Hương rừng Cà Mau 1
Anh hùng rơm
Thời Pháp thuộc, làng Bình
An, tỉnh Rạch Gái được nổi danh là sung túc. Ruộng đất quá phì nhiêu, chẳng
cần bón phân, mỗi công đất (1.000 thước vuông) thâu hoạch hơn 20 giạ.
Qua tháng Mười một, mãn mùa
gặt, dân chúng còn hưởng thêm mùa dưa hấu trồng ngay trên ruộng. Nếu trúng mùa
dưa thì rõ ràng là vốn một lời mười. Họ tha hồ ăn xài suốt tháng Giêng cờ bạc,
đờn ca vọng cổ lai rai đến lúc tháng Ba, sa mưa.
Nhịp sống của đoàn nông phu
cứ trôi qua đều đều. Nhưng đến năm 1937, một biến cố khá quan trọng xảy ra khiến
dân chúng... nghẹt thở. Hầu hết những kẻ tay lấm chân bùn trong làng đều bị lên
án là... kẻ ăn trộm trâu.
Tiên cáo là một ông lạ mặt,
người Việt Nam, mặc âu phục, tay xách cặp da, hút ống vố.
Ông ta đến nhà thầy phó
hương quản:
- Có ai ở nhà không?
Thầy phó hương quản ngơ
ngác:
- Xin lỗi, ông là ai? Xin
cho biết quí danh.
Ông ta nói:
- Tôi muốn nói chuyện...
Thầy phó hương quản mời ông
khách vào nhà. Ông ta mở cặp da, đưa ra một tấm danh thiếp:
“Nguyên Hưu Henri, Domaine
agricole de Saigon”.
Sau khi đọc sơ qua, thầy phó
hương quản lấy làm bối rối:
- Thưa ông. Xin ông vui lòng
“thông ngôn” cho tôi được hiểu.
Thông ngôn có nghĩa là thông
dịch. Ông khách cứ hút thuốc, chưa chịu làm công việc ấy. Hồi lâu, ông trợn mắt:
- Tấm “cạc” này nói nhiều rồi.
Quyền hạn thanh tra... toàn Nam Kỳ thuộc địa của tôi như thế nào, chú phó hương
quản dư hiểu.
Khổ quá! Thầy phó hương quản
đành nài nỉ, thú nhận sự dốt nát của mình:
- Dạ, tấm “cạc” của quí
ông... toàn là chữ Tây. Chắc là ở Sài Gòn!
Khách cười nhếch mép:
- Khá lắm. Còn hai chữ nữa
“Nguyễn Hữu” tôi không thèm bỏ dấu cho đúng mẹo luật Lang Sa. Tôi thường giao
thiệp với quan chủ tỉnh mà. Đây, tôi tạm “thông ngôn” cho chú hiểu: Tôi là Nguyễn
Hữu Hăng-ri, thanh tra đồn điền Sài Gòn. Tôi vô dân Tây nên giữ chữ Nguyễn Hữu.
Mới đây, sau khi tiếp xúc xã giao với quan chủ tỉnh, tôi ăn cơm ở nhà quan
chánh sở mật thám. Bậy quá, chắc quan chủ quận phiền giận tôi...
- Thưa ông sao vậy?
- Ổng là anh em bạn học.
Lần đầu tiên từ thuở nhỏ đến
từng tuổi này, thầy phó hương quản mới được vinh dự đón rước một nhân vật quan
trọng. Lập tức, thầy gọi vợ ra chào khách, bắt gà làm thịt. Ông khách Hăngri
nói, giọng bí mật:
- Tánh tôi bình dân lắm. Tôi
ưa làm quen với người chất phác như chú. Vừa vừa thôi, đừng bày tiệc tùng, tốn
kém lắm.
Thầy phó hương quản suy nghĩ
hồi lâu rồi giả bộ như mình cũng rành tất cả lề lối làm việc của người cầm giềng
mối trị dân:
- Ông nói chí lý quá. Các
quan chủ quận đều rành chữ Tây. Đọc sơ qua tấm “cạc” của ông, mấy ổng hiểu liền.
Chẳng dám nào, ông cho phép...
- Chú nói đi. Chỗ quen biết
với nhau mà.
- Ông cho tôi xin một tấm “cạc”
như vầy để lộng kiếng, làm kỷ niệm. Hễ có khách quí tới nhà là tôi nhắc nhở, giới
thiệu... lúc ông vắng mặt.
Ông Hăngri cau mày:
- Đây! Chú giữ tấm “cạc”
này. Nhưng mà chú phải dè dặt. Đừng phô trương quá sớm. Tôi muốn giữ bí mật. Chờ
đôi ba ngày nữa, xảy ra nhiều việc lạ lùng lắm, có lợi cho chú... trong tương
lai.
Thế là ông Hăngri nghiễm
nhiên trở thành vị thượng khách của phó hương quản. Thầy bắt đầu xa lánh bà con
chòm xóm, vì lý do riêng. Trong lúc ông Hăngri nằm trên bộ ván gõ, đọc báo Lục
Tỉnh Tân Văn thì thầy phó hương quản trèo cây dừa xiêm hái xuống trọn quày.
Nhớ đến câu “gái ngoan làm
quan cho chồng”, thím phó hương quản thắt lưng buộc bụng... sẵn sàng đi tiệm
mua nào cari, củ hành, tiêu, tỏi đem về để thanh toán bằng bầy gà bầy vịt.
Tối hôm ấy, ông Hăngri mở đầu
câu chuyện:
- Này chú phó hương quản.
Chú là người đáng tin cậy, xứng danh là người làm việc nước. Tôi nhờ chú giúp
tôi một vấn đề quan trọng. Chừng mãn nhiệm vụ thanh tra, tôi sẽ gặp quan chủ quận,
gởi gắm để thăng chú lên chức chánh hương quản.
- Dạ, may phước cho đời tôi
quá!
- Vợ chú ngủ chưa? Đừng cho
đàn bà hay biết. Họ ưa chộn rộn.
- Dạ, để tôi coi thử.
Rồi chú trở ra:
- Nó ngủ rồi.
- Chú nên giữ bí mật hoàn
toàn. Nếu hư hỏng công việc truy tầm của tôi, chú sẽ bị trừng phạt theo phép nước
luật quan. Chừng đó mặc dầu thương mến chú, tôi cũng chẳng tài nào cạy gỡ giùm
được.
Dưới ánh đèn tọa đăng, trong
khi sương mù mịt, bất chấp tiếng chó sủa ma trong xóm vắng, ông Hăngri mở cặp
da, đem ra một mớ giấy có đóng dấu đỏ. Thầy phó hương quản đếm thử: chừng ba chục
tấm giấy cứng, màu xanh, lớn gấp đôi cái giấy thuế thân.
Ông Hăngri lẩm bẩm:
- A lo! A lo!
Thầy phó hương quản giật
mình, bước ra xa, vấn thuốc hút. Thầy càng tò mò, liếc qua xấp giấy xanh của
ông Hăngri. Thầy sực nhớ đến loại giấy mà thầy có đôi ba tấm trong nhà.
Thời thực dân, dân chúng gọi
nôm na đó là “bài kía” trâu bò, trên mỗi tấm, hài rõ tên chủ của gia súc, tên
con gia súc, tuổi tác, dấu riêng... và số thuế đã nạp.
Nhà thầy phó hương quản có
hai con trâu và một con bò. Thầy đã lãnh bài kía, xác nhận thầy làm chủ ba con
gia súc đó. Nếu bị trộm cắp, thầy đem “bài kía” để nhìn nhận của đã mất.
Ông Hăngri thừa hiểu rằng từ
nãy giờ cặp mắt tò mò của chủ nhà đang xăm xoi về phía mình.
- Chú phó hương quản. Lại
đây tôi dạy việc.
- Dạ, tôi sẵn sàng.
Ông Hăngri lật đật đem xấp...
“bài kía” trâu bò ấy bỏ vào cặp da rồi đưa cho thầy phó hương quản xem một tấm
giấy trắng có chữ đánh máy, chữ Pháp.
Ông giải thích:
- Số là đồn điền của chúng
tôi - ở chi nhánh Sóc Trăng - từ lâu thường bị ăn trộm trâu. Theo tin riêng của
sở mật thám Sài Gòn cho biết thì bọn bất lương đem số trâu bất hợp pháp ấy về
bán tại làng Bình An này. Vì vậy, thừa lệnh quan trên...
Thật là đất bằng sóng dậy.
Thầy phó hương quản cố gợi lại trí nhớ. Thỉnh thoảng, vài người ở xóm này mua
trâu, nhưng là trâu tơ, sanh đẻ tại làng. Lúc nhậu nhẹt, nhiều người chế nhạo lẫn
nhau: “Mầy là chủ phồn ăn trộm trâu!” nhưng đó là tiếng thường lệ cũng như “đồ
mắc dịch! đồ ma bắt!”. Nó không có ngụ ý gì ráo.
Thầy lẩm bẩm:
- Té ra hổm rày ông làm nhiệm
vụ mật thám.
- Tôi là thanh tra!
Phó hương quản bắt đầu e ngại:
- Da, quan thanh tra muốn
“ăn kết” theo cách nào? Theo ý tôi thì dân chúng ở xóm này toàn là người lương
thiện. Trâu bò của họ nuôi đều có “bài kía”, đóng thuế đầy đủ, do quan trên thừa
nhận.
- Nhưng họ mua ở đâu? Mua của
ai?
- Dạ, mua ở Châu Đốc, hoặc
mua ở mấy xóm gần đây.
- À! À!
Vừa nói, ông Hăngri vừa gõ
cái ống điếu vào gốc cột.
- Phó hương quản đừng che giấu
tội lỗi của họ mà chịu chung số phận. Bây giờ, việc đầu tiên của phó hương quản
cần thi hành là tới cái chuồng trâu nào gần đây nhứt, biểu họ trình cho tôi coi
mấy cái “bài kía” của trâu bò trong chuồng để tôi kiểm soát.
Trưa hôm sau, phó hương quản
trở về:
- Đây! Nhà của Trần Văn Lén,
tất cả bốn con trâu tên là trâu Pháo, trâu Bướm, trâu Điệp, trâu Mẫm.
Ông Hăngri nói nhanh:
- Tôi muốn kiểm soát dấu
riêng của mỗi con trâu. Nếu nó trùng dấu với mấy con đã ghi trong tờ cớ của tôi
thì đó là trâu gian. Tôi cần làm việc cẩn thận. Phó hương quản cứ tới nhà mấy
người khác, từ nhà tên Trần Văn Lén này dài đến cuối xóm, tom góp tất cả “bài
kía” đem cho tôi xem xét lại.
Cả xóm nhốn nháo lên vì nguồn
tin bất lành ấy. Vốn làm ăn chất phác, tin tưởng nơi công lý, các chủ trâu đều
ngoan ngoãn tuân lịnh.
- Vàng thiệt không sợ lửa, -
họ tự an ủi.
Nhưng trò đời diễn ra khá phức
tạp.
Sáng hôm sau, phó hương quản
đổ mồ hôi trán, đi thất thểu đến mời mấy người chủ trâu:
- Nguy quá. Ông thanh tra mật
thám mời bà con tới “hầu”. Tôi e đã xảy ra điều gì bất trắc. Nhớ tới nhà tôi,
cho đủ mặt, bằng không thì ông Hăngri lên án khiếm diện.
Các đương sự lần lượt đến ngồi
chồm hổm tại hàng ba, nhà thầy phó hương quản.
Ông Hăngri nâng ống vố lên,
rít một hơi dài rồi nói từng tiếng một:
- Trần Văn Lén! Ai tên Trần
Văn Lén?
Người tên Trần Văn Lén “dạ”
một tiếng nhỏ rồi chạy tới, đứng trước mặt ông Hăngri để nghe lời dạy:
- Bốn con trâu Pháo, trâu Bướm,
trâu Điệp, trâu Mẫm của chú đều là trâu ăn trộm.
Trần Văn Lén trợn mắt:
- Làm sao có chuyện đó? Xin
quan lớn... coi lại. Trâu nhà của tôi mà?
- Chú mua hồi nào?
- Dạ, hồi năm ngoái, 1936.
- Tôi cho biết: hồi năm
1935, đồn điền tôi bị mất trộm, có tờ cớ hẳn hoi. Cái tấm “bài kía”... của chú
giữ ghi vô bộ năm 1936. Nhưng “bài kía” của đồn điền tôi vô bộ 1934. Dấu riêng
con trâu Bướm y hệt: sừng cong, hai xoáy ở chân trước bên mặt.
Tên Lén hơ hãi, kêu nài:
- Xin quan thanh tra cho tôi
thấy cái “bài kía” của đồn điền...
- Đừng lẽo lự. Này đây! Tờ cớ
rành rành. “Bài kía” của tôi cũ hơn.... chứng tỏ rằng kẻ trộm đem trâu của đồn
điền tôi đến làng Bình An này bán lại cho chú. Hoặc là chú có nhúng tay vô...
Tên Lén trố mắt. “Bài kía”
(bài chỉ) của ông Hăngri vô bộ trước, có đóng dấu màu đỏ và chữ ký tên...
Ông Hăngri giựt cái “bài
kía” trở lại:
- Tôi tịch thâu con trâu Bướm
của chú. Chú ngồi đó suy nghĩ. Nếu cự nự tôi giao cho quan chủ quận, truy tố ra
tòa.
Sau tên Trần Văn Lén, lần lượt
bốn năm khổ chủ khác đều bị cật vấn. Trâu của họ trùng dấu riêng với những con
trâu mà đồn điền bị mất trộm, cách đó vài năm, ghi rõ trong tờ cớ. Kèm theo tờ
cớ, ông Hăngri nêu ra mấy cái “bài kía” để làm bằng. Trong những “bài kía” xa
xưa ấy, các dấu riêng của gia súc đều ăn khớp với loại “bài kía” vô bộ sổ quá
trễ mà dân chúng trong làng Bình An đang giữ.
Bằng một giọng nhỏ nhẹ, ông
Hăngri giãi bày:
- Tôi chẳng muốn đưa mấy chú
ra tòa làm gì. Tội nghiệp cho vợ con mấy chú. Nếu mấy chú ăn năn hối cải, tôi
ém giùm. Tôi hứa chạy tờ về ông chủ đồn điền... với điều kiện là mỗi người cho
tôi năm chục đồng. Bằng không thì...
Ai nấy cúi đầu áy náy. Năm
chục đồng đâu phải là số tiền nhỏ.
Day qua phó hương quản, ông
Hăngri tiếp lời:
- Thế nào? Phó hương quản
dám bảo lãnh giùm họ không? Tới trưa mai họ phải chạy tiền đầy đủ.
Phó hương quản gãi đầu:
- Tôi xin bảo lãnh. Để họ về
vay nợ... đền ơn quan thanh tra. Nếu ai trốn tôi chịu trách nhiệm.
Đã quá 12 giờ trưa.
Tại tiệm chạp phô ở cuối
xóm, dân chúng tụ họp lại, bao vây thầy phó hương quản. Hai ba chai rượu để
trên bàn đều cạn. Ai nấy đều say ngà ngà. Người này sừng sộ:
- Rõ ràng hương quản a tòng
với ông Hăngri làm tiền bọn tôi. Trâu nhà, trâu nghé nuôi lớn lên rành rành vậy
mà ông ta dám quả quyết là trâu ăn trộm. Trời đất làm chứng giùm.
Kẻ khác khóc mùi mẫm:
- Rủi bề gì, mình mất trâu,
lại ở tù oan mạng. Phó hương quản sao lại chứa chấp hắn?
Phó hương quản trợn mắt:
- Tôi khổ lắm rồi. Bà con
yên tâm. Ta hãy tìm cách gỡ rối, lấy độc trừ độc... Bà con giúp tôi vài cơ
mưu..
Một người nói xen vào:
- Tôi biết rồi. Thừa dịp
này, mình nên sửa dấu riêng trên trâu bò mình để chạy án. Theo kinh nghiệm ông
bà để lại, mình cứ nướng sắt cho đỏ rồi đốt ngay xoáy của con trâu để cho nó...
bớt xoáy. Hoặc chặt một khúc chuối cây hơ lửa cho nóng rồi đút sừng trâu vô mà
uốn sừng của nó cho bớt cong....
Phó hương quản gật gù, nhìn
xuống mé sông. Thầy ta reo to.
- Hay quá. Vợ tôi tới thăm
tôi kìa!
Có người nổi nóng:
- Vợ tới thăm mà cũng “hay
quá”! Thầy sung sướng trong lúc bà con chòm xóm đang tán gia bại sản.
Sau khi ra sân nói chuyện rù
rì với bà vợ, phó hương quản trở vào tiệm, nói khẽ:
- Mời anh em tụ họp lại,
nghe tôi nói rõ đầu đuôi. Số là tên Hăngri nó có nhiều hành động gian dối. Hổm
rày, vợ tôi với tôi theo dõi hắn. Hắn dự trữ sẵn trong cặp da một số “bài kía”,
đóng dấu giả: hắn coi “bài kía” của trâu bò lối xóm rồi sao y, điền vô khoảng
trống trong “bài kía” giả của hắn. Xong xuôi, hắn... ăn gian ngày tháng. Thí dụ
như trâu của bọn mình vô bộ năm 1935 thì hắn ghi là 1934... Vợ tôi thấy rõ ràng
hắn đang “sao y bổn chánh”, lúc tôi vắng mặt. Hắn tưởng vợ tôi dốt.
Một nạn nhân nổi giận:
- Tôi chém nó mới được.
Phó hương quản nói:
- Đừng! Chém ruồi ai dùng
gươm vàng làm chi. Tôi tính như vầy: đêm nay tôi ăn cắp cái cặp da đựng “bài
kía” của hắn. Rồi tôi tri hô rằng ăn trộm đã lẻn vào nhà tôi. Tất nhiên bà con
mình nên sắp xếp sẵn. Một người nào đó cứ chạy phía trước, giả như kẻ trộm xách
cái cặp da. Rồi bà con xúm nhau đuổi phía sau. Tên Hăngri cũng rượt theo để giựt
cái cặp da trở lại. Thừa dịp đó, mình dùng củi khúc mà ném cho hắn ta u đầu,
què cẳng.
Nửa giờ sau, kế hoạch được
thi hành. Tên Hăngri hốt hoảng, yêu cầu dân làng giúp hắn giựt lại cái cặp da:
- Tôi hứa trọng thưởng. Tôi
hứa tha tội cho bà con!
Nhưng ai nấy cứ hò hét, chạy
dồn về phía hắn, hươi gậy gộc... Hắn hoảng hốt chạy. Dân làng đuổi theo mãi.
Riêng thầy phó hương quản
thì dè dặt hơn. Thầy ngồi núp trong bụi chuối, đề phòng trường hợp tên Hăngri
là thanh tra... thứ thiệt. Hắn sẽ rút súng bắn thầy và truy tố thầy là kẻ chủ
mưu.
Thầy thất vọng vì quả thật hắn
không có súng.
Và dân làng hơi thất vọng, mất
hào hứng. Cuộc rượt bắt diễn ra quá nhanh. Chạy được chừng trăm thước, tên
Hăngri quẹo xuống mé kinh xáng rồi té quỵ, rơi tõm trong bóng tối.
Có lẽ hắn biết lội, nên sáng
hôm sau không ai trông thấy “anh hùng rơm” trở lại làng Bình An. Và dân chài lưới
tuyệt nhiên chẳng gặp cái thây ma chết trôi nào!.
Ăn to xái lớn
Xin
lỗi các bạn đọc
Hôm nay, kẻ viết bài nầy xin
mạn phép đề cập tới một tiếng kém văn nghệ, tuy rất phổ biến nhưng chẳng ai dám
viết nguyên chữ: Đ.M. Dường như đứng về mặt văn phạm mà xét, nó thuộc vào loại
tán thán tự chăng? Nó là tiếng chửi thề, hiền nhân quân tử đều có dịp đem nó ra
dùng lai rai.
Lần lần, nó mất cả nghĩa đen
và nghĩa bóng, trở thành một phát đạn mã tử, một trái lựu đạn khói, một cây
pháo tre, một ngọn pháo bông hoặc một tiếng nổ khui chai rượu “sâm banh”! Nó biểu
lộ nỗi vui mừng lo sợ, niềm hy vọng cũng như thất vọng... nghĩa là bao hàm nhiều
ý nghĩa tương phản. Rốt cuộc, nó chẳng có ý nghĩa gì cả. Vai trò của hai tiếng
“Đ.m” chỉ làm để nhấn mạnh, để gạch đít cho câu nói, để lấy hơi gió... khi khai
khẩu.
Trong “thời đại nguyên tử”,
hai tiếng ấy dường như phổ biến khá nhanh. Phải chăng đó là hình thức đối
kháng, phá bỏ những cấm kỵ, công thức luân lý. Giống như thời xưa “nam nữ thọ
thọ bất thân”, nhưng vào dịp lễ cúng đình “trong thời trống đánh rập rình,
ngoài thì trai gái tự tình cùng nhau” một cách hợp pháp.
Sau một thời gian ăn mặn,
thiên hạ cần có dịp uống nước lã cho đã khát. Lẽ dĩ nhiên.
Nhưng việc gì cũng có giới hạn.
Dùng “tán thán tự” ấy quá nhiều, người nghe phải bực mình! Song dường như để
“tô điểm cho cuộc đời”, thiên hạ lại gọi kẻ ưa chửi thề là kẻ... “xổ nho” hoặc
kẻ “xài giấy năm trăm”.
Xổ nho, ngụ ý chống đối luân
lý của bọn hủ nho chăng? Điều ấy còn nghi ngờ.
Nhưng “xài giấy năm trăm” quả
là ngụ ý khôi hài cho hoàn cảnh “khóc hổ ngươi cười ra nước mắt”, vào đầu năm
1945. Chúng tôi xin đại ngôn gọi đó là hoàn cảnh éo le của lịch sử, thời Nhựt đảo
chánh ở rừng U Minh Thượng. Hoàn cảnh đó xin thuật lại như sau:
Trong giấy thuế thân, tên của
anh ta là Nguyễn Hùng Dõng nhưng dân ở xóm Tân Bằng, ven rừng U Minh gọi anh ta
là thầy giáo Trích, chẳng ai hiểu vì sao!
Thầy giáo Trích đến xóm rẫy
Tân Bằng, cứ sống rảnh rang theo kiểu mấy ông tiên ngày xưa đi tiêu dao trên Bồng
Lai. Bấy giờ, sau tháng Tết, dân trong xóm rẫy thường đốt đất, đốt rừng. Lửa
cháy ngày đêm, đất cháy hóa ra loại phân tro mầu mỡ. Trên nền ấy, họ trồng nào
bí rợ, dưa leo. Người nào lười biếng thì cứ để đất “ở vậy”. Họ vẫn hưởng huê lợi
lai rai vì mặt đất gọi là hoang vu, nghèo nàn ấy dẫy đầy những bụi khóm (quả dứa).
Khóm là loại cây mọc như rừng, lá dày và có gai, đủ sức chống nắng hạn, chẳng cần
tưới nước. Nó vươn lên cao khỏi đầu loại dây dớn, giây choại, oai vệ kiêu hùng
chẳng kém gì cây tùng trơ vơ trên núi cao hoặc cây xương rồng lì lợm trong cơn
bão cát giữa sa mạc.
Giáo Trích gật gù, hút thuốc,
nói chuyện khào với đám lưu dân U Minh Thượng. Những ngày tiếp xúc đầu tiên,
giáo Trích tỏ vẻ ta đây là kẻ “sinh bất phùng thời” nhưng dân chúng chẳng hề để
ý tới thái độ ngạo mạn ấy.
Ở vùng U Minh bấy giờ hầu
như vô chánh phủ, ai cũng có lá bùa hộ mạng riêng, mỗi người một chiếu riêng. Có
kẻ đã hai lần sát nhơn, thả bè vượt ngục từ Côn Đảo. Có kẻ giả bộ cuốc rẫy, mặc
áo rách nhưng kỳ thật là một chúa đảng cướp. Lại còn nhiều ông kỳ lão, con cháu
các vị công thần hồi đời Gia Long tẩu quốc thuộc làu kinh sử, tuy nghèo nhưng
ai cũng kính mến vì các ông ăn ở có đức. Trong căn chòi sát mí rừng tràm, cô Tư
Hạnh sống độc thân, ngủ trên chiếc giường, thiếu vách che bốn bên nhưng kẻ hảo
ngọt nào tới buông lời ong bướm thì phải biết. Cô Tư Hạnh biết cầm roi, đánh quờn.
Hằng ngày, cô chăm sóc rẫy khóm, hễ gặp rắn hổ là túm ngay cổ hoặc nắm đuôi rắn,
cầm quay tròn. Chừng cô buông tay, rắn nọ nằm xụi lơ vì bị đứt xương sống.
Giáo Trích bỗng mất dạng.
Rồi tuần lễ sau, thầy ta trở
lại xóm Tân Bằng, nói với giọng bí mật:
- Nước nhà sắp có cơn nguy
biến...
Ai nấy nhốn nháo:
- Nghe đâu từ 80 năm qua,
mình sống trong nguy biến rồi. Nếu không nguy biến thì bọn anh hùng như chúng
tôi đâu có được hân hạnh gặp mặt thầy giáo tại đất khỉ ho cò gáy nầy?
Giáo Trích tằng hắng:
- Tôi nói thiệt đó. Nhựt Bổn
với Tây sắp đánh nhau một trận tơi bời. Đánh tại rừng U Minh này.
Cô Tư Hạnh cất giọng... oanh
rừng thỏ thẻ:
- Thật vậy hả? Thầy lấy cớ
gì làm bằng cớ?
Bây giờ, giáo Trích kể thao
thao bất tuyệt những giai thoại ở chợ Rạch Giá. Tàu chở lính Nhựt Bổn, đổ bộ
vào lúc hừng đông. Quan chủ tỉnh, quan chánh sở Mật thám, quan chánh sở Kho Bạc
và tất cả gia đình đều đầu hàng. Bọn lính của Nhựt Hoàng chia nhau canh gác nhà
đèn, nhà máy xay lúa. Lính mã tà, lính săn-đá rút lui xuống tàu. Và tàu Tây
đang phăng phăng chạy về hướng rừng U Minh này...
Mấy ông kỳ lão nheo mắt:
- Có lý. U Minh là vùng
“long bản hổ cứ”. Xưa kia, Gia Long nhờ biết dụng cuộc đất U Minh mà chiếm lại
thành Phú Xuân. Trong sử, còn ghi chép đất Long Xuyên, tức là Long Xuyên đạo,
là U Minh vậy.
Nhưng giáo Trích quắc mắt, đứng
dậy, lấy dáng điệu của một tướng Tàu đang phất cờ lệnh:
- Anh em ta nên cẩn thận, đề
phòng. Dịp may đã tới. Chúng ta nên đồng tâm nhứt trí đánh Pháp, đánh luôn Nhựt
Bổn.
Cử tọa nhìn nhau, mỉm cười.
Họ dè dặt vì biết đâu giáo Trích là gián điệp của Pháp hoặc của Nhựt. Rốt cuộc,
một ông kỳ lão nói:
- Khó lắm đó, thầy giáo ơi!
Dân U Minh đánh giặc với hai nước một lượt, ghê quá. Để tôi về đọc truyện Tam
Quốc, xem cái thế “chân vạc” rồi bàn với thầy. Tốt hơn, ai về nhà nấy... người
lo cuốc rẫy, người lo uống rượu hoặc ai thích “quốc sự” thì cứ làm “quốc sự” một
mình!
Cả bọn lần lượt giải tán. Cô
Tư Hạnh phục thầm tài ăn nói hoạt bát của thầy giáo Trích. Dầu sao đi nữa, thầy
ta là người “đi xa mới về” chớ đâu phải hạng mặt mốc chân phèn, tối ngày ở xó rừng.
Phía sau, có tiếng gọi:
- Cô ơi! Cô Tư!
Cô Tư Hạnh nhận ra giáo
Trích. Hai người dừng lại, nhìn nhau. Cô Tư hỏi:
- Thầy ra tới chợ Rạch Giá,
gặp Nhựt Bổn đánh Tây hả?
- Trời đất! Súng nổ rền trời...
tôi nói dóc làm gì. Sáng mai này, Tây kéo xuống chiếm miệt Tân Bằng để lập
phòng tuyến.
- Phòng tuyến là cái gì?
- Là... cái chỗ... hai bên
đánh giặc.
Cô Tư Hạnh e thẹn, mắng yêu:
- Anh nầy, vô duyên quá, em
mắc cỡ gần chết.
Đắc ý, giáo Trích thử nắm cườm
tay người đẹp:
- Làm gì mà mắc cỡ? Giặc giã
tới nơi rồi.
- Buông tay ra. Em năn nỉ
anh mà. Để em về chòi, nấu cơm.
Vào chòi, cô Tư Hạnh vo gạo
trong khi giáo Trích ngồi thổi lửa. Cô ta lẩm bẩm:
- Điệu nầy, ăn cướp nổi lên
lung tung. Anh biết sao không?
Giáo Trích im lặng, hồi lâu
mới đáp:
- Nhựt Bổn mạnh hơn Tây. Nó
sẽ trừng trị bọn cướp.
- Làm gì trừng trị nổi. Nếu
Tây xuống đây lập phòng tuyến như anh nói khi nãy...
- Em nói gì? Anh chưa hiểu...
- Tây với Nhựt đánh nhau, mỗi
bên đều chết lai rai, hoặc bỏ súng mà chạy. Tụi bất lương lượm súng, mặc tình
cướp của.
Bỗng nhiên, giáo Trích cau
mày. Cô Tư Hạnh tỏ ra quá thông minh, xứng đáng làm vợ anh ta. Trong câu chuyện
vừa thuật khi nãy cho mọi người ghe, anh ta cố tình che giấu một điều quan trọng.
Tây lùa lính mã tà xuống tàu và đem theo hàng chục thùng cây, đựng đầy thứ giấy
bạc năm trăm đồng! Nếu quả như sự dự đoán, xóm Tân Bằng trở thành phòng tuyến
thì ai là kẻ thâu hoạch mớ giấy bạc ấy? Giáo Trích cương quyết thi hành thủ đoạn:
yêu cô Tư Hạnh, làm chồng cô ta cho kỳ được để nhờ cậy một tay.
Sau bữa cơm trưa, hai người
bàn luận rất lâu, cô Tư Hạnh hỏi từng chập:
- Trời! Anh nói đúng. Năm
trăm đồng bạc là năm trăm giạ lúa. Em nghe nói giấy năm trăm chớ chưa cầm trong
tay lần nào!
Giáo Trích nói dông dài:
- Ở chợ Rạch Giá, hễ ai mặc
quần áo xà-lỏn mà có một tờ năm trăm trong mình thì bị bắt, ở tù ngay. Vì chỉ
làm nghề ăn trộm hắn mới mong kiếm thứ giấy quí giá ấy. Anh nói cho em biết. Thầy
thông thầy ký làm việc ở Tòa Bố, ăn lương mỗi tháng chừng năm chục đồng thôi. Họ
còn chưa có tấm giấy năm trăm nữa kia. Nhưng nay mai, căn chòi này sẽ đầy ngập
giấy năm trăm! Tình thế như vầy, như vầy. Nó xảy đúng như anh đoán trước. Chờ
xem.
Trời xế chiều.
Giáo Trích và cô Tư Hạnh xúm
nhau xây tổ uyên ương, dựng thêm bốn phía vách, đề phòng những cặp mắt tò mò.
Đêm đến, họ ngủ chung trong một chiếc nóp. Cả hai đều không cảm thấy lạnh lẽo mặc
dầu sương xuống, đọng giọt rơi lộp độp trên mái lá. Đến nửa khuya, cô Tư Hạnh
thức giấc, giựt mình vì không thấy thầy giáo Trích nằm bên cạnh.
Vừa mở miệng nóp là cô gặp
chàng ta ngồi hút thuốc bên bếp un:
- Vậy mà em sợ gần chết.
Giáo Trích đáp:
- Anh ở đây với em mà. Nếu tới
đầu canh năm mà không nghe thấy tiếng tàu chạy ngoài xóm Tân Bằng thì em cứ đuổi
anh, đừng kêu anh bằng anh, mà kêu anh là... con chó! Anh ngồi đây để nghe. Thời
giờ tiền bạc. Em yên tâm. Anh tính không sai con toán đâu!
- Nhưng con toán của anh ra
sao? Nếu anh biết tính toán thì dân xóm này đâu có ngu dại, họ dám ăn thua đủ với
anh...
Trong bóng đêm, tiếng vạc ăn
sương kêu oang oác. Côn trùng rên rỉ khắp bốn phía. Giáo Trích nghiêng mình kê
tai xuống mặt đất, lắng nghe, cố phân biệt tiếng côn trùng và tiếng động cơ.
Khi cô Tư Hạnh vừa ngáy pho pho trong nóp là chàng ta chạy tới, đánh thức:
- Em ơi! Nó đó!
Cô Tư Hạnh tốc nóp, dụi mắt:
- Nó đâu? Tây hay Nhựt Bổn?
Hàng chục người đang quảy
nóp, chạy nhanh vào rừng. Họ chửi rủa ỏm tỏi:
- Tây vô đây làm gì đông
quá! Lại còn hàng trăm lính mã tà. Súng ống đầy đủ.
Người khác cho biết thêm:
- Nó đóng binh trong đình,
xô ngã mấy con hạc rồi dường như... tiểu tiện trong đình. Ông thần nếu linh
thiêng thì chẳng bao giờ tha mạng tụi nó.
Giáo Trích nói:
- Hạnh à! Em rửa mặt cho
mau.
Hạnh đâm ra sợ sệt:
- Chi vậy! Để chạy giặc hả?
Giáo Trích cười khì:
- Em dở hơi quá. Thiên hạ chạy,
mình ở lại mới sướng chớ.
- Úy trời! Khi hai bên đánh
nhau, lạc đạn, mình hãy chạy. Bộ em tưởng anh... gan dạ lắm sao? Em nên ra
ngoài xóm Đình, làm như vầy, như vầy...
Cô Tư Hạnh đã thấy bao nhiêu
biến đổi tang thương diễn ra trước mắt: Ba chiếc tàu sắt, hai chiếc tàu cây đậu
tại bến. Bọn lính đốn lá dừa nước phủ lên mui tàu. Bọn lính mã tà ngồi chùm
nhum, lo thọc huyết heo. Gà vịt bị trói nằm lểnh nghểnh. Một thằng Tây cười khì
khì, đưa tay làm dấu hiệu. Tên lính mã tà lắc đầu, than với bạn đồng đội:
- Ổng không chịu cắt cổ gà. Ổng
nói... gà vặn cổ ăn ngon hơn vì máu gà thấm trở lại vô thịt.
Người kia đáp:
- Mấy ổng bất nhơn lắm. Làm
thịt heo, mấy ổng biểu bỏ da, bỏ ruột, bỏ mỡ. Chỉ ăn lá gan và thịt nạc.
- Hồi tối rồi, dưới tàu xảy
ra sóng gió... mùi mẫn. Quan... phó sở Kho Bạc ôm ấp vợ lính mã tà, vợ thằng
cai Thẹo. Bậy bạ quá! Ổng cho vợ cai Thẹo một tấm giấy năm trăm.
Tên lính kia cười gằn:
- Vậy là tốt phước. Lát nữa
đây, ăn uống no say, mấy quan lớn sẽ... bắt con gái hương chức hội tề tới “đấm
bóp”. À, chuyện nầy lạ thật. Cớ sao hương chức hội tề mất dạng? Hay là họ ra
ngoài chợ để theo Nhựt Bổn! Họ khôn hơn tụi mình. Coi kìa... con mẹ nào ngộ
quá, rình rập, dọ thám!
Cô Tư Hạnh hoảng hốt, rút
lui phía vườn dừa, chạy thẳng một mạch tới chòi, thuật những chuyện tai nghe mắt
thấy cho “người chồng một đêm” nghe.
Giáo Trích gật đầu, đưa tay
bóp trán:
- Còn gì nữa? Em nói cho kỹ.
Anh đoán không thua sấm Trạng Trình.
- Sấm Trạng Trình là... cái
gì vậy anh? Em nói hết rồi. Chẳng lẽ em ở đó cho tụi nó bắt sống!
Giáo Trích đáp:
- Đây nầy! Mình làm giàu. Điều
thứ nhứt: Lát nữa, máy bay Nhựt Bổn và tàu Nhựt Bổn sẽ chở thêm lính tới Tân Bằng.
- Ghê quá vậy? Rồi hai bên
đánh nhau à?
- Em cứ bình tĩnh, nghe anh
nói tiếp. Điều thứ hai: lính mã tà mạnh ai nấy trốn vì tụi nó uể oải, ghét Tây.
- Anh nói đúng.
Giáo Trích trợn mắt:
- Đừng khen anh quá sớm. Điều
thứ tư... ủa, điều thứ ba: cái lối vặn cổ gà, ăn thịt nạc heo làm cho dân trong
xóm ghét Tây. Nhựt Bổn tới, Tây phải chạy trốn lên rẫy khóm của em. Điều thứ
năm... ủa, điều thứ tư: Tây lên rẫy, phải đem theo mấy thùng giấy năm trăm. Nhiều
lắm. Quan chánh sở Kho Bạc bị bắt, quan phó sở tẩu thoát xuống đây...
Cô Tư Hạnh mãi suy nghĩ. Nếu
quả thật bọn Tây chạy vào rẫy khóm, giáo Trích làm cách nào để giựt... mấy
thùng giấy năm trăm! Chàng ta thuộc vào hạng trói gà không chặt, không có một tấc
thép trong tay.
Vài phát súng to nổ rền... từ
trên trời. Máy bay từ đâu lượn tới... sát đọt cây rừng. Giáo Trích và cô Tư Hạnh
kéo nhau ra khỏi căn chòi, ngồi im. Dưới cánh máy bay, rõ ràng mang dấu hiệu
nhà binh Nhựt Bổn. Từ thuở bé tới giờ, cả đôi uyên ương mới thấy rõ máy bay. Cớ
sao nó bay quá thấp, chẳng sợ rớt. Nếu cầm cây sào mà quơ có thể... máy bay bị
hạ.
Giáo Trích lẩm bẩm:
- Máy bay bay thấp nên ít
nghe tiếng động. Nó tới từ hồi nãy giờ mà mình không hay.
Phía xóm làng Tân Bằng, súng
nổ liên hồi. Chó sủa văng vẳng. Khói bốc lên ngùn ngụt như đất cháy. Nhiều người
mặc quần áo kaki vàng chạy lên rẫy. Họ giắt lá cây sau lưng. Sau hè, dường như
kẻ lạ mặt nào xuất hiện. Cô Tư Hạnh chưa kịp la rú là... một “ông Tây” chĩa
súng ngay ngực.
- Con gái! Đi theo quan lớn.
Mau, mau lên. Quan lớn... mướn con gái làm công chuyện gấp.
Giáo Trích chạy nhanh, lủi
vào đám cây mận. Tên lính săn đá nọ tuy thấy rõ nhưng không bắn theo một phát đạn
nào.
Ngồi trong lùm cây. Giáo
Trích khoan khoái lạ thường. Kìa, bọn lính săn-đá đang hì hục khiêng từng chiếc
thùng cây. Thùng nặng thì do hai người khiêng. Lại còn những thùng nhẹ hơn, bằng
phân nửa mỗi người vác hai thùng. Tiếng súng im bặt. Chó không còn sủa ở xóm
Đình. Tốp máy bay lần lượt tản mác ở tận chân trời, nhỏ thó như những bóng quạ
đen.
Chiều hôm ấy, cô Tư Hạnh trở
về chòi với... hai chục tấm giấy năm trăm. Cô ta nói tỉnh tuồng.
- Tụi nó hiền lắm!
Giáo Trích cau mày: Biết một
tấm giấy năm trăm là một lần... thất tiết. Cô Tư Hạnh vỗ đầu người yêu, cười hí
hửng:
- Nó mượn em kiếm giùm một
thùng nước ngọt. Vì không có bạc lẻ, nó mở thùng cây, trả cho em năm trăm. Rồi
thì thằng khác đưa em năm trăm, nhờ em mua giùm một con gà. Tụi Tây... thấy mà
tội nghiệp! Tụi nó bị nắng ăn cháy da phỏng trán, râu ria xồm xàm. Thằng Tây
già nọ thèm ăn trái khóm. Nó đưa trọn trái khóm lên miệng mà cạp vỏ, vỏ khóm
quào rách miệng... Em thương hại giùm tụi nó, chỉ biểu cho cách... đập trái
khóm để vắt nước mà uống. Nó đền ơn... năm tấm giấy năm trăm! Nó mời em ở lại...
đêm nay. Nhưng em nhớ anh quá.
Hừng sáng hôm sau, giữa rẫy
khóm, một ngọn cờ trắng phất phơ... tiến về phía đình làng. Bọn Tây lục tục
theo sau. Giáo Trích la rú:
- Em Hạnh ơi! Nó đầu hàng rồi!
Vợ chồng mình hãy tiến tới phòng tuyến...
- Úy! Không nên. Tụi Nhựt Bổn
đóng binh ngoài đình Tân Bằng, dụ Tây ra hàng. Mình ra đó, rủi bị bắt.
- Anh nói chuyện khác. Mình
ra ngoài rẫy khóm, nơi bọn Tây lập phòng tuyến... hồi khuya để hốt của! Chục
thùng to lớn.
Giáo Trích nằm trong chòi,
chờ tin tức. Anh ta còn trao cho cô Tư Hạnh hai tấm giấy năm trăm. Còn 10.678 tấm
giấy năm trăm khác, anh ta chôn tại sau hè chòi. Hai ngày trôi qua. Dân xóm Tân
Bằng bơi xuồng ra chợ Rạch Giá để mua sắm thỏa thuê. Mỗi người tệ lắm, xui xẻo
lắm cũng được đôi ba tấm giấy năm trăm.
Dòng rạch chảy lặng lờ.
Chiếc xuồng của cô Tư Hạnh
xuất hiện. Giáo Trích mừng quýnh, đưa tay ngoắt. Cô Tư nhảy lên bờ, chạy nhanh,
đạp chiếc xuồng. Trong phút giây, giáo Trích ngỡ rằng bọn lính Nhựt Bổn đang
kéo lên chòi do cô Tư Hạnh dẫn đường, để tịch thâu 10.678 tấm giấy năm trăm còn
lại.
Cô Tư Hạnh la hoảng:
Lần đầu tiên, giáo Trích
nghe người yêu chửi thề. Thế có nghĩa là... chuyện quan trọng đã xảy đến. Anh
ta hỏi:
- Cái gì? Cái gì?
Cô Tư Hạnh đáp:
- Đ.m. Thằng Tám Theo, ông
già Hiệt, con mẹ Bảy Út... bị bắt ở chợ Rạch Giá hết rồi. Em khôn vong nên chạy
hụt hơi về đây. Tụi Nhựt Bổn bắt tất cả những người... xài giấy bạc năm trăm,
đem vô bót rồi nhìn số trên tờ giấy bạc. Tụi nó coi đó là bạc vô giá trị, bạc của
Tây bỏ rơi.
Giáo Trích thở dài, mồ hôi
tuôn ra dầm dề:
- Đ.m. Thiệt hay chơi!
Cô Tư Hạnh cúi đầu:
- Tức quá. Mắc cỡ quá...
- Cái gì mà mắc cỡ! Mình đâu
phải là kẻ in giấy bạc giả. Bạc đó của Tây in ra, ghi trăm năm đồng đàng hoàng,
lại còn có chữ: Kẻ nào làm giả bị phạt tù khổ sai chung thân. Đ.m. nó! Tôi phải
ra chợ Rạch Giá cho biết đầu đuôi sự thật...
Vừa lúc ấy, ngoài xóm Tân Bằng
vang dội tiếng rú... Súng nổ lát chát. Dân ngoài xóm vào báo tin:
- Nhựt Bổn tới. Nó bắt những
người nào trữ giấy năm trăm trong nhà. Băt về tội... tiếp tế cho giặc Pháp.
Giáo Trích ra phía sau chòi,
đứng tần ngần. Cô Tư Hạnh nói:
- Anh! Sao anh không chạy?
Giáo Trích nói:
- Đ.m. Anh biết rồi. Anh đuổi
tụi Nhựt Bổn bằng cách nầy...
Nói xong, anh ta khui cái hầm
chôn giấy năm trăm hồi hôm qua. Anh ta bốc từng nắm giấy năm trăm, ném xuống
dòng rạch:
- Đ.m. Nước trôi, đưa mớ giấy
nầy ra ngoài xóm vàm. Tụi nó ở ngoài mặc sức mà vớt. Đ.m. Đ.m... Bậy quá. Nó in
bạc thiệt mà nó nói là không có giá trị! Đ.m. Mình là người... con dân lương
thiện mà nó nói mình bất lương! Đ.m. Đ.m.
Vừa nói, giáo Trích vừa thảy
bạc giấy. Đến xấp bạc cuối cùng, anh ta day lại, toan thốt lời tâm sự cuối cùng
với người đẹp. Nhưng nàng đã khuất dạng tự hồi nào. Giáo Trích nói lẩm nhẩm:
- Có lẽ mình trót xài “giấy
năm trăm” nhiều quá.
Rồi thì anh ta thốt như cái
máy:
- Đ.m. Đồ vô ơn bạc nghĩa.
Nó ham tiền! Đi đâu thì đi! Đ.m.
Xấp giấy bạc cuối cùng... cuốn
theo dòng nước, như những chiếc lá vàng, chìm vì nặng chất phàm tục.
Bà Đầm Phô - Xi - Đông
Tôi đang nằm ngủ trưa chợt
nghe tiếng gọi ngoài sân:- Thầy Hai! Mình dạo xóm cho vui.
Tôi đáp:
- Dạo xóm nào bây giờ? Mưa
gió não nề, thiên hạ chán chê bộ mặt lười biếng của bọn mình rồi! Chẳng lẽ qua
xóm khác...
Tư Hít đáp nhanh:
- Ai dám qua xóm khác, mấy
ông làng ưa xét giấy thuế thân! Bốn năm rồi, ở lậu thuế. Bây giờ tôi tính “quậy”
xóm mình cho vui. Hễ bọn già sống trầm trầm thì dân trai tráng như mình cần “quậy”
lên.
“Quậy” là khuấy; khuấy nước
dưới sông cho nổi bùn, nước lã tuy vô dụng, mình phải khuấy cho nó thành hồ,
thành cháo! Tư Hít vào nhà, nắm tay tôi, kéo mạnh:
- Quậy vài chập cho vui mà!
Tôi nói:
- Quậy cái gì? Tiền bạc hết
sạch, lấy gì mua rượu hoặc cờ bạc?
- Túng tiền thì quậy theo
cách ít tốn kém. Tụi mình lại thăm Cô Ba. Đi mau.
Cô Ba là tên tục của nàng hầu
Việt Nam mà ông Tây Đầu Đỏ thường ôm ấp, lúc về thăm đồn điền. Tuổi cô hơn 25,
làn da trắng mịn. Tây Đầu Đỏ vắng mặt. Cô Ba trở thanh bà chủ đồn điền trên
danh nghĩa nhưng không có mảy may quyền hạn nào cả. Luôn luôn cô Ba buồn tủi ra
mặt. Cô không sanh con thì làm sao nắm giữ chút ít gia tài trong mai hậu? Lúc vắng
ông chồng ngoại quốc, cô tỏ vẻ hiền hậu, sống gần gũi với đám tá điền. Cô Ba đã
từng nói:
- Bà con ai ghé chơi, nếu
khát nước thì giở nắp lu mà uống. Xứ mình nước mặn, nước phèn, uống bậy bạ...
sanh bịnh. Chiều chiều, ai muốn đá cầu (cầu chuyền) thì tới sân lẫm lúa. Sống một
mình, tôi buồn lắm. Bà con đừng hiểu rằng tôi muốn phân chia giai cấp. Quê tôi ở
Sài Gòn, lúc trước tôi làm bồi phòng cho ông Tây Đầu Đỏ. Bà đầm của ổng ghen,
hành hạ tôi. Ổng thương tình, lưu đày tôi xuống chốn khỉ ho cò gáy này.
Lúc đến gần lẫm lúa, Tư Hít
như sực nhớ điều gì, day lại hỏi tôi:
- Mình rủ thằng Hai Kéo cho
vui. Coi mòi cô Ba chịu thằng đó lắm!
- Sao anh biết?
- Nó xin tiền cô Ba để lập hội
đá banh hồi mùa hạn. Tây Đầu Đỏ hay tin đó, ngăn cản. Cô Ba gây sự với Tây Đầu
Đỏ. Rồi Tây Đầu Đỏ với cô Ba đánh lộn. Đầu đuôi cũng vì thằng Hai Kéo đẹp trai,
đầy đủ sức khỏe, tuổi tác còn kém hơn cô Ba vài tuổi. Tây Đầu Đỏ quá già, gần
chầu Diêm chúa rồi.
Hai Kéo đang ngồi tát nước
xuồng, sửa soạn vào rừng giăng câu. Từ lâu, anh thương nhớ cô Ba nhưng không có
cớ để lui tới thăm viếng. Anh ta giả bộ từ chối. Tôi thúc giục:
- Tây Đầu Đỏ vắng mặt, anh sợ
nó sao? Còn chừng hai tháng nữa thì nó mới quay trở lại đây.
Hai Kéo đáp:
- Tôi sợ thiên hạ dị nghị.
Trong bọn tá điền, nhiều đứa bất hảo lắm, tai vách mạch rừng, lời qua tiếng lại
sẽ thấu tới Tây Đầu Đỏ.
Tư Hít nắm tay tôi rồi nhảy
xuống xuồng. Tôi lính quýnh, suýt chút nữa chiếc xuồng chìm. Hai Kéo há mồm:
- Các cha nói chơi mà làm
thiệt hả?
Tôi đáp:
- Mình tới thăm cô Ba giữa
thanh thiên bạch nhựt, chớ đâu phải lén lút.
Tư Hít mỉm cười:
- Mình là người ăn ngay ở phải,
ai dám ganh tị?
Tôi nói đùa:
- Nhưng ba đứa chúng mình đều
cảm mến nhan sắc cô Ba. Nếu không thì tại sao chúng ta không tới thăm viếng mấy
cô gái già ở đầu xóm?
Chiếc xuồng từ từ rẽ nước.
Mưa rơi lất phất che khuất bóng mặt trời. Căn nhà lầu của Tây Đầu Đỏ hiện ra,
trơ trẽn với mái ngói lợt lạt. Hai Kéo e thẹn:
- Mình tới thăm cô Ba... ngặt
thiếu duyên cớ, chẳng lẽ mình chào hỏi rồi đứng đó hoài?
Tôi đáp:
- Anh đừng lo. Nhập gia tùy
tục. Nếu cô Ba đuổi khách, mình sẽ xoay xở. Cổ đang buồn vì vắng chồng. Chẳng lẽ
cả ba chúng mình đều vô duyên. Thời buổi trai thiếu gái thừa mà.
Chúng tôi nhìn nhau, tuy là
bạn đồng hành nhưng ôm ấp tham vọng riêng tư, xem bạn như kẻ tình địch. Nơi ven
rừng U Minh này, cô Ba là hoa hậu, là người cao cả đang cai trị lũ “tôm tép”
khác. Được cô Ba đoái tưởng thì chết cũng đành!
- À há! Mấy anh đến chơi. Vậy
hả?
Nói xong câu ấy, cô Ba quay
mặt khuất sau khung cửa sổ. Chúng tôi tiến vào phòng khách. Hai tiếng reo mừng
“À há” khá đặc biệt khiến chúng tôi ngây ngất. Gái ở miền U Minh đâu biết dùng
tiếng ấy. Nếu tôi không lầm, đó là giọng tằng hắng vừa nghiêm nghị, vừa hăm dọa,
vừa khiêu khích của phụ nữ Tây phương. Cô Ba gieo rắc một hương vị thơm nồng
ngoại lai. Mùi dầu thơm xa lạ, quyến rũ, khác hẳn mùi dầu chanh, dầu sả. Đến
chân thang lầu, cô Ba dừng bước, khoát tay làm dấu hiệu:
- Mời mấy anh ngồi! À há!
Chúng tôi đứng lại, lúng
túng. Phòng khách có bốn cái ghế lót lò-xo phủ nệm, dành cho Tây Đầu Đỏ tiếp rước
các ông hội đồng địa hạt, ông hương cả hoặc ông Tây Kiểm lâm. Chúng tôi là đàn
gà, đâu dám “mọc đuôi tôm” lúc Tây Đầu Đỏ vắng nhà.
Cô Ba nói:
- Mấy anh cứ ngồi trên ba
cái ghế. Cái ghế thứ tư bỏ trống. Tôi ngồi riêng ngoài này.
Nói xong, cô kéo chiếc ghế đẩu,
đặt sát vào vách rồi ngồi chễm chệ, hai chân tréo lại. Chúng tôi mắc cỡ, cúi mặt.
Cô Ba lên giọng:
- Mấy anh vui vẻ lên chớ. Ở
nhà lầu, buồn bực quá. Tôi muốn xuống từng dưới mà ngặt vắng người. Ở trên lầu,
tôi sợ ma. Xuống từng dưới, tôi sợ ăn cướp... À há! Xin lỗi, tôi sợ ăn trộm...
Tôi nghĩ thầm: Cô Ba muốn tỏ
rằng ta đây là hoàng hậu ban ân đức cho kẻ lê dân, dưới bệ rồng. “Ăn trộm” là
gì? Đó phải chăng là kẻ phàm phu liếc trộm dung nhan cô ta?
Cô nói thêm:
- Nè, mấy anh coi. Cái áo
này ngộ quá. Gọi là kiểu áo “cổ Bà Lai, tay lìm kìm” : cổ áo khoét rộng như
hình trái tim, tay áo ngắn che sát cùi chỏ, đã ngắn lại rộng. Tôi thích kiểu áo
này lắm. Mấy tháng trước, ổng bắt buộc tôi ngồi trong phòng kín, khi mặc áo
này. Mấy anh đừng nói lại cho ổng nghe, ổng rầy tôi.
Chúng tôi cảm thấy phấn khởi.
Cô Ba đã đối xử như bạn thân, tuy gặp nhau tại phòng khách nhưng dùng tình cảm
của kẻ ở phòng the.
Tôi mở lời trước:
- Hôm nay, anh em tôi tới
thăm cô Ba. Tụi tôi vui lắm, chẳng biết đền đáp lòng tốt của cô như thế nào?
Cô Ba cau mày suy nghĩ rồi
cười mủm mỉm:
- À há! Anh nầy... hơi ốm.
Rồi cô day sang Tư Hít. Tư
Hít gầy ốm, mũi tẹt, ngón tay gân guốc như sợi dây buộc thắt gút nhưng có hàm
răng trắng và đều.
- À há! Anh nầy hiền quá.
Tôi và Tư Hít đều nín thở,
chờ đợi lời phê phán của cô Ba về sắc vóc của Hai Kéo. Chúng tôi hiểu rằng mình
đã bị đánh bại. Làm sao bì với Hai Kéo được. Hai Kéo vừa trẻ, vừa cao ráo, nước
da đen ngăm, lồng ngực phồng lên no tròn, mặt vuông, chân mày rậm. Nếu anh ta đứng
dậy, thủ bộ thì ắt giống như lực sĩ Hy Lạp. Cô Ba sờ nhẹ vào cái pho tượng lực
sĩ Hy Lạp đúc bằng đồng đen chưng trên tủ rượu rồi nói khẽ:
- À há! À há!...
Bỗng nhiên cô e thẹn, cúi mặt:
- Làm việc gì cho vui bây giờ,
anh em? Hôm qua tôi nghe đồn ở xóm Đình, thiên hạ trổ tài ăn nhiều. Anh nọ ăn một
hơi 20 kí lô bún nước lèo. Ngộ quá! Nghe mà phục sát đất. Tôi tin rằng mỗi anh ở
đây đều có một tài nghệ đặc biệt, vui hơn.
Anh chàng Hai Kéo gật đầu,
nói thật tình:
- Dạ, tui đâu thua thiên hạ!
Tui dám ăn trọn một con vịt mập sau khi nhổ lông, ăn luôn xương và bộ đồ lòng.
Cô Ba bèn nói “À há” liên tiếp
tới bốn, năm lần. Cái trò ăn vịt để làm vui cho người đẹp xem ra phàm tục quá.
Tuy nhiên, Hai Kéo hãnh diện. Tôi day mặt qua chỗ khác mà xấu hổ vì có người bạn
ăn nói sỗ sàng đến mức ấy. Tư Hít nhổm dậy, đứng thẳng người, ghé miệng vào tai
tôi:
- Nó thắng tôi sao nổi!
Cô Ba nói, nhìn thẳng vào Tư
Hít:
- Cái gì vậy, anh Tư muốn ăn
hai con vịt...
Tư Hít đáp:
- Dạ thưa cô. Tôi nổi danh
khắp xóm nầy nhờ trò vui nho nhỏ. Tôi lột một trái dừa khô, lột vỏ dừa bằng tay
và miệng...
Hai Kéo bĩu môi:
- Dễ quá!
Tư Hít nói như một nhát kiếm
chặt xuống sợi tơ mành:
- Nhưng tôi lột vỏ trái dừa
khô ở dưới nước, tôi nín thở lặn xuống đáy sông, lột xong rồi mới trồi lên...
Cô Ba lại “À há! À há” liên
hồi. Cô sung sướng ra mặt vì hai chàng trai sắp bày trò giúp cô “mua vui một
vài trống canh”. Tự xét mình kém thiên hạ về tài ăn vịt luộc, lột vỏ dừa, tôi đứng
dậy, nói lảng;
- Cô Ba nghĩ sao? Hai anh nầy
muốn trổ tài...
- Còn anh? Anh hơn họ về điểm
gì?
- Tôi ốm yếu quá. Chỉ học được
một cách đố... trong sách Tây. Thí dụ: Như ba tàn thuốc thì xé ra vấn được một
điếu thuốc mới. Tôi có bốn cái tàn, thử hỏi vấn được mấy điếu, hút mấy điếu?
- Thôi... tôi mệt lắm rồi.
Ba, bốn, năm trời sống với ổng tôi nghe đố nhiều câu na ná như vậy. Tôi muốn hiểu
biết, muốn thấy những trò đố vui ở miền quê. Lạ quá! Ăn trọn con vịt... Lặn xuống
nước, lột vỏ dừa, vừa lột vừa nín thở...
Thế là tôi xụ mặt, cam tâm
đóng vài trò kẻ tạm thời thất trận. Trên “sân khấu” chỉ còn Hai Kéo và Tư Hít
tranh nhau chinh phục người đẹp.
Tư Hít xung phong biểu diễn
trước. Cô Ba vui vẻ, quát tháo, truyền cho đứa tớ gái kiếm cho kỳ được một trái
dừa khô. Đứa tớ chạy lên nói:
- Dạ, còn trái dừa làm giống.
- Đưa cho cô. Này anh Tư,
anh làm thử. Anh làm được, tôi phục anh lắm. Từ nhỏ tới lớn, tôi chưa từng thấy.
Chúng tôi xuống bờ rạch. Cô
Ba đứng chống nạnh, dưới cơn mưa lất phất. Người qua lại bàn tán thì thào. Cô
nói nhanh:
- Như vầy, thiên hạ đàm tiếu,
phải không anh Tư Hít? Tôi muốn anh trổ tài ở chỗ khác kín đáo hơn.
Tư Hít hỏi:
- Dạ ở đâu?
- Sau lẫm lúa, có một cái
mương khá sâu. Mình đừng cho ai vô coi. À há!
Chúng tôi lại vào sân gạch rồi
đi vòng ra lẫm lúa. Cái mương ấy dùng để rửa chén hàng ngày. Cô Ba liếc tình với
Tư Hít:
- Anh cứ thử tài.
Sau khi cởi áo, ôm trái dừa,
Tư Hít lặn xuống nước. Mặt nước sôi bọt ùng ục. Có lẽ Tư Hít cựa quậy, đem hết
sức bình sanh ra. Mặt nước bắt đầu xao động, nổi sóng. Nước bùn quậy lên đen ngầu.
Sóng vỗ lách tách vào bờ mương. Cô Ba cười, cười mim mím rồi cười ra tiếng:
- Tài quá! Tài quá!
Hai Kéo đứng run run, nói
chanh chua như chàng trai đang nổi cơn ghen:
- Dễ quá! Cái thằng cha Tư
Hít ngu dại, nước bùn dơ dáy!
Cô Ba nhếch mép:
- Thôi! Cậu ơi! Người ta giỏi
thì mình nên nhìn nhận. Lát nữa tới phiên cậu. Kìa! À há!
Từng miếng vỏ dừa nổi lên mặt
nước. Rồi cái đầu của anh Tư Hít trồi lên. Anh ta vuốt mặt, cười nhăn răng, nói
hổn hển, tiếng được tiếng mất:
- Trái dừa... lột rồi. Nó
tròn ủm, tôi lột sạch hết vỏ dừa.
Cô Ba gật đầu:
- Thôi! Anh lên. Con ở đâu rồi!
Đưa cái khăn cho anh Tư lau mình.
Rồi đến màn thứ nhì do lực
sĩ đẹp trai đóng vai chánh. Trước sự thành công rạng rỡ của Tư Hít, Hai Kéo quyết
cố gắng.
Chúng tôi đến nhà bếp. Đứa tớ
gái bắt con vịt mập, trói chân lại bằng sợi dây chuối. Tư Hít ngồi hơ lửa, mặt
mày lạnh, tái mét. Lâu lâu, anh ta phun nước miếng, loại nước miếng đỏ sậm màu
máu. Móng tay anh ta cũng móp méo như gần sút ra. Cô Ba nói:
- À há! Anh Tư Hít lột vỏ dừa
muốn gãy răng, muốn tróc móng. Đau không?
- Dạ, không sao đâu cô Ba!
Con vịt kêu cạp cạp, đập
cánh trên nền gạch. Hai Kéo xăn tay áo, nói lẩm bẩm:
- Bậy quá, ở đây có cái cối
giã gạo không?
Cô Ba lại trợn mắt:
- Chi vậy?
Hai Kéo mỉm cười:
- Tôi muốn thử tài thầy Hai.
Tôi giật mình nói êm ru:
- Tôi bất tài.
Hai Kéo chưa chịu buông tha,
đánh tôi một đòn tâm lý:
- Tôi ăn học kém cỏi nên nói
trật. Tôi muốn thử trí. Tôi đố thầy Hai: Để con vịt vào cối giã gạo, cầm chày
quết thật mạnh. Quết thế nào cho con vịt chết trong cối.
Tôi đáp:
- Thật khó. Nhưng tôi tin rằng
quết một chày ngang đầu thì nó chết tại trận.
Cô Ba đưa tay chỉ về phía
góc lẫm lúa:
- Kìa! Cái cối quết chuối
cho heo ăn. Cái chày kế bên đó.
Hai Kéo bỏ con vịt vào cối,
vịt bị trói hai chân, ngóng cổ lên kêu “cạp cạp”. Anh ta chụp cây chày, giã xuống
thật mạnh, con vịt nhảy vọt khỏi cối, nằm im đôi cánh và cái đầu nát bấy.
Cô Ba vỗ tay:
- À há! Bị quết mạnh, nó rút
gân, phóng ra ngoài. Giống như người bị xử tử. Nhảy dựng lên sau khi đầu lìa khỏi
cổ. Làm sao nó chết trong lòng cối được.
Rõ ràng Hai Kéo là đối thủ lợi
hại. Hắn đã hạ tôi trước mặt cô Ba. Đứa tớ gái ngoan ngoãn, bắc nước sôi, nhổ
lông rồi mổ bụng vịt, móc mớ ruột già, ruột non quăng ra.
Hai Kéo tuyên bố chững chạc:
- Con vịt mập quá. Tôi ăn
luôn cả xương, ăn một mình.
Anh ta lóc thịt vịt, bỏ vào
nước sôi mà luộc rồi ăn ngon lành. Nhưng còn bộ xương vịt khá to? Tôi mải suy
nghĩ, chưa hiểu anh ta giải quyết cách nào?
- Cho tôi mượn dao và thớt!
Tôi bằm nó ra.
Cô Ba chép miệng theo dõi sự
biến đổi của bộ xương vịt:
- À há! Cái “mơ nuy” lạ quá!
Hai bàn tay Hai Kéo làm việc
không ngớt. Anh ta vò mớ xương vịt nát nhừ ấy thành từng viên tròn rồi bỏ vào
chảo mà rang. Mùi xương vịt bốc lên... sắp cháy khét. Để tranh thủ thời giờ,
anh ta gắp từng viên mà nhai nghe rôm rốp như ăn cốm.
Ăn xong mớ xương và mớ thịt
khá nhiều ấy, Hai Kéo thở dốc, đôi mắt lờ đờ như con trăn vừa nuốt xong nguyên
xác con nai. Đằng góc lẫm lúa, Tư Hít còn tiếp tục phun nước miếng và.. máu. Cô
Ba lắc đầu.
Tôi vui sướng vô cùng. Nãy
giờ, Tư Hít và Hai Kéo tuy thắng trận, nhưng khi trận đã tàn, họ mệt mỏi vô
cùng. Chính họ hy sinh với hàm răng, móng tay và bao tử của họ. Cô Ba đặt nhẹ
bàn tay lên vai tôi:
- Còn thầy! À há! Thầy bày
trò giải trí gì mới lạ đây?
Gương mặt cô Ba trông nham
hiểm lạ thường. Tôi cụt hứng, bắt đầu hiểu thân phận của kẻ làm trai. Cô Ba là
Đắc Kỷ, là Bao Tự của thời nay, đang đòi hỏi những Bá Lạc Đài, xé lụa, phóng hỏa.
Để bắt tội nhân ôm cái ống khói cháy đỏ, để lường gạt các nước chư hầu đâu hồi
đời nhà Thương, nhà Châu gì đó!
- À há! Thầy quên rồi sao? Để
hai chú nầy ngồi nghỉ. Mời thầy lên lầu cho mát mẻ, sạch sẽ. Thầy đố cái gì mà
có mấy tàn thuốc vấn ra mấy điếu, mấy điếu gì đó. Hồi nãy tôi nghe không kỹ.
Lại xảy ra biến chuyển mới:
Cô Ba đổi giọng, kêu hai người kia bằng anh. Hoặc mơ hồ “mình ra sau mương” với
Tư Hít, kẻ lột dừa dưới nước. Hoặc thân ái hơn, gọi Hai Kéo bằng cậu. Tôi nhớ
rõ lắm. Cô Ba đã thành thật thú nhận rằng ban nãy đã “nghe không kỹ” câu đố của
tôi. Điều ấy chứng minh cô ta chê tôi bất tài, vóc dáng kém hấp dẫn hơn hai người
kia.
Tôi sửa soạn cáo từ:
- Cô Ba cho phép tôi về.
- Khoan đã! Thầy lên lầu xem
giùm cái này.
Cô Ba vào phòng, ngồi trên nệm
rồi ngoắt tay:
- Thầy cứ tự nhiên. Chỗ quen
thân, tôi mới dám mời thầy vô đây. Thầy đừng sợ. Đứng ngoài cửa làm gì cho mỏi
chân. Cứ ngồi trên nệm. Tôi xem thầy như người thân thuộc. Nội trong đám ba người
khách quí hôm nay, thầy là người ăn học nhiều nhứt... Ờ! Tôi kiếm mòn con mắt
mà chưa gặp kẻ nào giỏi tiếng Tây như thầy. Vắng ổng rồi!
Tôi đáp khẽ:
- Dạ, tôi không dám.
- Cứ vô đây. Ổng về Sài
Gòn... xa lơ xa lắc. Thầy đừng sợ.
Nói xong, cô Ba với tay mở cửa
tủ, đem ra một cái bao thơ:
- Nè, thầy cắt nghĩa giùm. Ổng
gởi cho tôi, viết bằng chữ Tây. Tôi đọc “ba xí ba tú” chưa hiểu hết nghĩa.
Tôi tỉnh giấc mộng. Bức thơ
của Tây Đầu Đỏ viết quá dài, hỏi thăm về sức khỏe của... “Xê Ri Cô Ba”. Cuối
thơ hắn ghi chú: “Coi chừng tụi bất lương, tụi trộm cướp tới nhà”.
Tôi quăng bức thư xuống nệm,
chạy nhanh xuống tầng dưới. Anh hùng lột vỏ dừa, anh hùng ăn thịt vịt đang ngồi
cú rũ, kẻ phun nước miếng, kẻ ụa liên tục như sắp mửa. Họ gượng nói với tôi:
- Thầy Hai tốt phước quá, khỏe
quá! Thầy biết chữ. Tụi tôi dốt nên người mới ra nông nỗi.
Tôi nói gằn từng tiếng:
- Đừng chế nhạo tôi. Tôi
mang nhục nhiều hơn mấy anh. Trời mưa thì mặc trời mưa. Mình về. Quên chớ. Tây
Đầu Đỏ có tóc đỏ nhưng trong thơ ghi tên thật nó là Phô-Xi-Đông, ở Sài Gòn, đường
Ca-ti-na.
Bà vợ thứ 10
Tôi không gợi lại chuyện ăn
trộm hồi thời xưa, mệt lắm. Bây giờ, chán cái nghề đó rồi. Thế gian thường nói:
Sanh nghề tử nghiệp. Tôi đang hưởng tuổi thọ, vợ con đầy nhà. Rủi tôi trở lại
nghề cũ thì có ngày cũng mang họa...
Ông Hai Tước nói như vậy, với
số cử tọa khá đông. Trời sa mưa. Bọn thanh niên trong làng đã mỏi mệt, bí lối
vì chưa tìm ra được một hình thức giải trí nào hợp thời hợp cảnh. Họ rủ nhau đến
nhà ông Hai Tước. Cả xóm đều biết: ông ta chuyên nghề ăn trộm từ hơn hai mươi
năm qua, có tới chín bà vợ ở chung một nhà. Mấy bà vợ sống thuận thảo, hễ có ai
cằn nhằn, ghen tuông thì ông Hai Tước bèn lập “tòa án”, triệu tập các bà lại để
gom góp ý kiến. Ai có tội, ông Hai ra lệnh cúi xuống, nằm sấp để chịu đòn. Lại
có lời đồn đãi, do bọn gia nhân tiết lộ: Ông Hai Tước chọn số 9 để gợi lại hình
ảnh “tam cung lục viện” của vua chúa thời xưa, ba cộng với sáu là chín. Chín bà
vợ ấy lẽ dĩ nhiên xê xích nhau quá nhiều về tuổi tác: từ bốn mươi lăm đến mười
sáu tuổi! Ban đêm, các bà ngủ trên sạp ván gõ, gần nhau, mỗi bà một mùng. Mùng
may bằng vải thưa màu trắng nhưng khác nhau về chi tiết: nóc mùng này màu vàng,
nóc mùng kia màu xanh, màu đỏ...
Một người hỏi:
- Nghe đâu hồi xưa, ông cư xử
anh hùng đối với mọi người trong làng, phải vậy không ông Hai?
Hai Tước nói giọng mơ hồ:
- Anh hùng là như thế nào?
- Là ông chẳng bao giờ làm hại
bà con trong làng.
- Đúng vậy. Gặp khi trúng mối,
tôi còn đem áo quần, tiền bạc phát cho người nghèo khó trong làng.
Rồi ông cười khì:
- Ai có gan thì bận quần
áo... bất nhân đó. Rủi thiên hạ nhìn được thì ráng chịu tội một mình.
- Tại sao hương chức làng và
người lối xóm che chở cho ông?
- Dễ quá. Trong làng chẳng
bao giờ có trộm cướp. Ai mất đồ đạc cứ cho tôi biết. Tôi kiếm giùm, đồng thời
tôi dạy dỗ, sửa trị tụi bất hảo ở làng khác tới.
- Nghe nói ông biết phép
tàng hình, xuất quỉ nhập thần, vô nhà mà không cần cạy cửa, khoét vách...
Câu hỏi đó khiến ông Hai Tước
nghiêm mặt. Ông nhìn trừng trừng vào phía thằng Nậu. Tuy biết rằng chính nó vừa
hỏi câu hỏi đó nhưng ông nói gằn:
- Ai hỏi tôi vậy! Ai muốn học
phép tàng hình? Bộ muốn nối nghiệp tôi hả? Phép tàng hình là... thứ bí mật, chẳng
ai truyền cho được. Muốn ở tù sao chớ? Thời buổi này, nên làm ăn lương thiện...
Thằng Nậu trợn mắt:
- Ngặt mình lương thiện mà
thiên hạ cứ bất lương.
Cử tọa cười ồ lên. Họ phản đối:
- Thằng Nậu phát khùng rồi.
Nó chửi... thiên hạ. Thử hỏi thiên hạ là ai? Hay là nó thất tình với con nhỏ
nào đó rồi chửi đổng cho hả giận... Ông Hai đừng thèm dạy thêm phép tàng hình
cho nó. Nó toan tính chuyện đồi phong bại tục. Ngày xưa, ông... ra nghề mà cả
xóm được nhờ cậy. Bây giờ, nó học đòi... để vui riêng một mình.
Lời châm chọc ấy chẳng làm
nao núng thằng Nậu. Thật ra, nó đang lo âu về chuyện khác, chính đáng và thanh
cao hơn. Bầu không khí bắt đầu nặng nề. Ông Hai Tước hối tiếc:
- Bà con mình nói chuyện cho
vui, hơi đâu phiền giận thằng Nậu.
Hồi lâu, chẳng ai phát biểu ý
kiến nào. Ông Hai nói:
- Đầu đuôi sự hiểu lầm nầy
do tôi gây ra. Tôi muốn trình bày vài kinh nghiệm giúp vui. Nậu à! Nghe tôi nói
không?
Thằng Nậu đáp:
- Dạ nghe.
- Thế gian nầy chẳng ai biết
phép tàng hình. Họ nói dóc cho vui.
Rồi ông Hai Tước nói thao thao
về một trong những phép tàng hình. Năm đó lâu lắm rồi ông đến chợ Sóc Xoài, để
thăm viếng thầy hương quản. Hương quản nọ vốn là bạn thân của Hai Tước. Thầy ta
hỏi:
- Anh tàng hình được không?
Bấy giờ, Hai Tước mạnh dạn
đáp:
- Tối nay, tôi đến nhà thầy
để ăn trộm coi chơi! Tôi coi cái chết như lông hồng.
Thầy hương quản ngạc nhiên:
- Đừng nói giỡn. Tôi đâm chết
bỏ.
Hai Tước đáp:
- Đúng 10 giờ khuya chủ nhà
hãy đề phòng.
Đêm ấy, Hai Tước đến, đúng hẹn.
Đồng hồ gõ thong thả mười tiếng rời rạc. Vùng Sóc Xoài thuộc vào khu vực ngập lụt
của đồng bằng sông Cửu Long nên đa số nhà cửa đều xây cất theo kiểu nhà sàn.
Sau khi khóa chặt cửa trước sau, thầy hương quản căn dặn bọn gia nhân đề phòng
cẩn thận. Thầy cầm sẵn một cây chĩa nhọn, giở hé từng miếng ván lót sàn.
Có bóng người khom khom,
rình mò. Thầy tri hô:
- Ai? Rồi thọc cây chĩa xuống,
đâm mạnh theo sàn nhà.
Bên dưới, một tiếng cười
giòn giã vang lên:
- Xí hụt! Đâm dở quá.
Lập tức thầy hương quản rút
mũi chĩa lên để đâm lần thứ nhì. Thừa lúc ấy, Hai Tước chạy trốn.
Câu chuyện lần hồi thu hút
khá đông thính giả. Ai nấy hỏi dồn:
- Rồi ông vô nhà thầy hương
quản được không?
Hai Tước đáp:
- Sao không được! Tôi dùng
phép tàng hình mà. Phép đó, tôi chưa muốn truyền cho bất cứ một ai. Tôi đã cam
đảm, chịu đựng vết thương. Thầy hương quản đâm trúng bàn tay tôi. Nếu tôi rên
siết thì thầy ta ghim luôn, làm sao tôi chạy. Tôi làm thinh la to: “Xí hụt! Đâm
dở quá!” Nhờ vậy thầy ta mới rút chĩa, tôi được thảnh thơi...
Có người chất vấn:
- Vô lý quá. Đâm trúng hay
đâm trật, thầy hương quản dư biết. Nếu đụng đất thì mũi chĩa dội lên kiểu khác,
đụng da thịt thì mũi chĩa “sượng sùng”. Thí dụ như khi mình đâm mũi chĩa xuống
hang chuột. Gặp chuột là mình biết ngay. Thầy hương quản nọ khờ dại quá.
Hai Tước nói thản nhiên:
- Tất cả những ai là chủ
nhà, trong lúc nguy nan đều khờ dại. Bởi vậy cho nên kẻ ăn trộm mới tàng hình
được.
Ai nấy ngẩn ngơ. Hai Tước lẩm
bẩm:
- Bà con mình chưa làm nghề
ăn trộm nên chưa hiểu những điều tôi nói. Thôi, khuya lắm rồi, ai về nhà nấy. Tụ
tập quá đông đảo, nói toàn chuyện “đâm heo thuốc chó”, sao lương tâm bứt rứt
quá. Tôi già rồi, tôi muốn tu thân tích đức trước khi nhắm mắt.
Đêm khuya chó sủa văng vẳng
ngoài đầu xóm. Hai Tước dạo chơi trước sân, suy nghĩ liên miên. Bỗng đâu, một
bóng người... hơi quen thuộc hiện ra thấp thoáng. Ông hỏi khẽ:
- Ai vậy?
Bóng người đáp lại:
- Dạ tôi, thằng Nậu.
- Ủa! Sao mầy chưa về ngủ
cho khỏe.
- Dạ, tôi tức quá. Hồi nãy
đám bạn bè đông đảo, tôi chưa nói hết lời. Xin lỗi, ông đừng giận tôi.
“Tại sao thằng Nậu còn nhỏ
tuổi mà rắc rối đến mức ấy. Nó trầm tĩnh, suy nghĩ sâu sắc và biết rình mò chờ
cơ hội như mình đây, hồi thuở trai tráng?”
Hai Tước sanh nghi, gọi nó
vào phía bên hông nhà để nói chuyện riêng. Nó nhận lời. Hai người ngồi bên gốc
cây xoài, tàng lá rậm rạp. Thằng Nậu thỏ thẻ:
- Tôi đâu muốn làm chuyện bất
lương. Tôi kính trọng ông mà.
- Hồi nãy, tôi hỏi phép tàng
hình hoặc kinh nghiệm ăn trộm để... trả thù.
- Thù gì? Ai gây thù gây oán
với mầy.
Thằng Nậu bèn kể lể tâm sự:
Nó vay của bà cai tổng Báu 10 giạ lúa và 20 đồng bạc để làm mùa. Năm rồi, mùa
màng thất bác, nó trả không nổi. Bà cai tổng gọi nó đến, làm sẵn giấy tờ, cho
nó mượn thêm 10 giạ lúa nữa. Nó đồng ý vì dốt nát, không biết đọc. Dè đâu, theo
giấy tờ, nó đã cam kết bán đứt phần đất hương hỏa. Bà cai tổng gọi nó đến, cho
hay:
- Bắt đầu ngày mai, tao làm
chủ phần đất của cha mày.
Nghe qua, ông Hai Tước im lặng,
thông cảm nỗi đau khổ của thằng Nậu. Cha nó chết sớm. Ông nói:
- Tao sẵn sàng giúp mày.
Nhưng tao già rồi. Tao đã thề với “tổ”...
Thằng Nậu nài nỉ:
- Ông dạy cách tàng hình cho
tôi. Nhà bà cai tổng xây vách tường, ban đêm bà ngủ trên lầu một mình. Tôi tớ của
bà cũng đông. Không lẽ tôi liều mạng, rủi bị bắt quả tang, ở tù rục xương, ai
lo nhang khói cho tôi.
- Mày biết miếng giấy nợ cất
đâu không?
- Dạ, tôi biết rõ: trong cái
hộp bánh mì tây, trong hộc tủ, sát giường ngủ của bà. Hồi sáng nầy, bà kêu tôi
tới, khoe cái giấy nợ. Rồi bà đậy hộc tủ lại. Hộc tủ không có khóa.
Dòng máu “nghĩa hiệp anh
hùng” dường như bắt đầu hâm nóng trong huyết quản ông Hai Tước. Ông muốn thí
nghiệm một lần chót để cứu giúp thằng Nậu:
- Lát nữa, mày vô nhà bà cai
tổng Báu, ăn cắp cái hộp bánh mì đựng đơn từ, giấy nợ. Vừa lòng chưa?
- Dạ, nhưng làm sao tàng
hình?
- Mầy ngu quá! “Tàng hình”
là chuyện nói dóc. Xưa kia, tao vô nhà thầy hương quản, trong lúc thầy tri hô
ăn trộm. Thầy rút chĩa lên. Ờ, để tao nói tiếp, hồi nãy tao muốn giấu sự thật -
thầy thấy cây chĩa dính máu. Thầy ra lệnh cho bọn gia nhân mở cửa bắt ăn trộm.
Thừa lúc ấy, tao trèo lên cầu thang rồi theo cánh cửa đã mở sẵn, vô nhà. Tao nằm
dưới gầm giường, nghe tiếng mõ, tiếng tri hô: “Rượt bắt nó!”. Vậy thì trong nửa
giờ đồng hồ nữa, mầy được dịp vô nhà bà cai tổng để rửa hận. Tánh tao nóng nảy
lắm. Hễ nói là làm liền. Mưu kế như vầy như vầy... kêu là “vừa đánh trống vừa
ăn cướp, thừa cơ nước đục thả câu”. Tàng hình là vậy đó.
Dưới ánh trăng lu, Hai Tước
chẳng nại thân già xuống xuồng bơi, thằng Nậu ngồi giữa khoang. Lát sau, hai
người đến trước bến bà cai tổng Báu. Chó sủa vang rân.
Hai Tước căn dặn lần chót:
- Làm như tao nói ban nãy. Cứ
tỉnh táo. Nè, lại gần gốc cây, bên cổng rào. Rồi chưa. Tao bắt đầu.
Chó lại sủa.
Bọn gia nhân hô to, từ trong
nhà bà cai tổng:
- Cái gì đó? Ăn trộm! Nó vô
trong sân.
Trên lầu có tiếng quát tháo.
Thằng Nậu nhận rõ là tiếng lanh lảnh của bà cai:
- Ăn trộm hả? Nó đâu rồi?
Gia nhân nói:
- Nó mới vô sân đây nè! Nó
chạy ra kìa!
- Nó kìa! Bớ làng xóm ơi! Ăn
trộm.
Từ phía xa, hai tiếng “ăn trộm”
nổi lên. Thằng Nậu hiểu ngay: Đó là ông Hai Tước đang đánh trống để cho nó ăn
cướp.
Chó sủa chuyền từ đầu đến cuối
xóm. Mõ tre, mõ cây... mít gióng lên như nhái kêu vào lúc mưa đêm, đầu mùa. Thằng
Nậu ngồi nín thở bên gốc cây. Nó quan sát: bọn gia nhân chạy ào ra ngoài đường
cái. Bà cai tổng Báu đứng dưới chân cầu thang, la ỏm tỏi:
- Tụi bây chậm chạp quá. Nó
chạy tới đầu xóm rồi. Bắt sống cho tao trị tội mới hả giận.
Một đứa gia nhân nói:
- Để tôi bơi xuồng cho mau.
Đứa khác xách cây đèn “bin”,
nói nhanh:
- Tôi bấm đèn, rọi nó bằng
cây đèn nầy mới hiệu nghiệm. Tôi bấm đèn, rọi sáng cho nó chạy. Rồi tôi lúc lắc
cho ánh đèn rung rinh, xẹt qua xẹt lại, lúc tắt lúc sáng. Nó chóng mặt, vấp té.
Phía đầu xóm, tiếng mõ vẫn vọng
lại. Bà ta đi nhanh ra cổng, day mặt về phía xóm vàm, chống nạnh, chửi đổng:
- Ông cha mồ tổ nó! Vái trời
cho bắt được nó.
Nhanh như chớp, thằng Nậu đứng
dậy. Nó muốn đánh sau ót bà cai tổng cho bà chết giấc nhưng lúc nãy ông Hai Tước
ngăn cấm việc hành hung đó. Nó vào cổng, men theo bìa rào, đến chân cầu thang rồi
chạy vào phòng ngủ của bà cai tổng.
Ánh đèn chong leo lét, soi mờ
mờ cái tủ kiếng và cái hộc tủ bên dưới. Nó muốn kéo hộc tủ ra lập tức, chụp cái
hộp bánh mì trong đó nằm la liệt bao nhiêu giấy nợ của nó và của dân trong xóm.
Lời căn dặn của ông Hai Tước
còn như văng vẳng bên tai nó:
- Vô tới nhà mình cũng dễ sống
mà cũng dễ chết. Nên chờ lúc họ ngủ hay là lúc họ nằm xuống.
Thời khắc trôi qua, tiếng mõ
thưa dần rồi dứt hẳn. Bọn gia nhân trở về chửi rủa om sòm, chó lại sủa. Bà cai
tổng Báu nói to:
- Đập mấy con chó mắc dịch nầy
cho tao! Nuôi nó vô ích lắm.
Một đứa gia nhân nói to:
- Thưa bà! Chó nầy giỏi
thính hơi. Ăn trộm mới vô tới cổng là nó sủa liền.
Bà cai tổng nói, ngày một
to. Thằng Nậu chết điếng, hiểu rằng bà ta đang tiến lại cầu thang để lên lầu.
- Tụi bây coi kỹ. Coi chừng
nó còn lẩn quẩn... trong lẫm lúa. Đứa nào rảnh rang, theo tao lên lầu.
Cầu thang vang lên rầm rầm.
Thằng Nậu ngồi im dưới gầm giường. Nó đoán chắc: Bà cai tổng và đứa gia nhân sắp
lên lầu, vào phòng để lục soát. Nó nhìn kỹ: bốn cái chân bước vào.
Gia nhân nói:
- Hồi nãy nó có mở cửa phòng
nầy không?
Bà cai tổng im lặng. Rồi
nói:
- Đâu có. Tao mở ra đó!
- Còn cửa sổ? Thưa bà!
- Cửa sổ còn đóng chặt.
Bà cai tổng ngồi lên giường,
thòng chân xuống. Chân bà... chỉ cách chừng hai tấc là đụng nhằm thằng Nậu. Nó
nín thở. Trời ơi! Làm sao bây giờ? Hồi nãy, ông Hai Tước căn dặn nên trầm tĩnh,
thế thôi! Trầm tĩnh là gì? Khó hiểu quá.
Tên gia nhân đến gần cái tủ
kiếng, nắm cái quai cửa, giựt thử. Cửa kiếng rung rinh nhưng không mở ra. Hắn
nói:
- Còn y nguyên! May quá!
Bà cai tổng Báu chửi thề:
- Đồ trời đánh. Bộ mày muốn
ăn cướp hả? Thôi, mầy trở xuống.
Tên gia nhân bước ra khỏi
phòng. Bà cai tổng đứng dậy, làm một việc mà thằng Nậu không ngờ. Bà ta đóng cửa
phòng, vặn khóa rồi bỏ chìa khóa vào túi!
Tấm vạt giường rung chuyển.
Thằng Nậu hiểu: bà ta nằm. Nhưng bà ta lại ngồi dậy, đến gần ngọn đèn chong, vặn
tim lên cho sáng rồi lẩm bẩm:
- Đồ mắc dịch. Giỏi thì mầy
vô đây một lần nữa. Tao ngủ đây nè.
Nó tức cười. Nhưng nụ cười vụt
tắt trên đôi môi khô héo của nó. Vô phòng thì dễ, ra khỏi phòng là khó. Làm sao
tìm cái chìa khóa? Cái chìa khóa ấy còn nằm trong túi bà cai tổng.
Bà cai tổng ngáy pho pho. Gà
gáy eo óc. Thằng Nậu hiểu rằng... thời giờ đã trôi quá mau. Đầu canh tư, sang
canh năm. Nó bò ra khỏi gầm giường, kéo hộc tủ dễ dàng và đem ra cái hộp đựng mớ
giấy nợ.
“Mình làm gì nữa?” Nó tức giận
vô cùng. Tại sao ông Hai Tước không dạy nó cách ra khỏi nhà. Nó giận lấy nó. “Tại
sao mình ngu dại quá, nhè chuyện sống chết mà mình quên hỏi?”
Gà lại gáy. Bầu không khí
như lạnh lẽo. Nó đứng sát vách tường, mở cửa sổ:
- Vái trời cho lầu nầy thấp.
Mình nhảy đại xuống.
Phía dưới đất có người quát
to:
- Ăn trộm! Bà cai tổng ơi!
Ăn trộm!
Thằng Nậu sửng sốt, giọng
nghe quen thuộc, giọng của ông Hai Tước. Bà cai tổng trở mình nói to:
- Cái gì? Ăn trộm đâu?
Dưới đất, sát chân tường,
Hai Tước quơ tay làm dấu hiệu, thúc hối thằng Nậu nhảy qua cửa sổ. Bà cai tổng
rú lên:
- Nó đây nè! Ăn trộm.
Thằng Nậu run rẩy, ôm cái hộp,
phóng mình... Nó chẳng còn nghe tiếng gì nữa. Hồi lâu, nó mở mắt:
- Tôi ở đâu? Ai cứu tôi?
Ông Hai Tước đến bên cạnh,
nói khẽ:
- Đừng nói lớn tiếng. Mấy
con vợ của tao nó nghe được, nó ghen. Mầy tệ quá. Lầu thấp chủn, nhảy xuống té
sấp. Tao chạy tới, cứu mầy, cõng mầy đem về nhà tao. Mầy hiểu tàng hình là thế
nào chưa? Dễ lắm. Tàng hình đâu có gì là khó. Rồi đây, mầy sẽ nghe bà cai tổng
đồn đãi: bọn trộm tàng hình vô nhà!
Thằng Nậu mỉm cười:
- Tàng hình là dễ nhưng hiện
hình là khó. Nhờ ông cứu giúp, bằng không thì tôi mắc kẹt trong phòng, hoặc tôi
bị bắt sống. Ông Hai Tước vấn thuốc hút rồi nói:
- Đem mớ giấy nợ, đơn từ gì
đó... đốt bỏ đi. Từ phía nhà dưới, nơi “tam cung lục viện” của Hai Tước, nhiều
tiếng ngáy dài... vang lên. Thằng Nậu nói:
- Dạ, đốt liền bây giờ. May
phước quá. Nếu không tới nhà bà cai tổng...
Bàn tay Hai Tước bụm lấy sát
miệng thằng Nậu, ông nói:
- Đừng nhắc tới, nó ghen. Mầy
về nhà cho yên phận. Để cái hộp bánh mì cho tao làm bằng chứng... cho bà thấy.
Thằng Nậu càng sửng sốt:
- Chi vậy? Bà cai tổng bắt
tôi.
- Mầy ngu quá. Cứ đốt giấy nợ,
giấy nần gì đó của mầy của thiên hạ. Còn tao, tao xin cái hộp không. Mai chiều,
tao tới nhà bà cai tổng, đem cái hộp cho bả coi để chứng tỏ rằng tao đã theo
dõi thằng ăn trộm nhưng tao không bắt vì trong hộp không có... vàng bạc gì ráo.
Để cho bả hiểu: tao là chúa ăn trộm trong vùng. Bằng không thì còn gì là thể diện
tao!
Rồi ông Hai Tước ghé miệng
sát vào tai thằng Nậu mà nói thiệt nhỏ:
- Bà cai tổng là con vợ
bé... thứ mười của tao. Tao giấu giếm, không muốn cho mấy bà vợ ở nhà hay biết,
tao thương mày, giúp mầy tàng hình, rồi hiện hình... Chớ thiệt ra, tao đau lòng
xót dạ lắm. Mầy thấy tao đối xử tử tế với mầy không? Hồi tối, giữa đám đông người,
tao che giấu mọi việc. Về đi. Trưa nay, tao hiện hình lại đằng nhà bà cai tổng.
Tất cả đều êm thắm. Không ai tập nã mầy đâu. Mầy cũng đừng dạy phép tàng hình
đó cho bất cứ người nào khác. Để tao làm ăn... lúc về già.
Thằng Nậu đứng dậy, ra khỏi
cửa.
Ông Hai Tước vỗ vai nó:
- Rồi đây bà cai tổng đồn
rùm lên, cho thiên hạ biết rằng xóm nầy có kẻ trộm tàng hình. Kẻ đó không phải
là tao mà cũng không phải là mầy. Kẻ tàng hình đó chẳng bao giờ có nhưng thiên
hạ tin mãi, tin hoài. Nếu ai hỏi chuyện đó, tao với mầy cứ im lặng rồi gật đầu.
Bác Vật xà bông
So với các rạch khác ở ven vịnh
Xiêm La, vùng Xẽo Bần thuộc vào hàng tương đối sung túc. Dân ở đấy sanh sống bằng
hai nghề: Phá rừng lấy củi, và khi tiết trời thuận tiện họ ra biển đánh lưới
tôm.
Tiền bán củi vừa đủ cho họ
mua gạo ăn, thuốc hút; nghề đi lưới thì chỉ đem lợi riêng cho một số người có
ghe, có lưới. Người đi bạn thường lãnh tiền buổi, tùy theo lưới trúng hoặc thất
- tay làm hàm nhai.
Đôi mươi mái nhà lá, vài ba
gốc dừa không trái: ngọn Xẽo Bần xơ rơ như vậy đó. Chung quanh là cánh đồng cò
bay thẳng cánh nhưng đầy năn kim, ô rô, cỏ ống. Cò lông bông, trích, cúm núm
bay lượn tối ngày.
Dân làng nào tha thiết đến
vùng đất phù sa nê địa! Vì vậy, khi ông bác vật X đến xây nền đúc, cất nhà
ngói, tự xưng là chủ đất thì không một ai xao xuyến cảm thấy quyền lợi mình bị
đụng chạm.
Trái lại, họ rất vui mừng.
Trước tiên, ông bác vật đến
thăm từng nhà trong xóm. Hễ ai gặp chào hỏi quá khúm núm, ông can gián:
- Bà con cứ bình đẳng, đừng
nên gọi tôi bằng ông, tôi còn nhỏ tuổi lắm. Cứ gọi tôi bằng dượng Hai. Đất này
của bên vợ; vợ tôi thứ hai.
Hỏi qua vấn đề nền nhà, ông
bác vật trả lời:
- Ai lỡ cất nhà nơi đâu, cứ
yên lòng ở đó. Tôi không bao giờ có ý đuổi bà con. Tôi còn muốn kêu gọi bà con
đến thêm, ở đông chừng nào vui chừng nấy. Thỉnh thoảng mời bà con vô nhà tôi
chơi. Lúc nào tôi cũng ở nhà để lo việc khoa học. Tánh tôi bình dân lắm, ai có
chuyện gì khó hiểu tôi sẵn sàng giải thích.
Kể từ đó, buổi trưa hoặc buổi
tối, nhà ông bác vật luôn luôn tấp nập. Đi rừng bắt được rùa, săn được heo rừng
là bà con nghĩ đến ông, đem lại tặng. Đáp lại thạnh tình ấy, ông bác vật dắt từng
người vào phòng làm việc của mình. Trên vách, hai hàng kệ đầy sách, mỗi quyển
dày hơn tấc Tây, lưng da mạ chữ vàng lấp lánh. Một cái bàn tròn chiếm giữa
phòng. Trên đó đủ kiểu ly, hũ, bầu... toàn bằng pha lê trong vắt: cái thì méo
miệng, cái thì tròn như trái dừa, có cổ dài uốn éo như cổ cò. Lại thêm chiếc
đũa bằng pha lê dựng đứng trong ống, dài theo ống có lằn đỏ như vạch đo từng
phân, từng ly tỉ mỉ.
Hỏi:
- Thứ gì ngộ quá vậy, dượng
Hai?
Đáp:
- Đồ dùng để thí nghiệm hóa
học.
- Hóa học là chi vậy, thưa
dượng?
Ông bác vật mỉm cười:
- Khó cắt nghĩa lắm. Thủng
thỉnh, bà con sẽ rõ. Hóa là biến hóa... Các chất hóa học hiện nay còn thiếu, mới
mua được chút ít. E nguy hiểm tôi chưa dám cho bà con xem.
Mãn buổi thăm viếng, bà con
xóm ngọn Xẽo Bần vô cùng thắc mắc. Ban nãy, còn biết bao nhiêu câu hỏi mà họ
không dám hở môi thố lộ ra. Giờ đây họ xúm xít lại bàn tán cho hả hơi:
- Bà con biết không? Nghe tới
hóa học tôi điếng hồn. Rủi ro nó nổ bất tử. Nội mấy cái ly, cái bầu của ông
cũng đủ ghim miểng nát bấy thi thể bà con mình.
- Đừng nói bậy! Người ta đựng
nó được nên mới dám chứa chấp. Tôi nghi dượng Hai mình làm... quốc sự. Nhè ổng
chế tạo bom đạn, dân chúng ở đây, ắt phải liên can.
- Ừ, tôi coi ổng là người có
kỳ tài.
- Kỳ tài gì? Thực lộc chi
thê. Chắc ổng có bằng cấp bên Tây. Nhờ vậy...
- Bằng cấp gì? Có thì ổng
nói rồi. Chắc là “nhảy đầm” ở bển rồi về đây. Năm ngoái, tôi đi Trà Vinh gặp
ông nọ xưng là bác học canh nông. Ổng trồng mười cây đu đủ; lớn lên toàn là đu
đủ đực...
- Nói xấu thiên hạ đi! Biết
đâu ổng muốn trồng đu đủ đực để thí nghiệm.
- Ối thôi! Hơi đâu mà cãi. Xứ
mình không bao giờ có nhơn tài được. Đi qua bên Tây, nếu người Việt Nam nào trổ
tài thì Tây ám sát hết. Tụi nó “muối nước đá” bắt nhơn tài của mình đem ướp cho
chết, không cần đâm chém hoặc chích thuốc cho loạn óc, tê bại... Dầu sao dượng
Hai mình cũng là người dễ thương, biết chữ nghĩa nhiều hơn mình.
Rồi thì ai về nhà nấy, sáng
đi lưới, tối lại phá rừng. Công việc sanh nhai của họ ngày thêm đình trệ. Làm
ra được, ngặt bán không ai mua. Vải bố giá càng mắc, kiếm không ra. Có điều lạ
là dạo ấy thuốc ký ninh mua rất rẻ, thứ ký ninh bọc đường uống ngọt ngọt. Thiên
hạ bảo đó là phát minh của Nhựt Bổn, thuộc dòng giống da vàng như người Việt
Nam mình nhưng họ biết chế thứ máy bay có mặt trời đỏ sau đuôi, thường bay lượn
dài theo ven biển.
Dượng Hai bỗng trở nên vui vẻ
lạ thường, kể từ ngày đi Bến Tre về.
Trước mặt bà con chòm xóm,
dượng tuyên bố:
- Mình ở đây sống trên kho
vàng mà không hay. Nay mai, ai nấy đều có công ăn chuyện làm. Tôi sẽ cất một
cái xưởng lớn. Thời Trời giúp tôi.
Có người hỏi:
- Mình dùng hóa học để chế tạo
ra vàng, phải không?
Dượng im lặng mỉm cười rồi mở
tủ, lấy cho mọi người xem một khối vuông, màu vàng như đất sét:
- Đây là xà bông của tôi mới
chế tạo như ở Bến Tre. Cỡ này, nó lên giá gấp ba vì không nhập cảng nguyên liệu
hóa học được. Tôi hy vọng giúp bà con công ăn việc làm, xưởng xà bông của tôi sẽ
cất tại đây thật gấp, cần dùng hàng trăm công nhân.
Họ trố mắt nhìn cho biết thứ
xà bông mới lạ đó. Hồi nào tới giờ, ít ai cần dùng đến xà bông nên không mua về.
Họ dùng cám hoặc vỏ trái khóm chà vào bàn tay là bao nhiêu bụi bặm, dầu mỡ đều
trôi hết.
Dượng Hai nói tiếp:
- Lúc này Nhựt Bổn đánh giặc
với Đồng Minh. Đường giao thông tiếp tế bị ngăn cản. Vì vậy, thiếu xà bông. Giá
xà bông từ hai cắc một ký lô đến sáu cắc. Nay mình chế tạo xà bông bổn xứ, bán
chừng bốn cắc thì thiên hạ xúm lại mua như tôm tươi, mặc dầu xấu hơn chút ít!
- Ở Xẽo Bần này, làm sao đủ
vật dụng?
- Sao không đủ! Mình cần
dùng có hai món: dầu dừa với nước tro. Dầu dừa đã sẵn sàng: ra hòn Tre mua dừa
khô về thắng lại. Nước tro thì nào là tro than đước, tro bẹ dừa, tro cây mắm.
Nhứt là cây mắm, mọc đầy bãi biển, tro nó mặn hơn hết và rẻ vốn hơn hết.
- Nấu cách nào vậy dượng? Để
tụi tui về nấu thử.
“Để tụi tui về nấu thử”. Mấy
tiếng đó khiến cho vầng trán của dượng Hai nhăn lên, thoáng qua chút gì lo ngại.
Nhưng chỉ thoáng qua thôi! Dượng cười to, lấy trong tủ đem ra một cái ống thiếc.
Mở ống, bên trong lú ra một
vật khác bằng thủy tinh nhỏ hơn chiếc đũa, bề dài cũng ngắn hơn, một đầu thì
tròn vo. Dượng nói:
- Đây là... cái ống thủy. Phải
có nó mới nấu ra xà bông được. Dùng để cân nước tro.
- Cân là làm sao dượng?
- Cân là đo lường sức nặng của
nước. Thí dụ như chén nước tro này: muốn biết mặn hay lạt, phải thả cái ống thủy
vô coi thử nó nặng mấy độ.
Nói xong dượng bỏ ống thủy
vào nước tro. Lạ thay! Ống thủy dựng đứng. Dượng nói:
- Số 32, bà con thấy chưa.
Bây giờ tôi đổ nước lạnh từ từ. Nước tro bớt mặn, ống thủy nổi không phải ngay
số 32 mà thấp hơn: con số 31, 30, 29. Phải mặn đủ chữ nước tro mới hiệp với dầu
dừa để thành xà bông. Bằng không hai thứ ấy cứ lỏng bỏng. Ống thủy này bây giờ
mắc lắm, bên Tây không còn gởi qua được. Bí mật của nghề làm xà bông là vậy...
Thôi, mai này bà con lại đây, tôi nấu thử cho coi.
Buổi gặp gỡ khi nãy mở đầu
cho bao nhiêu hậu quả tai hại mà dượng Hai không đoán trước được. Dân chúng ở Xẽo
Bần suy nghĩ: nếu mình chế tạo được xà bông thì tội gì đi làm mướn cho dượng
Hai. Bà con lối xóm có thể tự ý mở ra mỗi người một xưởng nhỏ, điều quan trọng
là nấu một lần coi nó đặc không, thay vì dùng ống để cân nước tro họ dùng lưỡi
mà nếm thử.
Trong khi dượng Hai thí nghiệm
xà bông tại nhà, đằng này bà con xóm Ngọn cũng bỏ hết công việc làm để... “nấu”
với kiến thức tối thiểu của mình. Nước tro cây mắm, dầu dừa và nước lạnh trộn
trong chảo, bắc lên bếp. Họ ngóng xem kết quả. Nhắm chừng xà bông có thể đặc, họ
cho nhểu vài giọt trên giấy hút thuốc. Nhưng lạ thay! Khi đổ ra khuông, xà bông
chỉ đặc lớp mặt, lớp dưới lỏng bỏng toàn nước tro mặn đắng.
- Tại mình thiếu cái ống thủy
để cân nước tro - Một người nói.
Phải đó! Tro cây mắm mặn
không đồng đều, cây già mặn hơn cây non, khúc gốc mặn hơn khúc ngọn, tôi chắc
như vậy.
Có người thỏ thẻ:
- Hay là... để tôi lại đẳng
lén ăn cắp cái ống thủy đem về đây cho bà con mình xài.
Người khác can gián:
- Ở tù chết. Hơn nữa, đem về
đây mình biết xài nó theo cách nào? Ai biết số, biết chữ? Tôi tưởng mình nên ăn
cắp một chút nước tro, thứ nước tro mà ổng đã thí nghiệm, được coi là đúng chữ.
Đem chén nước đó về đây, mình cứ chế tạo một cái ống thủy khác, không cần mua ở
bên Tây như ổng.
- Làm cách nào?
- Mình kiếm cái chai dầu gió
cũ, bỏ dằn vào đó một hộp chì rồi đậy nút lại, để chai nọ không nằm ngang khi nổi
trên mặt nước. Đó là ống thủy của mình tạm chế tạo. Bấy giờ mình thả chai dầu gió
nọ vô nước tro mà dượng Hai đã cân rồi, đúng chữ. Hễ chai dầu gió chìm đến mức
nào, mình ghi lằn mặt nước ấy vào hông chai.
Ý kiến đó được hoan nghinh
và thi hành.
Thế là vài ngày sau, mỗi người
đều có một ống thủy riêng biệt. Dượng Hai nào hay biết chuyện gì, ngày hai buổi,
dượng đinh ninh rằng với kế hoạch châu đáo, theo qui mô lớn, xóm ngọn Xẽo Bần sẽ
trở thành trung tâm quan trọng.
Nhưng có điều khiến dượng
Hai khó hiểu; từ nửa tháng qua, bà con lối xóm ít lại đây để nói chuyện như mọi
lần.
Một buổi sáng, chú Xồi bơi
chiếc xuồng “tạp hóa” đến bến, mời dượng:
- Dượng Hai mua xà bông
không? Xóm mình chế tạo thứ này nhiều quá rồi. Đem giặt quần áo bọt cũng nhiều
như xà bông bên Tây.
Dượng Hai thất sắc:
- Ai chế tạo vậy?
- Nhà nào cũng có nấu. Không
tin, dượng đi dạo coi thử.
Đến bây giờ, dượng Hai mới
hiểu tại sao hổm rày mấy người trong xóm khi gặp dượng là họ chào hỏi sơ qua rồi
kiếu từ lập tức, sắc mặt không được tự nhiên.
Dượng thở dài:
- Trách ai bây giờ! Tại mình
“sanh bất phùng thời”.
Bao nhiêu xà bông sản xuất ở
ngọn Xẽo Bần được tung ra khắp thị trường miền Hậu Giang, cạnh tranh có hiệu quả
với loại xà bông chế tạo bằng tro dừa ở Bến Tre vì tro cây mắm ở đây mặn hơn. Mỗi
khi đi bán từ xa trở về, họ không quên mua tặng cho dượng vài gói trà Kỳ Chưởng.
- Trăm sự cũng nhờ khoa học
của dượng đó, dượng ạ!
Dượng Hai đáp:
- Tôi mừng cho bà con. Bà
con đi dọc đường có ai nấu xà bông như xóm mình đây không? Phải thận trọng, giấu
nghề...
- Có. Nhưng xấu hơn xà bông
mình nhiều. Họ bán chạy nhờ có hiệu. Kỳ này tôi tính khắc con dấu Việt Tân, Việt
Hưng gì đó để đóng vô, kèm theo hình mặt trời cho cục xà bông nó “mạnh” một
chút.
... Năm 1945, cả xóm ngọn Xẽo
Bần không nấu xà bông nữa. Họ phải lo chuyện khác cao cả hơn. Nhưng ý nghĩ của
cuộc chiến đấu mới nào có gì lạ hơn là làm cho dân giàu nước mạnh, phát triển nội
hóa. Có lẽ vì lý do đó mà họ hăng hái hơn ai hết. Vì họ đã thấy rõ một lần rồi.
Bắt Sấu rừng U minh hạ
Nơi sông rạch, cá sấu là giống
hung hăng nhứt. Có điều đáng chú ý là chúng không thích chốn sông sâu nước chảy,
có sóng gió. Chúng lên tận ngọn cùng, tìm nơi yên tịnh, chật hẹp. Vùng U Minh Hạ
sấu thường đi ngược sông Ông Đốc, rạch Cái Tàu vào giữa rừng tràm.
Tại sao vậy?
Tuy là thích ăn thịt người,
loại sấu vẫn tìm cá làm món ăn chính. Rừng U Minh Hạ thuộc về loại tràm thủy,
cá sanh sôi nảy nở rất nhanh chóng; lên đó, tha hồ mà ăn.
Đến mùa nắng hạn rừng khô, sấu
khỏi trở về sông Cái. Trong rừng có sẵn nhiều ao, nhiều lung, sấu cứ gom vào đó
mà lập căn cứ, sanh con đẻ cháu, năm này qua năm khác, cứ như vậy cho tới khi
người Việt Nam ta đổ tràn xuống rạch Cái Tàu mà lập nghiệp. Ban đầu, họ ngỡ rằng
sấu chỉ ở dưới sông, sau khi câu được năm mười con sấu ở ngọn rạch họ đinh ninh
cho sấu đã giảm bớt... mười phần chết bảy còn ba. Mãi đến khi có người lên rừng
ăn ong chạy về loan báo:
- Sấu ở giữa rừng nhiều như
trái mù u chín rụng!
So sánh như vậy không phải
là quá đáng! Dân làng xúm nhau lên rừng để nhìn tận nơi. Cái ao lớn ước một
công đất, bên bờ, dưới nước, toàn là lau sậy, dây cóc kèn. Sấu nổi lên, chen
vào bức tranh màu xanh ấy những vệt đen chi chít; con thì nằm dài như chiếc xuồng
lường, con thì dùng hai chân trước mà vạch sậy, ngóng mỏ xéo lên trời như họng
súng thần công đại bác. Biết có loài người đến quan sát, chúng vẫn điềm nhiên
sưởi nắng, bắt cá. Duy có con sấu già trợn mắt hướng về lũ người rồi bò thối
lui vào giữa lòng ao, để thủ thế. Dân làng nhìn nhau như ra lệnh rút lui. Nghi
ngờ gì nữa! Con sấu nọ có đốm đỏ ngay giữa tam tinh. Nó là “sấu chúa” sống lâu
đời, nhiều phen kịch chiến với loài người... Khi ở trên cạn sấu không nguy hiểm
bằng một con rắn hổ. Sấu chúa khôn lắm, nó toan dụ địch thủ của nó vào hang của
nó nơi nước sâu. Trong số người khi nãy, có kẻ cẩn thận mang theo mác thông,
lao, ná lãy, nhưng họ dư hiểu rằng mớ khí giới ấy chỉ có hiệu lực đối với cọp,
heo rừng. Đằng này, sấu lại là ở nước, ở bùn lầy. Chống xuồng vào thì ao quá cạn
còn đi bộ xuống thì bùn lún ngập gối.
Cái ao sấu ở ngọn rạch Cái
Tàu đã bị phát giác. Tin ấy đồn đãi lần lần, thấu đến tai ông Năm Hên, người thợ
già chuyên bắt sấu ở Kiên Giang đạo, tức là vùng Rạch Giá ngày nay. Ông bơi chiếc
xuồng ba lá nhỏ đến địa phận làng Khánh Lâm, ngọn rạch Cái Tàu. Trong xuồng, có
vỏn vẹn một lọn nhang trần và một hũ rượu.
Từ sớm đến chiều, ông bơi xuồng
tới lui theo rạch mà hát:
Hồn ở đâu đây?
Hồn ơi! Hồn hỡi!
Xa cây xa cối,
Đầu bãi cuối gành,
Hùm tha, sấu bắt,
Bởi vì thắt ngặt,
Manh áo chén cơm,
U Minh đỏ ngòm
Rừng tràm xanh biếc!
Ta thương ta tiếc,
Lập đàn giải oan...
Giọng nghe áo não, rùng rợn.
Dân làng thấy chuyện kỳ lạ, xuống đứng dưới bến để nhìn kỹ. Đoán chừng ông lão
nọ là người kỳ tài; họ mời ông lên nhà, làm thịt gà, mua rượu thết đãi.
Sau khi tự xưng danh tánh,
ông bảo:
- Nghe đồn có ao sấu, tôi chẳng
nệ đường xa để tới xứ Khánh Lâm này...
- Té ra ông là thợ câu sấu!
Ông Năm Hên lắc đầu:
- Thợ bắt sấu chớ không phải
thợ câu. Hai nghề đó khác nhau. Câu thì dùng lưỡi sắt, móc mồi bằng con vịt sống.
Đó là ở dưới nước. Đằng này tôi chuyên bắt sấu trên khô, không cần lưỡi.
- Vậy chớ ông bắt bằng gì?
- Tôi bắt bằng... hai tay
không.
Ai nấy ngạc nhiên. Ông Năm
Hên cười giòn:
- Bà con cô bác không tin
sao?
Ai nấy nửa tin nửa nghi. Họ
cố nhớ lại cách bắt sấu của mấy người thợ hồi nào tới giờ. Bắt sấu bằng hai tay
không quả là phi phàm, thế gian hi hữu. Không lẽ nào ông Năm Hên này lại nói
láo để lường gạt, ổng nào đã mở miệng xin tiền bạc cơm gạo gì của xóm này! Ai nấy
nôn nao, thiếu điều muốn năn nỉ ông đi bắt sấu tức thì để coi thử cách thức.
- Thưa ông, chừng nào ông ra
nghề để cho dân làng chúng tôi được mừng? Nếu cần giúp chuyện chi, chúng tôi sẵn
sàng. Ở xóm này, thiếu gì trai lực lưỡng đã từng gài bẫy cọp, săn heo rừng.
Ông Năm Hên đáp:
- Sáng mai sớm, đi cũng
không muộn. Tôi cần một người dẫn đường đến ao sấu đó. Có vậy thôi! Chừng một
giờ đồng hồ sau là xong chuyện! Sấu ở ao giữa rừng, tôi bắt nhiều lần rồi. Bà
con cứ tin tôi. Xưa nay, bị sấu bắt là người đi ghe xuồng hoặc ngồi rửa chén dưới
bến, có bao giờ sấu rượt người ta giữa rừng mà ăn thịt? Tôi không có tài giỏi
gì hết, chẳng qua là biết mưu mẹo chút ít, theo như người khác thì họ nói là
bùa phép để kiếm tiền. Nghề bắt sấu có thể làm giàu được ngặt tôi không màng thứ
phú quới đó. Nói thiệt với bà con: cha mẹ tôi sanh ra chỉ có hai anh em tụi
tui. Anh tôi xuống miệt Gò Quao phá rừng lập rẫy hồi mười năm về trước. Sau được
tin cho hay: Ảnh bị sấu ở Ngã ba Đình bắt mất. Tôi thề quyết trả thù cho anh. Cực
lòng biết bao nhiêu khi nghe ở miệt Rạch Giá, Cà Mau này có nhiều con rạch, ngã
ba, mang tên Đầm Sấu, Lung Sấu, Bàu Sấu, sau này hỏi lại tôi mới biết đó là nơi
ghê gớm, hồi xưa lúc đất còn hoang. Rạch Cà Bơ He, đó là chỗ sấu lội nhiều, người
Miên sợ sấu không dám đi qua mới đặt tên như vậy, cũng như Phá Tam Giang,
Truông nhà Hồ của mình, ngoài Huế.
Sáng hôm sau, ông Năm Hên đi
lên ao sấu, có Tư Hoạch một tay ăn ong rất rành địa thế vùng Cái Tàu dẫn đường.
Nhiều người nài nỉ xin đi theo. Ông Năm Hên cản lại:
- Đi nhiều chộn rộn lắm. Tôi
không giấu nghề với bà con đâu. Có Tư Hoạch đi theo coi mà.
Đã quá giờ Ngọ.
Ngóng về phía ao sấu U Minh
Hạ, ai nấy đều thấy một làn khói đen bốc lên. Ban đầu ngỡ là cháy rừng, chập
sau, khói lụn xuống. Trong lúc đó bà con xóm Cái Tàu lo nấu cơm, mua rượu đợi
chiều làm tiệc ăn mừng. Nhưng ngạc nhiên làm sao, trời vừa xế, lúc ai nấy đang
nghỉ trên nhà, bỗng nghe tiếng kêu réo từng hồi:
- Bà con ơi! Ra coi sấu... Bốn
mươi lăm con còn sống nhăn.
Rõ ràng là giọng Tư Hoạch.
- Diệu kế! Diệu kế! Tôi là
Tư Hoạch đi bắt sấu về đây. Bà con coi sấu lội có hàng dưới sông mình nè! Một đời
người mới có một lần.
Dưới sông Tư Hoạch ngồi trên
xuồng, bơi nhè nhẹ như đi dạo mát.
Tiếp theo lái xuồng là một bầy
sấu. Con này buộc nối đuôi con kia, đen ngòm như khúc cây khô dài. Mỗi con sấu,
hai chân sau thúc ké trên lưng, hai chân trước tự do, quạt nước cầm chừng như
tiếp sức với Tư Hoạch để đẩy chiếc bè quái dị kia đi nhẹ nhàng. Thực tế hay là
chiêm bao? Người thì há miệng sửng sốt rồi toan chạy vào nhà trốn. Người khác
khấn vái lâm râm, e nay mai xóm này bị sự trừng phạt của quỉ thần. Vài người dạn
hơn, bơi xuồng ra giữa sông, nhìn bầy sấu nọ cho tỏ rõ rồi rước Tư Hoạch vào bờ
hỏi han rối rít.
- Tới ao sấu, ông Năm Hên đi
vòng quanh dòm địa thế rồi ngồi xuống uống một chung rượu. Kế đó ổng với tôi lấy
xuổng đào một đường nhỏ, ngày một cạn từ bờ ao lên rừng chừng mười thước. Xong
xuôi, ổng biểu tôi bứt cho ổng một nắm dây cóc kèn. Phần ổng thì lo đốn một cây
mốp tươi, chặt ra khúc chừng ba tấc.
Lửa châm vô sậy đế, cóc kèn
xung quanh, bắt cháy xuống đám sậy đế trong ao. Chập sau, bị khói bay cay mắt,
ngộp thở, phần vì nước sôi nóng, sấu bò lên rừng theo con đường đào sẵn hồi
nãy. Tức thời, ông Năm Hên chạy lại. Sấu hả miệng hung hăng đòi táp ổng. Ổng
đút vô miệng sấu một khúc mốp. Sấu táp lại, dính chặt hai hàm răng: như mình ngậm
một cục mạch nha quá lớn, muốn hả miệng cho rộng để nhả ra cũng không được. Sấu
bị khúc mốp khóa miệng, còn cái đuôi đập qua đập lại. Ông Năm xách cây mác, nhắm
ngay sau lưng sấu mà xắn nhè nhẹ để cắt gân đuôi. Đuôi sấu bị liệt. Thế là mình
yên trí, lấy dây cóc kèn trói thúc ké hai chân sau của nó lại; chừa hai chân
trước để nó bơi tiếp với mình.
- Thực là bực thánh của xứ
này rồi! Mưu kế như vậy thật quá cao cường. Ổng đâu rồi? Sao không thấy ổng về?
Xóm mình nhứt định đền ơn ổng một số tiền, nuôi ổng cho tới già, ở xóm này. Bà
con tính sao?
Tư Hoạch nói:
- Mà quên! Ổng biểu tôi về
trước cho bà con coi thử. Phần ổng mắc ở lại cúng “đất đai vương trạch” rồi đi
bộ về sau.
Chưa dứt lời, bên sông nghe
tiếng hát của ông Năm Hên, ngày một rõ:
Hồn ở đâu đây?
Hồn ơi! Hồn hỡi!
Xa cây xa cối,
Đầu bãi cuối gành,
Hùm tha, sấu bắt,
Bởi vì thắt ngặt,
Manh áo chén cơm,
U Minh đỏ ngòm
Rừng tràm xanh biếc!
Ta thương ta tiếc,
Lập đàn giải oan...
Tiếng như khóc, nài nỉ. Tiếng
như phẫn nộ, bi ai. Ghê rợn nhất là khi thấy ông đi ra khỏi mé rừng, áo rách
vai, tóc rối nùi, mắt đỏ ngầu, bó nhang cháy đỏ quơ qua quơ lại trên tay.
- Coi tướng của ông ghê như
tướng thầy pháp! Một người thốt lên như vậy.
Nhưng có tiếng khóc sụt sùi
đâu đây. Đó là vài cụ già, bà lão chạnh nhớ đến tổ tiên, đến bạn bè của mình,
biết đâu trên bước đường sanh nhai giữa chốn nước đỏ rừng xanh, có thân nhân của
họ đã bỏ thây vì đàn sấu này. Bó nhang đang cháy kia có giải oan được cái chết
của họ không chứ?
Bốn cái ngu
Mấy người hàng xóm la hoảng
lên:- Tư Hưng đâu rồi! Nuôi heo bầy mà bỏ nó chạy cùng đường cùng sá. Sao không
nhốt lại?... Thiệt hết nói. Tanh rình tanh ói, chỗ nào cũng một đống, ai hơi
đâu mà hốt. Nó còn ủi nền nhà, phá mấy liếp cải. Nói ra thì mích lòng, để trong
bụng thì ấm ức.
Tư Hưng từ đầu xóm chạy lơn
tơn về, lớn tiếng thanh minh:
- Bà con ơi! Tôi nhốt heo lại
rồi. Chắc tại vợ tôi quên... Vợ tôi nó dại dột thì tôi chịu tội.
Nói xong, Tư Hưng chạy lùa
ba con heo nái. Heo chạy tán loạn, đâm ngay vào vách lá, chui vào trong nhà.
Anh ta nói to:
- Em ơi! Coi chừng heo chạy
bể đồ đạc.
Nhưng hỡi ơi! Trong nhà
không có một tiếng trả lời. Anh ta vào nhà, chạy tới trước cửa ngõ nhìn dáo
dác. Vợ anh đâu rồi? Hay là đã xách gói trở về nhà cha mẹ ruột? Bốn tháng qua,
vợ chồng anh ta gây lộn liên tu bất tận, tính đổ đồng hai ngày là xảy ra một cuộc
cãi vã.
Tư Hưng nói:
- Đi đâu đi phứt cho rảnh. Gặp
con vợ như vầy mau tàn mạt lắm. Thật là...
Vừa lúc ấy, ông Hai Kiểm đi
ngang qua, lên tiếng:
- Chuyện gì đó Hưng? Vợ chồng
mới cưới, nếu cơm không lành canh chẳng ngọt thì đóng cửa dạy nhau...
- Dạ, chuyện rắc rối lắm, đổ
bể tùm lum.
- Cái gì đổ bể?... Cháu nói
mau.
Ông Hai Kiểm xụ mặt, tưởng
tượng đến những hậu quả tai hại mà ông gánh lấy. Chính ông đã làm mai mối cho
Tư Hưng cưới vợ. Bên gái đòi một đôi bông búp, hai chiếc vòng đúng một lượng
vàng. Vì muốn tác hợp cho hai trẻ là người dưng nên ông Hai Kiểm vẫn làm gan
lãnh nợ, vay giùm cho gia đình Tư Hưng số tiền khá to. Chủ nợ hỏi: “Rồi làm sao
vợ chồng nó đủ sức trả?”. Ông Hai Kiểm đáp: “Vợ chồng nó sẽ nuôi heo nái, bán
heo con lần hồi”.
Những chuyện đáng buồn đã xảy
ra, thấu tai ông Hai Kiểm. Dư luận hàng xóm đã đồn đãi quá nhiều. Ban nãy ông gặp
cô vợ trẻ của Tư Hưng ở bờ chuối, sát ven đường. Ông hỏi:
- Cháu làm gì vậy đó?
Cô vợ nọ đáp:
- Dạ, cháu cắt lá chuối khô
đem về bó lại, làm ụ cho heo ngủ.
- Cháu biết lo xa, bác mừng
lắm. Xứ này nhiều muỗi, để heo ngủ trần là mang tội. Làm sao heo mau lớn đúng tạ
được? Sao thằng Hưng không ra đây làm công việc tiếp với cháu?
Cô vợ nọ ôm mặt khóc. Bấy giờ,
ông Hai Kiểm mới nhìn tường tận: gò má cô ta bầm tím. Ông thở dài, định tìm Tư
Hưng để dạy dỗ. Dè đâu vừa đi ngang cửa là nghe giọng nói vô lễ của anh ta.
Ông Hai Kiểm vào sân, nói lẩm
bẩm:
- Làm gì mà quát nạt? Cái gì
đổ bể?
- Dạ, mời bác vô nhà, cháu
nói hết đầu đuôi cho bác nghe.
Rồi Tư Hưng tố cáo bao nhiêu
sự lơ đễnh của vợ: nào vợ ngủ trưa, nào vợ kho cá ăn mặn đắng, nào vợ lười biếng
nuôi heo. Và nhứt là ưa cãi vã với chồng. Hễ giận hờn, lập tức cô vợ bỏ nhà ra
sau vườn.
Ông Hai Kiểm dùng tình cảm để
khuyên nhủ:
- Nó lo cắt lá chuối khô chớ
đâu phải dạo xóm ngồi lê đôi mách hoặc đánh bài tứ sắc. Cháu hãy bình tĩnh. Vợ
nó có lỗi thì hãy dạy dỗ bằng lời nói nhỏ nhẹ.
Tư Hưng nói nhanh:
- Dạ, nó cứng đầu lắm. Hễ
cháu đánh thì nó đứng lì một chỗ, không thèm chạy.
- Ừ... Nhưng mà cháu đừng
đánh ngay con mắt vợ.
Tư Hưng phục thầm sự nhận
xét của ông Hai Kiểm:
- Sao bác biết?
- Trời đất xui khiến như vậy.
Bác sống tới năm nay là sáu chục tuổi rồi. Đàn ông ưa bạt tai vợ, táng ngay con
mắt. Rủi đui con mắt thì sao?
- Cục cu cu... cu! cu!
Ông Hai Kiểm bước tới lui,
ngắm nghía con cu mồi mới mua ở Xẻo Bần với giá là mười giạ lúa. Ông bắc ghế, đứng
lên, mang cặp kiếng, nói thì thầm:
- Ồ! Con cu hai cốt. Chưa chắc!
Hồi bữa hổm, nó gáy tới bốn cốt.
Rồi bác đưa tay lên miệng, bụm
lại, nhái giọng gáy:
- Cục cú cu... cu!
Tức thời con cu mồi nhảy
nhót, vỗ cánh, đòi bay ra khỏi cái lồng bằng tre. Nó dừng lại, há mỏ, ưỡn ngực:
- Cục cúc cu... cu! cu! cu!
cu!
Ông Hai Kiểm cười giòn:
- Giỏi quá! Trót làm thằng
ngu thì ngu luôn cho trọn kiếp. Sáng mai, mày nhớ gáy đủ bốn cốt cho tao!
Từ ngoài cửa, Tư Hưng bước
vào. Anh ta nghe lóm tiếng được tiếng mất:
- Bác Hai ơi! Nói chuyện với
ai vậy?
- Tư Hưng đó hả? Bác nói
chuyện với con cu mồi. Gần Tết rồi. Cu gáy vang dậy ngoài đồng, bác tính cho
con cu mồi này ra nghề. Mua tới mười giạ lúa đó.
Tư Hưng vẫn thắc mắc:
- Con cu này mua quá mắc
nhưng tại sao ngu dại. Nếu nó khờ thì luyện tập lại. Bác rành nghề gác cu lắm
mà.
Một dịp may để ông Hai Kiểm
giải tỏa bao nhiêu thắc mắc. Ông rót nước trà ngồi cao hứng rung đùi:
Ở đời có bốn cái ngu,
Làm mai, lãnh nợ, gác cu, cầm
chầu.
- Mấy câu đó ý nghĩa như thế
nào?
- Khó lắm. Nói ra sợ cháu hiểu
lầm. Ông bà mình hồi xửa hồi xưa đặt để câu đó, nhắn nhủ mấy người lớn tuổi mà
ưa làm câu chuyện bá vơ như bác. Cháu thử nghĩ: bác ở không suốt ngày, chỉ còn
biết tiêu khiển bằng cách thăm viếng người chòm xóm, giúp đỡ lặt vặt. Rồi thì
dưỡng nhàn. Cháu biết tại sao làm mai là cái ngu dại thứ nhứt?
Tư Hưng đáp:
- Dạ, cháu hiểu mơ màng
thôi...
- Nói ra, cháu đừng giận
nghe không. Mình làm mai, giúp hai gia đình bên trai, bên gái kết tình thông
gia. Nếu con cái họ ăn ở với nhau êm ấm thì thôi. Nhược bằng gặp thứ trai lỗ
mãng, thứ gái lười biếng hỗn hào thì thế nào bên trai hay bên gái cũng trách
móc ông mai. Nào là thằng rể hoặc con dâu đó tệ quá. Không khéo, vài ngày nữa,
nếu vợ chồng cháu chưa hòa thuận với nhau được...
Tư Hưng cúi đầu:
- Dạ, cháu hứa...
- Đây là cái ngu thứ nhì cùa
bọn già cả, có chút ít thể diện hoặc điền sản như bác. Mình lãnh nợ giùm cho
thiên hạ, nếu con nợ trả đủ thì chủ nợ vui sướng, hưởng tiền lời. Bằng không, họ
lại mắng vốn... Còn cái ngu thứ ba là thú gác cu.
Nghe đến đó, Tư Hưng mỉm cười.
Gác cu tức là đem con cu mồi ra ngoài ruộng để cho cu gáy lên, nhử bắt con cu rừng.
Mấy ông cai tổng, ông hội đồng địa hạt thường gác cu vào mùa này. Tư Hưng còn
nhớ năm ngoái ông cai tổng đi gác cu với vài đứa tiểu đồng, mang theo nào trà ấm,
áo mưa, thịt gà, cơm nếp. Tại sao gác cu là cái ngu dại thứ ba? Anh ta hỏi mãi
nhưng Hai Kiểm cứ lắc đầu. Sau rốt, anh ta gợi ý:
- Dạo này, hễ ở nhà thì gây
gổ với vợ. Cháu muốn theo bác, làm đứa tiểu đồng để học nghề. Hồi đó tới giờ,
cháu ưa đá gà, đá cá thia thia. Mai kia mốt nọ, về già, cháu sẽ gác cu như bác.
- Đừng, cháu ơi. Dại dột lắm.
Con cu mồi gáy vang lên.
Ngoài bờ tre xa xôi, dường như có tiếng đáp lại, khiêu khích - “Cu kêu ba tiếng
cu kêu, cho mau tới Tết dựng nêu ăn chè”. Ông Hai Kiểm căn dặn Tư Hưng nên về
nhà giúp công việc lặt vặt cho vợ bớt mệt. Nhứt là sửa cái chuồng heo, đừng để
lối xóm phiền hà...
Sáng hôm sau, Tư Hưng đã có
mặt tại nhà ông Hai Kiểm. Hai người ăn cơm rang dằn bụng rồi lên đường. Ông Hai
Kiểm đi trước, xách cái lụp, tức là cái lồng bằng dây chì, trong đó có để con
cu mồi. Tư Hưng theo sau, vác một cây sào dài, đầu cây sào có cái móc nhỏ bằng
sắt. Lại còn có cái bình tích, đầy trà nóng, hộp quẹt và chiếc chiếu.
Gió chướng thổi lao xao mang
hơi lạnh từ phía tây bắc, báo hiệu ngày gần Tết. Mặt trời lên cao, bầu trời vẫn
chưa trong sáng. Vài đám mây đen bay lởn vởn, thứ mây chuyển mưa còn rơi rớt.
Mùi lúa chín xông lên vừa nồng vừa ấm. Quả khỏi bờ ven, hai người đều xăn quần
lên tận gối. Lá lúa cứa vào da, hơi rát. Đôi khi, bùn ngập tới nửa ống chân.
Vài con cò trắng đáp xuống vũng nước cạn, rình cá tôm. Ông Hai Kiểm bước khá
nhanh, đôi mắt nhìn đăm đăm về hướng cây gáo cổ thụ, giữa đồng.
Đến nơi, Tư Hưng đứng lóng
nhóng. Ông Hai Kiểm nói:
- Trải chiếu ra, ngồi xuống.
Nếu khát nước thì uống trà cho thấm giọng. Trèo lên cây gáo, bẻ vài nhánh cây
nhỏ, quăng xuống cho bác.
Ông Hai Kiểm đem lá cây ghim
trên cái lụp:
- Nhớ làm như vầy để cho cu
rừng không thấy cái lồng bằng dây chì. Lát nữa, cu rừng sẽ bay tới, đậu trên
cái sàn, trước mặt lụp.
- Còn mớ lưới này?
- Mình giương lưới lên, gài
chốt. Cu rừng đến trước mặt cái lụp, khiêu chiến. Nếu cu đạp nhằm cây chốt, lưới
chụp xuống cái sàn, túm con cu rừng.
Đâu đó xong xuôi, ông Hai Kiểm
dùng cây sào có móc sắt mà đưa cái lụp lên gần trên ngọn cây gáo. Ông bước ra
xa, nhìn đôi ba lần khen ngợi:
- Được rồi. Cu rừng chẳng
bao giờ biết con cu mồi đang bị nhốt trong cái lụp. Và trước mặt lụp là cái sàn
nhỏ, có lưới giương lên. Êm lắm!
Hai người rút lui vào lùm
cây mua, hơi thấp, vạch một lỗ khá to trong lùm rồi chui vào. Tư Hưng nói
nhanh:
- Giống như ngồi trong
hang...
- Ồ! Người gác cu ngồi ngoài
bờ ngoài bụi như vầy. Nếu đứng lom khom ở ngoài chỗ trống trải, cu rừng đâu
thèm tới nạp mạng.
Ngồi giữa lùm cây, ông Hai
Kiểm hút hết điếu thuốc này qua điếu thuốc khác. Con cu mồi bị nhốt trong lụp bắt
đầu gáy vang:
- Cúc cù cu... cu! cu! cu!
Ông cười giòn:
- Giỏi quá! Ra đây, nó gáy tới
ba cốt.
Tư Hưng hỏi:
- Dạ, cốt là cái gì?
- Theo tiếng lóng của nhà
nghề, mấy tiếng cúc cù cu, gọi là tiếng cốt. Con cu mồi này gáy ba cốt. Bảnh
quá! Cháu nghe lại thử. Nó gáy kìa!
Từ ngọn cây gáo, con cu mồi
cất tiếng thảnh thót:
- Cúc cù cu... cu! cu! cu!
cu!
Ông Hai Kiểm nhướng mắt:
- Đó... nó gáy đủ bốn cốt.
Loại cu nào nhiều cốt thì được cu mái say mê. Lúc lúa chín, cu rừng bắt đầu
“phân đồng”, mỗi con cu trống, chiếm một khu vực riêng biệt, từ cây này qua bờ
tre bên kia. Nó tha hồ ăn lúa chín, và tình tự với bọn cu mái. Nếu có con cu trống
nào toan vào khu vực của nó, nó sẽ đánh đuổi, đá và cắn tơi bời. Thí dụ như khu
vực này, từ cây gáo qua bờ tre, đã có sẵn một con cu trống làm bá chủ. Mình đem
con cu mồi này tới để xâm chiếm. Lát nữa, con cu trống sẽ ra tranh cắn, đánh đuổi
con cu mồi này để rồi bị lưới chụp xuống.
Thời khắc trôi qua chậm chạp.
Tư Hưng bắt đầu nản chí, muốn xin phép rút lui về nhà để... nuôi heo trả nợ đám
cưới. Bỗng đâu từ phía bờ tre đối diện có giọng gáy thanh tao:
- Cúc cù cu... cu cu!
Ông Hai Kiểm ngồi nhốm tới,
nép sát vào bụi cây mua, mang kiếng, nhìn qua kẽ lá:
- Đó! Con cu rừng lên tiếng,
đòi đá lộn với con cu mồi của bác.
- Sao nó chưa qua?
- Cháu nên bền chí. Cu rừng
khôn ngoan lắm. Nó hồ nghi điều gì... bất an. Nhiều con cu rừng đã bị lưới chụp
hụt vài trận rồi. Nó còn dè dặt, dò xét tình hình.
Trên ngọn cây, cu mồi gáy
lên, thúc giục:
- Cúc cù cu... cu! cu! cu!
cu!
Từ phía bờ tre, cu rừng bay
nhanh qua cây gáo, đảo hai ba vòng, toan đáp xuống.
Tư Hưng nói:
- Nó tìm kẻ thù hả bác?
- Nói chuyện nho nhỏ một
chút. Coi chừng nó nghe. Nó tìm kẻ tình địch. Cu rừng này cho rằng con cu mồi
trong bụi là kẻ từ nơi xa lạ đến xâm chiếm cánh đồng lúa để ăn no và chiếm đoạt
người yêu của nó.
- Tại sao nó bay qua đây! Hồi
nãy bác nói con cu rừng này đầy đủ kinh nghiệm, chết hụt nhiều lần nên khôn ngoan...
- Lời tục thường nói: Biết
chết nhưng cũng nhào vô. Con chim ghét nhau vì tiếng gáy. Cu rừng gáy hai cốt
ghét con cu mồi gáy tới bốn cốt. Nó cho rằng có kẻ bảnh trai hơn, toan chiếm đoạt
sự sống của nó... Im đi.
Qua kẽ lá, Tư Hưng thấy rõ
ràng con cu rừng. Nó thuộc loại cu cườm, mớ lông chung quanh cổ nhuộm màu hường
dợt, lấm tấm những điểm trắng tuyết, mỏ và đôi chân đỏ sậm. Nhứt là con mắt
tròn xoe, sáng ngời lấp lánh như giọt máu tươi.
- Nó khôn quá. Nó nhảy trên
nóc lụp chớ không thèm nhảy trước cái sàn để vướng vào bẫy!
- Cháu nói đúng. Nhưng con
cu mồi của bác còn khôn hơn!
Con cu mồi nhảy nhót, vỗ
cánh ngược lên trời... nhưng bầu trời của nó quá hẹp, nó té xuống. Nó bước tới
sát lưới, quơ chân. Cu đá nhau như gà, dùng mỏ mà cắn, đưa chân mà quào. Con cu
rừng cứ bay quanh quẩn rồi đứng trên lụp mổ xuống, để khỏi sa vào cạm bẫy. Lát
sau, nó bay lên trên cao... trở qua bờ tre gáy inh ỏi, thứ tiếng gáy kém đẹp,
có hai cốt “cu, cu” khi chấm dứt.
Ông Hai Kiểm đưa tay lên miệng,
nhái tiếng gáy để thúc giục cu mồi. Cu mồi lại gáy, khoe giọng thiên phú, đến bốn
cốt. Nắng lên cao. Cu rừng dường như còn phân vân, chưa chịu xáp chiến.
Tư Hưng thở dài:
- Chừng nào nó bay qua
đây...
Ông Hai Kiểm đáp:
- Bữa nay không xong thì chờ
ngày mai, ngày mốt. Ngày mai ngày mốt không xong thì ngày nọ, ngày kia... Gác
được một con cu rừng khôn ngoan, mình vui hơn là gác con cu rừng thứ dại dột.
Cháu mệt mỏi rồi hả?
Tư Hưng ngáp dài:
- Để cháu về nhà, lo cái chuồng
heo.
- Cháu muốn về thì cứ về.
Bác không dám cản cháu.
Nghe vậy, Tư Hưng lật đật cầm
cây sào, bước ra khỏi lùm cây. Ông Hai Kiểm kêu lên thất thanh:
- Làm gì vậy? Cháu về thì về
một mình. Để bác ở lại...
Bảy ngày sau, Tư Hưng đã
quên hẳn chuyện gác cu của ông Hai Kiểm. Hàng ngày, anh ta lo nuôi heo, quét
nhà, sửa sang bồ đựng lúa. Vợ chồng đối xử với nhau êm ấm.
Lúc vợ chồng Tư Hưng đang ăn
cơm chiều, bà Hai Kiểm chạy vô sân, nói hơ hải:
- Tư! Mày thấy bác Hai mày ở
đâu không?
Trời mưa lất phất, lạnh lẽo.
Trận mưa bấc dai dẳng, còn rơi rớt. Tư Hưng nhìn bà Hai Kiểm, thương hại:
- Chuyện gì mà bác gái dầm
mưa? Lâu rồi, cháu không gặp bác trai.
- Ổng đi gác cu với mày mà!
Mỗi ngày mỗi đi, từ bữa đi chung với mày đó.
- Dạ, cháu theo bác trai có
một buổi đầu mà thôi...
- Kiếm bác trai mày giùm
tao! Tao hồ nghi quá.
Lập tức, Tư Hưng buông chén
đũa, chạy ra sau vườn. Trời vẫn mưa. Mặt trời khuất đâu mất, cảnh vật tối om.
Cây gáo đứng trơ vơ giữa đồng như bóng ma trơi. Tư Hưng lục soát bụi cây mua
hôm trước. Lạ quá! Ông Hai Kiểm đâu rồi! Trên ngọn cây, chẳng có cái lụp nào cả.
Tư Hưng thất vọng, trở về. Bỗng dưng, anh ta nhớ tới cái bờ tre bên kia, đối diện
với cây gáo. Anh ta chạy qua, nhướng mắt: giữa bụi tre, cái lụp gác lơ lửng,
trên đó có con cu mồi và một con cu rừng bị lưới chụp.
Cu rừng và cu mồi đều cú rũ,
bất phân thắng bại vinh nhục, lông cánh lù xù vì dầm mưa quá lâu. Nhưng ông Hai
Kiểm ở đâu? Tư Hưng toan kêu lên nhưng sợ làm lộ bí mật nhà nghề. Anh ta bèn
đưa hai tay lên miệng, bụm lại, nhái tiếng cu kêu:
- Cúc cù cu... cu! cu! cu!
Bỗng nhiên, bụi nhãn lồng
nhúc nhích. Có tiếng rên hừ hừ. Tư Hưng ngỡ là ma nhát, sửa soạn co chân tẩu
thoát. Nhưng giọng run rẩy của ông Hai Kiểm vang ra từng đợt:
- Cứu... tao... tao gần chết...
á khẩu...
Tư Hưng cõng ông Hai Kiểm
vào nhà, đốt lửa hơ, cạo gió, mua thuốc cảm mạo, nấu cháo thương hàn... Vài
phút sau, ông Kiểm mới tỉnh táo, nói thân mật:
- Tao chờ đợi... mắc mưa suốt
buổi. Con cu mồi hay quá. Rốt cuộc con cu rừng chịu đá lộn, mặc dù bị gài bẫy
nhưng cũng đá. Vui quá... Ủa! Ngu quá. Con cu rừng đó, tao cho vợ chồng bây nướng
ăn. Hồi xưa, nhiều người đi gác cu như tao, ngồi rình mò dè đâu phía sau lưng
có con cọp đang chờ ăn thịt họ. Gác cu không đem lợi lộc gì ráo mà mình ham.
Cái thói phong lưu đó nguy hiểm lắm. Nếu mày không ra ngoài cứu kịp thì tao á
khẩu, chết luôn ngoài bụi tre rồi. Đó là cái ngu thứ ba: “Làm mai, lãnh nợ, gác
cu, cầm chầu mà!”
Tư Hưng mỉm cười, nhớ đến
cái ngu thứ nhứt, thứ nhì:
- Dạ, hai vợ chồng cháu cỡ
này đề huề lắm. Ba con heo nái đang có chửa, món nợ mà bác bảo lãnh hồi cháu sửa
soạn cưới vợ...
- Tao hiểu rồi. Ráng mà làm
ăn. Thôi tao về kẻo bác gái mày trông đợi.
- Dạ, trời còn mưa lai rai.
Để cháu nhắn tin cho bác gái hay... Còn cái ngu thứ tư nó ra làm sao bác?
- Cầm chầu hát bội. Rằm
tháng Giêng, cháu sẽ thấy. Hễ mình ít “chầu”, bọn đào kép cho rằng mình là thằng
già cầm chầu khó khăn, phách lối, khinh khi kẻ xướng ca vô loại. Nhưng nếu mình
đánh chầu đúng điệu thì có kẻ gièm xiểm, cho rằng mình là thằng già dê, cứ đánh
chấm khen ngợi mấy cô đào trẻ mà quên mấy cô đào già.
Tư Hưng nắm bàn tay gân guốc
của ông Hai Kiểm:
- Bác tử tế quá.
- Sao mày biết? Đừng nịnh tao.
Vợ chồng mày nên ăn ở thuận thảo đi.
Giọng Tư Hưng như ngậm ngùi:
- Bác dám lãnh đủ bốn cái
ngu trên đời... không màng tiếng bấc, tiếng chì. Cái tiêu khiển của bác không
làm hại cho ai. Và bác dám gánh trách nhiệm để cho kẻ khác vui sướng. Cháu phục
mấy ông già xưa quá trời.
Bức tranh con Heo
Gia đình ông hương trường
neo rất nổi danh ở làng Thạnh Hòa. Hồi mới đến lập nghiệp, ông hương trưởng
chuyên nghề đốn củi trong rừng, bà thì bày ra sáng kiến nuôi heo nọc - heo đực,
không thiến - dành để gây giống. Phương châm của hai vợ chồng trẻ thuở ấy là:
“đại phú do thiên, tiểu phú do cần”.
Ông hương trưởng tỏ ra bảo
thủ, giữ cái búi tóc và trung thành với chánh phủ thuộc địa, đến mức chẳng bao
giờ đốn củi lậu thuế. Bà hương noi theo thông lệ cổ truyền. Hễ ai có heo để
nái, muốn cho nhảy đực lấy giống thì bà dẫn con heo nọc tới, kiểm soát cẩn thận,
đề phòng trường hợp thân chủ lợi dụng con heo nọc nọ “nhảy” liên tiếp hai con
heo nái, thay vì một con. Đến ngày heo sinh đẻ, nhơn danh là chủ con heo nọc,
bà được quyền “ưu tiên”, lựa chọn con heo nào khỏe khoắn nhứt - đem về nuôi hoặc
bán lại cho kẻ khác.
Lần hồi, gia đình trở nên
khá giả, ông hương trưởng bỏ nghề đốn củi - mua đất, lập vườn. Theo sáng kiến của
bà, ông cúng cho hương chức đình - liên tiếp ba năm liền, một số tiền khá to
khi tổ chức lễ kỳ yên hàng năm. Lẽ dĩ nhiên, ông được ngồi ở mâm trên tham dự
phần xôi thịt hơi nhiều và hơi ngon. Việc gì đến phải đến. Ông được hương chức
hội tề phong cho làm hương trưởng, cai trị dân làng bằng cách suốt ngày ở không,
thỉnh thoảng đi nhậu nhẹt hoặc mặc áo dài khăn đóng trong dịp đón rước quan chủ
quận, chủ tỉnh thời Pháp thuộc. Thật ra, ông không có quyền hạn gì ráo. Ông muốn
như thế để có thời giờ rảnh rỗi lo việc chăn nuôi, lập vườn.
Nhưng có tiền nhiều để làm
gì? Trong làng Thạnh Hòa, từ mấy năm qua, thiên hạ đàm tiếu:
- Vợ chồng hương trưởng Neo
khờ khạo quá. Có tiền mà sống như người nhà quê, thời “đàng cựu”. Không chừng ổng
bả chưa thấy đèn điện hoặc chiếc xe hơi.
Bà hương trưởng đã nhiều lần
tỉ tê với chồng:
- Bữa nào mình ra chợ... một
lần cho thiên hạ biết mặt. Tôi sợ tốn tiền.
Ông gật đầu:
- Lâu lâu cho nó tốn một lần.
Hơi đâu bà ngán miệng lằn lưỡi mối của thiên hạ. Mấy người kêu ngạo vợ chồng
mình, bà thử nhớ mặt họ. Nè, thằng Tám Theo, làm cu li xe kéo ở chợ rồi thất bại,
trở về xóm này để làm ruộng. Nó tưởng làm ruộng dễ lắm. Ruộng thất, nó sạt nghiệp.
Lại còn thằng Tư Mít, vừa bán hủ tiếu, vừa cờ bạc. Nó “tổ trác” phần vì thua cờ
bạc, phần vì nấu hủ tiếu không ngon. Nó thấy vợ chồng mình làm ăn khá giả rồi
nó ganh tị.
- Đâu phải! Nó khinh vợ chồng
mình hà tiện.
- Mà bà hà tiện thiệt! Họ
nói không oan đâu!
- Hí! Lâu lâu tôi cũng dám
xài tiền một lần. Ông đừng hùa theo người hàng xóm mà chê bai tôi. Bây giờ tôi
nhứt định đi chợ Rạch Giá một chuyến cho... phỉ tình. Tôi chỉ sợ điều này...
- Điều gì? Đàn bà đâu có
đóng thuế thân mà bà sợ lính bắt. Còn tôi thì năm nào năm nấy, đóng đầy đủ. Tôi
là người “chức việc” trong làng.
Bà hương trưởng nói khẽ:
- Ở nhà thì tôi biết khôn biết
dại, ngặt ra chợ ra búa, đi làm sao, đứng làm sao, mua sắm làm sao, tôi chưa từng
biết.
Để tỏ rằng “ta đây xứng đáng
làm chồng”, ông hương trưởng quả quyết:
- Bà đừng lo. Tôi chỉ dẫn
cho bà từng đường đi nước bước. Tuy chưa ra chợ lần nào nhưng tôi giao thiệp
nhiều với mấy người đã từng đi chợ. Bà tin tôi đi.
- Tôi sợ ông xài lãng nhách,
tốn kém nhiều quá.
Ông hương trưởng Neo cằn nhằn:
- Hà tiện gì dữ vậy? Chừng
năm chục đồng đủ rồi.
- Làm gì tới năm chục đồng...
Tính ra là một con heo đúng tạ, hàng trăm con gà mái. Mình đi sáng sớm hoặc hừng
đông cho kịp chuyến đò. Tới chiều, mình đi tàu trở về. Để “thằng bạn” ở nhà,
cho nó coi chừng trộm cướp. Tôi nghĩ cách: chèo ghe ra chợ. Ngặt tốn thêm một
miệng ăn. Nghe đâu ở chợ, mỗi bữa ăn tốn kém bằng năm, bằng mười ở nhà quê.
Ông hương trưởng thở dài:
- Ra tới chợ, mình phải ăn,
phải uống. Xuống tàu đò, mình phải ăn, phải uống.
Bà hương trưởng như chợt nảy
ra sáng kiến:
- Ăn uống dễ quá, tôi lo cho
ông... ăn cành hông. Để coi! Tiền tàu mỗi người bảy cắc, hai người là một đồng
tư, bận đi bận về là hai đồng tám cắc. Mình đem theo năm đồng đủ rồi. Năm đồng
là một phần mười của số tiền mà ông dự định. Sáng mốt mình ra chợ, cho thiên hạ
đừng khinh, ông chịu không?
Chiếc tàu đò Phước Sanh tách
bến từ lâu rồi - kiểu tàu xưa, không có tầng trên. Tất cả hành khách ngồi chen
chúc nhau trên hai hàng “băng” đóng sát be tàu. Hành khách bắt đầu mệt mỏi: máy
tàu nổ quá to, hơi xăng nhớt tỏa ra ngùn ngụt. Tim và phổi của hành khách đều sống
chung trong tình trạng bất bình thường.
Ông hương trưởng Neo đã khéo
léo chen lấn, giành được chỗ ngồi ở khoảng giữa. Lẽ dĩ nhiên, bà ngồi kế bên
ông. Ông cười tủm mãi vì tàu đò ít nhảy sóng. Nhiều người cho rằng hễ đi chưa
quen thì hành khách có thể ụa mửa. Ông nói với bà:
- Sướng hơn đi bằng ghe biển.
Vậy mà thiên hạ đồn đãi lung tung.
Bà đáp:
- Chật chội quá. Làm sao ông
nói với người kế bên... xét giùm. Mỏi cái bắp đùi...
Bây giờ ông mới sực nhớ đến
mớ hành lý quan trọng mà bà vợ cụ bị mang theo. Đó là mớ gà rô ti, vịt luộc gói
khéo léo trong tờ giấy nhựt trình. Bên ngoài, có hai ba sợi dây buộc chặt. Bà vợ
lãnh phần gìn giữ, ôm sát vào mình. Lúc mới xuống tàu, ông đã chỉ dạy:
- Cứ để bên “băng” còn trống.
Nhưng dọc đường, hành khách
tăng thêm. Bà hương trưởng đành ôm gói hành lý vào lòng, đặt trên đùi. Dưới
tàu, vài em bé đi tới lui, bán đậu phộng rang, nước cam, nước xá xị.
Bà nói khẽ với chồng:
- Mấy thứ đó ăn uống vào
sanh bịnh! Đồ ăn thiếu gì, trong gói nè. Cái gì... gói đậu phộng nhỏ xíu, bán
năm cắc!
Ông hương trưởng bắt đầu áy
náy. Kế hoạch tự túc của bà vợ tuy khôn khéo nhưng hơi khác thiên hạ. Bà nói:
- Ăn được chưa?
Khó xử quá! Nếu mở gói “hành
lý”, ăn tại chỗ thì thiên hạ cười chê. Ngược lại, nếu bắt buộc bà ôm cái gói
khá nặng ấy vào lòng thì lại tội nghiệp. Ông nhớ rõ: đêm rồi, bà vợ thức từ hồi
canh tư, bắc nước nhổ lông gà, lông vịt rồi thì luộc, rô ti, bay mùi thơm phức.
Bà lại còn thắp đèn, ra sau vườn hái thêm mớ rau sống: “Rau tốt quá! Bao nhiêu
đây, nghe đâu ở ngoài chợ họ bán tới giá hai đồng bạc. Tội tình gì mình không
hái đem theo”.
- Ăn chưa! Tôi đói bụng rồi!
Nghe bà vợ thúc hối, ông
hương trưởng bắt đầu hơi mệt. Ông cũng đói như bà. Ông rất thông cảm. Ở nhà
quê, vào khoảng chín giờ sáng là ai nấy bắt đầu ăn cơm trưa, tức là buổi ăn lót
lòng sáng và buổi cơm trưa nhập một. Nhưng trong lúc tất cả bộ hành đều tỉnh
táo, chẳng lẽ hai vợ chồng ăn riêng, coi hơi kỳ.
Ông nói nhỏ:
- Chờ lát nữa. Thiên hạ chưa
ăn mà!
Nói xong, ông ho lên một
tràng. Bên hàng ghế đối diện, một người gọi thằng bé bán dạo, mua chai xá xị,
nút mở nghe cái bốp. Nước ngọt chảy từ từ vào cái ly, sôi bọt, ông hương trưởng
không còn nhịn thêm được nữa:
- Bà có đem nước theo không?
Tôi thèm nước trà quá. Uống được rồi. Thiên hạ uống kìa!
Gói giấy từ từ mở ra, rất
lâu, theo ngón tay khéo léo của bà hương trưởng. Bà tháo gút dây cẩn thận rồi
cuốn sợi dây lại, để dành.
- Quăng bỏ đi! - ông nói.
- Để buộc lại chớ. Gà tới
hai con. Vịt luộc cũng vậy. Ăn sao hết, để ngoài gió rủi bụi bặm bay vào hoặc
có con dời nó bò, dính vào thịt gà. Ăn nhằm con dời là chết! Ông quên rồi sao?
- Đem làm gì nhiều dữ vậy!
Tôi tưởng bà làm thịt một con gà, một con vịt, dè đâu tất cả tới bốn con...
- Ăn sáng rồi còn bận về, mình
ăn chiều. Mấy chục năm qua, mình sống bằng nghề nuôi gà vịt, bữa nay ăn một bữa
thỏa thuê. Tốn kém gì? Cây nhà lá vườn mà!
Mấy người bên cạnh đều trố mắt,
lắng tai nghe tâm sự của bà bộ hành đặc biệt ấy. Họ cố gắng che giấu nụ cười.
Bà hương trưởng ngỡ mình có duyên, nói tiếp:
- Hay là ông nhớ thịt heo!
Nhà mình còn hai con heo đúng tạ, bán sớm quá, hơi uổng. Tôi biết tánh ông ưa
ăn thịt heo luộc nên mua hồi hôm qua tới nửa cân thịt ba rọi.
Ông hương trưởng nhăn mặt:
- Nhiều quá, ai ăn cho hết?
Bà vợ vẫn chưa hiểu:
- Tôi xắt từng miếng nhỏ rồi.
Tôi hiểu mà. Dọc đường như vậy, dễ gì mượn tấm thớt với cây dao.
Để chấm dứt sự hiểu lầm ấy,
ông gật đầu:
- Lát nữa hãy ăn. Tôi muốn uống
hè.
Bà hương trưởng đưa ra chai
nước, xung quanh chai có quấn giấy nhựt trình để khỏi dính mùi thịt gà:
- Cái chai sạch thiệt là sạch.
Ông uống đi!
- Bà gói lại đi. Để cái chai
này ở ngoài.
- Vậy hả?
Thấy ông chồng hơi lúng túng
vì chẳng lẽ đưa miệng chai vào miệng mà nốc, bà chắt lưỡi:
- Tôi quên đem theo cái ly,
cái chén. Hồi hừng sáng, tôi nhớ kỹ, đem theo hai đôi đũa để gắp thịt, nhè quên
cái ly uống nước.
- Được rồi!
Vừa nói, ông vừa nâng chai,
uống ừng ực mớ nước trà nguội ngắt rồi trao cho bà. Bà uống, hạ chai xuống, thở
khoan khoái.
- Như vậy đỡ tốn một đồng bạc.
Ủa! Hai đồng bạc chớ. Một chai xá xị là một đồng. Hai chai là hai đồng. Chai gì
mà nhỏ xíu cái ruột. Mình coi kìa!
Ông hương trưởng ngồi im,
không dám gợi chuyện thêm. Tàu cứ chạy. Hành khách bắt đầu uể oải vì đường còn
khá xa. Vài người dựa đầu vào vách mui tàu mà ngủ hoặc bàn tán chuyện riêng tư,
chẳng còn ai chú ý tới sự thắc mắc của hai vợ chồng người đồng hành.
Ông hương trưởng hỏi người kế
bên:
- Gần tới chợ Rạch Giá chưa?
Người nọ đáp:
- Chừng hai giờ nữa.
Ông buồn rầu. Như vậy là
đúng Ngọ tàu mới cặp bến. May thay, tiếng rao lanh lảnh của thằng bé bán hàng
rong đã mở cho ông một lối thoát kỳ diệu:
- Ai ăn cơm sườn không?
Nó bưng hai dĩa cơm nghi
ngút. Đi tới lui. Bà vợ mừng quýnh:
- Chừng này ăn được rồi. Mình
đem thịt gà thịt vịt ra ăn. Tệ quá. Coi dĩa cơm kìa! Bán năm cắc, đâu chừng một
chén cơm với nửa miếng sườn. Tôi đói quá.
Ông đáp:
- Ăn hấp tấp quá, người ta
cười. Mình cứ chờ.
- Kìa! Có người mua cơm. Họ
ăn kìa.
- Nãy giờ tôi suy nghĩ điều
này, bà có nhớ hay quên? Ăn thịt gà thịt vịt với món gì? Để tôi biểu thằng nhỏ
đó bán một cắc bạc cơm, cơm không cho rẻ tiền. Chẳng lẽ mình ăn thịt gà thịt vịt
trừ cơm!
Bà cười tủm tỉm, như kẻ đắc
thắng, thắng một ván cờ khá gay go, với chồng:
- Tôi nấu cơm nếp đem theo.
Nhiều lắm.
- Sao tôi không hửi mùi?
- Hửi làm sao được. Hồi
khuya, rô ti xong con gà tôi thấy nó chảy mỡ quá nhiều. Tôi tiếc hùi hụi, nên nấu
cơm nếp, trộn với mỡ gà. Cơm nếp đó nằm trong gói này. Nó thơm như thịt gà vậy!
Thế là hành khách lại chứng
kiến một cảnh vui vui: gói hành lý, lương thực được mở ra. Bắp đùi của ông và của
bà kề sát lại, trở thành cái mâm. Họ ngồi kề vai nhau; bà tặng cho ông một cái
đùi gà, ông nói lẩm bẩm:
- Bậy quá! Thiếu rượu đế!
- Hí! Uống rượu say sưa,
thiên hạ phiền. Nè, nem sống thiếu gì! Cây nhà lá vườn. Rau răm, rau húng cây,
rau húng lủi... nè dưa leo, nè ớt.
Hành khách đổ dồn hàng chục
đôi mắt về phía đôi vợ chồng già. Bà nói với ông:
- Theo tục lệ, không ai mời
ai cả. Ra đường, mạnh ai nấy lo, tiền ai nấy xài. Thí dụ như chiếc tàu này gặp
giông bão, rủi chìm thì mạnh ai nấy lội. Chết ai nấy chịu. Mình mời lung tung,
thiên hạ không ưa. Bộ mình khinh khi, cho rằng thiên hạ đói hay sao? Họ no hết
rồi. Họ không ăn như mình chỉ vì.... họ no hoặc họ chưa muốn ăn. Mình cứ tự
nhiên, đừng mắc cỡ.
Hai vợ chồng lên bờ sau
chót. Bầu không khí nóng nực quá. Buổi trưa, chợ vắng teo. Hầu hết các tiệm phố
đều đóng cửa hoặc khép bớt cửa cái.
Bà hương trưởng sửng sốt vì
đường đá quá rộng và quá cứng! Chỗ này đá trồi lên lởm chởm, đau chân, chỗ kia,
mặt đường đen thui, nhão nhoẹt, mớ dầu hắc tráng đường chảy ra như dầu sôi. Ông
hương trưởng cắm đầu, bước tới, sát bên lề:
- Mình cứ đi theo tôi! Cứ
theo đường thẳng từ đây tới mé sông. Rồi từ mé sông trở lại bến tàu này, kẻo lạc
lối. Buồn quá!
Ông hương trưởng không muốn
che giấu nỗi buồn vô tận của mình. Người qua lại khá nhiều nhưng chẳng một ai
chịu khó nhìn ông, chào hỏi ông như ở thôn quê. Rõ ràng chợ búa là chốn buồn tẻ,
buổi trưa, muốn tìm bóng mát đâu phải dễ. Vào quán thì sợ tốn tiền. Còn đi như
vầy hoài, thiệt là hành hạ tấm thân.
Nhưng bà vợ phía sau đã nêu
vấn đề:
- Kiếm chỗ nào nghỉ chân một
chút.
- Nãy giờ tôi cũng như bà. Mỏi
quá. Mình vô quán ăn.
- Bộ ông còn đói hả?
- Mình mượn cái ghế mà ngồi...
tạm. Họ tính bao nhiêu thì mình trả. Vài cắc bạc, chớ không lẽ nhiều.
- Phải à, mình kiếm một quán
nào nho nhỏ, uống bậy chén nước trà Huế, không chừng rẻ hơn.
- Ông bà đi chợ! Chào ông
bà! Hân hạnh cho tôi quá.
Lần đầu tiên từ khi lên đường
xa xứ, vợ chồng hương trưởng Neo nghe giọng nói ấm áp, mát rượi như vậy.
Người ấy ngồi trên chiếc chiếu
hơi rách, đang ăn bữa cơm đạm bạc: một dĩa cá kho, một dĩa dưa cải. Ăn một
mình, dựa lưng vào vách.
Ông hương trưởng nói:
- Chào ông! Xin lỗi, ông
quen với vợ chồng tôi hồi nào?
Người ấy vuốt mái tóc, vuốt
hai cái tay áo cho thẳng thớm:
- Chưa quen nhưng tôi biết
ông bà là người khá giả ở trong làng. Mấy khi ông bà ra chợ chơi. Ông bà làm
trong ban hội tề, làm tới chức...
Bà vợ mừng quýnh, buột miệng
nói:
- Chức hương trưởng làng Thạnh
Hòa.
- Mời ông bà ngồi, dùng cơm
với tôi, - người ấy vừa nói, vừa liếc nhìn cái gói hành lý mà bà hương trưởng
đeo trong cánh tay.
Ông liếc về phía vợ, như để
hỏi ý kiến:
- Mình ngồi cho khỏe chân.
Bà gật đầu:
- Rồi ăn luôn với ông này.
Bữa tiệc... khai mạc khá sôi
nổi ấm áp.
Ông bà ăn chiếu lệ vì còn
hơi no. Nhưng anh nọ ăn hơi nhiều, vừa ăn vừa hỏi han về tình hình mùa màng
trong làng Thạnh Hòa. Ăn hết con gà, con vịt, anh ta không ngần ngại gắp mấy miếng
thịt heo ba rọi, nhai ngấu nghiến với rau sống, nhai liền miệng:
- Ngon quá! Heo ngoài chợ ăn
không mấy ngọt bằng heo của ông bà.
Bà vợ gật đầu:
- Nhà tôi nuôi heo nhiều lắm.
Chừng nào rảnh ông vô Thạnh Hòa mà xem. Còn một chuồng... Ông cứ ăn cho hết đi.
- Cám ơn ông bà. Nhưng tôi
biết lấy gì làm kỷ niệm. À... Xin thú thật với ông bà, tôi làm nghề... thầy thuốc,
chuyên bán thuốc nuôi heo mau lớn. Ngặt thuốc bán không đủ, thiên hạ mua nhiều
quá rồi. Phải chi ông bà tới sớm một chút. Chờ xem.
Nói xong, anh ta đứng dậy,
chạy vào ngõ kêu đem ra... một bức tranh: con heo khá to, đuôi cong lên, mình
heo có điểm vòng tròn âm dương:
- Ông bà đem về, dán ngay cửa
nhà, làm ăn phát đạt lắm!
Bà hương trưởng ngắm nghía bức
tranh, gật đầu. Trong khi đó, ông hương trưởng nghĩ ngợi xa xôi hơn. Anh nọ lạnh
lùng gói mớ thịt heo, thịt gà... để làm của riêng, đặt trong góc vách. Trông
anh ta đói quá. Còn đói, còn thèm nhưng anh ta muốn để dành cho buổi ăn chiều.
- Ngộ quá!
Anh nọ gật đầu, đứng dậy như
để... đuổi khách:
- Cám ơn ông bà. Hẹn ông bà
lát nữa hoặc tối nay đi ăn cao lầu... đi coi hát!
Lại một sự tốn kém mới. Ông
hương trưởng chợt hiểu: nếu hắn không là kẻ hoàn toàn bất lương thì hắn cũng
đang sống trong tình trạng... ghiền á phiện hoặc thất nghiệp. Ông lật đật nắm
tay vợ:
- Thôi mình về!
Rồi day lại chào anh nọ.
Bà vợ còn mân mê bức tranh
heo:
- Ngộ quá! Đem về dán trước
cửa nhà. Vui quá! Làm ăn tấn phát, thiệt vậy hả ông?
- Mình về. Đủ rồi.
- Cái hình ngộ quá. Mình thấy
không! Bữa nay toàn chuyện may mắn, không tốn một đồng xu. Coi hình tốt quá.
Ông nói cho bà vợ được hưởng
trọn niềm vui trong ảo mộng xa vời:
- Tốt lắm. Đem về dán trước
cửa. Hễ gà vịt hoặc heo mà đau ốm thì mình van vái cái hình đó. Gà đẻ ra nhiều
trứng, heo mập như thổi, vài ngày đúng tạ... Mình làm giàu, cái tờ cử hương trưởng
của tôi đem danh, cái hình này đem lợi... Đủ danh đủ lợi rồi.
Cái tổ ong
Vừa bước lên sân, việc đầu
tiên của cậu Minh là phóng mắt vào nhà rồi liếc nhanh phía sau sàn nước để tìm
hình bóng cô Kim Em. Hổm rày, cậu mang bịnh tương tư. Nhưng khi đến đây cậu gặp
sự thất vọng.
Ông Tư hỏi:
- Lâu quá, không gặp cháu.
Cháu vắng hổm rày, chắc lo học hành...
Cậu Minh đáp:
- Dạ, cháu không có chuyện
chi. Bãi trường rồi, rảnh rang lắm. Chừng một tháng nữa, cháu mới lên chợ Rạch
Giá nhập học lại.
Thằng Thích chạy tới, nói
xen vào:
- Ba ơi! Cậu Minh đọc sách để
coi kiểu nuôi ong lấy mật ở bên Tây. Hôm qua, con lại nhà cậu, cậu lật sách cho
con coi mấy cái hình ăn ong. Ở bên Tây hễ muốn lấy mật, người ta bận áo mưa, đội
mão, mang bao tay bằng da bò. Hèn gì họ... mình đồng da sắt, không sợ ong đánh.
Cậu Minh nói với con: Hễ con dạy cách ăn ong ở xứ mình cho cậu... ăn được thì cậu
mua cho con một cái “bê rê”, một cây đèn “pin”.
Ông Tư lườm thằng Thích:
- Ai hỏi mà mày lên tiếng. Bỏ
cái tật nói hớt của mày nghe không? Xuống bếp, lo dọn cơm.
Rồi ông day qua cậu Minh:
- Nhằm bữa, cậu ăn luôn với
tôi. Hổm rày nhằm cỡ ong “dàn trận”. Lui cui tối ngày với ba cái mật, cái
sáp...
Cậu Minh vô cùng thắc mắc:
“Cô Kim Em đi đâu vắng rồi? Sao ban nãy thằng Thích rủ mình tới chơi, nó quả
quyết rằng chị Hai nó có ở nhà”.
Phía nhà dưới, nào thấy bóng
hồng thấp thoáng. Gió phăng phắc nhưng mùi mật ong xông lên nồng nực khắp nhà.
Ruồi bay từng bầy, bu lại gần mấy cái thùng thiếc đầy tàn ong mới “xắn” về. Mấy
con ong non ngày non tháng như luyến tiếc ổ cũ, bò ra chung quanh miệng thùng,
quạt cánh nhưng chẳng tài nào bay được. Cậu Minh nói hơi to:
- Chà! Ong nhiều quá. Mật
thơm quá.
Rồi cậu đi lững thững xuống
nhà bếp để xem cách nấu sáp, vắt mật, luôn dịp, tìm bóng giai nhân.
Trong buồng, vọng ra giọng
chanh chua của thằng Thích. Nó đấu khẩu với chị nó:
- Ai biết cơm nước ra làm
sao mà dọn? Sao chị nằm trong mùng hoài vậy? Ra dọn cơm cho người ta ăn. Kỳ cục
quá.
Giọng cô Kim Em trả lời:
- Tao bịnh. Lâu lâu nhờ mày
dọn chén ra mà mày cằn nhằn hả? Hết nói.
- Chị bịnh hả? Hổm rày sao
không bịnh. Chờ khách tới thì chị bịnh... Tôi biết rồi.
- Đừng om sòm cái miệng. Nhớ
đem con cá nướng trên bếp xuống, cạo sơ sơ cho tróc cái lớp khét cháy ở ngoài
da cá.
Thằng Thích trở giọng khôi
hài:
- Ờ phải. Ta biết rồi. Vậy hả?
Cha chả...
Mâm cơm đã dọn ra. Cậu Minh
ngần ngại, leo lên bộ ván nhưng chẳng dám ngồi đối diện với ông Tư. Ông Tư mời
mọc đôi ba lần mà cậu vẫn rụt rè, nói nhỏ nhẹ như con gái:
- Dạ, bác cầm đũa trước,
cháu mới dám.
“Thiệt cái thằng ăn học theo
thời bây giờ mà còn giữ được lễ phép thời xưa”. Ông Tư khen thầm như vậy. Bấy
lâu nay, ông nghe thiên hạ đồn đãi: cậu Minh yêu mến con gái ông. Lúc đầu, ông
chưa tin. Không lẽ cậu Minh lại muốn cưới con gái nhà bần hàn, dốt chữ nghĩa.
Dư luận ngày càng phồng lên, gia đình cậu Minh dường như chẳng lên tiếng đính
chánh. Ông Tư tin là chuyện có thật. Gia đình cậu Minh thuộc vào hạng “có tiếng
mà không có miếng” vì đã phá sản. Gia đình ông tuy vô danh nhưng đủ ăn nhờ nghề
ăn ong mật ở góc rừng này. Con gái ông được nhiều người khen ngợi nhan sắc và nết
na.
Nếu may mà hai đứa nó kết
tóc với nhau, âu cũng là vinh hạnh lớn cho ông. Dường như cậu Minh ưa rủ thằng
Thích đi chơi để “giả đò mua khế bán chanh”, viện cớ hợp lý tới lui thăm người
đẹp. Ngoài ra, cậu Minh bắt đầu nghiên cứu về sanh hoạt của loài ong mật.
Ông Tư lên giọng:
- Bữa nay ăn uống sơ sài
quá. Cá lóc nướng trui mà thiếu rau dấp cá, mất ngon. Nước mắm thì mặn đắng,
thiếu me chua, ớt thì để nguyên trái. Thằng Thích mày sao tệ quá.
Thằng Thích cãi lại:
- Đâu phải tại tôi. Tại chị
Hai đó. Hồi sáng, chỉ còn mạnh cùi cụi. Vậy mà chỉ vô mùng nằm, đắp mền, không
biết đau chừng bịnh gì. Ba hỏi coi!
Nắm lấy cơ hội ấy, cậu Minh
vào đề:
- Dạ thưa bác, cô Hai đau nặng
nhẹ ra sao?
Ông Tư nín cười không được:
- Ối! Đau đớn gì. Vô ý vô tứ
thì ong vò vẽ nó đánh, nóng lạnh một buổi là hết. Ổ ong ngay nóc chuồng heo. Thứ
ong vò vẽ bất nhơn, không có mật vô ích. Lát nữa mày đốt ổ đó cho xong, nghe
Thích. Bữa nào nó đánh tới tao nữa.
Thằng Thích mừng quýnh. Nó
muốn trổ tài, giúp cậu Minh thấy tận mắt thói ăn nết ở của bầy ong. Nhứt định cậu
Minh sẽ vui mừng mua tặng cho nó cái “bê rê” và cây đèn “pin”, theo lời hứa. Nó
ăn lua láo cho mau hết chén cơm rồi từ từ rút lui ra sau hè.
Còn lại ông Tư và cậu Minh.
Cậu cố hướng dẫn cho cuộc đàm thoại đi sâu vào vấn đề... con ong. Hổm rày cậu
chịu khó đọc qua một quyển sách khảo cứu in tại Ba Lê. Cậu hơi to giọng cố ý cho
cô Kim Em trong buồng nghe ngóng:
- Thưa bác, sách Tây nói rằng
ong mật là loại côn trùng có cánh, rất hữu ích cho loài người tự cổ chí kim.
Ông Tư trố mắt:
- Vậy hả? Nếu vậy thì sách
Tây đâu có hay ho gì. Con ong có cánh để bay lẽ dĩ nhiên, ai cũng biết. Nhưng
còn thiếu...
- Thưa bác, thiếu điểm nào?
- Điểm ích lợi... ong mật có
ích cho loài người mà cũng cần thiết cho loài thú. Con gấu trong rừng sống nhờ
mật ong.
Cậu Minh đáp:
- Đúng vậy. Rồi mấy hãng kẹo
bên Tây thường lấy con gấu làm nhãn hiệu. Và mỗi hãng kẹo đều có mướn nhiều ông
kỹ sư, nhiều ông khảo cứu. Họ nhìn nhận mật ong bổ ích cho loài người. Lịch sử
của loài người do loài người làm nên...
- Khó hiểu quá. Ăn thua gì với
con ong.
- Dạ thưa hồi thời Bàn Cổ sơ
khai, càn khôn hỗn độn, trước khi tìm ra lửa để nướng thịt thú rừng, con người
đã nhờ mật ong mà tẩm bổ qua ngày qua tháng, chịu đựng sương tuyết. Đó là nền
văn minh mật ong (civilisation du miel), trước khi có nền văn minh dùng búa dao
bằng đá, bằng sắt.
Liền khi ấy, ông Tư thích
thú, rót rượu đầy chén mời cậu Minh:
- Hay quá. Hồi nhỏ tới lớn,
bác mới nghe cháu nói. Mới nghe qua thì hơi dở nhưng ngẫm lại thì hữu lý.
Cậu Minh hớp chút rượu,
trình bày tiếp, trong khi đó cô Kim Em ho húng hắng..
- Thưa bác, xin nói qua các
nhà chép sử phương Tây. Họ bảo rằng thời xưa mật ong là vật quí. Ong là loài
côn trùng oai hùng chẳng kém loài sư tử. Bên Do Thái dân gian còn truyền tụng
tích chàng dũng sĩ Săm Sông đi tìm nàng Đa Li La. Chàng ta gặp con sư tử cản đường
nên ra tay giết sư tử. Vài ngày sau trở lại chốn cũ thì ô hô! Có một ổ ong khá
to đóng trong lồng ngực con ác thú, khoét gần hết xương thịt.
Ông Tư lắc đầu:
- Cháu nói hơi trật chìa rồi!
Chắc đó là loài ong lỗ, ong vò vẽ, thứ ong đóng ổ ở sau chuồng heo. Thứ đó lợi
hại lắm, ưa ăn thây ma, ăn phân heo. Loài ong mật thì ăn bông thôi, tinh khiết
lắm. Còn gì lạ nữa không?
- Thưa bác, nhà kiến trúc sư
khen loài ong đã biết cất nhà lầu. Ổ ong là tòa nhà 400 hoặc tới 500 tầng. Loài
người ở thời văn minh chưa làm chuyện đó. Mùa nực, ong xúm nhau quạt cánh cho
mát bầy con. Mùa lạnh, ong nằm co rút liền với nhau để sưởi ấm. Nhờ vậy không
khí được tinh khiết điều hòa, chẳng khác gì lò sưởi hay quạt máy.
Ông Tư bắt đầu chán nản vì ở
rừng Cà Mau chỉ có hai mùa mưa nắng và mùa nào cũng nực, ở trần. Ông hy vọng chấm
dứt câu chuyện khá dài.
- Bác ít đi chợ búa nên chưa
rành cái quạt máy, cái lò sưởi... Thiệt là lắm chuyện...
- Dạ còn nữa, bác ơi. Nhà
chánh trị khen loài ong biết tổ chức thành những quốc gia, có vua, có tôi, có
thần dân. Nhà y học công nhận rằng nọc độc của loài ong trị được bịnh tê bại. Họ
khen mấy người ăn ong trong rừng vì người ăn ong giỏi như mấy ông thầy Chà thổi
ống sáo để chỉ huy loài rắn bàn nạo.
- Hơi lạ. Ăn ong với bắt rắn
là hai nghề khác nhau.
- Thưa bác, đó là cách bào
chế thuốc ngừa thiên thời, trái giống. Thầy rắn Chà Và đùa giỡn với rắn hổ, con
rắn cắn không sao hết vì nọc còn non. Rắn lớn lên, nọc càng ngày càng độc. Máu
huyết của thầy rắn cũng quen lần lần với nọc độc. Rủi bị rắn cắn thầy ta vẫn cười
tươi! Người ăn ong ở rừng nào khác thầy rắn. Lần hồi, máu huyết người ăn ong trở
thành lớn, ong đánh không làm đau đớn nữa...
Chén rượu thứ ba đã cạn. Ông
Tư cười hề hề:
- Giống như uống rượu vậy
thôi. Con nít uống rượu mau say, dân ghiền rượu thì coi rượu hơi giống nước lạnh.
Uống đi cháu. Uống cho quen. Rượu còn hiếm hiệm... cháu giỏi quá.
Cậu Minh cao hứng, uống lần
hồi cạn nửa chén rượu đế. Mặt trời sắp lặn, đỏ khé sau rừng nhưng cậu nào hay.
Mặt mày cậu ta cũng hừng lên, đỏ khé như một cái mặt trời nhỏ bé trong căn nhà ấm
áp này.
- Còn nữa hết vậy cháu. Nhà
kiến trúc, nhà y học, nhà làm quốc sự đều khen con ong. Còn nhà gì nữa không?
Thích chí quá. Cậu Minh còn
chờ cơ hội chót này để trút bầu tâm sự cho người đẹp hiểu rõ:
- Thưa bác, con ong ngộ lắm....
Nhà nghệ sĩ nói rằng hễ gặp bông đẹp, nhụy ngọt thì con ong bay trở về ổ, báo
cáo sự tình với đồng loại bằng một điệu vũ tức là nhảy múa. Nhờ điệu vũ đó mà bầy
ong xúm nhau tìm hoa, hút nhụy. Đẹp làm sao! Ổ ong tối mờ mờ như trong phòng ngủ.
Con ong khiêu vũ trong bóng mờ. Khiêu vũ là cách nói chuyện tâm tình của loài
ong. Có nhà thi sĩ cho rằng sáp ong là kết tinh bao nhiêu hương hoa của trời đất.
Trong vũ trụ, đẹp nhứt là hoa. Nhụy hoa được loài ong hút về, tạo ra chất tinh
khiết, xứng đáng cho chúng ta... xe lại làm cây đèn sáp để đọc sách hoặc cúng
vái thần thánh. Con ong lại là... ông Tơ bà Nguyệt, là lá thắm chỉ hồng, đem nhụy
bông đực rắc vô lòng bông cái. Vì vậy, bên sa mạc Phi Châu, cây chà là mới sanh
trái được. Mấy người Ả Rập quí trọng con ong, nuôi ong gần vườn chà là để cho
bông cái chà là đừng trổ ra thứ trái lép xẹp!
Ông Tư ngơ ngẩn vì... cậu
Minh nói hơi nhiều lời, nói hết sách vở mà cũng chẳng ích lợi gì ráo. Nói tới
nói lui rồi cậu ta cũng loanh quanh trở lại chuyện ái tình hơi thô tục.
Ngoài cửa sau, có bóng thằng
Thích lấp ló. Ông Tư hỏi:
- Gì vậy Thích?
Nó trả lời:
- Con muốn rủ cậu Minh ra
ngoài này cho mát.
Ông Tư lắc đầu:
- Mày giả ngộ hả? Muỗi mòng
như trấu. Ra ngoài sau hè để làm gì?
Cậu Minh bắt đầu chán tiệc
rượu vì cậu ta chẳng còn lý luận gì để phô trương cả!
- Thưa bác. Cháu muốn nói
chuyện với thằng Thích. Cháu uống rượu hết vô rồi. Hơi say.
Khi thấy cậu Minh đến cửa
nhà bếp, thằng Thích reo lên:
- Điệu lắm. Không có chỗ
chê. Cậu Minh ơi! Xong rồi. Mời cậu vô mùng kẻo mất cơ hội.
Ông Tư càng sửng sốt, nạt lớn:
- Mày khùng rồi hả? Làm gì
mà vô mùng? Đừng nói bậy.
Thằng Thích nói khẽ:
- Dạ... con giăng mùng ở gần
cái chuồng heo để cho cậu Minh coi cái ổ ong vò vẽ. Cái ồ này kỳ cục lắm. Ba biểu
con phá ổ đó cho xong. Cậu Minh thì muốn con giúp... làm cách nào cho cậu thấy
tận mắt con ong còn sống nhăn...
Ông Tư chép miệng, muốn rầy
thằng Thích nhưng sợ cậu Minh hiểu lầm:
- Ừ! Để tao coi mày làm ăn
ra thế nào!
Cậu Minh đứng ngoài hè, liếc
thấy cái chuồng heo và cả mùng giăng trên bãi cỏ, bốn sợi dây căng thẳng qua bốn
cây chuối hột. Sợ làm phật ý ông Tư, cậu dò hỏi:
- Cháu vô đó với thằng
Thích. Nhà xảy ra chuyện gì nguy hại không bác?
Sực nhớ đến mớ lý thuyết mà
cậu ta vừa nói lúc uống rượu, ông Tư lẩm bẩm:
- Ờ! Thuốc dạy thầy, cây dạy
thợ. Biết đâu cháu thấy chuyện lạ hơn mấy ông bác vật! Đây là ong vò vẽ, đóng ở
góc chuồng heo của... rừng Cà Mau... Hiền lắm... Bác đâu dè thằng Thích nó rắn
mắt. Mặt trời còn chạng vạng, ong nó thấy đường...
Lần đầu tiên, cậu Minh đánh
bạo chui vô mùng. Ngồi bên trong, vui sướng làm sao. Vững như ngồi trong chiến
hào. Ngoài kia, trời nhá nhem. Muỗi bay vo vo. Ông Tư chống nạnh, ho từng chập
và dường như cô Kim Em cũng rón rén đến sát ngưỡng cửa.
Cậu Minh mỉm cười. Qua lớp vải
mùng cảnh vật hiện ra mờ ảo, rung rinh. Mấy tàu lá chuối phất phơ. Con ruồi,
con muỗi còn bay không lọt vào mùng, huống gì con ong vò vẽ. Một đoạn sách mà cậu
đọc sơ qua cho biết: bên Âu Châu, mấy nhà nuôi ong đều sắm những thùng nhỏ, lọng
kiếng hoặc lưới sắt để dễ bề quan sát.
Muỗi dưới mặt cỏ bay luồn
lên, vo ve. Cậu Minh quên đập muỗi, mải nhìn theo hướng ngón tay thằng Thích.
Cái ổ ong vò vẽ lớn tròn, đen thui như cái trống, vừa một ôm. Ghê quá, đất
chung quanh ổ ong chấp chóa, trơn láng. Nắng thoi thóp nhưng còn chiếu thẳng
vào miệng ổ: một cái lỗ nhỏ, có hai ba con vàng bay loanh quanh như canh gác.
Cậu Minh muốn chứng minh
tinh thần hăng hái:
- Nó không ra, làm sao mình
coi được. Xa quá! Này Thích ơi. Phải chi hồi nãy mày giăng mùng sát ổ ong.
Thằng Thích thở nhẹ:
- Nè anh! Tôi đem cây trúc
này vô mùng để dành thọt.
- Làm sao mà thọt?
- Anh vén mí mùng, đưa cây
trúc ra rồi đè mí mùng cho lẹ.
- Tao nghi ngờ quá.
- Để tôi!
Thằng Thích vén mí mùng, đưa
cây trúc ra, nhắm ngay cái miệng ổ ong mà “chọt” tới.
Lẹ như điện xẹt, ba bốn con
ong bay ra, theo cây trúc, chui vào mí mùng trước khi thằng Thích khép lại.
Hai người la hoảng:
- Chết tui. Anh ơi!
- Nó đánh tao. Ui da! Trời
ơi! Thích ơi! Chạy ra được không?
Tình thế thật khó xử. Chạy
sao kịp. Hàng ngàn con ong ào tới đậu ngoài mùng đen thui từng cục, từng dề...
chớp cánh nghe lào xào. Vài con xung phong lách mình xuống gốc cỏ, chui rèn rẹt
vào mùng như con kiến.
Bên ngoài, ông Tư kêu la ỏm
tỏi:
- Dại quá vậy. Tại sao giăng
mùng mà không trải chiếu cho sát mặt đất? Giăng mùng lơ lửng như vậy đó. Ráng
chịu trận.
Cô Kim Em đứng nép vào bệ cửa,
lỡ cười lỡ khóc: thằng Thích và chàng trai thông minh kia đang bị nhốt trong
mùng.
Chập sau, mặt trời lặn khuất.
Bầy ong gom về ổ. Ông Tư bước tới, cầm một cái bao bố, khom lưng rồi thừa cơ hội
thuận tiện, gói trọng cái ổ ong vào bao, chạy nhanh trở lại mương, nhận xuống
nước: ong chết ngộp. Cô Kim Em tuân lời cha, xuống mương đem cái bao lên. Cái ổ
ong được phá ra. Ong non trắng phau, lúc nhúc, gom hơn một thúng, đem lăn bột
chiên ăn trong đêm ấy...
Cậu Minh uống rượu khá nhiều,
ôm thằng Thích mà ngủ cho tới sáng...
Vào tháng sau, cậu Minh cưới
cô Kim Em. Họ sống không mấy yên ổn, vì thời cuộc. Lần hồi, họ tản cư lên Sài
Gòn. Chàng làm thơ ký ở một tiệm bán kem, nàng thì thủ phận đêm đêm gánh chè đậu
kiếm thêm tiền để nuôi nấng bầy con sáu đứa. Chàng và nàng đều dính dáng tới
“chất ngọt” nên càng thương, càng tiếc mùi mật thơm lành của quê nhà, thuở ban
đầu. Nhứt là những đêm mưa gió, vợ chồng ngậm ngùi nhìn nhau không nói một câu.
Ngọn đèn điện mập mờ gợi hình ảnh ngọn đèn sáp từ đâu lạc đến, đổ lệ hàng đêm,
chẳng bao giờ lụn để soi sáng trang sách của cuộc đời bao la: cuộc đời vừa xới
mật vừa dễ hiểu nhưng họ chưa bao giờ hiểu - như cái ổ ong bên cạnh chuồng heo.
Cái Vali bí mật
Ở đây là hòn Móng tay, cách
bờ biển hơn hai mươi cây số ngàn. Tàu ngoại quốc thỉnh thoảng chạy qua lại
ngoài xa xa. Ghe đánh lưới, ghe buôn lậu ít khi nào ghé vì trên hòn chỉ có một
ngọn suối quá nhỏ, cạn khô khi trời vừa trở nắng.
Ấy thế mà Hai Khoánh ra đây,
sống lây lất từ bốn tháng trường. Anh ta kéo chiếc ghe lên bãi, che giấu cẩn thận
trong bụi cây đầy gai. Cái ngày trở về đất liền, sống chung với xã hội loài người
còn xa lơ xa lắc. Kẻ tù vượt ngục dường như sẽ được ân xá, nếu hắn trốn thoát
vòng tập nã của nhà nước Pháp suốt hai mươi năm. Hồi bị giam ở khám đường Rạch
Giá, Hai Khoánh nghe một bạn tù giảng giải như vậy. Hai Khoánh chưa vội tin vì
người bạn ấy nào phải quan tòa hay thầy kiện mà rành luật lệ.
- Tại sao nhà nước ân xá nếu
mình trốn được hai chục năm?
Người bạn đáp:
- Vì suốt thời gian ấy mình
ân hận, ăn không ngon, ngủ không yên. Nếu mười bảy, mười tám năm trôi qua mà
mình còn hung bạo, cố lỳ thì tới năm thứ mười chín, hai mươi mình cũng sám hối...
Nghe lời hữu lý ấy, Hai
Khoánh cương quyết tẩu thoát. Thừa lúc bọn lính mã tà dẫn đi nhổ cỏ trong vườn
bông của ông chánh chủ tỉnh, anh ta co giò, chạy nhanh ra bãi biển, cướp chiếc
ghe lưới, xổ buồm... nhờ gió đưa ra hòn Móng Tay. Lâu ngày sanh buồn bực, anh
ta lén lút vô bờ, ăn trộm gà vịt, xúc gạo của dân miền duyên hải để rồi trở ra
hòn Móng Tay, nơi hoang vu chẳng một bóng người.
Một sáng, khi thức dậy, Hai
Khoánh nằm trên vồ đá khá cao chợt thấy có một chiếc ghe chạy thẳng vào bãi. Từ
dưới ghe, một người cao lớn, mặc quần áo đen bước lên, tay xách vật gì giống
như cái va li. Người nọ day lại, vẫy tay, tức thời chiếc ghe nọ quày mũi chạy
trở về mất dạng phía đất liền. Hai Khoánh rất đỗi vui mừng. Người nọ nhứt định
không phải là mật thám hay lính mã tà theo dõi tung tích của mình! Chắc hắn ta
buôn lậu, bị tàu “đoan” rượt nên lên hòn Móng Tay để ẩn thân, giấu mớ vàng hoặc
á phiện. Không bỏ lỡ cơ hội, Hai Khoánh lập tức theo dõi kẻ lạ mặt. Hắn theo
con đường mòn duy nhất mà Hai Khoánh đã dọn sẵn. Độ nửa giờ sau, nhờ rình núp
sau tảng đá khá to, Hai Khoánh nghe tiếng lá khô xào xạc. Hắn lú ra, gương mặt
mệt nhọc, đưa hai bàn tay ôm cái va li trước ngực.
- Phải là vật nặng đôi ba chục
kí lô! Hắn trông lạ quá, mắt xếch, cườm tay xăm hình con rồng. Từ hồi nào tới
giờ, mình chưa gặp hắn lần nào!
Bỗng dưng khách lạ dừng bước.
Hai Khoánh nín thở, ngỡ rằng hắn đã đánh hơi, hồ nghi có kẻ đang rình! Nhưng
Hai Khoánh lầm to. Khách lạ cúi mặt, bước vòng quanh để khỏi đạp lên một con cuốn
chiếu. Con cuốn chiếu thu mình, khoanh tròn như khu ốc. Hắn nhặt nó, đưa lên
mũi hửi rồi khom lưng thả nó trên chiếc lá khô.
Hắn leo lên ngọn cây thao
lao, một tay vịn nhánh cây, một tay nắm quai chiếc va li. Hai Khoánh hiểu rằng
hắn quan sát địa thế, tìm nơi an toàn nhứt. Rồi hắn trở xuống đất, cố sức trèo
lên gành Đá Trắng.
- Được rồi! Mình đi nom
theo, hắn sẽ giựt mình. Hắn như con cọp hoang. Trước khi đánh cọp, mình nên biết
cọp làm ổ ở chỗ nào rồi mới “điệu hổ ly sơn”.
Chờ khi hắn khuất dạng, Hai
Khoánh trở về động đá dưới sườn đồi, lục lạo mớ cơm nguội còn sót trong nồi đất.
Đêm đến, anh ta nằm co chịu lạnh, không dám đốt lửa...
Hôm sau, Hai Khoánh mặc quần
rách, ở trần, lên bờ suối hái mớ rau má, chặt ống tre lồ ô để đựng nước.
Từ phía sau lưng, Hai Khoánh
chợt nghe tiếng gọi:
- Chú em ơi!
Người vừa gọi chính là “hắn”.
Hắn cũng ở trần, ngồi dựa lưng vào bó củi khô. Hai Khoánh hỏi nhanh:
- Ủa! Ai đó?
Rồi lộ vẻ sợ sệt, để khách lạ
đừng chạy đi chỗ khác. Hắn đưa tay ngoắc, với thái độ đàn anh kẻ cả, nói đúng
hơn là hắn tự phong chức chúa đảo.
Khách lạ mỉm cười:
- Vậy mà tôi tưởng ở hòn
Móng Tay này chẳng có ai, trừ tôi ra.
Hai Khoánh gật đầu:
- Tôi cũng nghĩ như “đại ca”
vậy. Dè đâu còn người thứ hai là... “đại ca”. Đại ca tới đây hồi nào? Lập nghiệp
bao lâu năm ở sườn đồi phía mặt trời lặn hay phía mặt trời mọc? Đại ca có vợ
con gì chưa?
Khách lạ bèn móc trong túi
đem ra gói thuốc rê, vét mớ thuốc nát, chia cho Hai Khoánh một điếu. Khách giới
thiệu:
- Tôi vừa giết vợ...
Rồi lẩm bẩm, nhìn chòng chọc
vào mắt Hai Khoánh:
- Giết vợ rồi giết luôn
con...
Hai Khoánh kêu lên:
- Ngán quá! Vợ con của ai?
- Của tôi chớ của ai? Ông
già vợ tôi đánh mõ, tri hô... Nửa đêm, xóm giềng xách gậy, xách hèo tới vây bắt.
Tôi ra bờ biển, mướn người đưa ra ngoài hòn để ở tù theo ý muốn của mình. Còn
chú em?
- Dạ, tôi ăn cắp vặt trong
xóm vì túng tiền, thua cờ bạc, nợ nần kêu réo. Chủ nợ thưa tôi. Tôi ở khám Rạch
Giá, chạy ra đây.
Khách lạ nhướng mắt:
- Giỏi thiệt. Nhưng khi trốn,
chú em có giết bạn tù hoặc lính của tù không?
- Không.
Khách đưa tay vỗ nhẹ lên đầu
Hai Khoánh:
- Xin lỗi. Thế là chú em...
phải làm em nuôi của tôi. Tội của chú em nhẹ quá. Bất quá, nhà nước Tây chồng
án. Hồi đó chú em bị kêu án mấy tháng?
- Hai năm.
- Mai chiều, rủi ro bề gì
chú em ở bốn năm, chồng án gấp đôi. Còn tôi đây thì...
Bấy giờ, Hai Khoánh tung ra
luận điệu: nếu trốn thoát suốt hai mươi năm thì kể như trắng án. Khách lắc đầu:
- Chú em ở đâu?
Hai Khoánh đáp thật tỉnh, cố
ý mời khách lạ đến hang đá của anh ta để rồi sau đó, anh ta đến thăm viếng xã
giao, dò xét cái sào huyệt... có chiếc va li quá nặng của khách. Vừa bước vào
hang khách mừng rỡ quá mức, thấy món gì cũng thèm.
- Chuối chín hả? Cho vài
trái coi! Chuối ở đâu vậy! Tôi mới trốn ra đây vài bữa, cơm gạo, áo quần, thức
ăn... món gì cũng thiếu. Còn thứ gì ăn được nữa không?
Hai Khoánh cố che giấu sự
khinh bỉ đối với anh chàng “đại ca” nhỏ nhen ấy. Nhưng gây gổ, giảng luân lý với
kẻ giết đàn bà, giết con nít là điều ngu xuẩn, hơi đâu khảy đờn vào tai trâu,
múc nước đổ lá môn. Phải tương kế tựu kế, áp dụng triệt để câu quân tử tham
tài, tiểu nhân tham thực:
- Dạ, tôi vừa gài bẫy, bắt
được một con gà rừng, buộc giò nó ngoài gốc cây...
- Cho tôi mượn luôn...
Hai Khoánh chẳng tài nào chịu
đựng nổi con người khả ố đó nữa!
- Để tôi ăn chớ! Nếu thèm, đại
ca chia nửa con.
- Tôi muốn ăn bộ đồ lòng gà.
Vừa nói, khách lạ vừa bước tới,
vặn họng con gà rừng, rút trong lưng quần đem ra một “cây dao con chó”, mổ bụng
gà, cắt gan, ruột và thịt nạc ở đùi.
Khách từ giã. Hôm sau khách
lại tới viếng Hai Khoánh:
- Còn gạo không? Chừng nào
chú em vô trong bờ mua gạo?...
Hai Khoánh đáp:
- Dạ, sáng mai.
- Nhớ kiếm cho tôi một hộp sữa
bò, một cân bột nấu chè ăn chơi.
Hai Khoánh cau mày:
- Dạ, tôi ăn cắp gạo của
thiên hạ. Sữa bò và bột là những món phải mua tại tiệm quán, lúc ban ngày, với
tiền bạc sòng phẳng.
Khách lạ gãi lưng sồn sột:
- Dễ quá. Tôi chỉ chỗ giùm
chú em... Ở xóm Rạch Giồng, tiệm quán bán tới khuya, tư bề vắng vẻ. Tôi thèm sữa
bò quá chừng quá đỗi. Chú em phải đi gấp. Bằng không thì đừng vác mặt trở về
hòn Móng Tay này. Cực chẳng đã, tôi phải nhờ tới chú em. Chẳng lẽ tôi lén về để
họ nhìn mặt, bắt bỏ tù mãn đời. Tôi muốn sống chừng... mười lăm năm nữa... Ờ!
Đúng mười lăm năm nữa là đủ.
Hai Khoánh xuống ghe, trương
buồm... Bao nhiêu công chuyện quan trọng to tát mà anh ta cần thực hiện! Rõ
ràng “khách lạ” nọ là kẻ gian mà không ngoan. Hắn thú nhận đã giết vợ con, quê
quán ở Rạch Giồng, người ở Rạch Giồng có thể nhìn mặt hắn. Va li của hắn chứa một
số vàng bạc hoặc á phiện lậu đủ cho hắn... ăn chơi đến mười lăm năm ròng rã.
Vừa tới Rạch Giồng, Hai
Khoánh đến tiệm tạp hóa, uống liên tiếp hai chén rượu. Việc sát nhơn của “khách
lạ” còn nóng hổi, dân chúng bàn tán xôn xao. Đại khái, “khách lạ” nọ tên là
Nguyễn Văn Hi, làm mướn cho ông chủ Tân, nhờ ăn nói có duyên, tên Hi tư tình với
con gái chủ nhà. Cô gái nọ mang thai. Để cứu vớt danh giá cho dòng họ, chủ Tân
đem con gái gả cho một phú thương, tuổi hơn năm chục, đã chết vợ. Tên Hi buồn rầu,
bỏ xứ đi bặt tăm tích.
Bốn năm sau, tên Hi lại xuất
hiện, giết người tình và đứa bé.
Hai Khoánh hỏi người chủ tiệm:
- Nhà ông chủ Tân gần hay
xa?
- Cái nhà ngói ba căn hai
chái kia kìa!
- Thằng Hi hèn hạ quá!
Chủ quán nói:
- Nó hèn nhưng nó có tài cao
bay xa chạy nên nó cứ sống nhăn hoài. Nghe đâu ông chủ Tân đặt giải thưởng năm
trăm đồng cho ai điểm chỉ nơi tên Hi ẩn náu.
Thế là Hai Khoánh vững bụng.
Anh ta sẽ điểm chỉ tên Hi để lãnh thưởng, để loại trừ một kẻ giết vợ giết con,
để thanh toán một người bạn quá tham ăn, bóc lột kẻ yếu thế. Hai Khoánh lẩm bẩm:
- Nếu không mang tội giết
người, tên Hi còn hung dữ gấp mười. Mình làm một việc... nhơn đạo, đoái công
chuộc tội.
Đến nhà ông chủ Tân. Hai
Khoánh lân la, tự giới thiệu rồi trình bày kế hoạch. Chủ Tân mừng quýnh vì Hai
Khoánh tả rất đúng hình dáng kẻ sát nhân, mắt xếch, có xăm nơi bắp tay. Chỉ có
một chi tiết khó hiểu: chiếc va li đựng vàng hoặc á phiện lậu, đã cho tên Hi sống
trên nhung lụa suốt mười lăm năm.
Chủ Tân nói rỉ vào tai Hai
Khoánh:
- Tôi hứa chia phân nửa cái
va li á phiện đó với chú em. Hạ được thằng Hi, tôi hả dạ rồi. Điều quan trọng
là đừng cho ai biết nó mang cái va li kẻo thấu tai chủ quận, chủ tỉnh. Tôi gởi
chú em đi Châu Đốc, cuốc rẫy tại Núi Dài, nơi nhà người bà con. Ở Núi Dài, dân
trên núi sống thảnh thơi, Tây tà chẳng bao giờ dám tới xét giấy thuế thân. Với
phân nửa va li á phiện, chú em sẽ mua đất, trở thành điền chủ.
Hai Khoánh cau mày:
- Tôi chỉ buồn buồn... Thiên
hạ sẽ đàm tiếu, họ khinh khi cho tôi là đứa phản bạn!
Chủ Tân cười giòn giã:
- Chú em kết bạn, uống máu,
ăn thề với nó hồi nào mà sợ thần thánh... hoặc lương tâm cắn rứt? Dễ quá, lúc về
già, chú em cất một cái am ở sườn Núi Dài, tha hồ ăn năn sám hối. Vả lại, đạo
Phật, đạo Lão đều dạy mình trừng trị kẻ gian tà. Nhà nước Tây bắt Tư Hi bỏ tù
vài mươi năm chớ đâu chặt đầu, xử bắn nó.
Tối hôm ấy, Hai Khoánh vạch
ra một kế hoạch khá tinh vi. Tên Hi luôn luôn đứng trên gành Đá Trắng để theo
dõi những người lạ mặt bước chân lên hòn Móng Tay. Hai Khoánh về hòn trước một
mình, mang theo đậu xanh, sữa hộp và thuốc hút.
- Nó là đứa ham ăn. Gặp đồ
ăn, nó mừng quýnh. Sẵn dịp, tôi lên chót hòn, thăm viếng sào huyệt của nó. Ông
dẫn bọn gia nhân tới sau, cho ghe cặp bãi lúc ban đêm. Ông cứ tới hang đá của
tôi. Dọc đường, hễ đi được năm sáu bước là tôi bẻ một vài đọt cây để làm dấu.
Phải tìm cho được cái va li của nó.
Chú Tân nói:
- Nghĩa là tối mai tôi ra
hòn. Sáng mốt, tôi theo dấu, tới hang của chú em rồi lên gành Đá Trắng, sào huyệt
của thằng Hi... Tôi nói thêm một điều này cho chú em vui mừng: Thằng Hi không
biết võ nghệ. Nó chỉ có tài phóng dao mà thôi. Phóng dao chỉ có kết quả khi nào
hai người đứng cách xa. Chú em nhớ coi chừng cây dao nó giấu đâu đó. Tôi mang
theo hai người võ sĩ, bạn cũ của thằng Hi. Hồi xưa, thằng Hi đánh lộn, vật lộn
thua xa hai người đó.
Hai Khoánh ngồi trong hang
mà chờ đợi. Anh ta đoán chừng: ông chủ Tân và bọn gia nhân đã có mặt tại hòn
Móng Tay từ hồi hôm. Tại sao tên Hi chưa rời gành Đá Trắng xuống đây? Hay là cơ
mưu đã bị tiết lộ?
Ngoài cửa hang, kìa... tên
Hi đứng thấp thoáng. Hai Khoánh mừng quýnh, kêu to:
- Anh Hi!
Tên Hi trợn mắt một thoáng rồi
giữ vẻ mặt hồn nhiên bước vào, Hai Khoánh nghe trống ngực đánh thình thịch, nhận
rằng mình đã vô ý, gọi hắn đích danh, hắn có thể nghi ngờ.
Vừa vào hang, hắn hỏi nhanh:
- Sữa bò đâu? Tôi thèm thứ
đó quá.
Hai Khoánh trao cho hắn hai
hộp sữa:
- Lát nữa mình khui ra, uống
mỗi đứa một chén, bổ khỏe lắm.
- Đâu được. Mình đem sữa bò
lên gành Đá Trắng dự trữ phòng khi đau ốm. Sữa bò là vị thuốc. Sao! Ở Rạch Giồng,
thiên hạ làm ăn vui vẻ chớ? Có ai nhắc tới tên tôi không?
- Dạ, tôi lén ăn trộm rồi về,
sợ ngoài này đại ca nóng lòng trông đợi. Đói bụng quá. Đại ca có món gì ăn sốt
dẻo không?
- Có gì đâu! Bây giờ mời chú
em lên gành Đá Trắng thăm mấy “nhà cửa” của tôi một lần cho biết. Tụi mình sẽ uống
một vài hớp sữa cho khỏe.
Hai Khoánh mừng ra mặt. Anh
ta đi theo sau tên Hi. Thỉnh thoảng, Hai Khoánh với tay, ngắt một vài đọt cây,
bỏ lại sau lưng để làm dấu cho chủ Tân theo dõi.
Đến cách gành Đá Trắng chừng
mười bước, tên Hi ngồi xuống:
- Chú em mệt chưa?
Hai Khoánh sanh nghi “phải
chăng hắn rủ mình lên thủ tiêu cho gọn”?
Tên Hi xăn tay áo, cầm hai hộp
sữa bò, nhìn nhãn hiệu rồi cười giòn:
- Chú em đừng sợ sệt. Lát nữa,
tôi chết.
Hai Khoánh hốt hoảng:
- Dạ, đại ca đừng nói bậy.
- Chú em ngồi xuống. Chú em
làm gì mà biết tôi tên Hi? Đừng nói dối với kẻ sắp chết như tôi. Chú em phản
tôi, kêu thằng cha chủ Tân ra đây hả?
Nói xong, tên Hi lắc đầu, tiếp
lời:
- Sao. Chủ Tân nói sao? Nó nói
tôi giết ai?
Hai Khoánh cúi mặt, im lặng.
Tên Hi rút cây “dao con chó”
nạt to:
- Nói thiệt đi. Chủ Tân nói
tôi giết ai?
- Dạ... dạ... nó nói đại ca
giết vợ rồi giết luôn đứa con mới ba tuổi.
Tên Hi cười sặc sụa:
- Chú em là... đồ con nít,
bày mưu điệu hổ ly sơn để chiếm đoạt cái va li hả? Chừng nào chủ Tân tới đây?
Nói mau...
- Dạ, lát nữa ổng tới.
Rồi Hai Khoánh chắp tay lạy:
- Em có tội đáng chết. Xin đại
ca trốn tránh đi. Em chịu trách nhiệm với chủ Tân. Thà là nhà nước Tây bắt em bỏ
tù, chồng án. Em đâu dám để họ bắt sống đại ca.
Tên Hi chẳng cần nghe lời
nài nỉ của Hai Khoánh. Hắn trèo lên gành đá, nép mình rồi trở xuống:
- Nó tới bây giờ, nó đi với
hai thằng thầy nghề võ. À! Lát nữa chú em dẫn nó qua cái hang của tôi. Đây nè!
Hai phút sau. Hai Khoánh trố
mắt, thấy một đứa bé mạnh khỏe chừng bốn tuổi đang bú tay. Trong hang, có manh
chiếu nhỏ, cái gối nhỏ.
Thằng bé chạy lại ôm chân
Hi.
Tên Hi hôn nó rồi trao cho
Hai Khoánh.
Hai Khoánh run tay:
- Trời!
- Đừng cãi lời tao. Nó nằm
trong cái va li của tao đó. Nó là cục vàng, là cục á phiện lậu của tao đó. Đem
nó trả lại cho chủ Tân. Nó ăn cực không được. Nó đòi ăn chuối chín, ăn gan gà.
Suốt đêm, nó dứt sữa rồi mà còn đòi bú...
Nói xong, tên Hi chép miệng:
- Hai Khoánh! Mày tệ quá.
Hai Khoánh ôm mặt khóc. Tên
Hi tiếp lời:
- Khóc làm gì? Mỗi lần mày học
khôn như vầy là một phen giết hại thiên hạ. Tao đi đây...
Đoàn người trở xuống sườn
núi. Ông chủ Tân bồng đứa cháu ngoại, hai tên võ sĩ cúi đầu. Hai Khoánh nhìn
dáo dác ra phía sau.
Bỗng nhiên, Hai Khoánh ôm ngực,
ngã xuống.
Chủ Tân la hoảng:
- Nằm xuống! Nó tấn công.
Tên võ sĩ thứ nhứt đỡ Hai
Khoánh:
- Thằng Hi trổ tài phóng dao
bay! Giỏi thiệt.
Chủ Tân nói gắt:
- Thằng Hi! Nó là đồ chó chết.
Trời hại nó.
Tên võ sĩ thứ nhì trợn mắt:
- Đừng chửi thằng Hi. Kìa...
Nó chứ ai?
Từ trên gành Đá Trắng, một
bóng người lảo đảo rơi tõm xuống biển sâu thẳm.
Cao khỉ U minh
Tôi ngả lưng vào gốc cột, nằm
lim dim. Mùi rượu đế xông lên khiến mắt tôi lờ đờ, hơi thở bắt đầu nóng như sắp
nhiễm bịnh cảm cúm. Ông Tư Huỳnh nói to:
- Thầy Hai bỏ cuộc rồi sao?
Ăn thêm nữa chớ. Rừng U Minh thiếu gì cá.
Tôi đáp:
- Thầy nói vậy đâu được. Ăn
nhiều để trừ bịnh tật. Xưa nay, kẻ ăn ít thường chết sớm.
Ông Tư Huỳnh vói tay ra sau
lưng đập muỗi, xòe bàn tay lốm đốm máu tươi cho tôi xem rồi tiếp lời:
- Mỗi ngày mình mất bao
nhiêu máu, nếu không ăn nhiều để tẩm bổ thì chết luôn. Hơn nữa, mùa này mà nhịn
thì đợi bao giờ mới ăn!
Lý luận của ông Tư Huỳnh khiến
tôi ngồi dậy, ăn thêm, ăn mãi. Từ phía nhà bếp, con gái ông Tư Huỳnh lui cui nướng
cá. Chúng tôi đã ăn tuốt năm con cá lóc to - gọi là cá lóc nái, mỗi con nướng
chín thơm phức, nằm trên miếng lá chuối tươi. Sau khi dùng đũa xẻ một lằn dưới
bụng cá, chúng tôi trải con cá ra, gắp chừng ba bốn đũa là quăng bỏ cái xương sống
cá, mặc dầu trong xương còn dính khá nhiều thịt. Ông Tư Huỳnh lãnh phần thanh
toán bộ ruột, nuốt gan và mật cá:
- Ồ! Cái mật cá đắng thiệt
nhưng vị đắng đó ngọt xớt, trị bịnh yếu mật. Còn cái đầu cá, ngon lắm, thầy Hai
ăn đi. Cứ gắp hai cục thịt ở gò má con cá là đủ. Nghe đâu ở Biển Hồ Nam Vang,
người ta đem thứ gò má ấy phơi khô, nhậu rượu ngon lắm.
Chập sau, tôi lại ngán ngẩm,
sợ mang chứng trúng thực. Ông Tư Huỳnh nói:
- Chưa hết. Bây giờ mình ăn
qua món cá sặc rằn...
Mỗi gắp là bốn hoặc năm con
cá, mỗi con sặc to bằng bàn tay xòe, tươm mỡ. Ông Tư Huỳnh mời mọc:
- Ăn thêm nữa đi.
Tôi cầm đũa, chưa gắp miếng
cá nào chợt nghe ông nói to với đứa con gái:
- Nướng thêm một chục con cá
nữa. Nghe chưa con!
Tôi vội cản ngăn:
- Thưa ông, đủ rồi.
- Chưa đủ đâu, thầy Hai. Ăn
nhiều cho đủ sức lực. Bà con xứ này nhờ ăn cá mà khỏi chết vì bịnh rét rừng. Muỗi
cắn, sanh bịnh rét. Nhưng nhờ muỗi mà cá được mập mạp. Cá U Minh lớn con nhờ ăn
muỗi, ăn lăng quăng quá nhiều. Mình ăn cá, tức là ăn thịt muỗi. Tóm lại, vì muỗi
mà mình mang bịnh, vì muỗi mà mình có đủ cá ăn để ngừa bịnh...
Vừa rồi, ông Tư Huỳnh vừa dạy
tôi cách ăn cá sặc rằn nướng, “mỗi con ăn hai đũa”. Ta cứ cầm đũa, giẻ một bên,
đưa vào miệng rồi thì trở con cá, giẻ thêm đũa nữa, giẻ xong, cứ quăng cái
xương cá... Tôi ngậm ngùi nhìn đống xương cá vun lên khá cao, nếu rỉa cho kỹ,
trong đống xương đó còn dính chừng một kí lô cá.
- Mình lãng phí quá, thưa
ông...
Ông Tư nheo mắt:
- Ăn theo kiểu ông bà để lại.
Ở sau hè này, còn một cái nền nhà xưa, từ đời nào không ai biết. Tôi đào nền
nhà đó, tìm vàng bạc. Biết đâu hồi xưa, Gia Long tẩu quốc đã hạ trại tại đó rồi
bị quân Tây Sơn rượt, bỏ quên nhiều món ngọc ngà châu báu. Rốt cuộc tôi gặp từng
đống xương cá. Thầy Hai hiểu chưa? Hồi xưa, họ ăn như bọn mình từ nãy giờ.
Tôi mang tật hiếu cổ nên mừng
quýnh:
- Vậy hả ông? Lát nữa, nhờ
ông dẫn tôi ra nền nhà đó.
Ông Tư Huỳnh nói:
- Cỏ mọc um tùm như trước
sân nhà này, vậy thôi.
- Nghĩa là rắn ở đó chớ gì!
- Rắn thì không đáng ngại.
Chỉ ngại một điều khó nói trong lúc đang ăn...
- Thưa ông, chuyện gì quan
trọng?
Ông Tư ghé miệng sát bên tai
tôi, nói thật khẽ:
- Mấy cha nội giăng câu, đốn
củi thường tới cái nền nhà xưa đó mà... phóng uế. Hôi hám lắm.
Tôi thất vọng, buột miệng
nói một câu sầu thảm:
- Uổng quá. Nếu ở xứ khác,
có lẽ cái nền nhà xưa đó trở thành nơi quan trọng, được các nhà bác học chiếu cố
tới.
- Thầy Hai nói thiệt hay nói
chơi đó?
- Dạ, nói thiệt chớ. Mấy đống
xương cá vụn đó là những “sử liệu biết nói”. Nó ghi lại hình ảnh oai hùng của
người... đi khai hoang. Và biết đâu, nó đánh dấu những nơi của loài người ở rừng
U Minh từ ngàn năm về trước. Ở xứ Đan Mạch, các nhà khảo cổ đã gặp nhiều đống vỏ
sò, vỏ ốc quến cục với nhau, chôn vùi trên bờ biển. Bên cạnh mớ vỏ sò ốc đó còn
nhiều thanh củi, tro bếp. Họ phỏng định: xưa kia hồi thời cổ sử, loài người tới
đó cư trú... Lại còn nhiều món đồ gốm thô sơ nữa. Nếu tìm cho kỹ, biết đâu cái
nền nhà sau hè này là...
Ông Tư Huỳnh cười giòn:
- Thầy Hai điên chữ rồi? Thầy
muốn nói đó là dấu tích của người Bàn Cổ hả? Ăn cá là kiểu săn bắn, hái trái
cây chớ gì?
- Dạ, ông nói đúng. Ở xứ
sình lầy, phù sa mộ địa, người Bàn Cổ bắt cá ăn thịt thay thịt nai, thịt chồn
và hái rau rừng ăn thay cho trái cây...
Hồi lâu, ông Tư Huỳnh nói:
- Dễ lắm. Ở xóm này có Hai
Khị là người già nua, hiểu rành chuyện xưa tích cũ, ăn nói có đầu có đuôi. Nếu
muốn biết về những người Bàn Cổ ở rừng U Minh, thầy Hai nên tới thăm Hai Khị một
phen. Như vậy chắc ăn hơn là đào cái nền nhà sau hè. Nhưng tôi căn dặn thầy một
điều: Hai Khị nói hơi nhiều... thầy ráng mà nghe một lần. Tôi nghe nhiều lần
quá rồi...
Tôi nài nỉ ông Tư Huỳnh:
- Nhờ ông dẫn tôi tới nhà
Hai Khị. Ông Hai Khị chắc già lắm rồi hả? Ông tới đây lập nghiệp từ bao giờ?
- Thời giờ rảnh rang, tôi sẵn
sàng... Hai Khị đã lớn tuổi... Ừ! Cha nội đó rành lắm, ăn nói nghe mà mê. Làm
nghề săn khỉ!
Từ nhà ông Tư Huỳnh đến nhà
Hai Khị, chúng tôi bơi xuồng, qua nhiều con rạch quanh co. Mùa mưa, lá tràm
xanh biếc, xa xa có vài gốc cây đước, cây vẹt. Muỗi rừng bay ra khá nhiều, tôi
chăm chú nhìn lên trời, tìm vơ vẩn...
Ông Tư Huỳnh nói:
- Muỗi cắn no tròn trên mặt
thầy Hai kìa! Kiếm cái gì ở trên ngọn cây?
- Dạ kiếm khỉ.
- Trời đất ơi! Rừng này đâu
còn khỉ nữa.
- Hồi nãy, ông nói rằng Hai
Khị sống bằng nghề săn khỉ mà.
- Đó là chuyện đời xưa. Lát
nữa, thầy Hai mặc sức mà nghe. Bây giờ, nói sớm quá, hết vui. Vả lại, Hai Khị tới
rừng này trước tôi. Tôi là kẻ vong gia thất thế, từ Tân An xuống đây làm ăn...
Tại sao ông Tư Huỳnh đố kỵ với
Hai Khị tới mức đó? Ông đề cao Hai Khị, đồng thời ông lại hạ địa vị mình một
cách quá đáng. Hay là hai ông lão già này có mối cựu thù. Vô lý quá. Nếu thù hằn
nhau thì ông Tư Huỳnh đâu sẵn sàng tới nhà Hai Khị. Hai Khị là ai?
Chiếc thuyền rẽ nước khá
nhanh. Vòm trời mở rộng. Tôi ngạc nhiên, chẳng hiểu tại sao giữa rừng mà lại có
ngôi nhà ngói ba gian hai chái, cất theo kiểu xưa, giống như nhà mấy ông cai tổng
ở vùng Cần Thơ. Mái ngói tuy đóng rêu đen nhưng vẫn giữ dáng điệu cong cong.
Trước nhà có cửa ngõ và vài chậu kiểng. Chó sủa vang dậy. Ông Tư Huỳnh nói
nhanh:
- Hai Khị ngồi hút thuốc đó!
Bên gốc cột..
Hai Khị đứng dậy, ngó xuống
bến, miệng cười tươi. Ông ta dường như còn tươi trẻ hơn ông Tư Huỳnh.
- Anh Tư tới đó hả?
- À! Sẵn có thầy Hai này muốn
biết chuyện cổ tích, tôi đưa thầy tới đây.
Hai ông lão nói chuyện khá
nhiều, nào là mùa màng, thời tiết, ong mật, rùa rắn, cá tôm. Hồi lâu, ông Hai
Khị mới ngỏ lời:
- Ờ... thầy Hai đây hả?
Tôi cúi đầu:
- Dạ, cháu ở Sài Gòn, lâu
lâu về đây chơi một lần.
Cả ba người vào nhà. Mặt trời
lên quá cao rồi, bầu không khí bên trong dường như ẩm ướt. Mái nhà thấp, che
khuất ánh nắng. Vách nhà đóng bằng ván, đóng kín, chẳng khoét một cái cửa sổ
nào hết.
Ông Hai Khị mời ngồi nhưng cứ
tần ngần, như lạc vào một thế giới nào xa lạ. Trên cái bàn khá to, bốn con khỉ
đang ngồi - những con khỉ chết khô, rụng hết lông, thịt da đen ngòm, thịt bám
chặt vào xương giống như... xác ướp Ai Cập. Có một con to xác nhứt, ngồi lum
khum trên nhánh cây, chân thòng xuống đụng vào mặt bàn, hai tay đặt trên đầu gối,
hố mắt sâu hoắm, ra dáng suy tư. Tôi vừa sợ, vừa buồn cười:
- Khỉ ở đâu vậy ông? Để
trong nhà như vầy coi ghê quá!
Ông Hai Khị im lặng, đi thẳng
đến tủ kiếng, mở cửa tủ, đem ra một ngọn đèn sáp, đốt lên. Ông nói mơ hồ:
- Nhà này cất theo kiểu xưa ở
ngoài... Huế, ban ngày cũng như ban đêm...
Mặc dầu chưa đến xứ Huế lần
nào, tôi cũng cãi lại:
- Thưa ông, ở ngoài Huế nhà
cửa sáng sủa... theo tân thời.
Ông Hai Khị vừa thắp ngọn nến,
vừa nói:
- Thầy Hai còn trẻ quá. Tôi
muốn nói tới kiểu nhà xưa của mấy ông quan đại thần, của vua chúa. Suốt ngày suốt
đêm, đèn sáp cháy không dứt. Nếu tắt đèn thì tối om om. Mấy ông vua cũng vậy.
Lúc đọc sách, lúc ngâm thơ, mấy ổng thắp đèn sáp giữa ban ngày.
Ông Tư Huỳnh nheo mắt, che
miệng cười. Thừa lúc ông Hai Khị xuống nhà bếp, ông Tư nói với tôi:
- Ngán chưa! Thầy Hai thấy
chuyện lạ chưa? Mấy con “khỉ khô” đó. Tôi dặn thầy điều này: đừng cãi với ông
Hai Khị. Ông ghét bất cứ kẻ nào dám cãi. Thầy cứ thưa thưa dạ dạ. Lát nữa, ổng
nói chuyện sự tích mấy con “khỉ khô” đó, vui lắm.
Ông Hai Khị trở lại bộ ván,
mời chúng tôi uống trà. Tôi ngỏ ý muốn hiểu vì sao ông chưng bày mấy bộ xác khỉ
trong nhà rồi nói tiếp:
- Khỉ này đâu có lớn con! Ở
Sở Thú Sài Gòn, tôi gặp nhiều thứ lạ hơn. Hay là con... xà niên, con đười ươi?
Ông Tư Huỳnh đưa tay khều nhẹ
tôi. Tôi chợt nhớ lại lời căn dặn ban nãy nên nói vuốt ve trở lại:
- Thưa ông, chắc mấy con khỉ
này có nguồn gốc lạ lùng...
Ông Hai Khị gật đầu:
- Quí lắm đó thầy Hai.... Bởi
vậy, tôi ít khi nói chuyện xưa cho người khác nghe.
Ông Tư Huỳnh nói xen vào:
- Thầy Hai này hơi bịnh. Thầy
chưa hiểu tại sao ở đây thiên hạ sống hoài ăn cá quá nhiều. Thầy muốn tìm thuốc
bổ đó.
- À! Hồi xưa, ông bà mình tới
rừng U Minh này, mang bịnh nhưng cố gắng mà sống. “Bịnh ở đâu thì thuốc ở đó”.
Ông bà mình nói nghe thậm phải.
Rồi thì ông Hai Khị bắt đầu
kể chuyện. Xưa kia, thời ông Mạc Thiên Tứ - con của Mạc Cửu, một người Trung
Hoa sang tị nạn ở Việt Nam vùng chợ Hà Tiên - thì sung túc nhưng rừng U Minh
còn sầm uất, khỉ sống từng bầy đôi ba chục con. Người Việt Nam đến rừng U Minh
tìm huê lợi thiên nhiên. Họ chê cá tôm vì cá tôm bán rẻ giá hơn cọp và khỉ. Bấy
giờ, cọp, khỉ và rừng rậm nuôi dưỡng cho nhau. Khỉ ăn trái rừng, lớn lên khỉ
làm mồi cho cọp; cây sanh trái làm thức ăn cho khỉ.
Ông Hai Khị nói:
- Cách đây một trăm năm, ông
cai Thoại đến U Minh, ra tài đánh cọp. Cọp chết quá nhiều hoặc chạy trốn về
phía núi Tà Lơn, bên Cao Miên.
Tôi chợt nghĩ ra một ý:
- Thưa ông... Thế là khỉ
sanh sản nảy nở quá nhiều.
Ông Hai Khị gật đầu lia lịa:
- Đúng vậy. Đúng vậy. Xưa
kia, thiên địa tuần hoàn theo luật riêng. Hết cọp, khỉ sống hoài trở thành...
chúa sơn lâm. Ông cai Thoại đã vô tình làm thay đổi luật trời đất. Nhưng may
quá, người Việt Nam đến rừng U Minh, tìm cách để bắt khỉ.
Tôi hỏi:
- Bắt để làm gì? Ăn thịt khỉ
à? Nhiều quá, làm sao ăn hết... Hay là ông bà mình hồi đời xưa bắt khỉ... làm
khô, hoặc phơi khô nguyên xác khỉ, đem bán qua bên Tàu cho mấy người giàu có
chưng bày trong phòng khách như vầy...
Vừa nói, tôi vừa liếc qua mấy
cái xác khỉ.
Ông Hai Khị lắc đầu:
- Ông bà mình hồi xưa khôn
ngoan hơn nhiều. Họ bán khỉ qua bên Tàu, bán cái “tinh túy” của con khỉ.
Theo lời ông Hai Khị, người
tiền phong khai hoang ở U Minh đã bày ra nhiều cách lạ lùng để săn khỉ. Họ dùng
lưới, mỗi tấm lưới to bằng cái nhà, lưới đan bằng dây gai thật chắc. Thợ săn khỉ
vào rừng một mình, mang theo tấm lưới và vài nải chuối chín. Đến nơi nào có nhiều
khỉ, họ chọn khoảng đất trống, trải lưới ra, phủ trên cỏ.
Đâu đó xong xuôi, họ leo lên
cây mà ngồi, chờ đợi, nắm trong tay sợi dây buộc dính liền với bốn góc tấm lưới.
Từ trên cây cao um tùm, họ
quăng xuống từng trái chuối chín, quăng vào tấm lưới vô hình ấy.
Bọn khỉ thấy chuối chín thì
ham, xúm nhau chạy tới, con này gọi con kia, mỗi lúc một đông. Người thợ săn cứ
quăng chuối để làm mồi nhử. Đến lúc nào đó, người thợ săn bèn giựt bốn sợi dây.
Lũ khỉ mê ăn bị tóm lại, gói trọn trong tấm lưới. Lẽ dĩ nhiên, nhờ lanh chân
nên vài con khỉ chạy thoát kịp, nhưng đa số đành ở lại, chờ chết.
Thợ săn đem khỉ về nhà. Rồi
họ tiếp tục đi săn mãi mãi.
Tôi hỏi:
- Thưa ông, săn nhiều quá,
làm cách nào tiêu thụ. Mỗi ngày, phải tốn bao nhiêu trái cây để nuôi khỉ. Rủi
bán ế thì làm sao?
- Thầy Hai chớ lo xa. Ông bà
mình hồi xưa bày ra nhiều cách nấu khỉ làm thuốc cao.
Vẫn theo lời ông Hai Khị, thợ
săn đem khỉ về, đập đầu lột da, mổ bụng, lóc thịt để lấy xương khỉ làm thuốc. Họ
bỏ xương khỉ vào một cái chảo thật to, nấu với nước, nấu ngày nấu đêm, thỉnh
thoảng, họ cầm muỗng mà vớt màng màng, đổ bỏ. Năm bảy ngày, năm bảy đêm trôi
qua, xương khỉ trở thành mềm mại như “xí quách”. Họ quăng bỏ xương ấy. Dưới đáy
chảo, còn sót lại một thứ keo sền sệt. Đó là “cao khỉ” theo kiểu cao hổ cốt.
Cao hổ cốt “sọ khỉ” tuy yếu hơn “cao cọp” nhưng bổ về đường khí huyết.
Ông Hai Khị cho biết: mỗi
người chỉ có thể uống một miếng cao khỉ mỏng như đồng xu mà thôi; uống quá độ
lượng thì sanh bịnh. Hồi còn nhỏ, ông Hai Khị đã rắn mắt, cắn vào một cục cao
khỉ. Sau đó, ông nằm mê man, ngủ li bì, mình mẩy nóng ran, sắp chết. May thay,
cha của ông hay kịp, đem ông lên trên bộ ván rồi đốt lửa phía dưới. Lửa sưởi ấm
bộ ván và hơi ấm ấy truyền qua cơ thể ông Hai. Nhờ vậy, ông toát mồ hôi sống lại
đến... giờ này, đến tuổi sáu mươi mà sức khỏe vẫn còn đầy đủ.
Tôi hỏi:
- Lúc uống cao khỉ quá nhiều,
chắc ông chết giấc?
- Ừ! Hồi đó, tôi mới có mười
ba tuổi, khi tỉnh dậy, mình mẩy tôi ê ẩm, tứ chi bải hoải...
Rồi ông ghé miệng vào tai
tôi mà nói khẽ:
- Giống như người thừa sức lực...
Chất “cao khỉ” gồm tinh túy của loài khỉ đó thầy Hai.
- Dạ, bây giờ rừng U Minh
còn lai rai vài con khỉ già, chắc nghề nấu cao khỉ không còn nữa phải không
ông?
Ông Hai Khị chỉ vào mấy cái
xác khỉ khô:
- Tôi còn chút ít cao khỉ của
ông bà để lại. Nếu thầy Hai muốn hiểu sự tích khai hoang rừng U Minh, nếu thầy
Hai muốn sống dai, ngừa bịnh rét rừng, sanh con đẻ cháu nhiều hơn thiên hạ
thì...
Nói xong, ông Hai Khị mở tủ,
đem ra một cục cao khỉ đen thui, gói trong giấy hút thuốc. Tôi hửi thử: mùi cao
khỉ hơi thum thủm, giống mùi a giao vậy thôi.
Bây giờ, ông Tư Huỳnh khều
nhẹ tôi, nói nhỏ:
- Mình về, đủ rồi. Đừng thèm
mua.
Tôi nói to giọng:
- Thứ cao này ngộ quá. Thôi,
hẹn với ông Hai sáng mai tôi trở lại...
Ông Hai Khị nói:
- Tôi chờ thầy Hai. Sáng
mai, tôi cho thầy Hai uống thử một lát cao khỉ...
Tôi đứng dậy, cáo từ. Trước
khi ra về, tôi đến gần mấy con “khỉ khô” sờ thử và nắm tay từng con. Có một con
khỉ mới ướp xác ngồi chết đó, xòe bàn tay. Tôi nhướng mắt nhìn kỹ. Trong lòng bàn
tay khỉ có nào là đường trí đạo, đường vận mạng giống hệt bàn tay con người. Và
đường sanh đạo của con khỉ đó lại đứt khúc, hèn gì nó... chết sớm.
- Về cho kịp nước ròng, thầy
Hai!
Ông Tư Huỳnh nhắc nhở một lần
nữa. Tôi với ông xuống xuồng. Ông Tư Huỳnh bơi sau lái, cười to:
- Đó, sự tích rừng U Minh
huyền bí như vậy đó. Nói theo kiểu ông Hai Khị thì chắc là chung quanh nền nhà
của ông có... hàng ngàn khúc xương khỉ, của ông bà hồi xưa nấu cao rồi quăng bỏ.
Tôi hỏi:
- Ông Hai Khị nói thiệt
không vậy ông Tư?
- Phần đầu, chuyện săn khỉ bằng
lưới, ổng nói đúng sự thật. Nhưng tới phần sau, chuyện nấu cao khỉ rồi... chuyện
nằm mê man, ổng nói dóc để bán cao khỉ! Thứ cao đó làm giả mạo. Nếu muốn bổ khỏe,
thầy Hai cứ ăn cá cho nhiều như mình ăn hồi nãy là đủ. Nói thiệt với thầy Hai,
ba năm rồi, Hai Khị bán cao khỉ ế ẩm lắm vì bà con trong xóm đều chán ngán. Cha
của Hai Khị hồi xưa săn khỉ giỏi lắm. Tới đời Hai Khị thì khỉ đã hết, thợ săn
khỉ trở thành thợ... nói chuyện đời xưa giữa ban ngày mà đốt đèn sáp trong nhà!
Chiếc xuồng trôi từ từ theo
nước xuôi. Trong rừng sâu, vài người đốn củi ca vọng cổ nghe văng vẳng.
Sơn Nam
















Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét