạnh người ấy, lân la hỏi chuyện.
Sau nửa tiếng đồng hồ, tôi được biết rằng đó là con gái một
nhà buôn bán khá giầu ở Lào Cai. Cô ả có việc về Hà Nội chừng độ một tuần lễ,
và khi về Hà thành, sẽ đến ở nhà một người trong họ. Như thế, nếu chúng tôi muốn
có một cuộc giăng hoa, cô ả rất có đủ thời gian! Và tôi lại nhận thấy ở người
đàn bà này một sự thông minh, một sự từng trải, nhiều duyên thầm, mà tôi chưa từng
thấy ở những phụ nữ có nhan sắc. Ðó không phải là điều quái lạ. Người con gái đẹp
chỉ trông thấy chung quanh mình những kẻ nịnh hót mà thôi. Vì anh nào cũng hiếu
sắc nên bọn đàn ông chúng ta thường thấy những đức tính ở bọn gái đẹp mà chính
họ không có. Cho nên chúng ta hết sức chiều đãi họ, nâng niu họ, khiến họ chẳng
phải chịu khó nhọc mảy may trong mọi cuộc phấn đấu với đời, thành ra người đàn
bà đẹp dễ trở nên quá đỗi kiêu ngạo, tưởng mình không có điều gì khuyết điểm nữa;
do đó, những cái xấu, những cái khó chịu, mà chúng ta thấy ở những mỹ nhân, những
khi ta thấy chán yêu. Trái lại, người đàn bà xấu bao giờ cũng giữ gìn và cư xử
thế nào để cho một khi người đàn ông nào đã đem lòng yêu mình thì không thể nào
chán được mình nữa. Vợ tôi chính thuộc vào hạng đàn bà xấu ấy. Cho nên, về sau,
tôi được hưởng của vợ tôi những sự săn sóc mà tôi đã phải đem cung cho bọn gái
đẹp, những khi tôi yêu... Xưa kia tôi đã thấy cái thú vị trong sự nâng niu đàn
bà thì, bây giờ, được đàn bà nâng niu, tôi càng thấy nhiều thú vị hơn nữa.
"Hôm ấy, về đến Hà thành, chúng tôi đã cùng nhau ăn một
bữa cơm ở một khách sạn, điều ấy dĩ nhiên! Rồi chúng tôi lại vào một căn phòng
trọ nữa, than ôi, điều ấy cũng lại dĩ nhiên! Và, khi thấy người đàn bà ấy đã
dâng cái tân tiết cho tôi, tôi cảm động lắm. Tôi đã hôn đi hôn lại vào cái mặt
xấu xí ấy mấy lần, với một vài ngấn lệ ở mặt tôi. Và sự xúc cảm mạnh ấy không đủ
ngăn chúng tôi yêu nhau hai ngày liền nữa.
"Lúc đầu, tôi không hứa si tình cũng như không hứa hôn sự.
Cô ả đã yêu tôi trong một cơn rạo rực của xác thịt, cũng như tôi, tôi đã yêu cô
ta sau một phút điên dại, vô lý của linh hồn. Cho nên, trước khi chia tay nhau,
tôi hỏi: "Này em, nếu rồi em... có mang thì làm thế nào?" Tôi đã có
thể hỏi một câu sống sượng như thế như hỏi một ả giang hồ, hay một "chị
em" dễ dãi, vì sự thực, một người xấu, chẳng khi nào được hưởng cái ái
tình thành thực của tôi. Nghe thấy thế, cô ả bỗng tái xám cả mặt. Thì ra cô ả
không hề nghĩ đến sự có mang! Nhớ ra thì quá muộn! Cái ấy không lạ gì: thời buổi
nào cũng có hàng mấy triệu phụ nữ quên rằng có thể có mang được, sau khi đã phó
thác thân thể mình cho một anh đàn ông.
"Những giọt nước mắt bắt đầu chảy ra. Cô ta bưng mặt
khóc, khóc, và khóc... Sau cùng, chỉ biết thổn thức nói: "Nếu thế thì... họ
hàng sỉ vả, bố mẹ đuổi khỏi nhà, rồi nhục nhã, rồi khổ, phải, rồi khổ!"
Thì ra cô nàng nhũn nhặn đến bực không dám có hy vọng lấy tôi nữa, và cũng
không dám thử hỏi một câu để có được một hy vọng bâng quơ nguy hiểm ấy nữa. Cô
biết mình xấu xí, không đáng lấy một người như tôi, và không dám cả nghĩ đến sự
đòi bồi thường sau cái thiệt hại do tôi gây ra. Dễ thường cô ả coi cái phút ngứa
ngáy xác thịt của tôi như là một thứ đặc ân cho mình nữa. Tôi lại hỏi:
"Sao lại tin tôi đến như thế? Tôi đã là đứa không ra gì, cô cũng lại hư đốn
nữa!". Cô ả thở dài, đáp: "Nếu không yêu anh thì thôi chứ cả một đời
em, chắc rồi cũng chẳng ai thèm yêu đến thứ em. Thôi thì thà rằng sẽ phải khổ một
đời vì đã quá yêu một phút!". Tôi đã cảm động về sự thành thực ấy một cách
rất sâu xa như là chưa bao giờ tôi cảm động đến thế.
"Cuộc ái ân chốc lát ấy, rồi sau tôi cũng quên đi, và chỉ
thỉnh thoảng nó mới lại đến ám ảnh tôi như một chút ký ức nhỏ mọn trong một
giây phút mà thôi. Tôi tưởng không bao giờ còn gặp cô gái Lào Cai ấy nữa.
"Năm tháng sau, một hôm tôi nhận được một phong thư như
thế này: "Thưa ông, tôi chờ ông ở hiệu cao lâu Ðông Hưng, vào khoảng 11 giờ
ngày 20. Tính mệnh tôi ở trong tay ông, xin ông bỏ chút thời giờ quý hóa đến
cùng một kẻ khốn khổ". Tôi ngạc nhiên lắm, vì tôi không nhớ đến cô gái Lào
Cai nữa. Nhất là cách xưng hô ông tôi lại làm cho tôi tưởng người viết thư là
đàn ông. Tôi rùng mình, nhớ đến những ông bạn cũ nghiện hút muốn làm tiền mình.
Rồi tôi đến chỗ hẹn.
"Ðó là cô gái Lào Cai!
"Cô nàng lúc ấy đã có một cái bụng to một cách đáng kính
trọng lắm. Chúng tôi vào ngồi trong quầy. Cô ả chỉ dám gọi tôi là ông chứ không
dám xưng hô anh em, như hồi xưa".
"Cô ta nước mắt chan hòa, nói ấp úng trong khi tôi ngồi
thản nhiên cắn hạt dưa. Cô ta vẫn nhũn như trước, vẫn sợ hãi tôi như trước, vẫn
ôm một mối tình vô hy vọng như trước: "Thưa ông, nếu ông là người đại lượng
thì ông nên cứu sống lấy tôi, vì đứa con bé trong bụng này chính là con ông...
Nếu không tôi phải tự tử, đứa bé phải chết, vì bố mẹ tôi đã biết, họ hàng tôi sắp
biết, mà nếu họ hàng biết thì tôi không sống được nữa, vì bố mẹ tôi nghiêm lắm!
Xin ông làm phúc cứu lấy một người khốn khổ nhất đời! Làm lẽ thứ mười, tôi cũng
xin vâng, miễn là họ hàng nhà tôi được nhận trầu cau của ông! Vả lại tôi cũng
không đến nỗi ăn hại ông...".
"Tôi xua tay, chán nản. Tôi nghĩ: Hạng gái hư hỏng ấy
thì mình lấy sao được! Nó ngủ được với mình thì nó sẽ cũng ngủ được với thằng
khác! Mình không làm nó chửa hoang thì thiên hạ cũng sẽ làm cho nó chửa hoang!
Thế thôi!
"Nhưng đứa bé trong bụng... con tôi! Cứ như sự kêu khóc ấy,
cứ như lòng thành thực ấy, người đàn bà này mà nói đến sự tự tử đó chẳng là lời
dọa nạt! Do thế, tôi nghĩ lại... Nếu ai cũng lý luận như tôi thì trong đời chẳng
còn ai lấy nhau vì tình, chẳng làm gì có những cuộc tiền dâm hậu thú nữa, bởi
có kẻ bạc tình nào cũng đã lý luận y như tôi! Phải chăng người đàn bà nào đã
quá tin một anh đàn ông không thể khác được! Trong một phút mà linh trí tôi
sáng suốt khác thường, tôi đã thấy mình hèn mạt, ích kỷ, khốn nạn! Tuy nhiên,
tôi còn thử thách: "Có chắc rằng đứa bé ấy chính là con tôi không?" Ðến
đây, cô ả nức nở, buông xuôi hai tay, hoàn toàn thất vọng: "Giời ơi, nếu
ông hỏi thế thì thôi, tôi chỉ còn có một cách là tự tử!". Cái thành thực ấy
khiến tôi không còn phải nghi ngờ lôi thôi.
"Tôi còn hỏi vặn nhiều câu, nhưng lần nào, cô ả dại dột ấy
cũng chỉ tỏ ra là người thành thực cực điểm.
"Ấy thế là... một người cầu kỳ, khó tính như tôi, đã cam
đoan rằng nếu không lấy được cô gái đẹp nhất Hà thành thì xin thề là sẽ không lấy
vợ, mà tôi, sau cùng đi lấy phải cô gái xấu xí nhất Bắc kỳ!"
Câu chuyện nói xong thì bữa rượu cũng vừa tàn. Chúng tôi bước
ra, tôi để đi đến tòa xứ Hà Ðông, Doãn để đi đến nhà ông cậu vợ mà vợ anh chờ
anh tại đó.
Tôi an ủi:
- Thôi, đó cũng là duyên số, không cần thiết phải lấy vợ đẹp,
chỉ cần có nhân ngãi đẹp. Vả lại, như anh đã nói, đáng lẽ anh phải nâng niu vợ
thì mới thấy thú vị, thì bây giờ anh lại được thấy cái thú vị ở chỗ vợ anh nâng
niu anh. Thế cũng đủ là hạnh phúc.
Nhưng anh Doãn bĩu mồm:
- Bẩm không ạ! Thưa ông, nó chỉ chiều đãi tôi có mấy tháng đầu
mà thôi. Bây giờ, có con với nhau rồi, vợ tôi chẳng cần gì nữa. Nó đã bắt đầu nặng
lời với tôi, nghe chị em ăn mặc rất lố lăng, và ghen lắm, ồ! Ghen lắm, hễ tôi
đi chơi khuya là thế nào cũng đập phá đồ đạc chạy ra đường kêu cứu "ông bà
hàng phố", ăn ở rõ ra một vị đức phụ chính thất có nhiều quyền và biết tự
trọng!
1937
Mộ con
chó hay chim chuột
Hôm ấy, cụ Bá ông quả quyết mở ví tiền để trả cho anh lái chó
cái giấy bạc một đồng. Cụ sung sướng cực điểm vì rằng con Vện mà cụ mới mua đấy,
theo ý cụ, là một con chó có... dị tướng: béo tốt, chân thấp, mồm và tai vừa nhọn
vừa ngắn, mặt trùn trùn gẫy gập như mặt giơi, lông đã hung hung lại có vằn đen
như lốt hùm.
Cụ đã khoe với cả xóm rằng ai nuôi được thứ chó ấy ắt sẽ có
nhiều dịp phát tài - giống chó cũng có tướng như giống người, mà con Vện của cụ
thì lại quý hơn các thứ chó huyền đề hoặc là tứ túc mai hoa vì nó có tướng ngũ
đoản.
° ° °
Chẳng hiểu cụ Bá xem tướng con Vện có đúng hay không! Sau khi
có nó ba bốn ngày, chưa cho cụ được dịp phát tài đâu, nó đã vồ lấy ống chân cụ
Bá bà mà ngoạm luôn cho một ngoạm. Tuy rằng mấy cái răng ngập vào thịt cũng
không sâu cho lắm, nhưng cụ bà bị toạc mất hai tấc váy lĩnh: cái triệu chứng
hao tài!
Có lẽ tướng ngũ đoản cũng chẳng đáng quý bằng cái váy lĩnh
nên chi cụ ông, mặc dầu đã hết sức can ngăn và hạch lại cụ bà rằng "Mới thả
cũi nó một ngày nó chưa quen hết người trong nhà, ai bảo bà đã đi về khuya lại
không đánh tiếng", cụ cũng chẳng giựt nổi của cụ bà cái đòn ống to tướng
lúc ấy cứ giáng xuống lưng con Vện như mưa...
- Này cắn trộm! Này phản chủ với bà!
- Ẳng ẳng ẳng ẳng!
Con Vện trong lúc chịu đòn, chỉ biết kêu có thế, nước mắt chảy
ra ràn rụa, trông cũng đáng thương hại lắm.
Thất bại trong cuộc làm thầy kiện cho con chó có dị tướng ấy,
cụ Bá ông hậm hực mất đến vài ngày, và khách hàng của cụ, từ đó cũng phải một
phen kệch. Bốn chiếc răng nanh chẳng dám dùng đến nữa, từ đấy, hễ thấy người lạ
mặt, con Vện chỉ đành gừ gừ một cách cho phải phép, hay là, quá lắm, cũng chỉ đến
gâu gâu rất suông. Cái bực tức ấy thật chẳng khác gì cái bực tức của những ông
quan viên nào đi che tàn, xuống xóm những tưởng sẽ được hưởng thế nọ... thế
này, mà kỳ chung chỉ được có một chầu chay thôi vậy!
° ° °
Vẫn biết cắn là một tính thiên bẩm của loài chó thật song le,
bất cứ lần nào, hễ Vện ta vừa rụt chân, rụt cổ, ngứa mồm nhe nanh, hừ một cái,
là tức khắc bị những người suỵt suỵt ầm lên, cho nên nó nghĩ ngay đến cái đòn ống,
lại cho rằng sự mình bị quát mắng là một điều áp chế, nó chui ngay vào gậm phản
mà nằm rồi nhìn thế sự bằng cặp mắt bàng quan. Nếu nó biết nói, ắt nó đã làm một
câu: "Chặc! Thì ông mặc kệ".
Dần dần, nó chỉ biết đến bữa thì ăn, ăn xong tìm chỗ nào cao
ráo, ít ruồi, ít muỗi, đánh một giấc, cái đầu đặt giữa hai chân trước như người
nào đến cái tuổi mũ ni che tai... Nhưng mà các cụ nhà ta đã bảo rằng nhàn cư vi
bất thiện.
Cứ ngày nào cũng đủ hai bữa, sáng ngủ đến 9 giờ mới dậy, buổi
trưa nào cũng la siết 1 một giấc, cuộc đời như vậy cũng tẻ ngắt. Vện
ta phải nghĩ đến cách tán gái cho qua thời giờ. Đã không phải vất vả đến thân
lúc nào lại được ăn chơi mặc thích, Vện càng ngày càng béo tốt, lông cứ mượt mà
như nhung. Trông cũng có vẻ công tử bột lắm. Bộ mã đã bảnh bao cố nhiên trên đường
tình dễ đắc thắng: cái tiếng chơi bời của Vện chỉ trong ít lâu đã lừng lẫy cả
xóm: Vện đã nặn thêm ít nhiều xuất đinh cho cái "xã hội có mõm" và hễ
cứ nhà nào có chó cái là phải thấy tiếng "quấy khóc" của đàn chó con
lau nhau. Thì ra Vện cũng có số đào hoa như Người vậy.
° ° °
Nếu có ai được mục kích công tử Vện tán gái thì mới rõ tâm lý
phụ nữ, với những cái thế lực của những bộ mã giẻ cùi.
Không có mùi soa nhưng lại thích cái mốt quay quay mùi soa đằng
sau gái nó là cái mốt của bọn đệ tử đảng "Càn Long" ở Hà thành, trước
mặt gái, Vện ta cũng vẫy cho đuôi luôn luôn phe phẩy, loanh quanh vài vòng thè
lưỡi, ghé mũi, hết sức bầy tỏ tấm lòng khuyển mã, ấy chỉ có thế mà các "tiểu
thư" Vàng, Bông, Cún, Mực, cô nào dữ và "lắm điều" vào bậc nhất,
và có răng nanh nhọn nhất, cũng không nỡ cự tuyệt con... người có duyên một
cách lạ ấy, cũng cảm ngay. Thật vậy, Vện chẳng bị tẽn hoặc bị cự tuyệt bao giờ.
Trò đời vẫn thế: thấy ai hơn mình là phải ghen ghét. Những
chó vô duyên khác thường họp đàn họp lũ nhau rồi đến tận nhà cụ Bá gây sự với Vện
luôn thôi! Không hề gì, cũng là hạng "có một vài miếng" nên Vện cũng
chẳng sợ. Lắm khi một mình cự địch với ba bốn cũng vẫn thắng trận như thường.
Cho nên từ các cô êu đài các đến các cô êu nghèo hèn, không một "mẻng"
nào mà lại thoát cái phong tình của Vện. Không phải con chó ấy tham lắm, nhưng
những khi chim chuột những hạng không có nhan sắc, dễ thường nó muốn thực hành
cái lý thuyết: Mùi nhang đã trải, mùi dầu thử chơi! Nói cho đúng ra, Vện lại
còn muốn được đời khen mình là yêu bình dân, vì sự thực thì Vện cũng có óc
"hoạt đầu" dữ lắm.
Nhưng mà có một lần, cái đàn những anh tình địch của Vện đông
quá; dễ đến mười mõm ấy; thảy đều vây quanh lấy Vện mà vồ, mà nhá, khiến cho,
không chống cự nổi nữa, Vện phải hộc tốc chạy về nhà, chui tọt vào gậm giường đứng
giữ thế thủ cẩn thận rồi nhe nhanh gừ gừ ra ý thách:
- Chúng mày có giỏi, vào đây với ông!
Đàn kia.. không có con nào dám vào, chỉ đứng ngoài mà gầu gầu
rầm lên ra ý chửi bới và văng tục.
Thật cũng chẳng may cho Vện quá, vì ngày hôm ấy cụ Bá có giỗ
tổ, giữa lúc ấy lại nhằm lúc cụ bà đương xới cơm cúng, và cụ ông đương kính cẩn
khấn khứa trước bàn thờ.
Bỗng dưng thấy tiếng chó sủa kinh thiên động địa, nhìn ra lại
thấy toàn một lũ "đầu trâu mặt ngựa" đương đứng xúm nhau giữa cửa để
chõ mõm vào mà tự do chửi rủa tàn tệ, mà dưới gầm thì là Vện, biết ngay lại
chuyện ghen tuông chi đó, bực mình và sợ bất kính trong lúc cúng tế, cụ Bá ông
quên cả chân mình đương có bít tất bông trắng nõn, nhẩy ngay xuống đất vớ cái
lau màn, ra dẹp tan lũ "ưng khuyển" rồi mới quay vào giọt cho Vện một
trận không tiếc tay.
Thói thường chó đen giữ mực, Vện cũng chẳng chừa.
Đêm ấy, một đêm giăng thanh gió mát, nhân khi cao hứng, Vện
phá rào chui ra ngoài đi với tình nhân. Giữa lúc hai bên chỉ non thề biển nặng
lời trên con đường nhỏ giáp với lũy tre quanh làng nó cũng là một thứ "con
đường Cổ Ngư"2 chẳng hạn, thì một chú Cược thừa cơ chui qua cái chỗ hở
ở giậu, vào sân tự do lấy mất cái chậu thau đồng.
- Thấy sột soạt tiếng động lúc trộm đã chui ra, cụ Bá gọi Vện
mãi chẳng thấy đâu, phải lật đật ra sân soi thì... hỡi ơi nông nỗi!
Cách đấy vài phút, Vện lại chui qua lỗ hổng mà vào, hai mắt lấm
lét nhìn trộm chủ, ra vẻ lo sợ chẳng hiểu đương đêm soi đèn và gọi mình làm gì
thế kia... Thấy Vện có vẻ khả nghi, cụ Bá nhìn đến hàng rào rồi thất kinh chạy
đến chỗ hổng. Rành rành một mảng lông mắc gai theo cái triều lưng của Vện lúc
chui ra vẫn còn sờ sờ ở đó, cụ biết ngay ra là thủ đoạn của Vện, là nhờ Vện thì
chú Cược mới được thừa cơ!
Giữa lúc cụ đương tiếc đứt ruột, cô Khoang, một con chó trông
có quý tướng lắm, tứ túc mai hoa, "gót sen đẹp nõn", thật đáng gọi
là... hoa khôi của làng êu, cũng chui qua giậu mà vào. Cô vào gừ gừ một câu
nũng nịu những tiếng oanh thỏ thẻ muốn đại khái nói; "Giữa lúc này, gió
mát trăng thanh mà chàng nỡ bỏ em, vậy thì chàng không coi cái ái tình cao thượng
của đôi ta ra sao nữa ư?" Còn Vện giữa lúc ấy đã là một kẻ phạm nhân, mà
cũng cứ tự do mơn trớn tình nhân, không coi mặt cụ Bá vào đâu sất cả!
Chẳng thèm nghĩ đến "cặp uyên ương" cụ Bá bèn lấy gậy
vụt cho cả đôi một cách phàm phũ. Giận đến cực điểm, lại đau đớn về nỗi mắc lừa
cái tướng ngũ đoản, cụ quả quyết chỏ tay lên vầng giăng mà thề độc: hễ có khách
là trị tội, bắt Vện phải chịu... giềng hình!
Khách lại là chúng tôi.
Muốn an ủi cụ Bá, chúng tôi phải nói chế đi rằng:
- Chó ngũ đoản chẳng hiểu có lợi gì cho người nuôi không,
nhưng mà chén thì kể cũng đường được.
Trong lúc giốc bầu say tỉnh, chúng tôi chợt nhớ đến lúc con
chó Khoang sang xem cuộc hành hình người yêu của nó. Ôi, thật là một sự chung
tình đáng làm gương cho giai nhân tài tử ở đời soi chung!
Thấy con Vện bị trói chặt bốn chân, tiết ở cổ ứa ra như suối,
con Khoang vẫn cứ chạy quanh cái chỗ gớm ghiếc ấy để liếm vào mình mẩy con Vện
ra ý thương xót. Còn Vện thì nước mắt ràn rụa, khóc như một người thật. Nếu biết
nói như người, hẳn nó đã nói: "Em ơi, anh chết vì em đấy! Thôi cũng là dịp
cho anh tỏ dạ hy sinh tính mệnh để phụng sự ái tình!".
Nhưng những tư tưởng tốt đẹp ấy chỉ được phô diễn bằng mấy tiếng:
- Ẳng ẳng ẳng ẳng!
1934
Một đồng
bạc
Thời xưa, khi loài người chưa đến nỗi phải sống chen chúc
nhau trong những căn nhà rộng như hang chuột của cái thế kỷ tiến bộ này, cổ
nhân cũng đã có những câu như "trạch lân xử" và "bán anh em xa
mua láng giềng gần" để thuyết minh về cái liên lạc hệ trọng giữa những người
sống gần gũi nhau, đề phòng những lúc nguy nan, tối lửa tắt đèn, hoạn nạn, dễ cầu
cứu nhau.
Ngày nay, nhờ nạn nhân mãn, những thuế thổ trạch quá nặng, bọn
người ít tiền chúng ta đã không còn biết cái tình liên lạc của "láng giềng",
để mà hiểu rõ cái gì là cái hệ trọng của người "ở chung" đối với ta,
lại thân mật hơn ông láng giềng thuở trước. Vì những lẽ cần kính trọng nhau, để
dễ cần dùng lẫn nhau, cần lấy lòng nhau vào nhiều dịp, nhất là không thể giấu
giếm, đậy điệm những cái xấu đi, cho nên những gia đình kim thời phải ở thuê
chung nhau một nhà, đối với nhau quả là thân thiết hơn cả họ hàng nữa.
Nói thế rồi, bây giờ tôi mới xin kể một chuyện của tôi đối với
một gia đình đã "trạch lân xử" với gia đình nhà tôi. Đọc rồi, độc giả
nên sẽ tha thứ cho tôi, vì tôi đã là một kẻ khốn nạn.
° ° °
Kể từ khi ấy đến nay, tính ra đã bốn năm tròn. Nghĩa là sau
khi sống chung đụng nhau một thời gian khá dài, hai gia đình chúng tôi mỗi bên
dọn nhà đi một phương, đã bốn năm nay cách biệt hẳn nhau. ở cái thời buổi mà ai
cũng sống hấp tấp, vội vàng này, những điều thiêng liêng đáng ghi nhớ thế nào
đi nữa, thì rồi người ta cũng dễ quên khuấy ngay đi... Có phải thế không? Cho
nên bốn năm trời xa nhau, tôi chẳng còn nhớ gì đến người ta nữa, mặc lòng xưa
kia tôi đã cư xử và được đáp lại như anh em ruột thịt, tưởng chừng cái thân
tình quý hóa ấy sẽ sống trường cửu trong ký ức của đôi bên mãi mãi.
Còn về phần người ta, liệu người ta có nhớ gì đến chúng tôi
chăng? Có lắm. Bởi cớ nếu không, ắt đã chẳng có câu chuyện này...
Chỉ phiền một nỗi là khi người ta làm cái việc để tỏ rằng còn
nhớ đến chúng tôi, thì người ta đã túng bấn, nghèo khổ, chẳng còn được như trước
nữa. Vả lại, theo thường lệ, sở dĩ loài người ăn ở tử tế được với nhau, ấy chỉ
là vì chưa làm gì đến nỗi để cho quyền lợi xung đột nhau mà thôi. Nếu cả hai
bên ai cũng theo đuổi được cái điều kiện nay ăn miếng chả mai trả miếng bùi, một
bên có đi thì bên kia cũng phải có lại để cho được toại lòng nhau, thì làm gì
xã hội lại sẽ chẳng cứ mãi mãi là cảnh Bồng lai? Than ôi, cái áo rách nó mới đắc
tội làm sao, và khi người ta tìm đến chúng tôi, thì chẳng may cái áo người ta
đã rách!
Những tư tưởng ái nhân như kỷ cũng đôi khi làm rung động lòng
tôi, lúc ấy nó mới biến mất đi đâu, để nhường chỗ lại cho cái tính đa nghi, cân
nhắc, cái ích kỷ tổ truyền!... Vì chưng nghĩ đến mình, chỉ nghĩ đến mình và quyền
lợi của mình, sự ấy nó cũng tự nhiên và có nhiều thú vị riêng của nó, thí dụ nói
xấu và vu oan là một cách giồng cây đức của nhiều nhà làm báo chân chính chẳng
hạn, cho nên khi người ta mặc áo rách và mang trên mặt tất cả những nét lo âu của
sự túng bấn thì tôi chỉ còn kịp so vai một cái để lẩm bẩm rằng: "Lại
tống tiền là cùng đây chứ gì!" y như một tay nhà giàu đã thấy phiền
và chán nản ở cái sự cứ phải bỏ tiền ra thi ân...
Nhưng, bạn đọc đại lượng ơi, hãy khoan một chút, để tôi được
thuật ra đây ít ra một vài điều gì nó tỏ cái thân tình của chúng tôi ngày trước
đã.
° ° °
Người chồng là một thiếu niên đồng tuế với tôi. Địa vị trong
xã hội thì thường thường bực trung, vì là một thư ký nhà buôn lương tháng độ bốn
chục. Lối đánh giá con người vào thời buổi bây giờ chỉ là lục lọi đến số tiền
lương tháng nhiều hay ít, chứ có phải kể đến học thức, nhân phẩm gì đâu! Nhưng
nếu phải giới thiệu ông láng giềng của tôi kỹ hơn nữa, thì tôi xin nói đó là một
người học thức trung lưu, đạo đức trung lưu, tài sản trung lưu; nghĩa là, nói
tóm lại, là một người chẳng đủ làm cho ai sợ nhưng cũng chẳng để cho ai khinh
được.
Còn người vợ, thì rất xứng đôi với chồng: nhan sắc bình thường,
nhân phẩm trung đẳng, còn học thức thì, theo như công lệ, cố nhiên là không có
chút nào rồi.
Cặp vợ chồng ấy rất tương đắc với vợ chồng chúng tôi. Tình
lân lý của đôi bên cứ theo thời gian mà càng ngày càng thêm bền chặt bằng cách
biếu xén nhau mọi của ngon vật lạ, mời mọc, thết đãi nhau luôn luôn, và cả hai
bên đều lấy thế làm thỏa mãn, dẫu rằng sau khi tôi thấy vợ tôi được nhận một thứ
thực phẩm đầu mùa hoặc hóa vật kỷ niệm gì, thì tôi lại giật mình đánh thót một
cái, băn khoăn kiếm cách đền lại. Và khi được trả lại, tôi cũng chỉ thấy họ
tươi cười cảm ơn mà nhận, ra vẻ sung sướng một cách rất thành thực, thế thôi.
Thật vậy, những trò giả dối ấy, chúng tôi vui lòng tự mình lừa dối mình để coi
nó là những hành vi chân thật. Không bao giờ chúng tôi lại chịu thú nhận rằng
thế là đã làm khổ nhau, và chỉ có thể tử tế được bằng cách cứ làm khổ nhau mãi
mãi mà thôi. Điều chẳng cần nói ra đây, là sau những cử chỉ rất anh hùng ấy,
thì cả hai bên đều mắc nợ, vì lương tháng hai bên cố nhiên không đánh thăng bằng
được cột thu và cột chi.
Do những lẽ ấy, trước còn xưng hô nhau: thưa ông, thưa bà. Rồi,
sau một thời kỳ "bác bác tôi tôi" đến cách gọi nhau là anh chị, như
ruột thịt chân tay. Cuối cùng, hai thằng nam nhi chúng tôi lại thân mật đến
"mày tao" với nhau nữa, những khi không có mặt hai người đàn bà. Ký
Bích - tên người bạn - với tôi tưởng chừng đã có thể từ đó sẽ sống chết có
nhau.
Tôi còn nhớ rõ như mới hôm qua, một lần phát tài, vợ chồng ký
Bích mời vợ chồng chúng tôi đi lễ chùa Hương mà anh thì có bộ Âu phục màu gỗ hồng
rất đúng mốt, mà chị thì nhờ cái áo nhung đỏ mới may, tự nhiên xinh đẹp khác
thường như là đột nhiên biến thành cô tiên, tuy đó có thể chỉ là một tiên nga
trung lưu. Chúng tôi đã đủ sung sướng, hả hê vì thấy được quý hoá, để hai tháng
sau phải lo méo mặt thết lại bạn thân ba ngày nghỉ mát Sầm Sơn rồi mới ăn ngon,
ngủ yên được.
Nhưng mà... cảm động và đáng nhớ hơn nữa, là thái độ của anh
và chị Bích đối với con tôi, đứa con gái đầu lòng. Chị Bích thường chểnh mảng cả
việc bếp nước để lên giúp vợ tôi, hoặc kiên tâm ngồi ẵm con tôi như một người
vú em có lương. Khi con tôi đến lúc biết hóng chuyện, những khi đi làm việc,
anh Bích đã nhiều phen để nguội cả cơm canh vì mải lên "yêu cháu một
lát". Bao giờ tôi lại quên được những lời thông thường rất thi vị mà anh
"nói ngọng" sau khi quệt ngón tay trỏ vào má con bé, đại khái những:
- Cháu gái tôi, ồ là, tôi "êu" nó lắm cơ! à, cháu
tôi cười rồi! Bác "êu" cái má bánh "đúng" này này! Bác
"êu" cái miệng bé bé này này! Bác "êu" cái cằm quả táo này
này! Bé ơi, bé êu êu quí quí của bác ơi!... A hà cười! Thích quá, thích quá!
Rồi anh ký Bích hôn hít con bé mãi không thôi, làm nó cứ cười
toe toét, và làm cho tôi cảm thấy cả cái hạnh phúc của một thằng đã là "bố
trẻ con" mà con gái lại trông hay hay, mẫm mụi, nghĩa là tóm lại theo một
câu nói riêng thì là "trông cứ như con chó Cún".
Những lúc như thế, tôi đã rõ rằng tình bằng hữu, tình lân lý
của con người ở đời, dẫu sao, cũng chẳng phải chỉ là những danh từ điêu trá của
văn chương đâu!
° ° °
Thế rồi, ngày hôm ấy...
Giữa lúc tôi đương đứng cạo râu trước gương, sắp sửa để đến
chỗ hẹn với một người bạn ở tỉnh xa về chơi mà tôi có bổn phận tiếp đãi thật
long trọng, thì chị Bích bước vào nhà. Vợ tôi lúc ấy lại đi đâu vắng...
Chị Bích làm cho tôi giật mình... Thật là bất ngờ quá đỗi!
Cái áo the nâu của chị, vừa rách lại vừa bạc, trông mới thảm hại làm sao! Đôi
guốc mòn gót, quai cao su lốp ôtô lộn ngược mà chị kéo lê sền sệt, cả gót chân
thừa ra ngoài, trông mới khổ sở làm sao! Thật là khác hẳn bà ký Bích ngày xưa,
bao giờ ra phố cũng áo lụa hoặc áo nhung rất lịch sự.
Tôi ngạc nhiên đến nỗi cứ ngẩn mặt ra, quên cả cạo râu, quên
cả mời khách ngồi. Tưởng bị tôi khinh, chị ta sau khi hỏi rằng vợ tôi có nhà
không, cũng đứng đấy, mặt cúi xuống để lúng túng, để bẽn lẽn và có lẽ để khổ sở
nữa. Tôi bèn đẩy ghế mời chị ta ngồi, và không gọi pha nước mới, tôi chỉ rót ra
đấy một chén nước chè cũ pha đã hai lần. Tôi bực mình cũng như bao nhiêu người
đương lúc vội ra đi mà bị có khách đến ám. Rồi tôi cứ tự do cạo râu trước
gương, sau khi hỏi qua loa một câu vô duyên:
- Thế nào, dạo này hai bác có phát tài không?
Thấy chị Bích hổ thẹn đáp cũng vô lý như câu hỏi:
- Không dám ạ, cảm ơn bác.
Đến lúc ấy tôi mới nhớ ra không biết ai đã nói với tôi rằng vợ
chồng ký Bích, từ khi không còn ở chung với tôi, đã lâm vào cảnh khổ sở, và đã
có hai con... Chồng thì đương làm ăn yên lành bỗng bị sở loại, vợ thì cứ ốm
luôn, hai đứa con cũng lại hay sài... Nghe đồn hình như bây giờ cái gia đình ấy
đem nhau ra nheo nhóc ở một gian nhà lá ngoài bãi Phúc Xá, và anh ký Bích bây
giờ phải bán bánh tây cà phê ban đêm, và chỉ ban đêm thôi: Anh hổ thẹn, sợ cắp
thúng và xách lò đi ban ngày gặp bạn hữu, họ mạc... Phải, phải chính thế, tôi
nhớ ra rồi! Người đã thuật chuyện ấy là bạn của cả Bích, lẫn tôi. Và nói thế là
để thương hại chứ không phải để nói xấu...
Nhớ lại như thế, tôi bỗng lại giật mình. Tôi tự nhủ: "Liệu
hồn! Lại bị tống tiền rồi đây!" Rồi tôi thấy phiền quá, vì chị Bích làm
cho tôi sợ hãi quá, nhất là không biết đến bao giờ mới để tôi ra đi cho thoát.
Khổ thật! Râu cạo mãi cố nhiên cũng phải đến lúc hết nhẵn,
tôi đành cất dao đi, và quay lại, ngồi xuống ghế đối diện chị ta. Và chẳng nhẽ
lại không nói gì, tôi đành mở mồm:
- Mời bác xơi tạm chén nước.
- Dạ, vâng.
Đáp xong, chị Bích uống chén nước một hơi, y như một người
đương đói lắm. Chẳng phải là một kẻ vô lương tâm hoàn toàn, tôi bỗng thấy hổ thẹn
về cái lãnh đạm của tôi. Và thay đổi thái độ:
- Thế ít lâu nay hai bác làm ăn ra sao? Tôi chẳng biết nhà
đâu mà đến chơi! Mà hai bác cũng không năng đến chơi với chúng tôi, thì tôi còn
biết gì được!
Mắt chị ta bỗng quắc lên vì sung sướng và hy vọng. Than ôi,
con người ta khi đã lâm vào cảnh nghèo, có ai mà lại không hèn! Cái hạnh phúc của
chị ta, lúc ấy nó có được chỉ vì thấy tôi nói một câu giả dối ra vẻ săn sóc, là
chẳng kém một cung phi đã già đời nằm dài trong lãnh cung mà một hôm được thấy
cái xe dê của vị quân vương. Đối với chị ta, lúc ấy tôi là một vị thiên phúc
chi tinh vậy! Bây giờ chị mới đủ can đảm ngập ngừng kể lể:
- Thưa bác, một hôm em gặp bác gái ở Đồng Xuân, nói rõ phố và
số nhà rồi hẹn lại chơi, cho nên hôm nay em mới dám đến đây... Thưa bác, từ dạo
ấy thì nhà em mất việc vì sở loại bớt người... Từ đấy tìm mãi việc làm không được.
Em thì cứ hay ốm yếu luôn, lại đẻ được hai cháu, mà hai cháu cũng cứ sài đẹn
luôn luôn... Hiện giờ thì túng kiết khổ sở lắm. Xưa kia, ở chung với bác, được
trăm phần thì nay không được lấy một phần... Chẳng dám nhìn mặt ai nữa, chẳng
dám tìm đến ai nữa. Nếu bác gái không bảo lại đây thì em cũng không dám đường đột
lại đây thế này đâu... Dạ bẩm thế bao giờ bác gái mới về ạ?
Tôi đáp cho phải phép:
- Đến chiều nhà tôi mới về... Chết nỗi, thế mà tôi không biết
rằng hai bác vận hạn nhiều thế.
Chị Bích giương to đôi mắt đăm đăm nhìn mãi tôi. Có lẽ đương
cầu Trời cho tôi bảo cứ ngồi đấy mà đợi vợ tôi vì thấy tôi thắng bộ vào như thế,
chị rất hiểu là tôi sắp ra đi có việc.
Còn tôi, lúc ấy, thì tôi nghĩ gì?
Tôi có nhớ đến cái tình chung chạ nặng hơn hàng xóm láng giềng
của chúng tôi khi xưa không? ừ, cái thân tình gần như ruột thịt những ngày vui
cũ, tôi có còn nghĩ gì đến hay không?
Tuy cũng có đấy, nhưng nhớ để rồi quên ngay. Vì tôi còn bận
tâm lo bạn tôi đương vì đợi tôi mà sốt ruột, bận tâm giận vợ tôi sao lại hẹn
nguy hiểm thế, và nhất là bận tâm vì áy náy không biết khu xử ra sao... Tiền!
Than ôi, lại chỉ những chuyện tiền!
Bao nhiêu cái gì là ích kỷ, là đê hèn, là chó má, là tàn nhẫn,
lúc ấy đều thức dậy cả trong cái tấm lòng khốn nạn của tôi. Cúi đầu xuống, tôi
bĩu môi nghĩ về vợ chồng ký Bích: "Sướng lắm thì khổ nhiều!" ấy thế
là những sự thù tạc, biếu xén, quà bánh, thết đãi của vợ chồng ký Bích khi xưa
đã làm cho tôi thấy là vinh dự, đáng quý hoá, thì bây giờ chỉ khiến tôi thấy đó
là kiểu cách, lôi thôi, phiền phức, giả dối, khó chịu, và nhất là tai hại, hầu
như là đã khiến cho vợ chồng tôi vì đối đáp lại những cái ấy mà đã có hồi
khuynh gia bại sản nữa! Tôi thấy họ đáng kiếp, không đáng thương tí nào.
Nhưng mà vợ tôi đã gọi người ấy đến; rõ mới tội nợ!
Thì... không mất tiền không xong! Tôi đành hỏi ngay:
- Bác cần tiêu bao nhiêu?
Cố nhiên là chị Bích nghĩ mãi mới đáp:
- Nếu được bác giúp cho độ ba đồng bạc thì cháu bé cũng sống
mà vợ chồng tôi cũng đỡ phải lo trong một tháng.
Lúc ấy, túi tôi có thừa năm đồng. Nhưng mà, như trên đã nói,
tôi còn phải thết đãi người bạn. Ngay bây giờ, chúng tôi rất cần đi ăn, đi
chơi! Nếu không, tôi sẽ chẳng ra giống người, vì ông bạn tỉnh xa của tôi đã đối
với tôi chu đáo, ân cần lắm! Thế rồi đáng lẽ đưa ra cho chị Bích vay hai đồng
thì, không hiểu sao tôi chỉ đưa ra có một đồng. Và tôi bỗng nói khác hẳn như đã
muốn:
- Thôi đây này, có đồng bạc cho cháu ăn quà, bác cầm lấy...
Chúng tôi tuy vậy dạo này cũng túng, chẳng có gì đâu... Đây là tôi cho cháu
nhé, chứ không phải chuyện nợ nần gì cả.
Tôi đã dùng cái lối rất cổ điển: cho hẳn, để mà "rào đường".
Vì tôi sợ nhất cái chuyện sẽ bị quấy nhiễu về sau! Vì cho thì một đồng đã là
to: còn cho vay thì lại là ít quá, không được tử tế như cho hẳn.
Chị Bích cầm tiền, cảm ơn, bẽn lẽn ra về.
Chị hài lòng chưa? Đủ sướng rồi hay còn cho là ít? Tôi cũng
không biết.
Chỉ biết hôm ấy, tôi đã tự đắc như một nhà từ thiện, vì lẽ cố
nhiên tôi coi đồng bạc ấy của tôi là rất to!
Quả như vậy, từ đấy trở đi, không bao giờ chị Bích còn dám
bén mảng đến cửa nhà tôi nữa. Tôi đã rất thành công trong cái sự rào đường một
người bạn nghèo. Rồi thì, chẳng cần phải lâu ngày, chuyện ấy cũng chóng bị quên
đi... Nhưng về phần chị Bích thì không. Chưa có nghìn vàng dễ thường không bao
giờ chị ta dám nghĩ đến sự đền ơn bát cơm Siếu mẫu, dẫu rằng người thi ơn kia,
quả thật đã chẳng có cái từ tâm của Siếu mẫu.
Vài tháng sau đó...
Bữa ấy nhằm một buổi sáng chủ nhật, tôi cùng mấy người bạn đã
lên một toa xe điện chạy từ Bạch Mai về Bờ Hồ. Khi đến chợ Hôm, chợt thấy chị
Bích ẵm con, bước lên. Đêm trước chúng tôi vừa mới thực hành cái truỵ lạc chủ
nghĩa. Vừa đem thi thố mấy ngón tài hoa, như nốc rượu, hút thuốc phiện, đùa
gái, văng tục, và nói xấu những người bạn thân vô phúc đêm ấy không có mặt tại
một tổ quỷ nào đó ở xóm Vạn Thái, cho nên sáng hôm nay, mặt chúng tôi đều bơ phờ,
hốc hác, thiên hạ cứ thoáng nhìn cũng đủ rõ là bọn này đã từ cái chốn ác hại
nào mà chui ra... Lại thêm lúc chi tiền, chúng tôi đã bị một ả đào lè nhè xin
thêm mãi, cho nên lúc ấy tôi đương bực mình cực điểm, thấy rằng cuộc đời đã bị
đầu độc, mà chưa biết bao giờ mới có một cuộc vui nào khác nữa đến tẩy độc
cho... Âu cũng là nhằm ngày đen đủi của chị Bích vậy.
Trông thấy chị lên xe, tôi lại giật mình, nhưng không thể
lánh mặt được, tôi đành ngả mũ chào chị, và cố nhiên cái vẻ mặt lúc ấy là phải
lãnh đạm. Cái áo the nâu của chị lại rách hơn trước một chút nữa. Và bây giờ
thì chân chị - hai bàn chân xưa kia xinh và trắng - xéo lấm, vì chắc đôi guốc
đã không còn dùng được rồi. Còn đứa con chị ẵm trong tay thì xanh xao, gầy quá,
đầu thì lấm tấm có mụn trốc, cặp môi thì đã thâm như của một dân bẹp tai! Lúc
chị Bích sắp nâng một bên vạt áo lên để giới thiệu con, tôi bỗng có cái cảm tưởng
lạ lùng y như người ta lúc sắp được thấy, trong cuốn sách phóng sự, bao nhiêu
điều xấu xa bí mật sắp bị phơi ra dưới ánh sáng vậy. Thật thế, không gì thất vọng
bằng một cái mặt trẻ con mà lại không đủ cái hay, cái kháu, để mời chào ta một
cái hôn... Tuy vậy, tôi cũng nhớ ngay đến thời xưa, khi con gái tôi mới đẻ, nó
đã được chị Bích quý hóa như thế nào. Và tôi đã hỏi mấy câu qua loa về đứa bé,
để rồi ngắt chuyện, xin diêm thuốc các bạn hữu cùng ngồi quanh đấy, ý muốn cho
chị Bích mau lấy áo đậy con lại.
Xe điện chạy chậm quá thật! Mười cây số mỗi giờ, giữa một tỉnh
to như Hà Thành! Thật là một cái hổ thẹn của văn minh! Vì rằng, than ôi! Tuy
tôi đã im lặng lờ hẳn đi, nhưng chị Bích đã bắt đầu kể lể!... Chị nói rõ về cảnh
nheo nhóc, mọi điều tai biến, mọi sự đói khát, đau khổ, mà cái số phận ác hại
đã hành hạ gia đình nhà chị từ bấy đến nay... Tôi thở dài. Tuy chị không kết luận
bằng cách xin giúp đỡ, nhưng tôi cũng đủ thông minh để hiểu lắm.
Lúc bấy giờ thì tôi phẫn uất đến cực điểm. Tôi cho tôi như một
con giun, ai xéo lắm ắt tôi cũng biết quằn! Đi hát, lúc chi tiền bị kè nhè là đồ
keo, lúc về giữa đường lại bị có kẻ muốn tống tiền, tôi tưởng như vậy thì từ
tâm đến bằng Đức Phật Tổ cũng phải cáu, dẫu rằng Phật Tổ không đời nào đi
hát... Đáng lẽ có thể bảo chị Bích là không biết điều, ở chỗ "cứ thấy bở
thì đào" như một kẻ bất nhã nào khác, tôi chỉ muốn nhắc cho chị đừng quên
cái đồng bạc trước của tôi. Chẳng nghĩ xa xôi, tôi hỏi thẳng:
- Từ lần ấy, bác có gặp nhà tôi nữa không?
Vô tình chị đáp ngay:
- Dạ, có gặp một lần ạ.
- Bác không nói gì cho nhà tôi biết về cái đồng bạc tôi giúp
bác đấy chứ?
Chị Bích ngơ ngác nhìn tôi mãi như ngạc nhiên vì sợ tôi lại nỡ
ngờ cái lòng thực thà hoặc biết nhận ơn của chị. Rồi chị tức khắc đáp:
- Dạ, có đấy ạ. Tôi có nói ngay rằng đã được bác cho vay một
đồng.
Tôi sung sướng lắm, và cau mặt hỏi nữa:
- Bác đã nói là tôi cho vay à?
Chị Bích liền gật đầu:
- Bẩm vâng.
Tôi tắc lưỡi, cau mặt hơn nữa, khẽ nói tha thiết:
- Rõ khổ quá! Thì sao bác lại không nói là tôi cho hẳn cháu?
Mà tốt hơn nữa thì bác đừng nói gì, có hay không! Chẳng nói bác ắt cũng thừa biết
đấy, bụng dạ đàn bà nhỏ nhen như cái lỗ kim... Thế là rồi nhà tôi nó sẽ không
bao giờ quên là bác đã nợ nó cái đồng bạc ấy.
Tôi kết luận bằng cái so vai, và một cái thở rất dài.
Từ đấy, chị Bích có một nét mặt ủ rũ đặc biệt nó khiến chị ta
không ngồi thẳng lên được nữa, như một con chim bị đạn. ắt đó là chị hối hận,
tiếc rẻ cái lòng nhân đức ghê gớm của tôi, và phân vân lo sợ về cái "bụng
dạ lỗ kim" của vợ tôi.
Đến chợ Đồng Xuân, chị ẵm con bước xuống. Trong cả thời gian
ngồi cạnh nách tôi, chị ta tịnh không dám bén mảng đả động đến chuyện tiền.
° ° °
Cách đấy sáu tháng nữa, quả vậy, đúng sáu tháng.
Nhằm lúc cuối năm, vợ chồng tôi đi lên chợ Đồng Xuân mua vài
giò thuỷ tiên... Đương lúi húi mặc cả trước một bàn hoa, tình cờ lúc nghển lên,
chúng tôi trông thấy chị Bích đương đi từ cổng chợ ra, cách chỗ chúng tôi đứng
độ mươi thước. Tức thì vợ tôi vui vẻ gọi:
- Bác Bích! Bác Bích ơi!... Bích!
Một tay bế con, một tay cắp cái rổ trong đó có vài cây dưa cải
và một cái mũ thổ công đáng giá hai xu, tuy chỉ có thế thôi, chị Bích cũng quay
lại một cách rất khó khăn, chỉ vì buổi chợ quá đông người. Đến khi nhìn thấy rõ
chúng tôi rồi, thì...
Thì chị Bích lại vờ như không nhìn thấy nữa, ôm con và ôm rổ
cúi đầu quay đi thẳng, trước còn bước chậm, sau thoăn thoắt rõ nhanh, và sau
cùng, thì chạy hẳn!
Than ôi, chỉ vì một đồng bạc! Cái đồng bạc nhân đức rất đắc tội
ấy! Chị Bích lẩn mặt, chạy trốn, sợ bị đòi tiền.
Một đồng bạc! Chỉ vì nó, mà một người đã có cái can đảm chạy
trốn một người, sau khi cả hai người, vào lúc còn như nhau, đã sống bao nhiêu
năm trời chung đụng với nhau, rau cháo có nhau, yến tiệc có nhau, thân thiết với
nhau hơn ruột thịt, tay chân!
° ° °
Bạn đọc ơi, viết đến dòng này, tôi lại thấy cả tấm lòng khốn
khổ và khốn nạn của tôi nôn nao lên... Chính thế đó, vì trước bàn giấy của tôi
có một cái gương Psyché, và khi tôi chợt ngưng bút để nhìn cái hình thù và cái
người ngợm của tôi trong gương, thì tôi buồn nôn, thì tôi ghê tởm cả cho chính
tôi, vì rằng, trừ một bọn nịnh sằng vẫn gọi tôi là danh sĩ, là văn hào, thì,
trong thiên hạ, than ôi lại vẫn có một số người đứng đắn kia nỡ lòng khen tôi
là "một người tử tế".
Tôi hối hận lắm, tôi khổ sở lắm, vì rằng từ đấy, không bao giờ
chúng tôi còn dịp nào gặp vợ chồng Bích đâu nữa, và nhất là vì giữa cái hôm chị
ta chạy trốn vợ chồng chúng tôi ấy, thì lại nhằm vào một bữa hãn hữu mà vợ tôi
đã nói: "Rõ tội nghiệp chị Bích quá nhỉ? Cậu ạ, em chỉ định tâm hễ gặp chị
ấy thì thế nào cũng giúp thêm chị ấy vài đồng, nhất là vào dịp Tết này".
Nhưng mà từ bấy đến nay, thời gian đã đem đến cho lòng người
cái gì là cái quên. Sự gì thì rồi ta cũng có ngày quên đi, cho dẫu là ái ân,
cho dẫu là đau thương, cho dẫu là hối hận.
Bởi cái cớ ấy, cho nên tuy lương tâm tôi đã mang nặng một vết
thương tình cảm để đôi khi bứt rứt hàng giờ, mà từ đó, tôi cũng chẳng làm nổi một
việc thiện nào thiện hơn cái việc ác này, tuy rằng nếu cố gắng tinh thần thêm
chút nữa, tôi chẳng thiếu gì những dịp để thực hiện rất nhiều cái đức ái nhân
như kỷ mà tôi có thể có được, hơn ai...
Vì sao? Vì khi ta có tiền thì ta chẳng nghĩ đến cái nhân, và
khi phải nghĩ đến cái nhân, thì ta lại chẳng có tiền. Cho nên sự đời chung qui
chỉ là những vòng chạy trong đèn cù, luẩn quẩn, loanh quanh, vì ta không thể
nào khác được, nếu không cứ việc sống thản nhiên để mà tầm thường và khốn nạn.









Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét