Hương rừng Cà Mau 2
Cậu Bảy Tiểu
Người hàng xóm nhắn tin cho
tôi biết:- Ông hương trưởng Tạc đang hấp hối. Nếu rảnh, cậu tới thăm một chút,
kẻo trễ.
Lập tức, tôi xuống xuồng,
bơi thẳng đến nhà ông hương trưởng. Cái tin ấy không làm cho tôi ngạc nhiên.
Người già, người chết đó là thế gian sự thường, huống gì ông hương trưởng Tạc sống
đến 75 tuổi. Tôi là người bạn trẻ của ông, được hân hạnh tới lui đàm đạo. Ông
hương trưởng hiểu rành rẽ về truyện Tam Quốc. Ông đã dạy cho tôi biết: suốt
truyện Tam Quốc, ông Khổng Minh lên yên ngựa mấy lần, lần thứ nhứt, lần thứ nhì
nhơn dịp nào. Lúc thiếu đề tài tán gẫu, tôi gợi chuyện: “Thưa ông, hồi thứ 20 của
truyện Tam Quốc nói về giai đoạn nào?”. Thế là ông hương trưởng nói thao thao bất
tuyệt, thuộc lòng. Và ông sẵn sàng bình luận qua hồi thứ 21, 22. Thỉnh thoảng,
ông xin lỗi tôi để ông ra ngoài hè phóng uế, phóng thật nhanh, rồi trở vào để
câu chuyện được nóng hổi.
Vừa ghé bến, thấy đèn đuốc
thắp sáng ở gian nhà giữa, tôi nghĩ thầm:
- Chắc là ông hương trưởng
đã tiêu diêu nơi cõi thọ rồi!
Nhưng ông chưa tắt thở. Ông
nằm dài trong buồng, dẹp lép như con khô mực. Chừng 20 ngày qua, ông không ăn
được món gì cả. Bà hương trưởng lén ra chợ Rạch Giá mua một con sâm Cao Ly đem
về chưng cách thủy, để chồng được hồi dương vài giờ. Tôi dùng tiếng “lén” vì bấy
giờ là đầu năm 1946, thực dân Pháp đang chiếm ưu thế, tiến như chẻ tre. Tuy
chưa chánh thức đóng đồn tại làng Đông Thái nhưng chúng trao súng đạn cho một số
thổ phỉ. Bọn này tha hồ cướp phá dân lành nhưng tự xưng là đại diện cho công lý
của... quan lớn!
Đó là sâm Cao Ly thứ thiệt
hay thứ giả? Trời mà biết giả thật. Sau khi uống chén nước sâm, chén cuối cùng,
ông hương trưởng mở mắt cười gượng:
- Cháu đó hả?
Tôi đáp:
- Ông biết tôi là thằng nào?
Tên gì không?
Ông hương trưởng nói đúng
tên tôi rồi tiếp lời:
- Chắc hôm nay, tao qua
không khỏi. Vái trời cho tao đi... suôn sẻ.
Sực nhớ đến bọn thổ phỉ tôi
hỏi:
- Ông biết hổm rày ở nước
mình xảy ra chuyện gì không? Vái trời Phật...
Ông hương trưởng gật gù:
- Năm bảy tháng rồi, tao
lãng trí. Nhưng mà dường như có điều gì thay đổi lớn lắm. Nằm liệt giường, tao
đâu bước ra ngoài sân. Dường như thiên hạ qua lại lao xao, bàn tán điều gì hệ
trọng lắm...
Vài ông già khuyên tôi ra
ngoài vì nói chuyện quá lâu, ông hương trưởng sẽ mệt luôn. Tôi vâng lời, ra
ngoài phòng khách, hút thuốc. Vài tiếng súng nổ đì đùng từ phía kinh Xáng.
Bà hương trưởng vụt khóc òa
lên. Ai nấy đều hiểu: ông hương trưởng đã nhắm mắt.
Lập tức, đám người ngoài
phòng khách đổ xô vào phòng của ông hương trưởng, an ủi bà hương:
- Thôi, sống gởi thác về. Bà
hương đừng quá đau buồn mà hao mòn thân thể.
Bà hương vụt lau nước mắt:
- Tôi đâu buồn vì ổng chết.
Nhưng... tại sao ổng không chết lén lút. Thời buổi nầy mà! Khó lắm. Hôm trước,
tôi liều chết, bơi xuồng ra chợ Rạch Giá mua 60 đồng sâm... Dọc đường, tôi gặp
xác chết trôi, trôi từng chặp, hai ba người xỏ xâu... Vậy mà ổng trăng trối, biểu
tôi làm đám ma... đủ lễ như hồi thời bình. Điệu nầy, chắc lòi ruột cả đám. Cái
kiểu tụ họp đôi ba chục người, đốt đèn sáng đêm... Buồn buồn thì cậu Bảy Tiểu
dám kéo bọn đàn em...
Tôi sực nhớ đến cậu Bảy Tiểu.
Anh ta là con trai ông huyện hàm M.; đôi ba lần, tôi được hân hạnh đá cá thia
thia chung một sòng: mặt mày anh ta khó thương nhưng đối với riêng tôi, có lẽ
anh ta chưa thù oán. Vả lại, ông huyện hàm M. và cha tôi đều là điền chủ.
Để an ủi bà hương trưởng,
tôi nói nhanh:
- Chỉ vì ông hương chưa hiểu
thời cuộc nên vô tình trăng trối như vậy...
Bà hương lại òa khóc:
- Không khéo, lại xảy ra...
ba bốn cái đám ma. Cậu Bảy Tiểu là người ghê gớm, bất cần nhơn nghĩa. Phải chi
ông nó mất... mà đừng cho ai hay biết rồi làm đám ma đơn sơ. Ổng dạy tôi phải
chôn gần nhà, theo nghi lễ... Nghi lễ là rùm beng rồi!
Vài ông kỳ lão xúm xít bên
thi hài, phun rượu, sửa tay chân kẻ bạc phước cho ngay ngắn, thay quần áo mới.
Lại có kẻ đòi “giảo nghiệm” cho biết ông hương trưởng chết thật hay chết... tạm
thời. Họ cúi xuống, cắn mạnh vào bắp vế non ông hương trưởng, cắn thật mạnh.
Nhưng ông hương chẳng thèm rên la nữa. Có kẻ lấy ngọn nến đốt thử vào ngón tay
thi hài. Họ bảo:
- Nếu còn sống thì da sẽ phồng
lên, có nước. Bằng không thì ngón tay sẽ bốc mùi như thịt nướng...
Bà hương trưởng cứ khóc triền
miên:
- Phải chi ổng chết lén... Đời
bây giờ, chết mà thiên hạ hay biết cũng phiền cho người hay biết. Trời ơi! Cậu
Bảy Tiểu mà hay được thì kéo cả bọn ngoài đồn, với gươm dao súng đạn...
Tôi nghĩ đến cách trả ơn gia
đình ông hương trưởng Tạc:
- Thưa bà, sáng mai cháu lên
bờ kinh Xáng, gặp mặt cậu Bảy Tiểu để xin phép làm đám ma thì xong. Tôi cho cậu
Bảy biết trước: dân chúng tụ họp chừng vài chục người, giết heo, uống rượu,
đánh trống, đờn cò. Bảo đảm chẳng ai dám làm giặc cả.
Bà hương nói:
- Cảm ơn cháu. Thôi đi. Rủi
bề gì. Cái cậu Bảy đó thất đức lắm...
Trong lúc bọn thợ mộc cưa bộ
ván gõ đóng quan tài, tôi ngồi suy nghĩ bâng quơ. Bảy Tiểu đã học tại Sài Gòn,
thi rớt bằng trung học. Dầu sao đi nữa, cậu ta cũng để đám ma được cử hành yên ổn.
Ông hương trưởng là bạn của ông huyện hàm M. Rất tiếc, ông huyện hàm đã tản cư
về chợ Rạch Giá.
Hừng sáng hôm sau, thi hài
ông hương trưởng đã tẩn liệm xong, trưng bày giữa nhà. Tôi tỏ thái độ cương quyết:
- Để tôi gặp cậu Bảy, xin
phép một phen.
Một ông lão nói:
- Đành vậy. Chúc chú em bình
an. Coi chừng. Cỡ nầy... nó dữ lắm. Chú em biết nó không?
Tôi đáp:
- Thì hồi còn Tây cai trị,
nghe đâu cậu Bảy tổ chức đảng cướp, nhưng chỉ đánh cướp mấy làng kế cận mà
thôi. Cậu Bảy nể dân chúng làng nầy.
Người khác nói xen vào:
- Cậu Bảy Tiểu được quyền tiền
trảm hậu tấu, hoặc trảm mà chẳng cần “tấu”. Ông quan tư Ca-Rê ở chợ Rạch Giá cấp
cho cậu Bảy một cái giấy đặc biệt, mạnh lắm. Hôm rày, cậu Bảy giết người như rạ.
Cậu thề ngày nào không giết một người thì ăn cơm không ngon. Cậu muốn giết đúng
một trăm mạng để trả thù làng nầy. Vì hồi xưa kia, lúc cậu bị Tây bắt giam về tội...
tình nghi ăn cướp, dân làng nầy có kẻ vật heo ăn mừng.
Hơi đâu mà nghe lời bàn tán
của người già! Tôi nhớ đến ông hương trưởng Tạc, lúc còn sống. Ông hiền quá,
ban ơn cho tôi quá nhiều về mặt tinh thần. Nhờ ông mà tôi hiểu được bao nhiêu
chuyện kiểu “Cổ học tinh hoa”. Nếu không giúp cho đám của ông được cử hành theo
nghi lễ, đượm vẻ phong lưu thì tôi là thằng hèn.
Tôi xuống xuồng, nói với lại:
- Thời buổi khó khăn, bà con
cứ sửa soạn kèn trống, giết heo. Tôi gặp cậu Bảy trong vòng nửa tiếng đồng hồ.
Cứ là theo kiểu tiền trảm hậu tấu...
Một người hỏi:
- Nếu chú em không về thì
sao?
Tôi đáp:
- Trễ lắm là 5 giờ chiều,
tôi về. Chẳng lẽ tôi chết. Cứ đánh trống thổi kèn cho ông hương trưởng mát
lòng, mát dạ. Cứ thọc huyết heo, nấu cháo ăn cho no. Để mình khỏi hối tiếc vì
trước sau gì tụi Tây cũng tấn công vô xóm nầy...
Bà hương trưởng chạy xuống bến,
kêu gào, khuyên tôi đừng liều lĩnh. Tôi bơi dầm, chiếc xuồng lướt nhanh. Thật
ra, thương ông hương trưởng là một chuyện nhưng tôi muốn hiểu rõ cậu Bảy Tiểu!
Cậu ta là cái gì mà thiên hạ sợ quá vậy?
Xuồng vừa cặp bến kinh Xáng,
tôi đã hoảng sợ. Hàng chục người mang súng hẳn hoi nhưng quần áo thì quá tệ: quần
đen, áo kaki cũ mèm của lính Pháp, đầu đội nón nỉ hoặc bịt khăn.
Thoạt nhìn qua, tôi nhận được
vài người quen mặt trong đám thổ phỉ: lúc trước, họ ưa đi theo cậu Bảy Tiểu với
danh nghĩa vệ sĩ, sẵn sàng làm bất cứ mọi công việc như xách guốc, bơi xuồng,
đâm chém và lẽ dĩ nhiên, săn gái cho cậu.
Một đứa hất hàm hỏi nhanh:
- Ở đâu tới? Đi đâu vậy?
Tôi thị oai lập tức:
- Kiếm cậu Bảy. Cậu Bảy nhắn
tôi ra đây uống rượu chơi rồi cậu kiếm sở cho tôi làm. Làm thông ngôn cho ông
quan tư Ca-Rê!
Đứa nọ cúi đầu, cười tươi:
- Xin lỗi. Nãy giờ tôi không
biết. À! Cậu Bảy ở tại công sở. Đằng kia kìa.
Sau khi lanh chân từ giã tên
thổ phỉ, tôi cứ bước tới, tâm trí hoang mang đến cực độ. Công sở làng Đông Thái
đã bị đốt từ hồi cuối năm 1945, còn đứng gượng gạo mấy cây cột than trơ vơ giữa
cuộc... hí trường. Hai bên đường, vài căn nhà mới dựng lên, bán thức ăn, tạp
hóa. Tôi vào quán, hỏi nhanh:
- Công sở ở đâu?
Chủ quán trố mắt:
- Bị đốt rồi.
- Nhưng mấy ổng làm việc tại
đâu?
Chủ quán chợt nhận ra sự ngơ
ngác của mình:
- À! Làm việc tạm bên cái tiệm
hớt tóc, đàng kia. Khó vô lắm. Coi chừng lạc đạn. Cậu Bảy... ủa! Cậu Ba...
Cậu Ba là tước hiệu mà bà
con trong làng phong cho tôi. Chủ quán nào phải xa lạ, dạo trước hắn làm chủ một
chiếc đò máy, đưa hành khách. Ông ta nheo mắt nhìn tôi:
- Vậy mà nãy giờ tưởng là
anh chị bự. Ngồi uống trà chơi. Qua công sở làm gì? Để kết liễu cuộc đời hả?
Nói cho vui chớ hoàn toàn yên ổn. Phe đảng cậu Bảy không có mặt trong tiệm này.
Nó bất nhơn thất đức lắm... Cậu Ba chưa hiểu cậu Bảy sao?
- Dạ, chưa hiểu.
Chủ quán thở phào:
- Chuyện bây giờ thì xin miễn
bàn vì cậu Bảy đang làm quốc sự. Tôi khuyên cậu Ba nên nghe lời tôi. Tôi muốn
nhắc một chuyện rất xưa để cậu Ba hiểu về cậu Bảy Tiểu.
Tôi chán cái lối tuyên truyền,
nói xấu cậu Bảy:
- Chuyện gì qua thì nên cho
nó qua. Tôi là bạn thân của cậu Bảy trong hiện tại mà ông chủ!
Chủ quán bĩu môi:
- Có ai thân thiết với cậu Bảy
cho bằng người mẹ ruột. Vậy mà phen đó cậu Bảy cầm cây kéo, đến gần bà để... cắt
đầu tóc. Con ruột mà dám trửng giỡn bằng cách cắt đầu tóc của mẹ. Nói ít, cậu
hiểu nhiều. Giữa cậu với cậu Bảy làm sao có tình mật thiết...
Sực nhớ đến nhiệm vụ xin
phép tổ chức đám ma ông hương trưởng Tạc, tôi nói nhanh:
- Để tôi qua công sở.
Chủ quán vẫn khuyên giải:
- Cậu nên cẩn ngôn cẩn ý. Bộ
có chuyện gì gấp lắm sao? Hay là cậu muốn theo Tây? Ra ngoài Rạch Giá, cậu bàn
bạc với Tây coi bộ chắc ăn hơn. Cỡ này cậu Bảy kỳ cục lắm. Thôi, tôi không dám
nói...
Vừa lúc ấy, tôi thấy cậu Bảy
Tiểu đã đứng chống nạnh trước tiệm hớt tóc từ lúc nào rồi. Cậu đội nón kaki có
vành, kiểu “Còm-măn-đô”.
- A ha! Cậu Ba...
Tôi giựt mình.
Bảy Tiểu trợn mắt tiến tới.
Tôi day mặt ra sau lưng, ngỡ
rằng cậu truyền lịnh cho đám thổ phỉ nhưng cậu vội nói rõ:
- Cậu Ba cứ tiến tới để...
“bông rua” cậu Bảy này đây!
Bảy Tiểu vỗ mạnh vai tôi, cười
hề hề rồi đẩy tôi vào tiệm hớt tóc. Trong tiệm, cái bàn hớt tóc đã trở thành
bàn viết, đôi ba ông hương chức hội tề được Bảy Tiểu qui tụ lại. Tôi liếc xem
trên vách vài ba tờ yết thị dán theo hàng ngang và đôi tờ báo do quân đội viễn
chinh Pháp đỡ đầu, đề cao thuyết “Nam Kỳ tự trị”.
Bảy Tiểu cười sặc sụa:
- Cậu Ba tới hồi nãy hả? Nãy
giờ cậu Ba ngồi trong quán nghe thằng cha chủ quán nói xấu tôi hả? Thằng cha chủ
quán đó là đứa tiểu nhơn, nói xấu tôi, lúc tôi vắng mặt phải không?
Tôi ngồi im chưa dám trả lời.
Bảy Tiểu đi tới đi lui rồi dừng lại, chỉ ngón tay vào con mắt bên trái của cậu
ta:
- Nè! Coi kỹ con mắt của
tôi!
Tôi đáp:
- Thưa cậu, tôi coi...
- Nè, tròng trắng con mắt của
thằng Bảy Tiểu nầy có nổi mấy đường gân đỏ như máu, như huyết. Nhờ giết năm bảy
chục mạng nên có cô hồn như vậy đó. Thấy chưa!
Tôi lại đáp:
- Dạ, thấy rồi.
Bảy Tiểu bèn chỉ ngón tay
lên trán như nhà hùng biện đang suy tư cố gắng phát biểu một ý kiến độc đáo:
- Còn bộ óc này, chưa phải
điên. Thằng cha chủ quán cho rằng cậu Bảy Tiểu này điên nên giết hại thiên hạ...
Tôi nói vuốt ve:
- Cậu đâu có điên!
Bảy Tiểu gật đầu:
- Nếu điên thì đâu được làm
chức chỉ huy. Nếu điên thì Tây đâu thèm xài tôi... Tây khôn lắm. Đừng tưởng rằng
hễ điên là gặp Tây, kiếm sở được!
Vừa lúc ấy, tôi nghe hai
phát súng nổ chát chúa. Cậu Bảy Tiểu quát to:
- Hay lắm. Đi bắt thằng Lê Hữu
Vĩnh. Nó là thầy nghề võ của tôi. Tôi phải đền ơn nó!
Rồi cậu ta day lại nói với một
ông hương chức hội tề:
- Nè! Ông hương thân ơi! Coi
chừng cậu này, nghe không! Lát nữa tôi giải quyết sau. Nếu cậu Ba này chạy trốn
thì tôi tru di tam tộc... tất cả mấy ông hương chức hội tề...
Khi Bảy Tiểu vừa xuống xuồng
khuất dạng, tôi bắt đầu khỏe khoắn. Ông hương thân tên Túc lắc đầu:
- Ác không! Hổm rày tôi bị cậu
Bảy giam lỏng trong cái tiệm hớt tóc nầy. Cậu Bảy nhờ tôi quy tụ mấy ông hương
chức hội tề lúc trước. Ngán quá. Trời ơi! Cái công sở này! Phải chi có ông
hương trưởng Tạc thì vui hơn, ổng mặc sức mà nói chuyện Tam Quốc, mà đánh cờ tướng.
Thật đau xót tâm can: trong
khi ông hương trưởng nằm yên trong quan tài mà có những bạn thân ngỡ rằng ổng
còn sống. Tôi nói khẽ:
- Thưa bác, ông hương trưởng
mất từ hồi tối hôm qua, tẩn liệm xong rồi. Tôi lên đây xin phép cậu Bảy để làm
đám ma, vì tại nhà ổng, bà con tụ họp, có lễ nhạc đầy đủ... nhưng lại sợ phiền
lòng cậu Bảy...
Ông hương thân Túc lắc đầu:
- Khó lắm. Thằng Tiểu nầy nó
say máu, như điên vậy. Theo lẽ thì cháu đừng lên đây xin phép...
- Thưa bác, xưa kia ông
hương trưởng Tạc là bạn thân với cha ruột cậu Bảy Tiểu. Chắc cậu Bảy cũng tỏ
lòng nhơn đạo...
- Thôi đi. Thì bác đây đã đá
cá thia thia, đá gà chung với thằng Tiểu. Vậy mà phen đó bác với nó bị bắt, ở
tù một lượt. Nằm trong khám buồn bực quá chừng. Thằng Tiểu bắt buộc bác phải đấm
lưng, cạo gió và nhổ tóc ngứa cho nó. Chưa hết. Lúc nào mỏi lưng, nó nằm xuống
rồi ra lịnh cho bác phải dang hai tay ra, giả bộ như con chim bay, quạt cánh. Rồi
nó ra lịnh cho bác phải trèo lên song sắt, như con chim đậu trong lồng. Nó la
lên một tiếng “đùng”! Bác phải buông tay, té xuống đau điếng như con chim bị đạn.
Bác khổ nhục quá, vậy mà nó cười ha hả. Nếu cãi lời thì nó đánh.
Ngoài sân có tiếng xôn xao.
Bảy Tiểu sắp về tới công sở. Ông hương thân nhìn ra thở dài:
- Trời đất ơi! Nó giết anh
Lê Hữu Vĩnh rồi.
Tôi vẫn chưa tin. Nhưng rõ
ràng cái thây của Lê Hữu Vĩnh nằm úp mặt dưới xuồng bên cạnh cậu Bảy Tiểu. Lê Hữu
Vĩnh là một võ sĩ lừng danh, thuộc hạng nặng cân ở miền Nam. Ông ta là thầy võ
của Bảy Tiểu. Lúc sanh thời, ông ta đã thủ huề và đôi khi thắng võ sĩ vô địch
Sáu Cường.
Bảy Tiểu chạy vào công sở:
- À! Cậu Ba! Chuyện gì mà kiếm
tôi.
Tôi thuật lại cái chết của
ông hương trưởng Tạc và ngỏ lời xin phép tổ chức đám ma. Bảy Tiểu bỗng rưng
rưng nước mắt:
- Tội thì thôi! Tôi cho phép
đó. Cứ chết! Cứ chôn tự do, mà phải chôn cho long trọng.
Vì chờ đợi quá lâu nên bà
hương trưởng yêu cầu bọn đạo tỳ (đô tùy) cứ động quan, đưa ông hương trưởng về
nơi an nghỉ ngàn thu, ở sau vườn.
Lúc tôi về tới là sắp tới
lúc “hạ rộng” vào khoảng 6 giờ chiều. Ai nấy bao vây tôi, hỏi han rối rít. Tôi
đáp với giọng hãnh diện:
- Cậu Bảy cho phép rồi.
Bà hương trố mắt:
- Thiệt vậy sao?
Tôi nói:
- Cậu Bảy khóc thảm thiết
khi nghe tin ông hương từ trần...
Nhưng bỗng dưng bọn đạo tỳ
la hét, múa tay nói ú ớ rồi bỏ chạy. Tôi day lại, thấy hơn 20 tên thổ phỉ. Bọn
chúng nai nịt hẳn hoi, chạy tắt trong đám cỏ hoang và một đứa đi trước đã cõng
cậu Bảy Tiểu lên vai, hàng chục phát súng nổ chát chúa.
Giọng Bảy Tiểu oang oang:
- Đừng sợ! Đằng này bắn chỉ
thiên để tống biệt người bạn già.
Tôi đứng một chỗ, giữ cái
quan tài, bên cạnh khổ chủ là bà hương trưởng Tạc. Lát sau Bảy Tiểu nhảy tới, gật
đầu:
- Thằng nầy đâu phải điên!
Rồi ra lịnh:
- Sắp hàng hai... hai bên
huyệt! Lính đâu!
Tiếp theo là lịnh:
- Bồng súng chào! Chào! (nói
bằng tiếng Pháp).
Bọn thổ phỉ bồng súng, im lặng.
Lát sau, như sực nhớ điều gì, cậu Bảy chửi đổng:
- Đ. mẹ, chào hoài hả! Tụi
bây hạ súng xuống, lấp đất lại cho tao.
Rồi cậu đi tới đi lui, chung
quanh huyệt, trong lúc bóng tối lan tràn. Tiếng đất rơi thình thịch trên nắp
quan tài, tiếng ếch nhái huềnh hoang, não nuột.
Một phát súng nổ vang.
Tôi can gián:
- Cậu Bảy! Thiên hạ đang sợ
mà cậu.
Bảy Tiểu cúi xuống, nhặt xác
một con nhái bầu đưa lên:
- Đ. mẹ, mầy đáng chết lắm.
Nghe giọng huềnh hoang của mầy, tao nhớ tới cây kèn. Được rồi, ngày mai tao về
chợ Rạch Giá, xin ông quan tư Ca-Rê một cây kèn thổi tò te khi xung phong...
Rồi day qua bọn thổ phỉ:
- Rồi chưa! Bữa nay, sẵn dịp
đưa đám ma, tao mới nhớ đạo binh của tao đầy đủ súng đạn, nhưng còn thiếu một
cây kèn đồng!...
Cây Huê xà
Cây Huê xà là thứ cây gì?
Hình dáng ra sao? Có thiệt hay là bịa đặt? Nó có lợi hay là có hại cho loài người?
Bao nhiêu câu hỏi ấy cứ dồn dập, lẩn quẩn trong trí thằng Lợi hằng năm nay mà
nó không tài nào trả lời nổi.
Cây huê xà vốn là vị thuốc
chánh trong toa thuốc ngừa rắn của ba nó. Nhờ nó mà đi đến đâu người ta cũng
khâm phục; ba nó nổi danh là thầy Hai Rắn. Được nổi danh là một chuyện khó vì lẽ
ở vùng Rạch Giá, Cà Mau, thầy rắn xưa nay cũng nhiều người tài. Họ có thể cứu sống
nạn nhơn, đảm bảo trăm phần trăm, nếu người bị rắn cắn không để lâu quá hai giờ
đồng hồ. Họ dùng toàn thuốc Nam dễ kiếm như gừng, cỏ ống, vôi, trầu, nhựa ống
điếu, trứng rệp... Họ lại còn dám nuôi trong nhà vài con rắn để bắt chuột. Lúc
họ uống nước trà, rắn nằm vắt vẻo trên đòn dông nhà, nhìn xuống gục gặc đầu.
Đêm nào có trăng thì rắn đi ngao du, lên tận trên đọt lá dừa để bắt chim trong ổ
hoặc rình mổ mấy con dơi rượt muỗi bay qua chớp nhoáng.
Ba thằng Lợi nổi danh hơn
các thầy rắn vừa nói trên. Thuốc của ba nó vò viên sẵn, khỏi tốn thời giờ tìm
kiếm. Thuốc ấy mạnh lắm, trừ tuyệt nọc, nghĩa là một hai năm sau đi nữa, bệnh
nhơn không cảm thấy nhức xương sống khi lập đông trở về. Phi thường nhất là có
toa thuốc khi thoa vào tay, rắn không bao giờ dám mổ.
Hồi mới xuống rạch Thuồng Luồng
này, ba nó có lần thí nghiệm cho các thầy rắn coi thử.
Ba nó - thầy Hai Rắn - loan
tin:
- Tôi có bùa bắt rắn. Bùa
này của Phật thầy Tây An ở núi Sam truyền lại.
Ai nấy phản đối:
- Nói dóc! Chân ướt chân ráo
mới tới xứ này mà không để cho người ta thương! Phật thầy Tây An xưa kia bao giờ
làm bùa bắt rắn. Ngài lo giữ mối giềng đạo lý sao cho ai nấy ăn ngay ở phải, đừng
vì tiền tài mà nói dóc với chúng sinh.
Mỉm cười, thầy Hai Rắn mời
bà con đúng giờ Thìn sáng mai đến cây thị trước miếu ông Tà. Cây thị này hồi
năm ngoái bị trời đánh tét làm hai. Thiên hạ đồn rằng: Có điềm trời! Không vậy
sao trong ruột cây có cái bộng đen ngòm. Dưới đáy bộng, một đống đất khô... Ngạc
nhiên làm sao! Đất nhúc nhích từng cục, một con rắn hổ ốm nhom vùng ngóc đầu
lên cao, phùng mang chồm tới, giống hình cái bàn nạo. Rắn nhìn người chung
quanh hút gió, rồi rúc xuống đất vụn để ẩn mình.
Sáng hôm đó, đúng giờ Thìn,
thầy Hai Rắn lại gốc cây thị với mọi người. Lấy tay vỗ mạnh vào gốc cây, thầy
nói:
- Ông xà ơi! Ra đây nói chuyện
chơi.
Ai nấy trố mắt, ngạc nhiên.
Có tiếng hút gió như đáp lại rồi từ miệng bộng cây, cái bàn nạo lần lần nhô
lên.
Thầy Hai lấy tay vạch vòng
tròn dưới đất, vỗ xuống mạnh:
- Tôi muốn mời ông xà lại
đây, ngồi trong vòng này với tôi.
Rắn nọ bò xuống, men vào
vòng đã vẽ. Thầy xòe tay ra, để cách miệng rắn chừng một tấc mà thét:
- Cắn thử coi!
Rắn không nhúc nhích.
Thầy thét lớn hơn:
- Áp khẩu tay tôi nè! Cắn
ngay đó thì tôi chết liền. Tôi đố ông dám cắn!
Ai nấy phập phồng chờ đợi. Rắn
cục cựa, thối lui, ngóng mỏ lên cao, day qua day lại. Thầy Hai trợn mắt, đưa
tay xích lại gần hơn nữa. Bỗng nhiên, rắn hút gió một tiếng rồi quay mình phóng
vào bộng cây, mất dạng.
Thầy đứng dậy, vấn điếu thuốc.
Vừa hút phì phà, thầy giảng rằng:
- Chém ruồi ai dùng gươm
vàng làm chi! Nói thiệt cho bà con thương, tôi đây cực chẳng đã mới ra nghề.
Tôi biết trong số bà con đây có người tài giỏi hơn tôi nhưng giỏi về môn khác.
Thứ bùa này ít ai biết... Lúc ban sơ, tôi dùng nhơn lực để kêu rắn ra khỏi bộng
cây, kế đó, vẽ vòng tròn tức là tôi dùng thần lực. Đến khi chuyển qua thiên lực,
rắn nọ phải chạy trối chết... Nhân lực, thần lực, thiên lực đó là ba chặng đường
mà tôi phải trải qua. Phần đông, bà con mình xưng là thầy, nhưng chỉ mới bước tới
nhơn lực.
Tài của thầy Hai Rắn, ai lại
chẳng phục. Ngặt thầy kiêu hãnh quá nên hôm đó không ai muốn thụ giáo, họ bực tức
ra về. Trong số đó có Năm Điền là thầy rắn bấy lâu nay lừng danh ở xóm Thuồng
Luồng này. Năm Điền cảm thấy bị sỉ nhục. Về nhà chú nằm suốt đêm không ngủ được,
tâm trí bận rộn, cố nhớ lại mấy toa thuốc. Chú biết đây là mưu mô của thầy Hai
Rắn. Nhứt định thầy Hai có thoa vào tay một thứ thuốc đặc biệt. Ngửi nhằm mùi
đó, rắn chịu không nổi, phải mờ mắt hoặc ê răng mà chạy trốn. Ăn cắp cái toa đó
là diệu kế nhất. Nghĩ vậy, chú sực nhớ tới con Lài, đứa con gái khá nhan sắc của
chú.
Bấy lâu nay, chú thường để
ý: thằng Lợi, con thầy Hai Rắn, thường bén mảng lại đây trò chuyện với con Lài.
Năm Điền bèn kêu đứa con gái
vào:
- Lài à!
- Dạ.
Nhìn trước cửa thấy không có
ai, chú nói nhỏ với con:
- Bấy lâu cha sống ở rạch
này cũng là nhờ nghề trị rắn. Bây giờ, thầy Hai Rắn tính đập bể cái nồi cơm của
cha con mình!
Con Lài hỏi, ngây thơ:
- Sao vậy ba, người ta lạ, mới
tới...
- Bởi vì nếu trời đã sanh
Châu Do thì không có Gia Cát Lượng.
- Gia Cát lượng là ai vậy
ba?
Năm Điền đổ quạu:
- Không biết gì hết. Ngu
quá! Mày biết thầy Hai Rắn là cha của ai không?
- Dạ, của... anh Lợi.
- Thằng Lợi tới lui đây
hoài. Điều đó ba biết hết. Ba nào cấm cản. Nó nói gì với con...
Con Lài bẽn lẽn:
- Ảnh nói muốn làm quen.
- Ừ! Ba nói thiệt với con,
làm thân con gái phải giữ gìn thân thể. Không khéo, lỡ bề gì nhơ nhuốc danh giá
dòng họ. Con thương nó thì phải cho ba hay để bắt buộc nó thương con...
Con Lài buột miệng:
- Đừng... Tội nghiệp người
ta.
- Không sao đâu. Chiều mai,
con rủ nó lại ăn cơm... sẵn dịp ba mời nó uống rượu, thứ rượu “rắn giao đầu”.
Nghe đến rượu “rắn giao đầu”,
con Lài liếc nhìn chai rượu rắn trên bàn thờ. Trong chai, ngâm hai con rắn mà
ba nó lượm được hồi năm ngoái! Con rắn nước nuốt con rắn trun, có lẽ nuốt không
vô nên hai con đều chết. Ba nó lượm về ngâm rượu.
Nó hỏi:
- Uống chết không ba? Con sợ
quá.
- Gì mà sợ. Rượu đó làm cho
trai với gái thương nhau như rắn. Uống vô, thằng Lợi không bao giờ bỏ con được.
Trăm sự nó đều thiệt tình. Còn nhớ gạn hỏi nó điều này mà thôi...
- Điều gì ba?
- Cái toa thuốc thoa vô tay
mà rắn không cắn, của ba nó xài hôm trước, đằng cây thị trước miễu ông Tà. Nhớ
hỏi cho kỳ được. Bằng không ba giết chết cả hai đứa như giết rắn. Từ nay hai đứa
bây là hai con rắn... vì chất rượu này...
Lá rụng ơi lá rụng!
Từng chiếc lá trâm bay lả tả
như bươm bướm mỏi cánh, đáp nhẹ xuống mặt nước từ trong ngọn rạch trôi dài ra.
Con Lài nhìn dòng nước uốn
khúc qua doi, qua vịnh như con rắn bò, thứ rắn có khoanh màu vàng, con rắn hổ
sơn. Nó bụm mặt lại để che cái hình ảnh đó. Nhưng nào được! Kìa chiếc xuồng của
thằng Lợi bơi lướt tới, vạch ra hai làn bọt nước lốm đốm trắng như con bạch hoa
xà... Lập tức nó xuống bến, bơi theo, mãi đến khi xuồng thằng Lợi ghé bên bờ
đìa, kế gốc cây bình bát.
Thằng Lợi day lại cười:
- Đi đâu vậy cô Hai... rắn
bông súng?
Con Lài sực nhìn chiếc áo có
bông đang mặc.
Nó e thẹn, liếc thằng Lợi:
- Em giống như con rắn bông
súng. Còn anh, áo đen mốc như con rắn hổ đất. Cười em làm chi.
- Rắn đâu dám cười rắn - Nó
vừa nói vừa nắm tay con Lài.
Con Lài rút tay lại cho có lệ.
Nó bước qua xuồng, ngả vào lòng thằng Lợi.
- Anh à!
- Cái gì đó, hở rắn!
- Thiên hạ thấy, họ cười chết.
- Ai thấy mà cười? Chung
quanh đây cái gì cũng là rắn như hai đứa mình. Thí dụ như mấy sợi dây choại,
dây bòng bong kia.
Con Lài gật đầu:
- Phải, dây choại, dây bòng
bong giống như rắn lục, nó xanh tươi. Còn đám cỏ bồn bồn đằng kia, nó dẹp lép
quả thật là rắn lá... Nhánh củi khô kế đó, anh thấy không anh Lợi?
- Nó là con rắn nẹp nia, da
nó xù xì...
- Em suy nghĩ sao thấy kỳ
quá, anh à. Rắn có thù oán gì với loài người, cớ sao loài người thù oán rắn.
Như dây choại, cỏ bồn bồn, nhánh củi khô rất ích lợi cho con người.
Thằng Lợi vuốt mái tóc con
Lài:
- Vậy nên rắn mới buồn bực
trong lòng, tụ họp lại. Con rắn này tìm con rắn kia làm bạn với nhau cho vui. Rắn
với rắn thương nhau lắm.
- Nó có cắn nhau không anh?
- Đâu có. Mà nó cũng không
muốn cắn loài người. Người nào biết điều thì rắn không cắn.
- Biết điều là sao?
- Là biết nói chuyện với rắn.
Nói chuyện bằng hơi tay, thí dụ như ba của anh...
Con Lài cố giữ trầm tĩnh, nó
biết rằng nãy giờ nó đã nói chuyện nhảm vì uống rượu rắn giao đầu, nhưng nó nhớ
lời ba nó căn dặn...
- Hơi tay của ba anh có gì
mà nói chuyện được. Anh có cái hơi đó không? Tay anh đâu rồi.
Thằng Lợi xoa tay rồi đưa
trước mặt con Lài:
- Phải có ngải mọi. Em biết
thứ ngải đó không? múc bột nó làm bánh ăn ngon lắm. Ăn bánh ngải rồi uống nước
chanh. Xong xuôi, nằm xuống hút một điếu á phiện với cái dọc tẩu làm bằng sừng
con dinh.
Con Lài lắng nghe từng tiếng
rồi hỏi tiếp:
- Hút á phiện rồi làm gì nữa?
- Rồi thì vợ chồng dắt tay
nhau dạo kiểng, ngắm cái bông huê xà...
- Bông huê xà là thứ gì?
- Huê xà là huê xà, ba của
anh nói lại sau rốt.
Con Lài lẩm bẩm:
- Ngải mọi, nước chanh, á
phiện, sừng dinh, huê xà. Toa này năm vị. Mình nhớ đủ hết.
Năm Điền với đứa con gái bỗng
nhiên chết ngã lăn tại nhà.
Tin đó truyền ra nhanh chóng.
Cả rạch Thuồng Luồng, ai nấy chưng hửng. Mấy ông thầy rắn xúm lại rồi quả quyết:
- Chết vì rắn. Dấu răng rắn
hổ. Chắc chắn có rắn hổ trong nhà, nó phản lại chủ.
Chờ cho thưa khách, thầy Hai
Rắn tới, cầm bàn tay của nạn nhân nọ mà ngửi. Nước mắt thầy bỗng dưng tuôn xuống.
Chợt nhìn chai rượu thuốc “rắn giao đầu” trên bàn thờ, thầy lắc đầu, thở dài.
Đêm đó, thầy kêu thằng Lợi
ra sân mà nói:
- Mai này cha phải đi. Con ở
lại một mình. Cha buồn lắm. Họ dụ dỗ con để khám phá bí mật, cha biết vậy.
Nhưng trăm sự cũng vì toa thuốc nọ thiếu cây huê xà nên không linh nghiệm. Cây
đó khó kiếm lắm. Cha con Năm Điền tưởng là cha nói gạt chớ sự thật có nó: dây
đó tròn bằng mút đũa, vằn vện như da rắn. Phải tìm ở chót núi Ông Cấm, tìm cả
tháng trời mới được một cây. Con Lài chết, có lẽ vì Năm Điền không tin con gái
nên cho rắn cắn trước. Chừng thấy con chết, y buồn quá tự tử theo, không muốn
chuyện đổ bể ra e mất mặt với đồng nghề. Nghề rắn đó nghiệt như vậy đó!
Đêm sau thầy Hai Rắn trốn khỏi
xóm giềng, trốn đứa con trai mà đi mất.
Còn thằng Lợi ở lại. Tội
nghiệp nó biết chừng nào! Nó nào hiểu tại sao loài người bày đặt ra thuốc rượu
“rắn giao đầu” để dụ dỗ lẫn nhau, trong khi cái tình yêu tự nhiên còn keo sơn gấp
mấy! Nó không hiểu sở dĩ ngày nay nó cô độc, vắng cha, vắng tình nhân như vậy
chỉ vì mối ganh tị giữa hai người đồng nghề là cha nó với cha con Lài.
Nó thơ thẩn như mất hồn,
khóc không ra nước mắt mỗi khi thăm nấm mộ của người tình xưa, thấy mấy dây rau
muống bò lan bên cạnh.
Cây huê xà là gì? Có thiệt
hay không? Lắm đêm, nó nằm chiêm bao thấy một thứ dây lốm đốm trắng mọc cheo
leo ở chót núi Ông Cấm, tiếp với trời xanh. Trên cảnh xa vời không nhơ bợn đó,
dây huê xà nhỡn nhơ uốn éo với gió núi. Giữa lòng từng chiếc lá, hiển hiện kìa
trăm ngàn gương mặt con Lài, tươi tắn, cười riêng với nó, trẻ mãi không già...
Chiếc ghe "Ngo"
Thiên hạ đồn rằng lục cụ
tăng liên có phép nghe được tiếng chim kêu, gió thổi và nghe cả đến tâm sự từng
giọt nước, từng hạt bụi trong lòng đất.
Ngày hôm qua, theo sự hướng
dẫn của cụ, chú phó hương quản Hem đã đào được một chiếc ghe ngo. Không biết
ghe này chôn vùi từ bao lâu rồi; chỉ biết là đất phù sa đã lấp lên gần một thước.
Lục cụ Tăng Liên bèn thắp nhang giữa ruộng, đọc kinh lâm râm. Chập sau, cụ quỳ
xuống trân trọng đặt tay lên mũi ghe. Ghe chưa quá mục, thân hãy còn ngời lên
màu nước sơn đỏ chói. Cụ lẩm bẩm:
- Lâu lắm rồi... Hồi xưa
kia, chừng năm bảy trăm năm qua, vùng này giàu có, sung túc. Cứ xem chiếc ghe
kia cũng đủ biết người xưa tài giỏi hơn người nay...
Chú phó hương quản Hem nói:
- Thưa cụ, tìm được di tích
này âu cũng là may mắn cho xóm mình. Không hiểu theo tục lệ mình có nên đào chiếc
ghe này, đem xác nó về gần chùa mà thờ?
- Không được. Chiếc ghe ngo
dài trên năm mươi thước. Khoảng giữa cây đã mềm, làm sao đem về chùa nguyên vẹn
được. Không khéo, chúng ta hủy hoại công trình người xưa... Thà chúng ta đừng gặp
chiếc ghe này còn hơn gặp mà phá hủy. Chú biết ghe ngo là gì không? Nó là hiện thân
của rắn thần Naga, linh hiển lắm. Hồi đức Thích Ca ngồi thiền bên bờ hồ giữa rừng,
rắn Naga là thần ác. Hôm ấy mưa to gió lớn, đức Thích Ca cảm hóa được rắn. Rắn
bèn quấn tròn chung quanh và ngẩng đầu lên cao để che mưa gió cho đức Thích Ca.
Từ đó về sau, người Miên khoét thân cây sao, theo hình rắn, hằng năm bơi đua
trên sông để mừng mùa nước nổi.
Chú phó hương quản Hem đứng
nghe, tỏ vẻ thành kính rồi đi theo sau lục cụ mà về chùa. Chuyến về, cả hai im
lặng. Nắng chang chang. Thỉnh thoảng, họ quay lại nhìn cánh đồng mênh mông, cỏ
non vừa mọc xanh rờn. Nơi ruộng sâu, nước ngập lên khỏi mắt cá, lác đác vài người
lo cày bừa. Lục cụ nhìn chú phó hương quản, chú phó hương quản nhìn lục cụ.
Linh tính như báo trước với họ điềm gì. Điềm ấy lợi hay hại? Một chiếc ghe ngo
bị chôn vùi từ năm sáu trăm năm, nay bỗng nhiên hiện ra chào ánh mặt trời!
Như thường lệ, lục cụ Tăng
Liên vào liêu an nghỉ. Phó hương quản Hem tỏ ra bối rối. Chú ngồi không yên.
Chú không muốn về nhà khi bao nhiêu lo âu còn chồng chất, xao động trong lòng.
Một ý nghĩ thoáng qua, chú lập tức bước qua bên hông chùa, nơi trại lá. Dưới trại,
một chiếc ghe ngo dài kê lên cao, sơn phết kỹ lưỡng. Chiếc ghe này liên tiếp bốn
mùa nước, đã làm vinh diệu cho chùa: cứ mỗi kỳ đua là thắng giải nhứt. Chú nhìn
chiếc ghe từ mũi chí lái: bề ngang chừng tám tấc nhưng dài đến năm mươi thước.
Hình ảnh con rắn thần Naga mà cụ lục giảng giải khi nãy hiện ra trước mặt chú.
Hai con mắt ghe chớp lên. Toàn thân ghe như rung chuyển, ngời từng đốm xanh đỏ
như vẩy rắn. Lái ghe, đằng xa kia, như quơ qua quơ lại. Gió thổi rào rạt vào trại
lá. Ào! Ào! Hai tai chú nghe lùng bùng tiếng cồn, tiếng trống, tiếng hò reo.
Ghe nọ rùng mình đòi phóng tới, gân cốt chuyển nghe răng rắc. Khiếp quá!
Lục cụ ngồi trong liêu,
ngóng đợi phó hương quản Hem để ra ruộng nghiên cứu xác chiếc ghe cổ nọ.
Trời quá trưa. Rồi mãi xế
chiều, chú phó hương quản mới tất tả bước vào, lạy cụ hai lạy như thường lệ.
Đôi mắt chú phó hương quản sáng lên:
- Vì có lệnh của ông Đốc Phủ
chủ quận nên tôi phải đi hầu, về trễ.
Lục cụ sửng sốt:
- Đòi việc gì?
- Dạ, ông Đốc Phủ dặn chùa
mình đúng ba ngày nữa phải đem ghe tới chợ Gò Quao mà đua với ghe của mấy chùa
khác. Không tuân thì có tội.
- Tội gì? Mới tháng này,
chưa tới mùa nước! Đua ghe như vậy trái với tục lệ.
Chú phó hương quản cố suy
nghĩ:
- Dạ nghe nó lễ lớn lắm. Lễ
của Tây, ngày 14 tháng 7. Theo mọi năm, ở Rạch Giá mới có lễ. Năm nay quận Gò
Quao mình bắt chước phát phần thưởng.
Lục cụ Tăng Liêm nghiêm mặt
lại. Đem ghe ngo của nhà chùa để đua, ăn mừng một ngày lễ chẳng liên quan gì đến
dân mình nghĩ cũng khó xử thật. Không tham dự là chống lại với nhà nước Lang
Sa, còn tham dự thì mất cả ý nghĩa thiêng liêng. Lục cụ bước ra khỏi lều, đi
vòng qua trại lá để ngắm chiếc ghe ngo. Cụ nói:
- Đua thì cũng được. Ngặt
mình không sửa soạn trước. Rủi thua thì mất danh xóm này. Phải bào lại cho
láng, sơn hai lớp cho kỹ. Chú phó hương quản biết không ghe không trơn láng đi
chậm lắm, dầu mình cố sức bơi. Cẩu thả thế này...
Chú phó hương quản nói:
- Đây là chuyện cực chẳng
đã. Chùa nào cũng vậy, họ đâu có thời giờ sửa soạn kỹ hơn mình. Dầu muốn dầu
không, mình cũng phải đua. Nghe nói thì quan trên giúp mỗi người một ổ bánh mì,
mười người thì lãnh một hộp sữa. Ai về nhứt, được giải... thưởng danh dự.
Lục cụ gật đầu:
- Phải nhưng mà... chú chắc
mình thắng kỳ này không?
Chú phó hương quản cười
giòn:
- Dạ chắc. Dân xóm mình bơi
giỏi lắm; hơn nữa, mới tìm được xác chiếc ghe ngo xưa. Ghe có hồn, lục cụ à! Hồn
chiếc ghe xưa giúp chiếc ghe đời nay. Hồi hôm qua, hèn chi tôi thấy chiếc ghe
ngo này chuyển mình răng rắc như sung sức lắm.
Thế là sáng hôm sau lục cụ
đích thân đọc kinh làm phép cho ghe ngo. Ghe đẩy xuống nước, bao nhiêu trai
tráng trong làng hò reo vang dậy như... lân thấy pháo. Sáu mươi bốn cây dầm nhỏ
phân phát ra, mỗi người mỗi cây. Trước mũi ghe, cây lộng đỏ giương lên che một
cái khay đầy rượu, hương, trầu, hoa quả và một ông Phật bằng vàng lớn cỡ ngón
tay cái.
Chú phó hương quản được hân
hạnh lãnh trách nhiệm chỉ huy cuộc chiến đấu sắp tới. Chú lạy cụ lục cụ rồi đến
ngồi ngay mũi ghe, dưới bóng cây lộng. Ba mươi hai cặp thanh niên lực lưỡng từ
từ bước xuống, ngồi sắp hàng hai. Be ghe khẳm, ngang mí nước, tưởng chừng xê
xích một phân nữa là chìm. Nhưng không đâu, chú phó hương quản đã vấn chiếc
khăn nhiễu đỏ lên đầu rồi đánh vào cái cồn nhỏ:
- Môn! Môn! Môn!...
Đoàn lực sĩ hạ dầm xuống
khoát nước, nhịp nhàng. Chiếc ghe ngo phóng từng bực rồi nổi lên cao khỏi mặt
nước. Nước văng trắng xóa hai bên. Tiếng cồn càng thêm nhặt. Rồi im bặt. Lúc ấy
người ta thấy chú phó hương quản nâng cây dầm lên cao khỏi đầu, bơi trên không
khí.
Tập được như vậy năm bảy bận,
chú phó hương quản bắt đầu an tâm. Lục cụ mỉm cười, ghé miệng vào tai chú mà
căn dặn lần chót:
- Ngày mốt, khi sắp hàng chú
nhớ kỹ: nếu họ sắp cho mình ở phía bờ bên này thì mình phải lấn tới chừng một tấc.
Nước ngược chảy bên này mạnh hơn. Chùa Sóc Ven có bùa. Tránh đừng cho bên họ đụng
nhằm ghe mình; không khéo ghe mình đứt ra làm hai khúc. Có bề gì chú ngậm ông
Phật vàng vào miệng. Nhớ dặn anh em bên mình, uống rượu bớt một chút. Mỗi người,
phần ba lít là vừa.
Tuy nằm nhà, lục cụ Tăng
Liên vẫn theo dõi được cuộc đua ghe. Cụ nhắm mắt định trí, tai lắng nghe tiếng
cồn của ghe ngo chùa mình. Nó khác hẳn giọng cồn của chùa khác, cao vút hơn,
thanh tao hơn.
Từ sáng đến trưa, tiếng
“môn, môn, môn” nghe đều đều. Cụ nhướng mắt, cau mày rồi chập sau ngáp dài,
thông cảm: ngoài kia, họ “cáp” độ chưa được. Theo thường lệ, khi xuất phát hai
chiếc ghe không ở lằn mức nào nhất định. Sông quá rộng. Hai bên cứ bơi chầm chậm
lấy trớn tới. Hai vị chỉ huy liếc mắt nhìn nhau, khi nào đồng ý đua thì mới bắt
đầu. Họ mãi “so cựa” với nhau như vậy.
Bỗng giữa trưa, tiếng cồn
thúc giục rồi bặt. Lục cụ đứng dậy, đọc kinh lâm râm, đi tới đi lui trước sân
chùa. Chao ôi! Ngoài sông Cái Lớn hai chiếc ghe ngo biến thành hai con rắn thần
bay trên mặt nước. Kìa, phó hương quản Hem đỏ rực như cây đuốc: khăn đỏ, mắt đỏ,
da thịt đỏ vì rượu, vì máu nóng, vì ý chí bảo tồn danh dự của chùa mình. Kìa!
Ghe của đối phương đang liều mạng xắn vào hông ghe bên này để được huề vì hai
bên đều chìm. Nhưng người coi lái bên này nhanh tay, lách qua được. Phó hương
quản Hem vội chụp lấy cây dầm nhỏ, nâng lên cao, bơi trên gió như thu hút tất cả
sức mạnh của trời, của đất. Ghe vượt qua.
Đoàn dũng sĩ ôm cán dầm sát
vào ngực, ngã mạnh tới, chuyển tất cả sức lực vào mái dầm. Nước bay trắng xóa.
Sau cùng, phó hương quản vội cầm ông Phật vàng trong khay, bỏ vào miệng mà ngậm.
Lục cụ Tăng Liên hình dung cảnh
tượng dưới sông Gò Quao như vậy. Nó có thật không? Mồ hôi tươm xuống lưng, thấm
ướt áo cà sa. Cụ chấp tay vái Trời Phật rồi vào trong liêu nằm xuống thở mệt, đợi
chờ.
Chiều hôm đó, tiếng hát vang
dậy, tiếng cồn nhịp nhàng đưa đến ngày một gần. Lục cụ đoán đó là điềm chiến thắng.
Cụ rửa mặt, lên chùa thắp nhang để tạ ơn đức bên trên.
Nhưng phó hương quản Hem bước
vào lạy cụ. Gương mặt chú lạnh như đồng, gợn chút gì buồn bã.
- Sao vậy? Mình thua người
ta à?
Chú đáp:
- Dạ, mình thắng. Nhưng
mà...
- Sao?
- Nhưng mà được giải thưởng...
- Được giải thưởng, có gì mà
chú ngại. Tiền bạc hả? Vải bố hả? Nhang đèn hả? Năm nay, nhà nước cho vật gì?
Chú phó hương quản Hem im lặng,
chập sau mới bước ra ngoài, đem vào một gói giấy lớn, từ từ mở ra thì ô hô! Đó
là một lá cờ tam sắc to tướng.
Chú nói:
- Cái này của ông Đốc Phủ tặng
chùa mình, phần thưởng hạng nhứt.
Lục cụ không nói nửa tiếng,
nuốt nước miếng như cố nén chút gì tủi nhục, xót xa. Hồi lâu, cụ lắc đầu, cười
xòa, rồi đỡ chú hương quản đứng dậy. Hai người bước ra sân. Một quang cảnh náo
nhiệt diễn ra: bao nhiêu trai tráng đang nằm trên bãi cát, trên đất bùn. Kẻ thì
hát nghêu ngao, kẻ thì ôm ngực mửa ra nào là rượu, bánh mì, kẻ thì với tay lên
như gào thét, đòi thêm rượu nữa.
Chú phó hương quản nói:
- Dạ, bây giờ mình khiêng
ghe ngo lên trại, mai mốt, sợ không ai rảnh.
- Phải. Rồi chú ở đây với
tôi. Tôi buồn quá. Có chút chuyện cần.
Chú hương quản sực nhớ đến
chiếc ghe ngo thiên cổ vừa tìm được mấy ngày trước. Nếu hổm rày không bận việc
đua ghe này, có lẽ chú xin phép đào nó lên được. Và lục cụ chắc cũng dạy chú
nhiều bài học hay hơn.
Chú nói:
- Mình ra ruộng, tiếp tục
đào chiếc ghe xưa coi thử, phải không lục cụ?
Lục cụ nói:
- Thôi. Mình cứ lấp đất lại
cho chiếc ghe đó yên thân, khỏi bận hồn người xưa. Nay mai, vài chục năm nữa,
chiếc ghe của chùa mình cũng vậy. Vạn vật đều biến đổi. Duy chỉ có nụ cười của
đức Quan Âm bốn mặt... Bốn mặt của ngài nhìn bốn phía để cứu khổ chúng sinh,
khuyên ai nấy trầm tĩnh vì sự đời mãi đổi thay, thay đổi.
Đây
là một giai thoại từ hồi xưa , khoảng 1946, xa lơ xa lắc, đẩm mùi máu lửa. Có
lẽ nhiều bạn trẻ chưa hiểu qua khung cảnh lịch sử của thời đầu kháng chiến
chống thực dân Pháp nên tôi xin thuật lại, bảo đảm đúng sự thật. Năm ấy, tôi
vừa ra khỏi cổng nhà trường với số vốn liếng văn hóa vô dụng.
Tôi về nằm nhà, hưởng
bổng lộc của cha mẹ để chờ xem thời cuộc. Nghe đâu ở tỉnh lỵ Rạch Giá, đồng bào
cướp chính quyền, đánh Pháp, đuổi phát xít Nhựt. Rồi thực dân Pháp đổ bộ thắng
thế, đóng một dãy đồn bót để kiểm soát vùng biên giới U Minh. Tôi buồn quá vì
đã ở rừng U Minh mà còn bị thực dân hăm dọa... Đành nghĩ đến bài toán dời chỗ
ở. Nhưng đi đâu bây giờ? Thiên hạ tứ xứ kéo nhau đến U Minh cho rằng đó là nơi
quá an toàn. Cha mẹ tôi lập nghiệp từ lâu tại U Minh. Thế là ở nhà cha mẹ là
hình thức trú ẩn êm đẹp nhứt trên đời.
Nhờ dạo xóm thấy đa số
bà con quen thuộc đều làm nghề đốn củi lậu thuế giữa rừng nên tôi càng an tâm
hơn. Mặc dầu đêm đêm nghe tiếng súng nổ đì đùng ở căn cứ lớn là đồn rạch Thứ Ba
tôi cứ ngủ yên giấc trong căn chòi nhỏ bé, dựng bên gốc cây mù u ở gò mả lạng.
Người ở ven rừng bảo:
- Cậu khôn quá. Tám
mươi năm Tây cai trị xứ này, chúng nó chưa bao giờ đặt chân tới cây mù u đó.
Hồi xưa nghe đâu quan Trường tiền muốn lên tới cây mù u để đo đất ghi vô sổ bộ.
Nhưng đất xấu quá, mấy ông điền chủ không thèm tranh chấp hoặc trưng khẩn, nhà
nước đành bỏ qua.
Họ nói đúng quá. Tôi
lật bản đồ thấy ghi rõ: Vùng cây mù u gò mả lạng được chú giải là “rừng tràm
trầm thủy” (Forêts inondées de tràms, chữ tràm có s ở phía sau, theo văn phạm
Pháp chỉ số nhiều).
Đêm đêm, tôi vô chòi ở
gốc cây mù u ngủ hoặc đọc truyện Tam Quốc. Thiên hạ đồn đãi rằng gốc cây mù u
quyến rũ ma quái. Tôi xin làm nhơn chứng: chẳng có ma quái gì ráo! Tôi ngủ rất
yên giấc, thỉnh thoảng giựt mình vì muỗi chun vô nóp quá nhiều, vì chuột chạy
sột soạt bên vách, hoặc chim ụt đi ăn đêm vậy thôi.
Hừng sáng đêm ấy, tôi
giựt mình nghe tiếng chân ai lội bì bõm qua mương. Cọp beo chăng? Ai đến đây
kiếm tôi? Sương lùa vào đầy chòi, mặt trời chưa mọc nên khung cảnh rất mơ hồ.
Tôi hỏi trổng:
- Thằng cha nào vậy?
Tây hả?
Giọng người bên ngoài
đáp lại:
- Tao đây mà, Hai!
- Ủa, bác hương cả hả?
- Tao mà. Thức dậy
mau. Tây tới.
Với bản chất “tham
sanh úy tử” tôi lồm cồm ngồi dậy hỏi nhanh:
- Rồi mình chạy đi đâu
bây giờ? Nó dám lên tới đây sao? Nó muốn bắt tôi hả?
Bác hương cả cười
giòn:
- Nó không dám lên tới
cây mù u nhưng bác muốn “bắt cóc” cháu, đem ra trình diện với nó. Cháu sửa soạn
mau.
Tôi nghĩ thầm: “Bấy
lâu nay mình lầm to. Bác hương cả đâu phải hạng người tốt như mình xét đoán”.
Bác xô cánh liếp, cầm cây gậy nói dồn dập:
- Vận nước sắp tới hồi
khuynh nguy.
Tôi bực mình cãi lại:
- Vậy thì muốn giúp
nước, tôi phải theo bọn “thực dân sài lang” hay sao?
- Cháu hãy nghe cho
kỹ. Coi tờ báo đây nè. Đừng nóng nảy. Lúc này cháu nên nguội lạnh, hiểu rõ tình
hình “quốc sự” hơn bao giờ hết.
Đó là tờ báo lá cải,
loan tin thỏa hiệp án đã ký tại Ba Lê. Tôi thắc mắc: Tại sao có chữ “án” phía
sau? Báo ấy lại mở dấu ngoặc in rõ chữ “Modus Vivendi” tôi lại càng tịt mù,
hoang mang. Bác hương cả nói tiếp:
- Hai bên chịu ngưng
chiến rồi. Nhà binh Pháp tới xóm đình làng Đông Thái. Mình nên tiếp rước. Cháu
biết chút đỉnh tiếng Tây thì nên thay mặt dân làng để ăn nói cho Tây nó ngán
dân mình.
- Nó tới chưa? Ai mời
Tây tới xóm đình?
- Nó muốn tới thì nó
tới, ai dám cản. Nếu cản tức là mình “không ngon”. Pháp-Việt đề huề mà! Chừng
một giờ đồng hồ nữa là nó tới. Nó đi một đoàn 30 xuồng, toàn là Tây trắng, có
ông quan ba Cạt-đi-nô cầm đầu. Mấy người dân ở gần bót bơi xuồng tới đây cho
bác hay trước.
Tôi tính nhẩm: 30
xuồng lính Tây, mỗi chiếc chở 7 mạng, tức là 210 mạng tất cả. Lại còn những khí
giới tối tân và vài tên Việt gian. Phải điều đình chuyện gì với giặc? Bỗng dưng
tôi nhớ đến chuyện riêng tư: bác hương cả có đứa con gái, tên là Út, cô Út
dường như mến tôi từ lâu. Hồi nước nhà còn “thanh bình”, bác hương cả muốn kết
tình thông gia với cha tôi. Từ bốn tháng qua, khi Pháp đóng đồn, bác hương cả
tỏ thái độ mập mờ khó hiểu. Hễ Tây kéo đại binh tới xóm đình thì bác chạy trốn.
Nhưng khi Tây rút lui thì bác bơi xuồng ra ngoài đồn, xin giấy tờ cho hàng xóm,
thăm mấy ông hương chức, hội tề theo Tây. phải chăng phen này lợi dụng hoàn
cảnh thỏa hiệp án mà bố trí cho Tây vô xóm để bắt cóc tôi, đem về đồn cho học
nghề “thông ngôn tập sự” rồi sau đó bác gả cô Út?
Tôi cúi đầu lẳng lặng
bước theo sau. Chung quanh tôi toàn là rừng bụi. Nếu gặp bất trắc tôi sẽ chạy
trốn. Đến xóm đình, thiên hạ nhốn nháo, chỉ về phía tôi:
- Cậu Hai tới! Mô
Phật! Tụi nó tới nãy giờ. Cậu Hai lại đẳng ăn nói với tụi nó.
Bác hương cả trợn mắt:
- Ủa, nó tới hồi nào?
Nó ở đâu?
Người trong xóm trả lời:
- Tới nãy giờ, chừng
mười phút. Đông lắm, chừng vài trăm đứa, đổ bộ tại lẫm lúa ông tú tài Sòng. Nó
hăm he: Nếu không gặp được người “đại diện” của “bên kia” thì nó đốt hết xóm
làng.
Tôi nói khẽ:
- Bác cho phép cháu
rút lui. Cháu đâu phải là đại diện của Việt Minh.
Bác hương cả nói:
- Thằng Hai mầy nhát
quá! Mình cần ăn nói cho ngon để nó ngán dân mình. Bác đại diện cho dân được
rồi. Hồi trước bác làm hương chức hội tề của nhà nước Lang Sa suốt ba chục năm,
từ hương ấp leo lên đến hương trưởng, hương sư, hương chủ rồi hương cả! Tụi nó
luôn luôn đem theo một thằng thông ngôn mà.
Từ phía bên kia rạch,
tôi nghe vọng lại tiếng nói chuyện “lù xù”. Bốn tên lính Pháp đang quỳ xuống
thủ thế. Một họng súng liên thanh chĩa qua phía tôi và bác hương cả.
Một người trong xóm
nói khẽ với tôi:
- Đừng chạy. Nó bắn
bất tử lắm. Hồi nãy nó đòi làm dữ, khoát nạt. Tôi liền kiếm cục than trong bếp
viết mấy chữ “Quiu la Phờ Răng”. Hồi xưa tôi ở tù về tôi ăn trộm trâu, anh em
bạn xâm trên ngực tôi mấy chữ đó để làm kỉ niệm: Vive la France, vạn tuế Pháp
Quốc, phải không cậu Hai?
Bữa tiệc đã đến giờ
khai mạc tại phòng khách của ông tú tài Sòng. Ông này là điền chủ, đậu tú tài
Pháp, xây cất gian nhà ngói khá đẹp theo kiểu Tây phương tại bờ rạch. Từ năm
“khói lửa mịt trời” ông tú tài tản cư ra chợ Rạch Giá, bọn Pháp đã khéo lựa nơi
trú đóng, bố trí canh phòng bốn phía nhà và bắt gà vịt, tự mình lột da cho sạch
lông rồi nướng trên nền gạch bông, vụng về nhưng khỏi sợ bị đầu độc.
Khi gặp quan ba Cát Đi
Nô, lòng tôi trầm tĩnh lạ thường. Con người đôi khi vì sợ quá nên đâm ra liều
lĩnh rồi trầm tĩnh. Tôi suy luận:
- Bây giờ mình như con
cá lọt vào rọ. Chạy trốn là hèn nhát, là chết... Tốt hơn mình nên trổ tài ăn
nói, đem bao nhiêu tiếng Tây học ở trường Tây mà xài một trận cho biết đá biết
vàng.
Người trong xóm đã bị
Tây bắt làm xâu tự nãy giờ. Họ khiêng bàn ghế ở mấy nhà lân cận đem vào nhà ông
tài tử Sòng. Hai cái bàn dài, đâu khít lại, chung quanh là hàng chục cái ghế
ngồi. Đa số binh sĩ đều túc trực ngoài sân. Trong phòng toàn là người có cấp
bực, ngồi xuống ghế tự bao giờ. Và họ chừa hai ghế trống cho bác hương cả và
tôi.
Tên quan ba mỉm cười,
bắt tay tôi:
- Chào bạn! Nãy giờ
tôi chờ.
Bạn tức là “mông sừ”
mà tôi tạm dịch lại cho tôi nghe thầm. Chẳng lẽ hắn xem tôi như một “ông”. Hắn
hỏi tiếp:
- Ở đây yên ổn không?
Toán cướp của bạn đâu rồi?
Tôi hơi sợ và cố sức
đóng vai tuồng kẻ đang nổi giận:
- Ông cứ hỏi ông hương
cả. Tôi là người học trò... vì thời cuộc nên nghỉ học. Xóm nầy lâu rồi không
thấy trộm cướp tới.
Bọn sĩ quan nhìn nhau
rồi trợn mắt.
Tên quan ba hỏi tiếp:
- Học ở đâu? Học bao
nhiêu năm?
- Học ở Cần Thơ, xa
cách chừng hai trăm cây số.
- Sao không học ở đây?
Tôi đáp thản nhiên:
- Ở làng nầy từ 80 năm
qua, không có trường học dạy chữ A B C gì ráo.
Bọn sĩ quan nói chuyện
riêng thì thào. Tên quan ba quát to:
- Đừng nói xấu chánh phủ
thuộc địa!
Tôi đáp nhanh:
- Tôi không sống 80
tuổi thuộc địa, nhưng mấy ông lão trong xóm làm chứng điều đó. Thí dụ như ông
nầy làm hương cả trong làng.
Tên quan ba khoát tay
ra khía ngoài. Tôi sợ điếng hồn, nhớ đến cái khoát tay của nhà vua khi cần gọi
“võ đao quân”. Bên ngoài, một người Việt mặc quân phục bước vào. Anh ta lãnh
trách nhiệm thông ngôn:
Bác hương cả đứng dậy
khoanh tay trước ngực, nhìn thẳng vào tên quan ba:
- Dạ, dân trong làng
đều dốt. Đâu có trường học, bằng cớ là tôi đây cũng dốt, may ra biết chút ít
chữ Nho để viết liễn đám cưới đám ma.
Anh thông ngôn nói lại
cho tên quan ba nghe. Hắn lại bĩu môi, xoa tay nhìn đồng bọn:
- Lạ thật!
Tôi nói xen vào:
- Nhưng dân làng ham
học. Người có học chút ít như tôi, dân trong làng luôn luôn mến. Vì vậy họ gọi
tôi đến đây nói chuyện với ông.
- Nói chuyện gì?
Tôi mỉm cười:
- Thật ra chẳng có
chuyện gì ráo. Đó là vấn đề xã giao của một dân tộc, xin lỗi, của một làng hiếu
khách. Họ sợ mấy ông đốt nhà. Tôi đã an ủi, họ tiên đoán là mấy ông không làm
chuyện đó.
Tên quan ba nhún vai
rồi lại xoa tay, nâng ly rượu chát. Tôi đứng dậy, chợt nhìn mấy cây dừa mé
rạch. Một tên lính Pháp đang “tập sự” trèo dừa và kế bên hắn, còn hai ba tên
khác đang lật tấm bản đồ.
Bọn lính đã làm xong
nhiệm vụ: hàng chục con gà rô-ti thơm phức. Chúng đem gà lên bàn, xé mỗi con
làm hai phần.
Tên quan ba nói với
tên quan một ngồi bên cạnh:
- Ra lịnh cho bọn
chúng dùng bữa!
Tên quan một ra sân,
tiếng súng lịnh nổ ầm. Tim tôi phập phồng vì thú thật, từ thuở bé đến giờ, tôi
chưa lần nào nghe tiếng súng nổ sát bên cạnh mình như thế. Mùi diêm sanh phảng
phất đâu đây. Bản chất “tham sanh úy tử” thúc giục tôi rút lui. Ăn xong bọn
lính Pháp sẽ về. Chừng về, chúng sẽ thi hành thủ đoạn. Thủ đoạn ấy là bắt sống
tôi làm... “tù binh”.
Tôi đứng dậy ngồi
xuống, rồi đứng dậy, lúng túng. Tên quan ba ra lịnh cho tên quan một đem máy
ảnh, chụp một bức làm kỷ niệm. Kỷ niệm gì? Để nhìn mặt chăng? Tôi nói bâng quơ
một câu tiếng Pháp:
- Trước khi ăn cần rửa
tay sạch sẽ, theo phép vệ sinh. Để tôi rửa tay...
Chân tôi bước lui, hơi
run run. Tên quan ba liếc tôi rồi cúi mặt ăn cái đùi gà. Tôi cố gắng bước thêm
bước nữa, đến cửa sau. Tình thế đã nguy ngập. Bọn lính ngồi vàng khè xung quanh
nhà, ghê quá! Chúng kiểm soát một vùng khá rộng. Chân tôi vẫn run. Làm sao chạy
thoát khỏi vòng vây? Nếu chạy, chúng sẽ nổ súng. Nhưng bước chậm chậm ra dáng
điệu tự nhiên thì e mất quá nhiều thì giờ. Rủi tên quan ba truyền lịnh báo
động, làm sao tôi chạy thoát?
Bọn lính bên ngoài
ngồi ăn ngấu nghiến miếng bánh mì, cá mòi hộp, ca hát huênh hoang. Có đứa cởi
trần, mình mẩy bị nắng cháy, lột da non từng mảng... Bọn trẻ con trong xóm đến
gần để xem mấy ông Tây ở trần. Đám người lớn thì đứng nhìn từ xa. Hồi nào họ
nghe đồn rằng người Pháp toàn là kẻ làm quan lớn, ăn mặc sạch sẽ, giờ đây họ
tỉnh mộng. Tôi bước lần ra khỏi vòng vây, nói lảm nhảm bằng tiếng Pháp:
- Chào các ông! Tôi
tìm cho các ông vài trăm trái dừa... Đừng uống nước lạnh, bịnh lắm.
Bọn lính gật đầu, cám
ơn.
Tôi càng sợ. Rủi như
tiếng cám ơn ấy lọt vào tai tên quan ba thì hắn sanh nghi. Tôi đến căn nhà đầu
tiên, bên kia con đường mòn. Chui vào khu vườn sau, rồi chạy lúp xúp, chạy mãi.
Bỗng dưng tôi nghe
tiếng gọi vui vẻ:
- Anh Hai! Em đây mà!
Làm gì mà chạy vậy?
Đó là cô Út, con gái
bác hương cả. Không bỏ lỡ cơ hội, tôi nói:
- Út... mau đi theo
anh, coi chừng Tây nó bắt em để cưỡng hiếp.
Út giựt mình, chạy
thình thịch sau lưng tôi. Phía nhà của ông tài tử Sòng, vài loạt liên thanh nổ
giòn rồi lại nghe tiếng súng nhỏ. Chúng tôi cùng chạy, đến gần căn chòi, bên
gốc mù u.
Cả hai dừng lại. Tôi
ngồi xuống nhìn dáo dác:
- Êm rồi!
Cô Út cũng liếc quanh:
- Êm rồi, anh ơi! Em
sợ gần chết.
Tôi nói:
- Anh em mình ngồi
xuống. Lát nữa tụi nó rút về bót. Muốn chắc ăn hơn, mình núp ở bụi cây lứt um
tùm kín đáo... Đừng vô chòi của anh. Tụi nó bỏ ống nhòm, nã súng.
Cô Út gật đầu:
- Ở ngoài này được,
nhưng mà nên vô lùm cây!
Tôi ngồi xuống, thấy
nặng trĩu trên vai. Cô Út thở phập phồng, tay mân mê tà áo, nhụy bông tràm
vương lấm tấm vào suối tóc hơi rối của nàng.
Tôi hỏi:
- Út! Chừng nào... anh
em mình...
Phía trong chòi, tiếng
nói khá to rõ ràng là bác hương cả:
- Vô đây, bây ơi! Ở
trong bụi cây, trưa nắng lắm, đổ mồ hôi mồ hám. Tụi nó thất trận rồi!
Út cúi mình cho khuất
dạng trong bụi lứt. Tôi tỉnh táo hơn, tìm cách an ủi:
- Em đừng sợ. Ổng dễ
lắm.
Rồi lên tiếng:
- Ủa! Bác hương lên
đây hồi nào? Vô chòi hồi nào? Hồi nãy, lúc gần ăn gà rô ti...
Bác hương cả nói một
hơi dài, giọng quá thân mật:
- Hai ơi! Mầy chạy
trước, mầy bỏ tao ở lại với bọn Tây! Tao liệu bề không xong, muốn chạy như mầy.
Tụi Tây nó sanh nghi. Ông quan ba hỏi mầy làm gì mà đi run run vậy... Tao lanh
trí, nói rằng mầy đau bịnh rét rừng, mầy ra sau nhà phơi nắng cho bớt lạnh. Hồi
lâu nó cho người đi kiếm mầy, mầy mất dạng. Nó hỏi mầy trốn nơi nào? Mầy có
dính dáng gì tới phe Việt Minh không? Tao trả lời rằng mầy đau bịnh kiết, mầy
đi cầu. Ông quan ba gật đầu, đưa mấy viên thuốc ký ninh, thuốc kiết gì đó. Nhờ
tao cho mầy uống. Sẵn dịp, tao ra ngoài sân làm bộ ngó dáo dác rồi chạy luôn.
Chạy được chừng trăm thước, tao nghe tụi nó nổ súng tưng bừng bắn chỉ thiên rồi
rút lui kéo đại binh về bót.
Tôi nói:
- Hèn gì! Nó đông như
vậy mà yếu bóng vía. Làm sao Pháp-Việt đề huề được!
Bác hương cả vỗ vai
tôi:
- Bởi vậy bác chạy lên
chòi, kiếm mầy, thấy mầy với con Út ở trong bụi cây lứt. Từ rày sắp tới, đừng ở
bờ ở bụi nữa.
Tôi cúi đầu:
- Xin lỗi bác.
- Không, tao nói
chuyện khác. Mày cũng đừng ở chòi cây mù u này. Cứ về xóm mà ở. Ở tại nhà bác
lúc ban ngày cho có bạn với con Út. Còn ban đêm... ngủ đêm... mới là nguy hiểm
cho mầy. Ban đêm, mầy chịu khó ngủ nhà khác.
- Dạ, như vậy buồn
quá!
- Tao nói chuyện khác.
Mầy phải ngủ lưu động, đêm này ở nhà này, đêm kia ở nhà kia. Tao sợ Tây cho
người vô bắt cóc mày để làm tù binh, xóm nầy sẽ mất đi một “nhân tài”!
Chuyện rừng tràm
Rừng Cà mau âm u và mênh
mông đến mức nào? Để trả lời câu hỏi đó, người ở địa phương thường xúm xít
lại để kể cho nhau một câu chuyện giải trí như vầy:
Năm đó thầy đội kiểm lâm X.
vừa đáo nhậm ở lô rừng 321. Thầy ta thích bắn chim nên luôn luôn đích thân bơi
xuồng đi rong khắp đường quanh nẻo tắt trong rừng. Cho đến ngày nọ, thầy nghe
có tiếng chim gõ kiến, thứ chim chỉ ở vùng đất cao chớ không bao giờ ở nơi rừng
tràm trầm thủy. Lấy làm lạ, thầy từ từ bơi xuồng lại ngay hướng đó, lắng tai
xác nhận rõ ràng:
- Cóc! Cóc! Cóc! Cóc!
“Chắc là chỗ này chim gõ kiến
nhiều lắm”. Thầy đội nghĩ thầm như vậy. Mái dầm khoát nước càng lúc càng hăng.
Và ngạc nhiên làm sao, tiếng “cóc cóc” lần lần nghe trầm xuống, trở thành tiếng
“cum cum” giống na ná tiếng mõ của đình làng.
Trước mặt hiện ra một cảnh lạ
mắt khiến thầy bỡ ngỡ như hai chàng Lưu Nguyễn khi giã từ non cao để trở về gặp
trần gian. Cảnh rừng tràm dày bịt “cây chen vạn gốc” không còn nữa. Một vòm trời
xán lạn hiện ra. Hàng trăm mái nhà cất san sát thành một xóm lớn, trong bản đồ
tự hồi nào đến giờ chưa có ghi vào. Chừng điều tra lại thì ô hô! Đó là một số
người lén lút vào đây cất nhà phá rừng để bán củi lậu thuế đã ba năm qua mà nhà
cầm quyền không bao giờ hay biết.
Sau khi thương lượng, họ đồng
ý chịu cho thầy một số tiền “trà nước” hai ngàn đồng, hồi xưa đó là số vốn khá
to. Nghe nói nhờ đó mà thầy đội sắm được chiếc đò máy và đến năm sau, thầy đâm
đơn lên quan trên để xin từ chức, dưỡng già.
Sở dĩ nãy giờ chúng tôi đi
hơi xa vấn đề là cốt ý giúp độc giả hiểu tối thiểu về lối sinh hoạt của một số
người khá đông sống bằng nghề phá củi lậu thuế thời Pháp thuộc.
Anh Tư Hưng ở trong số người
ấy.
Qui mô làm ăn của anh so với
xóm trên kia thì nhỏ bé hơn nhiều. Anh đã được người bạn giới thiệu vào ngọn
kinh Mười Lăm. Ở đấy, chỉ có bốn gia đình, thêm anh nữa là năm. Nhờ họ khéo che
đậy bằng hình thức giăng câu bắt rắn, nên lính kiểm lâm thời đó ít chú ý.
Hừng sáng, họ đi vào rừng đốn
củi. Gặp cây nào to lớn, ngay thẳng họ hạ xuống lột vỏ, ngâm bùn chôn giấu để
làm cột nhà, bán với giá đắt hơn. Cứ mười bữa, họ cho người chở củi ra chợ Thới
Bình giao cho nhà vựa củi. Vựa này có giấy phép của nhà nước. Đường đi thật gay
go. Lắm khi họ phải chịu trần truồng nhảy xuống bùn, đẩy xuồng củi xuyên qua rừng
hàng năm, ba cây số. Đêm hôm tăm tối, họ phải nhìn hướng sao trên trời mà đi. Lắm
khi đi lạc đàng trở về xóm cũ, họ chờ ngày khác. Mùa mưa thì trên rừng có nước,
việc đi lại tương đối dễ. Qua mùa hạn, muốn buôn bán lậu thuế như vậy phải vác
củi đi qua nhiều khu rừng nổi tiếng có rắn và cọp.
Sống như vậy lâu ngày, anh
Tư Hưng lần lần mến người mến cảnh.
Lúc nào bán được một bộ cột
nhà thì đó là phần thưởng chung. Họ mở tiệc ăn uống suốt ngày, thâu đêm, mời
người ở xóm khác tới dự. Anh Tư Hưng thích dự những cuộc ăn uống đó.
Đây là Hai Đẹt, người đã từng
nhậu ba lít rượu đế với ba yến khô cá sặc rằn.
Đó là Bảy Vĩnh, người hồi
tháng trước đã ăn một lượt ba kí lô mỡ heo luộc chín, chấm với muối ớt. Sau khi
ăn xong, anh còn đòi uống thêm bốn gáo nước lạnh.
Lại còn Tư Cần, đối thủ lợi
hại của Bảy Vĩnh. Chính Tư Cần đã ăn bốn chục viên bánh xôi nước và một con vịt
luộc, Bảy Vĩnh đáp lại, sẵn sàng ăn tám kilô sầu riêng. Thứ trái này khó kiếm ở
rừng Cà Mau, phải gởi tàu đò ra chợ Rạch Giá mua về.
Ngày hôm sau đúng lời hứa, Bảy
Vĩnh ăn tất cả. Có điều lạ là sau đó anh trợn trắng, mửa ra toàn sầu riêng, khiến
cho cử tọa phải một phen khó xử vì cái mùi “thơm béo” không đến nỗi khó chịu.
Nói chung, anh Tư Hưng không
chịu tham dự các cuộc tiêu khiển ấy, không phải anh không có tài ăn nhiều như
thiên hạ, ngặt vì anh muốn giữ thể diện để mưu cầu chuyện khác. Trong số người
tụ họp, anh chú ý đến cô Một, cô gái thùy mị của ông lão Bích.
Lão Bích là người đứng tuổi
nhứt trong xóm. Lão thường đến chung vui với tư cách người thạo chữ Nho. Phen
đó thấy lão đến, có người dùng chữ Nho để cười cợt với lão:
- Tử viết thiện giả, có con
không gả; tích thiện phùng thiện, để lâu sanh chuyện; tích ác phùng ác, để lâu
tác hoác.
Lão nâng tô rượu mà cười:
- Tôi chỉ có mụn con gái nên
phải kén rể đông sàng cho kỹ lưỡng. Cậu nào biết văn chương mới mong.
- Văn chương là thế nào? -
người nọ hỏi.
- Là biết hát đối. Đây tôi
ra một câu, ai đối được tôi gả con gái cho: Thấy anh hay chữ em hỏi thử đôi lời,
thuở tạo thiên lập địa, ông trời do ai sanh?
Anh Tư Hưng xiết đỗi vui mừng
sực nhớ hồi nhỏ anh đã từng nghe câu trả lời như sau, nên anh lập tức lên tiếng:
Nghe em hỏi tức, anh trả lời phức cho rồi, thuở tạo thiên lập địa, hai đứa mình
chưa sanh!
Ai nấy vỗ tay hoan nghinh.
Cô Một e thẹn, cắm đầu chạy về nhà.
Từ đó về sau, anh Tư Hưng
thường gặp cô Một để trò chuyện. Lão Bích khuyên anh nán một đôi năm, chờ khi
làm ăn khá. Anh vui mừng nhận lời. Từ sáng đến chiều đôi trai trẻ cố sức đốn củi
để đi bán. Nhưng phen đó, rủi bị lính kiểm lâm bắt được, tịch thâu chiếc xuồng.
Vô cùng buồn bực, lão Bích chạy mượn cho Tư Hưng số vốn nhỏ để anh ta xoay qua
nghề buôn nồi. Nồi trách, cà ràng ở Hòn Đất giá rẻ, chở về Cần Thơ bán lại lời
gấp ba gấp tư. Nhưng họa vô đơn chí, vì chở quá cao nên khi ghe đến gần Cần Thơ
thì bị sóng đánh chìm...
Nghĩ rằng đã đến lúc mạt vận,
anh Tư bèn lên chợ tìm nhà anh em bạn quen nhờ bảo lãnh để mướn chiếc xe kéo.
Không còn cách nào nhắn tin về gia đình lão Bích, anh hằng yên tâm suy nghĩ rằng:
- Năm xưa mình hứa một hai
năm sau mới cưới cô Một; chờ năm mười tháng nữa, mình dành dụm số tiền mọn trở
về rừng cũng không thất hẹn.
Như chim gãy cánh, vào một
chiều tháng Ba năm sau, anh Tư cùng một người bạn ở Cần Thơ trở về kinh Mười
Lăm để thăm viếng lão Bích và cô Một.
Rừng tràm không có mùa hạ
hay mùa thu rõ rệt. Mãn năm, luôn luôn lá xanh tươi và lấm tấm vài chiếc lá
vàng sắp rụng. Anh Tư và người bạn hối hả bơi xuồng vào ngọn kinh. Lòng anh khấp
khởi mừng thầm. Nhưng dòng nước hôm nay có khác, nó chảy lờ đờ, trong veo không
một miếng xác mía, một manh lá chuối trôi ra. Điều ấy chứng tỏ không còn người
nào ở trong ngọn kinh.
Đến xóm cũ thì hỡi ôi, ai nấy
đều dời mất chỉ còn sót lại vài căn nhà hoang xiêu vẹo, cất xa nền nhà lão Bích
chừng non công đất. Hỏi ai bây giờ? Cây cỏ toàn là lạ, căn nhà xưa đã đóng cửa.
Anh in trí rằng gia đình lão Bích đã dời đi nơi khác. Không còn đủ thời giờ để
cho anh buồn tủi nữa vì mặt trời sắp lặn sau rừng. Làm sao tìm chỗ ngủ gấp ở chốn
rừng này? Người bạn của anh quá nóng lòng đòi trở ra sông Cái, nhưng trở ra sao
kịp? Thôi thì đành đi sâu vào rừng tìm nơi nào có đất trống, có củi mục để đốt
ngừa rắn rít, cọp beo.
Anh Tư khuyên bạn nên vào gần
rừng với anh để giấc ngủ bảo đảm hơn. Cách đó không xa, đúng như anh ao ước, có
một đống củi lớn chắc là của ai đốn lậu thuế chưa kịp lưu đi.
Hai người trải nóp ra, nằm
hút thuốc. Chập sau vì quá mệt mỏi không ai bảo ai họ chui vào nóp ngủ say.
Một tiếng hú lớn khiến cây cối
vang dội. Anh Tư giật mình, hé nóp. Bên ngoài trăng sáng vằng vặc, không biết
rõ vào canh mấy, anh Tư lắng tai định thần, để tìm hiểu tiếng hú quái dị đó.
Anh ngỡ là tiếng chim ụt. Mà kìa! Có bóng trắng thấp thoáng từ xa len lỏi vào rừng
tràm và tiếng cười rú lên:
- Hả! Hả! Hả!
Lập tức, anh Tư Hưng gọi bạn:
- Mày! Mày thức hay ngủ?
Bạn đáp liền, giọng run run:
- Tao thức nãy giờ.
- Mày nghe gì không?
- Nó hú, nó cười phải không?
Chắc mình gặp con xà niên rồi.
Anh Tư Hưng quả quyết rằng rừng
này ẩm thấp, không bao giờ có xà niên như ở vùng núi cao. Anh nhướng mắt lên.
Bóng trắng ban nãy đang lù lù tới quá rõ rệt.
Chắc chắn đó là một người
con gái bỏ tóc xõa, mình mẩy trắng ngần, tay cầm một món gì ngắn, lòng thòng tựa
như cây phất trần...
Anh buột miệng:
- Ma... ma thiệt rồi. Mày tỉnh
trí không? Mày nằm sát xuống coi chân nó có đụng đất không? Ma thì đi hỏng chân
khỏi mặt đất.
Bạn anh trả lời:
- Tao coi kỹ nãy giờ rồi. Nó
đi hỏng mặt đất.
Bóng trắng nọ dường như chỉ
còn gần kề anh chừng một công đất, hai tay quơ lên rồi lại cười lớn. Làm sao
bây giờ? Tâm trí đang bối rối lại càng bối rối hơn. Anh vụt đứng dậy khi nghe từ
trong rừng có tiếng hú thứ hai đáp lại:
- Hú... Hú...
Anh Tư Hưng ra lịnh cho bạn
cùng tẩu thoát sau khi cuốn nóp thật gấp, e bóng ma nọ nhìn được dấu người mà
truy nã theo. Họ núp trong bụi rậm, thủ trong tay khúc tràm ngắn để tự vệ.
Bóng trắng nọ là một cô phụ
nữ.
Cô ta ngồi xuống đống tràm
mà hai người vừa trải nóp ngủ khi nãy. Cô ta vẻ giận dữ: đôi tay cấu xé vào đống
tràm nghe rột rột. Chập sau ông lão hiện tới, mặc áo ngắn, quần đùi đen.
Anh Tư Hưng đứng dậy nắm tay
bạn:
- Phải chạy mới được, mau!
Bạn cãi lại:
- Để tôi ăn thua với nó...
Bỗng dưng, ông lão đứng
ngoài đống tràm la lớn:
- Ai đó? Bà con nào đó? Phải
mày đó không Tư Hưng? Tao là Hai Bích đây...
Nhờ vậy mà anh Tư nhận được
bóng ma nọ: cô Một, người hứa hôn với anh ngày nào.
Lão Bích cho biết thêm giọng
mếu máo:
- Bây giờ nó điên rồi. Mày
đi vài tháng nó mang thai. Nó chờ mày về, chờ hoài. Rồi nó đẻ trong rừng, không
ai làm mụ bà. Tao làm mụ cho nó... Mày tưởng tượng cái cảnh não nề. Con mày chết
non. Kiểm lâm vô đây với hương quản để bắt củi xét thuế thân. Xóm mình tản lạc,
tao với vợ mày phải chạy vô trong này. Mày coi vợ mày không thèm bận quần áo nữa
mà có bận thì cũng không mua nổi. Nó khóc, nó cười, nó chửi tao. Ban đêm muỗi
mòng quá, nó cầm cây xơ quất này đập muỗi. Nó điên vì tình, vì đời...
Anh Tư Hưng khóc không ra nước
mắt. Anh cũng không còn mặt mũi nào để nhìn mặt cô Một ngày xưa.
Chắc chắn là anh không cưới
cô Một. Năm sau có người gặp anh chạy xích lô ở Sài Gòn. Hỏi anh về vấn đề vợ
con, anh đáp:
- Khổ quá. Tôi bây giờ là thằng
khùng. Vợ con gì...
Con Bảy đưa đò
Rạch cái mau là ngon sông
cái lớn ăn qua địa phận của tỉnh Cần Thơ. Trên ba mươi năm về trước, đó là nơi
sầm uất, lau sậy mọc um tùm quanh mấy gốc bần to lớn cỡ hai người ôm không xuể.
Sớm thì chim kêu, chiều thì vượn hú, quang cảnh buồn bã làm sao! Thỉnh thoảng,
có người bảo rằng: giữa đêm khuya nghe tiếng cọp rống.
Những tin đồn đãi bất lành
như vậy lần lần bị đánh tan và không còn làm ai sợ sệt nữa. Kìa kinh Xáng Lái
Hiếu vừa múc xong! Ngọn nước bạc mát lạnh, ngon lành đổ tuôn qua Rạch Giá, mang
mấy giề lục bình lá xanh bông tím trôi phiêu lưu từ sông Hậu Giang ra ngoài
khơi vịnh Xiêm La xa thẳm.
Sông rạch thông thương, vàm
Cái Cau lần lần có người đến cất nhà đông đúc thành xóm nhỏ, có ông hương ấp đứng
đầu. Ông hương ấp họ tên gì? Nhà ở lối nào? Điều đó khách thương hồ ít ai quan
tâm đến. Có qua đây, dầu vô tình đến cách mấy đi nữa họ cũng phải chú ý đến một
cái tên, hay nói đúng hơn là một giọng hát: giọng hát của con Bảy đưa đò. Nó xa
lạ nhưng quen thân, ấm áp. Khi cất lên thì nó cao hơn tầm bay bổng của con cò,
con vạc, cao vút tận mấy vì sao đêm lấp lánh, giọng ấy lúc buông trầm xuống thì
như hơi gió xao động cả dòng sông, chuyển rung mặt nước dẫu khi thuyền đã xa
khuất. Nó trở thành một lớp mù sương mờ ảo che lấp bóng dáng người hát. Khách
ngẩn ngơ nhìn theo không còn thấy gì nữa, tâm trí bâng khuâng giữa cảnh sông rạch
âm u với nhánh “bần gie con đậu sáng ngời”.
Người hát hay thường là có
nhan sắc.
Bao nhiêu người tưởng tượng
như vậy. Họ tìm tòi rồi đâm ra thất vọng. Vài người quả quyết:
- Cô lái đò này “mặt rỗ hoa
mè”.
Nhưng rồi không nói ra, họ
cũng phải nhìn nhận một sự thật: con Bảy có gương mặt chữ điền, đôi mắt đen láy
và vóc hình cao ráo.
Lý lịch của con Bảy ra sao?
Chuyện đó lại càng khó hiểu. Chính ông hương ấp cũng chưa rõ vì hồi đó đàn bà,
con gái không mang giấy chứng chỉ nên không có ghi tên vào sổ bộ. Mấy người ở
lâu năm tại vùng này nói lại: năm đó, đâu từ miệt Cần Thơ, con Bảy xuống đây gặt
mướn. Có điều lạ là đến khi rồi mùa thì cất chòi mà ở luôn chứ không về xứ. Năm
sau, người mẹ già mang bịnh mà chết. Con Bảy đành sống một mình, hằng đêm
chuyên nghề bán bánh bò cho ghe xuồng qua lại để độ nhựt; sau đó, đưa đò. Xóm
này bao nhiêu trai làng gấm ghé nhưng nó không ưng ai. Lần lần thiên hạ phải
dang ra.
Dạo nọ, cậu trai làng con của
hương ấp vừa học được câu hát:
- Hò... ơ... Anh muốn gá chữ
lương duyên với em trăm năm tình chồng nghĩa vợ. Mai sau anh có vô phần từ trần,
xấu phước chết trước thì em ơi! Đừng có chôn xác anh dưới nước sâu sợ e con đỉa
cắn, đừng chôn anh trên gò bởi ngại con mối ăn...
Gái trong làng không ai đối
được. Cậu trai nọ thích chí hát mãi một câu ấy hầu khoe tài khoe trí của mình.
Nhưng đêm sau, giọng hò con Bảy trả lời:
- Hò ơ... Em gá chữ lương
duyên với anh trăm năm tình chồng nghĩa vợ. Mai sau anh có xấu phần từ trần chết
trước, em rước thợ Bắc về cẩn đá lục lăng để chôn chàng.
Nghe câu đáp, ai nấy tấm tắc
khen ngợi. Khi nấm mồ được cẩn đá thì sợ gì đỉa cắn, mối ăn. Đó là cách giải
quyết ổn thỏa nhất của mối tình bền như đá. Cậu trai nọ suy nghĩ tìm nhớ câu
rao khác để thử tài con Bảy. Nhưng giọng con Bảy vội đuổi theo:
- Hò ơ... Gái tôi không hò tới
chuyện Tây Du thì thôi, chớ hò đến chuyện Tây Du thì nhắc từ thuở xưa kia Tề
Thiên Đại Thánh loạn Thiên Cung đánh trời đánh đất làm cho ông Ngọc Hoàng xang
bang xấc bấc, đến chừng thác xuống đất bị Ngũ Hành Sơn chụp đè. Phật Bà có dặn:
Này Tôn Hành Giả ơi! Nằm xuống đây chờ chừng nào Tam Tạng đi thỉnh kinh mi hãy
đi theo làm đệ tử, Tam Tạng đi đến chợt thấy Tề Thiên thì mau mau chạy đến gỡ
hai lá bùa... Tề Thiên vùng mình đứng dậy được, nhưng mình mẩy thì ôi thôi...
rong rêu đóng giáp, lỗ mũi thì cỏ mọc xanh lè... Bớ trai chàng có thấy không?
Cậu trai đành chịu thua
không đáp được, về nhà sanh bệnh tương tư. Trong cơn bệnh triền miên, có lần cậu
đánh bạo bơi xuồng qua nhà con Bảy để tỏ nỗi lòng:
- Hò... ơ... Hột châu nhỏ xuống
khoang hầm,
Em ơi! Phận em là gái phải
có chồng nay mai.
Con Bảy vội đáp:
- Hộ hôn, điền thổ, đổ lửa
mái nhà,
Đứa nào muốn bậu, ông bà
cháy tiêu...
Tức tối biết bao nhiêu! Cậu
trai quay trở về. Quả thật cô ta dám hỗn xược khinh rẻ cậu và cả đám trai tơ ở
xóm Vàm này. Cũng may, câu đáp ấy nhỏ giọng vừa đủ cho cậu nghe thôi. Cậu âm thầm
ôm mối hận, hằng đêm tự an ủi:
- Đèn treo trường án, tỏ rạng
bờ kinh.
Bình thủy Lưu Linh, đáo lại
Long Tuyền.
Trà Niền, Kinh Xáng, Ba
Láng, Cái Răng
Hơn không hơn cũng kiếm cho
bằng.
Có đâu thua bạn, bạn hòng cười
chê...
Nhưng ở đồng quê, chuyện gì
xảy ra lần lần thiên hạ đều hay biết. Họ không tiếc lời để mỉa mai con Bảy:
- Ừ, trời cao có mắt. “Cao
nhơn tắc hữu cao nhơn trị”. “Trèo cao té nặng. Ngó cao đau ót”.
Cái ngày ấy lại đến.
Đã quá canh một.
Như thường lệ, con Bảy sửa
soạn lên bờ ngủ. Khuya ít có khách sang ngang. Hơn nữa, trời chuyển mưa đen kịt
phía Nam. Nhưng kìa, một ánh đèn nho nhỏ chói lềnh bềnh giữa sông, từ từ trôi lại
như cố ý đón đầu:
- Hò... ơ... Thân anh như
con phụng lạc bầy.
Thấy em lẻ bạn, anh muốn vầy
duyên loan.
Câu rao ấy thuộc loại tầm
thường! Nhưng cảm mến cái giọng trai ấm áp, con Bảy hát lại:
- Gặp mặt anh đây em muốn vầy
hai họ,
Sợ vợ anh ở nhà tiếng nọ tiếng
kia.
Khách cười to:
- Anh nói với em, anh đã có
vợ nhà,
Vợ thì mặc vợ, anh xử hòa
thì thôi!
Thừa lúc con Bảy đang rối
trí, khách hò thêm một hơi:
- Anh thương em, thương quấn
thương quít,
Bồng ra gốc mít. Bồng xít gốc
chanh.
Bồng quanh đám sậy. Bồng bậy
vô mui.
Bồng lủi sang lái. Bồng
ngoáy trước mũi.
Đặt em nằm xuống đây...
Kể từ hồi em đau ban cua lưỡi
trắng, miệng đắng cơm hôi.
Tiếc công anh đỡ đứng bồng
ngồi.
Bây giờ em vinh hiển... em bắt
anh đi bán nồi làm chi?
Ý trách người tình nhân bạc
bẽo! Trí nhớ của con Bảy bao giờ cũng có cách sẵn sàng ứng phó:
- Bánh bò một vốn ba đồng lời,
khuyên anh ở nhà cứ việc ăn chơi. Để em đi bán kiếm ít tiền lời, trước
nuôi ba với má, sau lại nuôi mình...
Cũng là tưởng nghĩa tưởng
tình. Ai dè anh bạc nghĩa, em phải ở một mình bơ vơ!
Khách bên xuồng nọ lên tiếng:
- Ớ nàng ơi!
Kiến nghĩa bất vi vô dõng giả,
lâm nguy bất cứu mạc anh hùng. Nàng còn nghĩ phận chữ tùng, thì trao dây xích
buộc vòng sau đây.
Tức thì khách quày xuồng đi
trước, rủ con Bảy tranh tài với khách. Nào chịu thua, con Bảy liền bơi theo
sau.
Mái chèo nhịp nhàng:
- Đêm khuya anh thức dậy xem
trời;
Anh thấy sao Nguyệt Bạch,
ngó xuống lòng rạch, anh thấy con cá chạch nó lội đỏ đuôi.
Nước chảy xuôi, con cá buôi
nó lội ngược.
Nước chảy ngược, con cá nược
nó lội theo.
Anh than với em rằng số phận
anh nghèo,
Đũa tre đâu dám đánh đèo với
đũa mun.
Giọng con Bảy lảnh lót đuổi
theo:
- Canh khuya em thức dậy, em
lau nĩa rửa dĩa, dọn bàn,
Tay em sang rượu chát, miệng
em hát một đôi câu.
Trên lầu kia có tiếng chuông
đánh rộ,
Dưới nhà việc trống để tàn
canh.
Em đây lịch sự chi đó mà đi
đâu năm bảy người giành?
Giả như con cá kia ở chợ, dạ
ai đành nấy mua.
Đến khúc sông vắng, xuồng của
chàng từ từ dừng lại. Con Bảy cũng lơi mái chèo. Bên ngọn đèn, gương mặt của
chàng rõ ràng là khôi ngô, tuấn tú. Chàng nói:
- Cô Bảy hò hay quá.
Con Bảy cúi đầu:
- Anh hò hay hơn em chớ!
- Anh khen cái giọng hò của
cô em. Nghe sao mà ngộ quá. Cô em dạy cho tôi...
- Có gì đâu mà dạy. Đó là điệu
“hò bánh bò” bắt chước giọng rao bán bánh bò trên sông. Ở đây sông rộng, nhà cửa,
ghe xuồng thưa thớt. Mình phải có giọng vừa cao vừa dài, che lấp hết để cho ai
nấy nghe được mình. Khó hơn giọng hò cấy nhiều lắm, vì hò cấy phải có nhiều người
ở gần mình để “hòa hơi” theo. Ở đây mình hò một mình.
Đôi mắt của chàng sáng lên,
ngạc nhiên:
- Vậy sao? Hồi nào tới giờ
tôi không hiểu rành.
- Ủa! Chàng ở xứ lạ mới đến
à?
- Phải. Tôi ở Bình Thủy -
Phong Điền xuống đây. Nhưng ở đâu cũng là non với nước.
- Em gốc ở Ba Láng. Vậy là
cũng như một quê. Em đến đây hai năm rồi. Lúc này ở trển ra sao?
- Cũng vậy... Hồi tháng sáu,
Tây ăn lễ lộc gì đó. Cụ Sử Hoành ở Sa Đéc không chịu treo cờ của nó trước nhà.
Thiên hạ đồn, không biết hư thiệt... rằng ngày lễ ấy cụ treo quần trước cửa để
phản đối. Ở Bình Thủy cụ Tòng Hiên làm bài thơ tự trào. May thay, hương chức
làng giấu nhẹm nhưng vẫn thấu tai quan trên. Lúc đề bài thơ ấy, cụ Tòng Hiên kẹp
ngọn bút ở giữa hai ngón chân mà viết. Ngạo nghễ quá! Khí khái quá! Vừa rồi ở
Cái Răng có người bị tình nghi vì đã chép bài thơ “Vịnh chó chết trôi sông” của
cụ Cử Trị mà dán giữa nhà. Vì vậy, tôi phải đi. Qua đây gặp cô, vui biết mấy. Thôi
ta tạm biệt...
Nghe qua, con Bảy bùi ngùi tấc
dạ; từ chỗ kính mến tới chỗ yêu thương chàng trai đó cũng không xa mấy. Con Bảy
nhìn vầng trăng khuyết vừa hé lên khỏi ngọn bần.
- Bao giờ chàng trở lại. Em
xin chờ.
Chàng cười mà đáp:
- Cám ơn.
- Lời em hứa là chắc. Hay
chàng không tin nơi lời nguyền của gái đưa đò.
- Đâu phải vậy. Chỉ sợ tôi
không giữ đúng lời hứa của tôi. Chí trai bốn biển là nhà. Không có sức như chim
bằng, như cá kình chớ phận con se sẻ, con tép, con tôm này cũng đòi học ngao du
trong vòng đất nước nhỏ hẹp.
Dứt lời, chàng đứng dậy cất
mái chèo. Con Bảy xúc động, rưng rưng nước mắt. Duyên may, một đời chưa chắc gặp
hai lần.
- Vậy thì xin chàng dạy lại
cho em một đôi câu hò... để em nhớ đời.
- Cô hò đã hay mà lại có
duyên. Tôi còn biết gì mà dạy thêm. Họa chăng chỉ có một tấm lòng này...
“Một tấm lòng”! Con Bảy mãi
suy nghĩ về ba tiếng đó, chừng giựt mình nhìn lại thì chàng đã khuất dạng trong
lớp sương khuya.
Cầu cao ba mươi sáu nhịp,
Em qua không kịp, nhắn lại
cùng chàng:
Cái nghĩa tào khang sao
chàng vội dứt?
Đêm nằm thao thức, tưởng đó
với đây.
Biết nơi nao cho phụng gặp bầy,
Cho le gặp bạn.
Ruột đau từng đoạn,
Gan thắt chín từng,
Đôi ta như quế với gừng,
Dầu xa nhau nữa cũng đừng tiếng
chi.
Bây giờ, con Bảy đưa đò đã
già; người ở chợ Vàm lại kêu bằng dì Bảy đò. Cứ mỗi sáng, dì ngồi đó nhưng tâm
trí bâng khuâng theo câu hát nói trên. Chàng trai trẻ năm xưa như con nhạn bay
xa. Phận của dì ví như con le bơi lội lẩn quẩn trong ao hồ nhỏ hẹp. “Dầu xa
nhau nữa cũng đừng tiếng chi”. Phải chăng là dì năn nỉ chàng trai năm xưa đừng
khinh dì là người kém lòng yêu non nước? Mấy năm rồi, dì không còn đưa đò nữa.
Ngang kinh Xáng đã có cây cầu sắt. Trên, xe hơi chạy. Dưới, tàu đò đưa. Ngay tại
Vàm, xóm nhà cũ lần lần tản ra, nhường chỗ cho một nhà lồng chợ.
Hồi nào thênh thang trời rộng
sông dài, giờ đây dì ngồi lì một chỗ. Hồi nào trăng trong gió mát, giờ đây dì
phải chịu đựng từ hừng đông đến lúc tan chợ trưa, bên một lò lửa cháy và một nồi
nước sôi! Nãy giờ chúng tôi quên nói rõ: Dì chuyên bán thịt heo luộc.
Nếu thời xưa dì nổi danh về
câu hát câu hò, ngày nay món thịt heo luộc của dì cũng ngon ngọt không đâu sánh
kịp. Thịt heo già, thịt heo nái mà dì luộc rồi cũng trở nên mềm mại, không dai,
da thật giòn. Bởi vậy, lắm người ở chợ lân cận đến đây thu mua cho được để nhậu
hoặc ăn với bánh hỏi.
Lắm người khách tò mò:
- Dì Bảy à, dượng Bảy đâu rồi!
Sao ở đây không ai biết cả?
Dì đáp:
- Dượng Bảy đâu còn! Cũng
như không. Dì... ở góa hằng chục năm rồi mấy cháu à...
- Làm sao thịt heo của dì luộc
ngon quá vậy? Chỉ cho chúng tôi học với.
- Có khó gì đâu. Nhưng... mà
khó lắm! Phải luộc trong nồi nước có để chút xíu phèn. Đừng cho nước quá sôi mà
hại đó mấy cháu! Khi nước sôi thì đổ vô một lon nước lạnh. Cứ như vậy hoài. Dì
chỉ cho nhiều người nhưng họ luộc không ngon, nói rằng dì giấu nghề...
- Ơ... nghe mấy bà già nói rằng,
hồi đó dì đưa đò, hò hát hay lắm phải không dì Bảy? Dì nhớ lại, dạy giùm chúng
tôi...
Thiệt là khó quá. Không dạy
e mang tiếng làm hiểm. Mà dạy thì dạy làm sao? Ngồi đây mà nhớ cái thời xuân
xanh năm nào! Nó như chiếc lá già rụng, mục nát trở về lòng đất để làm phân cho
những cây tơ khác đâm lộc nẩy hoa. Nó như một chiếc xuồng cũ kéo lên trên đất
khô, phơi dưới ánh nắng gay gắt. Còn đâu hơi gió cũ? Còn đâu ánh trăng xưa? Còn
đâu hơi thở, còn đâu dáng người? Còn đâu bến sông “nhánh bần gie con đốm đậu”?
Buộc lòng dì Bảy nói một
câu:
- Cái việc hò hát cũng như
cái việc luộc thịt heo vậy. Ai làm cũng được. Cách thức dễ ợt. Nhưng mà công
phu lắm.
Công phu là thế nào dì Bảy?
Im lặng, chập sau dì đáp:
- Ở đây, hồi đó có người nói
là cần “một tấm lòng”.
Con Heo khịt
Từ hồi tháng mười một năm
ngoái, mấy người cuốc rẫy ở ven rừng Ngã Bát không ngớt bàn tán xôn xao:
- Con heo Khịt về đây rồi.
Nó lớn bằng con bò con lận mà.
Phải! Tôi nghe danh nó từ
lâu. Chú vợ của tôi ở rạch Ruộng có nói lại: nội một đêm, nó ủi phá gần hai chục
công rẫy khoai mì. Củ lớn ăn đã đành, củ nhỏ cũng không chừa.
- Sao không đâm nó? Thợ săn ở
dưới Rạch Ruộng coi bộ dở quá, chưa xứng đáng là thợ rừng. Rầu lắm. Coi chừng
con heo Khịt phá hại mùa khoai ở xóm mình. Nó đâu phải cọp mà mình sợ!
- Nói bậy đi. Chừng nào con
heo Khịt phá hại, đụng chạm tới tài sản của mình thì hãy hay. Nói trước, xui xẻo
lắm. Thợ săn ở rạch Ruộng giỏi lắm chớ. Một người bị đổ ruột. Một người khác bị
tét đùi. Phen đó, con heo Khịt mắc bẫy dây chì. Vậy mà nó tẩu thoát được.
- Bằng cách gì?
- Nó cắn một khúc giò, bỏ lại
coi chơi. Khúc giò còn dính trong cái vòng dây chì. Coi mà phát ớn. Nó cắn giò
nó cho đứt, một mình nó đánh chết bốn con chó săn. Tôi đoán chừng con heo Khịt
này ít nhất đã bảy - tám tuổi, nanh dài trên một tấc, mình mẩy nổi dấu chì.
Thôi chuyện đâu còn đó. Nó chưa tới nhà mà bàn tán hoài, ngán lắm. Cứ lo làm ăn
cho vợ con nhờ.
Chuyện ấy thấu đến tai ông
Hai Cháy và ông Năm Tự. Vốn là thợ săn chuyên nghiệp, hai ông giữ vẻ mặt trầm
tĩnh nhưng làm sao che giấu được bao nhiêu nỗi lo âu áy náy trong lòng.
Tháng này nhằm mùa hạn, rừng
khô nước, heo rừng không ngủ nơi nào nhất định, chi bằng chờ lúc sa mưa, nước nổi
chừng ba tấc, heo rừng phải tìm nơi gò đất cao ráo mà ngủ, dễ tìm tông tích nó.
Nhưng phải đề phòng! Mặc dầu mình nặng nề, chân nhỏ thó, heo rừng lội nước khá
nhanh. Đối phó lại, thợ săn nên tìm loại chó săn biết lội nước. Đã có người chống
xuồng cản chận đầu con heo rừng đang lội. Heo thản nhiên, hụp đầu xuống rồi hất
lên như cõng chiếc xuồng nọ lên vai.
Ông Hai Cháy đến nhà ông Năm
Tự mà nói:
- Mình ăn thịt hơn trăm con
heo rừng. Nhưng mà chuyến này coi bộ khó nuốt.
Năm Tự cau mày:
- Sao vậy? Tôi dọ kỹ rồi. Nó
thành danh con heo Khịt vì nó dữ, khi đổ quạu là sôi bọt mồm, khịt lên một tiếng
lớn. Vậy thôi. Mình chưa ngán nó...
Ông Hai Cháy đáp lại chậm
rãi:
- Bà con ở Rạch Ruộng cho biết:
nó là heo độc giác. Theo chữ Nho, chẳng hiểu nanh heo kêu bằng gì. Mình tạm kêu
là “giác” đi. Trâu độc giác, voi một ngà, heo một nanh và... người một mắt đều
là thứ dữ.
Năm Tự im lặng:
- Ờ! Nếu con heo Khịt lên tới
xóm này, nên lo liệu...
- Đánh nó cho chết chớ lo liệu
cái gì. Tôi dám liều chết nếu nó là con heo Khịt. Rủi gặp heo nhỏ, tầm thường
thì uổng công quá. Năm nay, gần sáu mươi tuổi rồi, tôi làm biếng lắm.
Năm Tự nói nhanh:
- Miễn là ông anh đi theo để
làm quân sư, thằng em này vui vẻ ăn thua. Ông anh cứ nhường cái bổn phận đó cho
em. Em nhờ bà con dọ thám thử.
Giết heo là chuyện khó. Rình
xem heo là chuyện dễ. Đêm đó, theo lời yêu cầu của Năm Tự và Hai Cháy, một đám
con nít xúm nhau rình bên giồng khoai mì đã bị heo phá hại đêm trước. Đêm sáng
trăng. Mù sương rắc xuống nhỏ từng hột trắng mỗi lúc thêm dày. Biết chống muỗi,
vắt, lũ trẻ xúm nhau ngồi quanh gốc cây tràm. Cảnh rừng đêm mơ hồ. Ngồi hồi lâu
không thấy gì lạ, lũ trẻ ngóng lên trời nhìn sương mù đang trôi gờn gợn như chất
gì lỏng lẻo. Thích chí quá. Như ngồi dưới đáy biển sâu mà lớp sương kia là sóng
gió trôi trên đầu. Nhìn mãi sanh chán. Vài đứa ngủ gục ngáy to tiếng.
Bổng đâu sậy đế gãy nghe rôm
rốp. Rồi một bóng đen lộ ra đứng sát bụi mì ngóng mỏ rồi quay lưng, chạy về
phía rừng tràm.
Lũ trẻ lập tức cho ông Năm Tự
hay:
- Nó rồi! Nè ông Năm, nó như
con bò con. Tưởng sao chứ vậy tụi tui đâu sợ. Nó chạy cong đuôi.
Ông Năm cười:
- Tại tụi bây đứng trên gió,
nó đánh hơi được. Nó đâu sợ, nó xáp tới nhưng nó quay lưng vì sợ sụp nhầm bẫy
hoặc hầm hố.
Nghe đến sáng kiến làm cần bẫy,
bọn trẻ mừng quýnh. Vài đứa có kinh nghiệm lập tức bơi xuồng ra chợ Thới Bình để
mua dây chì làm vòng bẫy. Gặp thầy đội kiểm lâm có mang súng, chúng nó mời thầy
vô xóm Ngã Bát để bắn con heo Khịt. Nghe tin ấy, ông Năm vô cùng mừng rỡ. Nếu bắn
được con heo ghê tởm ấy, ông khỏi ra tay. Vả lại, bắn sớm chừng nào hay chừng ấy.
Từ bây giờ cho đến mùa mưa. Khi thời cơ thuận lợi. Còn năm-sáu tháng nữa lận.
Biết đâu tới chừng đó, con heo Khịt sẽ bỏ xóm Ngã Bát, sau khi phá hại mùa
màng.
Trời chạng vạng.
Thầy đội kiểm lâm tới xóm.
Đêm đó, thầy ta hăng hái lắm vì mới vừa mượn được cây đèn “pin”, loại năm pin của
ông xếp kiểm lâm. Dịp may để thầy ta luyện tập về cách săn đèn!
Lại một đêm đầy sương, thứ
sương mù khét lẹt, lạnh lẽo của rừng tràm U Minh khi mặt trời vừa chen lặn. Thầy
đội mang đèn, ánh sáng chói mạnh tới trước soi một vòng tròn thấy rõ rệt từng
nhành cây chiếc lá từng con muỗi.
- Tao làm gì thì làm. Tụi
bây đừng nói chuyện. Đứa nào sáng mắt, coi chừng tiếp với tao. Hai đốm đỏ tức
là con mắt ông hổ. Nếu hai đốm vàng tức là mình chiếu ngay mắt con heo Khịt.
Tao nghe đồn đãi như vậy.
- Kìa! Hai đốm vàng hiện ra.
Thầy đội từ từ bước tới.
Một bước rồi hai bước.
- Đùng!
Súng nổ chát chúa, xé rừng.
Một tiếng kêu rống. Lạ quá! Tiếng rống ấy nghe một chỗ và con thịt run rẩy, chẳng
vang ra tiếng... khịt nào cả. Chừng xúm lại coi thì ô hô, thầy đội vừa bắn
trúng một con heo rừng bé tí teo vừa mắc bẫy, chân còn treo lủng lẳng trên cây
cần. Làm sao bây giờ. Ai dám gỡ nó xuống? Âu là bồi thêm một phát nữa.
Đằng xóm, ai nấy đều thức giấc,
chờ kết quả. Sau khi nghe hai tiếng súng, họ đốt đuốc, chạy tới nơi, hô to:
- Rồi rồi. Xong rồi. Con heo
Khịt đi đời!
Chừng đụng đầu với con heo
nhỏ bé, ai nấy cười ngả nghiêng.
Ông Năm Tự đổ quạu:
- Làm chuyện bá láp! Mấy đứa
con nít thì rình trên gió. Người lớn thì bắn trúng con heo “hà nàm” mắc bẫy.
Không khéo, ai nấy đều là hề hạng bét. Bà con ở dưới Rạch Ruộng hay được là cười
cả đám, chê đất này thiếu nhơn tài.
Ông uống chút xíu rượu đế rồi
thét to:
- “Vực một” đâu?
Từ ngoài sân, một con chó
săn chạy vào đứng ngay trước mặt ông, phía tay mặt.
... “Vực hai” đâu?
Con khác chạy vô, đứng im
bên trái.
- “Vực ba”!
Nó đứng ngoan ngoãn phía sau,
và con chó “Vực tư” giành góc còn lại. Cái bộ ván nhỏ bé mà ông đang ngồi trở
thành cái ngai vàng!
Vỗ đầu từng con, ông bảo:
- Hồi nào tới giờ, tụi bây ở
nhà, chưa bao giờ ra trận đủ bốn đứa. Mai này, Vực một, Vực hai phải ứng phó
cho lanh: “Vực” là cánh, mỗi đứa là một cánh quân. Vực ba, Vực tư cũng vậy. Dưỡng
sức đi. Thôi, đi ngủ sớm, mùa nắng khó săn heo lắm. Đây là thể diện của ta.
Bốn con chó vẫy đuôi, ra chiều
hăng hái. Chúng ra ngoài hàng ba, trước khi nằm xuống, mỗi con đều quay tròn
đôi ba vòng, nhìn kỹ chung quanh.
“Chó ba khoanh mới nằm”. Ông
Năm Tự lẩm bẩm như vậy, tự hào cho rằng chó săn của mình là giống tốt nhứt. Còn
lại năm - sáu con chó nhỏ đứng xớ rớ chung quanh bộ ván, sủa gâu gâu, như kêu
nài, bất mãn, ông nói:
- Còn tụi bây nữa. Chưa tới
tuổi ra nghề. Tao lo cho tụi bây mà. Đi chỗ khác!
Gà gáy dứt canh hai. Sương
lùa vào đầy nhà, vậy mà ông Năm Tự chưa nhắm mắt ngủ. Dựng đứng gần vách, ông
ngắm nghía rõ ràng kìa... một cây lao cổ phụng, một cây lao bay, một cây mác
thông. Tất cả khí giới này từ bảy tháng qua chưa xài tới mà vẫn sáng chói,
không bợn sét, nhờ ông lau chùi hằng ngày.
“Hừng đông, mình đi kêu Mười
Hy phụ lực với mình. Khỏi cần bận rộn tới ông Hai Cháy, ổng già rồi”.
Nghĩ vậy, ông Năm Tự ngủ
yên. Ông có biết đâu là sự bố trí chu đáo ấy không được đúng với tình thế và
đem lại nhiều hậu quả mà ông không đoán nổi.
- Tu... Tu...u...
Còi vừa túc lên. Bốn con chó
Vực và năm con chó săn nhỏ bé đồng hè nhau chạy miết vô khu rừng tràm giáp ranh
với đám rẫy khoai mì. Ông Năm Tự nói với Mười Hy:
- Chú Mười thấy chưa! Chó mà
ăn cơm nguội thì lanh lẹ. Ăn cơm nóng, nó hư lỗ mũi đánh hơi dở ẹt. Cây lao bay
với cây lao cổ phụng của tôi đây nè chú cầm giùm. Tôi hô lên cây nào chú nhớ
đưa cây đó cho kịp.
Chim rừng hót vang. Bước
chân của hai người dẫm lên mớ lá vàng ẩm ướt. Muỗi, bù mắc... động ổ bay lên. Họ
chen vào khoảng giữa chật hẹp mấy gốc tràm chòi. Nắng lên chui vào vòm cây lộ
ra những đốm vàng tươi. Cá lóc, cá trê mắc cạn lăn tròn trên bùn non, mọi khi hễ
gặp mồi nhậu thì hai người bắt liền. Hôm nay có khác. Ông Năm Tự thỉnh thoảng
tháo khăn trên đầu, bịt lại chặt hơn, quần xà lỏn được vo lên sát vào bắp đùi.
Ông nhướng mắt:
- Lâu quá vậy!
Rồi túc còi. Trong phút giây
đàn chó gom lại. Ông căn dặn:
- Đừng sủa bậy nghe! Tụi bây
gặp trăn sủa cách khác, gặp rùa sủa cách khác. Giỏi lắm. Nhưng bữa nay, khi nào
gặp heo rừng thì hãy sủa. Làm động rừng con Khịt đi xa.
Dứt lời, bầy chó tản ra. Hai
phút sau, phía lung Cây Kè, có tiếng chó sủa to, ba tiếng còi túc lên liên hồi.
Ông Năm Tự và Mười Hy vạch lau sậy, chạy đến.
Con heo Khịt đứng sững, hai
chân trước cao nghêu, mình mẩy đen thui, hươi nanh. Tiếng đồn không sai: nanh
dài trên một tấc, con heo Khịt như con bò nhỏ, mớ lông gáy dựng lên vàng hực, lấp
lánh.
- Vực một!
Ông Năm quát to.
Con Vực một nhảy vô cắn chân
phía trước, bên hữu của con Khịt. Con Khịt vừa quay đầu là ông Năm ra lịnh:
- Vực hai!
Con Vực hai xốc tới cắn chân
trước, bên tả. Con Khịt trở mình ngó phía sau tìm cách thủ thế, lui vào lùm
cây!
- Vực ba! Vực tư!
Bị vây bốn góc, Khịt đứng
nhóng lên. Thật ra răng của chó dầu bén nhọn nhưng làm sao cắn lủng lớp da nổi
chì của con Khịt được. Con Khịt lại đầy đủ kinh nghiệm: đây là thợ săn lão luyện
và bầy chó hung hăng.
Nó tìm cách chạy tới. Mười
Hy trao ngọn mác cho ông Năm Tự. Ông Năm ghìm ngọn mác trước ngực.
Heo Khịt thối lui, dùng hai
chân sau bươi đất làm cái hố nhỏ, tạm che khuất cái mông dưới đất để hạn chế sự
tấn công của Vực ba và Vực tư.
Nhưng đất cứng quá. Nó quỳ
hai chân sau. Mấy con chó nhỏ bao vây, đứng ngoài xa, sủa vang lên như hưởng ứng,
thúc hối bốn con Vực đang quyết chiến.
Bỗng nhiên, con heo Khịt thở
mạnh nghe... khịt một tiếng. Ông Năm Tự thối lui. Heo Khịt trợn mắt trắng, miệng
sôi bọt, đang lướt qua phía Vực một, bất chấp Vực hai.
Lẹ như chớp, con chó Vực một
nhảy dựng đứng lên không trung ngang tầm đọt sậy. Nó vừa rớt xuống là heo Khịt
chĩa nanh lên, hứng ngay bụng.
Vực một giãy đành đạch, lủng
ruột. Thừa cơ hội ấy con Khịt phá vòng vây, chạy nhanh.
Thấy con chó thân yêu vừa thiệt
mạng, gan mật ông Năm Tự sôi lên. Chụp ngọn lao bay trong tay Mười Hy, ông
phóng mạnh, buông tay. Ngọn lao ghim vào ngực con Khịt.
Nó mang ngọn lao mà chạy.
Nhanh như chớp, ông Năm với
cây lao cổ phụng - loại lao cong, giống như cổ con phụng, có ngạnh như cái mồng
- Mũi lao ghim vào hông con Khịt, đúng như sự tính toán của ông.
Bị đau điếng, con Khịt chạy
nhanh, bất chấp cây cối, lau sậy, gò nổng, ao vũng. Bầy chó sủa vang, cố chạy
cho nhanh hơn để chận đầu, cản mũi con Khịt. Nhưng may quá! Ông Năm Tự nói với
Mười Hy:
- Nó chịu trận rồi!
Mười Hy hơ hãi:
- Nó chạy như vầy, làm sao
chịu trận. Bầy chó của mình đuối sức rồi.
- Kìa! Cây lao cổ phụng
này... hay quá. Con Khịt chạy không lâu đâu... Mình ráng theo nó... Cho kịp.
- Làm sao theo kịp được? Nó
mất dạng rồi. Mấy con chó làm sao dám xáp vô để ăn thua?
- Thằng Mười này dở hơi quá.
Chưa biết cây lao cổ phụng sao?
Chó cứ sủa, ngày càng xa, xa
dần. Con Khịt đã khéo léo chọn phương hướng, tìm nơi rậm rạp mà chui, mà nhủi.
Trong khi đó, hai người thợ săn chạy chậm hơn, và chạy vòng quanh tránh mấy bụi
chà là gai. Gai chà là đâm nhức nhối, mỗi bẹ chà là là một cái bàn chông.
Chó sủa rộ lên, càng gần, Mười
Hy nói:
- Coi chừng! Hay là con Khịt
trở lại ăn thua với anh em mình. Còn cái gì không?
Ông Năm Tự nói gắt:
- Bộ thằng Mười mất trí rồi
sao? Có ba cái “bữu bối”, xài hết hai rồi. Còn cây mác thông này mà thôi.
- Tôi ngán lắm. Tôi... chạy
à! Hai bàn tay không, làm sao tôi dám đứng lại.
- Ai biểu này ăn thua với
nó. Đứng ngoài xa mà coi. Chạy mau. Cây lao cổ phụng “ngon” rồi đó!
Phía trước mặt họ, con heo
Khịt xuất hiện. Ngọn lao cổ phụng gồm hai bộ phận rời: lưỡi và cán. Hai bộ phận
này dính nhau nhờ một sợi dây dài. Lúc phóng tới, lưỡi và cán dính nhau tạm thời
nhờ cái khâu lỏng lẻo. Vì nhúc nhích, lưỡi cứ ghim vào hông con Khịt trong khi
cái cán sút ra, tòn ten, lê lết trên mặt đất, có sợi dây nối liền.
- Nó kìa!
Ông Năm Tự la to trong khi
Mười Hy sợ sệt. Cái cán lao bị kéo dài... Nhưng vài phút sau, vô tình con heo
Khịt chui vào bụi rậm.
Cái cán trở thành chướng ngại
vật, day ngang giữa hai gốc cây, trở thành một cái neo...
Con heo Khịt đứng lại, trì
níu. Hai gốc cây tràm rung chuyển... Nó kêu rống vì càng trì níu thì ngọn lao
càng xoáy bên hông, giữa hai cái be sườn rướm máu.
- Chết cha mày!
Cây mác thông của ông Năm Tự
lại cắm vào mông con heo Khịt, làm lủng da.
Con Khịt co chân, phóng tới,
ghê thật. Ngọn lao cựa quậy từ bên hông con Khịt vì cái ngạnh lút khá sâu.
Ngọn lao sút ra, làm gãy một
khúc như be sườn. Nhờ vậy, con Khịt thoát nạn.
Bầy chó xáp lại hiểu rằng
con Khịt đã đổ máu quá nhiều... Chó bao vây con Khịt.
Lúc con Khịt bối rối, ông
Năm Tự đến trước mặt nó, cắm một mũi mác vào ngực. Khịt gào thét nhóng lên. Tay
ông Năm ghì xuống chịu đựng.
Và cứ như vậy suốt mười
phút, con Khịt chưa chết, nhưng ông Năm đã run tay, mồ hôi xuống ướt mặt. Mười
Hy đứng xớ rớ chưa biết liệu lẽ nào.
Lâu lâu con Khịt rống lên
xoay trở. Ông Năm Tự quỳ xuống hai tay bám chặt cây mác. Bầy chó giữ phía sau
khiến con Khịt hết đường tháo lui. Hai hàng nước mắt tuôn ra tràn trề rưng rưng
chảy trên má ông Năm. Ông dư hiểu: nếu con Khịt chạy vuột thì nó sẽ cắm đầu
phóng cái nanh “độc giác” vào bụng ông trong tức khắc.
Mắt ông đổ hào quang, cảnh vật
chấp chóe đất trời nghiêng ngửa, cây rừng như trở gốc lên trời day ngọn xuống đất.
Nhưng may thay từ xa có bóng người chạy tới:
- Dữ ác hông? Sao không cho
tôi hay trước?
Ông Hai Cháy xuất hiện như một
vị cứu tinh, phóng vô yết hầu con Khịt một lưỡi mác, ghim vô thật sâu gần lút hết
lưỡi thép.
Con Khịt ngã lăn và ông Năm
cũng ngã ngửa, xuôi tay, thỏn mỏn.
Hôm sau, ông Năm Tự nằm mê
man tại nhà, cơm ăn không trôi, phải nuốt nước cháo cầm hơi. Nhưng khi có ông
Hai Cháy tới, ông Năm ngồi dậy như cái máy:
- Sao?
Hai Cháy đáp:
- Một trăm bảy chục kí lô!
Cái nanh dài hai tấc.
Ông Năm Tự gật đầu lia lịa:
- Non hai tạ hả? Sướng quá!
Cọp mà gặp con Khịt thì cọp đã rút lui. Tôi cầm cự chừng nửa giờ rồi anh tới...
tiếp cứu đó. Mô Di Phật! Hú hồn.
Con Ngựa đất
Vào cuối 1945, thực dân Pháp
đem binh ròng tướng mạnh qua xứ “Nam kỳ thuộc địa” để tái lập trật tự an
ninh. Đầu năm 1946, dân chúng ở rạch Cái Cau ăn một cái Tết không ra Tết vì các
tỉnh lỵ miền Hậu Giang đã lọt vào tay quân Pháp cả rồi.
Những người khôn lanh đã chọn
một trong ba đường: rút xuống phía rừng sình lầy U Minh, mướn ghe vượt biển ra
các hòn đảo vịnh Xiêm La rồi qua Xiêm quốc, hoặc tản cư ngược ra khu vực Pháp
chiếm đóng! Với thân hình ốm yếu, bệnh tật, với tâm trạng tham sanh úy tử, tôi
cố gắng sống ngoài vòng thế sự...
Giặc Pháp vào chiếm đóng dọc
bờ kinh Xáng, không gặp sự kháng cự nào đáng kể. Tôi nằm nhà, cách đồn chừng
năm cây số ngàn, bên con rạch hẻo lánh. Từng đoàn Thanh Niên Tiền Phong lần lượt
kéo ngang qua, nói bâng quơ, ám chỉ tôi:
- Thanh niên gì mà bạc nhược
quá! Thà chết vinh hơn sống nhục.
Hoặc:
- Thà rằng chết ở chiến trường.
Còn hơn chết ở trên giường
thê nhi...
Rồi họ dừng bước, cởi áo quần
mà tắm một cách hồn nhiên. Đoàn người đã khuất, phía ven biển. Tôi mừng thầm vì
sự im lặng của mình lúc nầy quả là vàng. Cãi vã hoặc giải thích với họ là điều
nguy hiểm. Họ không giết tôi làm gì nhưng chắc chắn họ sẽ ném vào mặt tôi những
danh từ xấu xa nhứt. Thí dụ như hai tiếng Việt gian.
Mặt trời xế dần. Sương mù
lan tràn trên cánh đồng khô quạnh. Vài tiếng chó sủa văng vẳng. Chó tru lên vì
đói. Người trong xóm đã tản cư từ sáu bảy ngày qua. Họ ra bờ biển. Sống trong cảnh
cô quạnh, tôi mới bắt đầu hiểu rằng mình quá dại dột, chưa biết tùy thời, bèn
đóng cửa thật sớm rồi nấu cơm để dành ngày mai. Gió thổi rào rạt qua mái lá.
Chuột chạy lung tung ngoài hè. Bước lại ngưỡng cửa, chữa biết nên đóng chặt hay
nên khép hờ. Đóng chặt thì ngừa được bọn gian phi. Còn để hờ thì dễ tẩu thoát
khi nguy hiểm.
Cơn nguy biến sẽ xảy ra,
trong đêm nay? Ai là kẻ gian phi toan ám hại tôi?
Từ phía bờ kinh Xáng, súng nổ
giòn. Bọn Pháp bắn để hăm dọa và để biểu diễn coi chơi cho vui. Sực nhớ đến những
tay do thám của giặc. Chúng sẽ bắt cóc tôi về tội đã tham gia phong trào Tiền
Phong, trên giấy tờ. Lại còn những anh bạn kéo ngang nhà hồi sáng, họ dám liệt
tôi vào hạng người thân Pháp. Nghe đâu ở gần chợ Rạch Giá, có ông bác vật nọ bị
đốt nhà về tội “oa trữ” một số sách chữ Pháp. Và một thiếu nữ suýt rơi đầu về tội
thêu con chim xanh trên áo trắng, con chim ấy lại mang cái mỏ đỏ. Rõ ràng ám hiệu
của màu cờ tam sắc.
Tôi xới cơm vào chén, sửa soạn
ăn chợt nghe tiếng ai đi thình thịch sau hè. Tôi ngồi im như pho tượng đá. Tiếng
động ban nãy cũng im bặt. Tôi nín thở, từ từ đưa chén cơm gần miệng. Từ trước cửa,
có giọng nói đùa cợt:
- Ăn ngon quá vậy? Có con ma
đói này muốn vô xin ăn...
Giọng cô gái quen thuộc. Tôi
giựt mình, sững sờ:
- Ai đó? Lạ hay quen?
- Quen mà anh Thiệt. Đừng chạy
nghe không. Em đây là... Ủa! giỡn chơi mà anh chạy sao? Em là Nguyệt!
Nguyệt là con gái ông đại
hương cả trong làng, ông hương cả Binh. Nàng học chung với tôi ở trường làng, rồi
lên trường tỉnh. Nghe đâu nàng làm y tá, đã lấy chồng rồi sung vào ban cứu
thương ở Sóc Trăng. Bọn thực dân chiếm Sóc Trăng từ lâu. Hay là nàng chết hiện
hồn về để khuấy rối người bạn cũ.
Nguyệt xô cửa, bước vào. Bộ
quần áo bà ba đen không làm nàng kém đẹp. Tôi hỏi nhanh:
- Chị về đây làm gì? Hồi
nào? Thăm bác hương cả chưa? Báo hại nãy giờ...
Nàng đưa ngón tay lên môi:
- Suỵt. Em bí mật về tới
đây. Nãy giờ chúng mình nói chuyện hơi lớn tiếng. Coi chừng lộ bí mật.
- Chị tới với ai? Còn ai bên
ngoài không?
- Em đến một mình để nhờ
anh. Chuyện gấp lắm. Và xin mời anh ra ngoài ruộng cho công việc được bí mật
hơn...
Tôi hơi run, liên tưởng đến
trường hợp bị bắt cóc hoặc thủ tiêu. Nguyệt hành động theo mạng lịnh của phe nào?
Chết ngoài bờ bụi, ghê quá. Tôi đáp:
- Chị cứ nói. Tôi bây giờ là
kẻ vô dụng.
Nguyệt mạnh dạn nắm tay tôi,
kéo ra ngoài cửa.
- Anh khờ quá. Ở trong nầy rủi
Tây nó bao vây thì sao? Anh nên đốt đèn trong nhà rồi tụi mình ra ngoài đồng.
Mình thấy thiên hạ, ngược lại thiên hạ chẳng bao giờ rình được mình.
Sương xuống dầy. Tuy kín đáo
trong màn sương nhưng tôi vẫn lo ngại, vừa đi vừa khom lưng. Nguyệt nói một
hơi:
- Em phải về đây. Anh hãy
thay mặt em, tới nhà ba em, năn nỉ ba em nên tản cư gấp nội trong đêm nay. Sáng
mai, Tây vô xóm nầy để đóng đồn. Tụi nó nhứt định sẽ chiếm ngôi nhà của ba em.
Ba em có tật mến nhà mến cửa. Rủi bề gì, ba em mang tiếng xấu là Việt gian. Tụi
Tây tới đâu là lập hương chức hội tề tới đó để lôi cuốn đồng bào mình.
Mấy “ổng” hồ nghi ba em theo
Tây. Mấy “ổng” đòi phá nhà “ba em” để Tây đóng bót chậm hơn vài ngày.
Tôi thở dài, nói thật tình với
Nguyệt:
- Chị nên gặp mặt bác hương
cả.
- Tội nghiệp em. Thiên hạ hồ
nghi em thông đồng với giặc. Hơn nữa, tánh tình ba em khó lắm.
- Ai là giặc? Khó nỗi gì?
Nguyệt vùng đứng dậy:
- Em đi bây giờ. Nãy giờ lâu
rồi. Anh nên tới nhà ba em, trong đêm nay. Ông ưa tin số mạng...
Rồi nàng ghé miệng sát vào
tôi:
- Người bà con chú bác ruột
với em đã theo Tây, làm thông ngôn, hiện giờ hắn ta có mặt tại đồn Cái Côn
ngoài kinh Xáng. Khó lắm. Em nói ít, anh hiểu nhiều.
Nói xong, Nguyệt quay mình.
Tôi gọi khẽ:
- Chị... Chị Nguyệt!
Nàng khuất trong sương, nói
văng vẳng:
- Đừng để trễ. Anh thương em
thì ráng lo giùm nội trong đêm nay...
Ngồi trên ghế trường kỷ, tôi
vấn điếu thuốc rê, phun khói phì phà. Ông hương cả Binh lui cui nấu nước. Thếp
đèn dầu mù u soi lờ mờ. Tôi bắt đầu tỉnh táo. Vai tôi vẫn còn lạnh vì thấm
sương đêm. Ông hương cả đem siêu nước rót vào cái chén trên bàn:
- Cơ khổ! Hết trà rồi, cháu
uống nước đậu rang cho ấm bụng. Đêm nay, dồn dập nhiều việc quá. Hồi nãy, mấy đứa
quen trong xóm nó tới kêu cửa rồi bây giờ tới phiên cháu. À! Chừng này canh mấy
rồi.
- Dạ, chừng nửa đêm...
Vừa uống nước, tôi vừa thuật
lại đầu đuôi cuộc gặp gỡ bí mật giữa Nguyệt và tôi. Ông hương cả dường như chẳng
chú ý cho lắm:
- Bác biết thế nào cũng xảy
ra... Đêm nay, bác cầu Trời khẩn Phật. Nói thiệt với cháu: Bác thề chẳng rời khỏi
nhà này. Sáng mai tụi Tây giỏi thì tới. Bác đâu sợ... Ai giỏi thì... dọ thám
đi!
Tôi liếc nhanh về phía cửa.
Cửa đã đóng. Ông hương cả tiếp lời:
- Còn vài giờ nữa thôi. Con
người, tử sanh hữu mạng. Họ biểu bác rời khỏi nhà. Được rồi. Nhưng bác đâu còn
sức bay nhảy. Bác đâu phải Việt gian mà bác xấu hổ. Cháu nhớ chưa? Hồi ông
Chánh Tham biện Gia La tới thăm đình làng. Thiên hạ đâm ra á khẩu. Một mình bác
ăn thua.
Nói xong, ông hương cả đứng
dậy, vào phòng đem xâu chìa khóa ra, mở cánh cửa tủ kiếng. Dáng điệu ông trông
khoan thai, tỉnh táo quá. Tôi nhớ đến giai thoại hồi năm xưa, khi quan Chánh
Tham biện người Pháp đến viếng đình làng. Đình ấy thờ ông Nguyễn Trung Trực, một
liệt sĩ kháng Pháp và bị Pháp xử trảm hồi đời vua Tự Đức, 80 năm trước. Quan
Chánh Tham biện gọi hương chức làng đến công sở, chất vấn về tội thờ lén lút một
kẻ... phản loạn:
- Phải đình làng nầy thờ
Nguyễn Trung Trực không?
Bấy giờ, toàn ban hương chức
hội tề đều xám mặt, trừ ông hương cả Binh. Ông nói:
- Dạ, thưa phải.
- Ông làm chức gì ở đây? Tên
gì?
Ông hương cả nói không run
giọng:
- Tôi là Nguyễn Văn Binh làm
chức đại hương cả.
- À! Ông biết Nguyễn Trung
Trực là ai không?
- Dạ, ông Nguyễn chống với
nhà nước Lang Sa
- Tại sao dân làng dám thờ?
- Dạ, chúng tôi thờ vì muốn...
thờ chữ Trung. Ngày xưa ông Nguyễn giữ trong lòng trung với vua. Ngày này chúng
tôi giữ lòng trung với nhà nước Lang Sa. Vậy thôi...
Sau trận đó, quan Tham biện
chủ tỉnh rút lui. Dân làng khâm phục tài ứng đáp của vị đại hương cả. Và hàng
năm, lễ cúng đình được cử hành long trọng, công khai hơn trước.
Giờ đây, trong tình thế mới,
ông hương cả sẽ đánh ván cờ gì? Tôi nhớ đến lời căn dặn của chị Nguyệt. Và nhớ
tới đứa cháu của ông hương cả đang theo giặc Pháp, hiện có mặt cách đây không
xa. Có lẽ hắn đang bàn tính kế hoạch thôn tính làng nầy với viên sĩ quan trong
đồn.
- Đây nè! Gặp nó rồi!
Giọng nói khá to ấy khiến
tôi trở lại thực tế. Ngoài đồn, súng nổ liên hồi, lâu lâu lại điểm vài tiếng “nổ
ầm”, rung rinh nền nhà.
Ông đưa cho tôi xem miếng giấy
nhỏ, màu vàng lợt xếp làm tư:
- Đem lại gần đèn mà xem đi
cháu! Bửu bối mà!
Trời ơi! Ông hương cả đã
lãnh “giấy tờ” của thực dân Pháp trước khi chúng đến đóng đồn chăng? Nhưng tôi
lầm to. Mở giấy ra, tôi thấy một lá bùa bát quái, lăng nhăng những chữ nho viết
thảo.
- Thưa bác! Cái gì vậy? Lá
bùa nầy để làm ám hiệu...
Ông hương cả bèn chận lời
tôi:
- Nói bậy đi! Xưa rồi. Hồi mới
sanh con Nguyệt lận. Hồi má con Nguyệt còn sống, bác gặp ông thầy ở Bình Định mới
vô, ông thầy cho bác lá tử vi. Mạng của bác thuộc vào số “Nê Mã độ Khương
Vương”. Cháu hiểu không?
Tôi đành chịu thua. Ông
hương cả châm thêm nước nóng vào chén, vấn thuốc cho tôi hút. Ông kể lại điển
tích trong truyện Nhạc Phi. Câu chuyện khá hấp dẫn khiến tôi quên cả ưu tư phiền
muộn. Ánh đèn dầu mù u chập chờn, vàng vọt như nhòe ra. Xưa kia, vào cuối đời
nhà Tống, Triệu Cấu tức là Khương Vương thuộc hoàng tộc là người mang trong
mình dòng máu liệt oanh của Triệu Khương Dẫn. Tên giặc Ngột Truật bày mưu kế để
bắt sống hoặc giết cho kỳ được Khương Vương. Khương Vương chạy trốn, không một
tên quân sĩ nào theo kịp để hộ giá. Ngài chạy bộ vào rừng. Phía sau, giặc Ngột
Truật phi ngựa đuổi theo.
Ngài ngửa mặt lên trời:
- Trời dứt mạng ta rồi sao?
Hỡi trời.
Bỗng đâu, từ bên ven rừng, một
ông lão đầu bịt khăn đen xuất hiện, tay dắt con ngựa. Ông lão nói:
- Chúa Công! Xin nhảy lên ngựa
cho mau.
Khương Vương mừng rỡ, làm y
lời. Con ngựa phóng bốn vó chạy như bay. Ông lão nọ cũng mất dạng.
Phía sau, giặc Ngột Truật
theo không kịp. Nhưng Khương Vương điếng hồn vì con sông Hiệp Giang hiện ra trước
mặt. Sông vừa rộng, vừa sâu. Bờ bên kia xa thẳm. Tiếng hò reo của giặc Ngột Truật
inh ỏi, mỗi lúc càng gần.
Khương Vương kêu to:
- Trời dứt mạng ta rồi sao?
Con ngựa nọ nhảy xuống sông
Hiệp Giang. Bọn Ngột Truật đến bờ sông, nhìn theo chỉ thấy sóng cồn nên thất vọng,
quân sĩ tìm dấu vết Khương Vương, tin rằng ngài còn ẩn núp bên này. Dè đâu con
ngựa nọ lội nhanh ngang sông. Đến bờ bên kia, Khương Vương thấy khu rừng. Trời
đổ bóng chiều rồi sương mù lan tràn khắp cảnh vật. Ngựa chạy trong rừng hồi lâu
rồi dừng lại nghỉ giữa tư bề cây cối dày đặc, trong đêm.
Khương Vương bỗng rú lên.
Con ngựa nọ biến mất dạng trong sương. Ngài bèn đi bộ, dò từng bước, phó mặc
cho vận mạng. Hồi lâu, trong đám sương mù nhô lên một ngôi miếu nhỏ. Ngài bước
vào thấy trước miếu có đề chữ “Thôi Phủ Quân Thần”, giữa miếu dường như có bài
vị trên bệ. Ngài bỗng kêu rú, nhận được hình dáng con ngựa đã cứu mình từ bên
kia sông Hiệp Giang. Con ngựa vẫn đứng sững, mơ hồ, vô tri vô giác, hầu hạ bên
bàn thờ. Ngài rờ thử thấy ngựa nọ nắn bằng đất thô, chưa nung. Ngài cúi mình ôm
con ngựa mà khóc ròng:
- Ngựa ơi! Mày bằng đất
nhưng tại sao mày không rã?
Dứt lời, con ngựa đất rã xuống
bên bàn thờ.
- Gà gáy rồi! Thưa bác. Xin
bác nghỉ dưỡng sức, chờ sáng mai hãy hay.
Thếp dầu sắp cạn. Ông hương
cả Binh vẫn mở mắt trao tráo, nhìn tôi:
- Nãy giờ, cháu hiểu sự tích
Nê Mã độ Khương Vương chưa? “Nê Mã” tức là con ngựa nắn bằng đất bùn. Số mạng của
bác là vậy đó.
Tôi đáp:
- Dạ, cháu mới hiểu... mơ hồ.
Nhưng đời bây giờ hơi đâu mà tin chuyện đời xưa.
- Hiểu mơ hồ là hiểu làm
sao? Nghĩa là chưa hiểu gì ráo! Tội nghiệp. Hồi nãy, trước khi cháu tới, có mấy
chú Thanh Niên Tiền Phong gõ cửa, khuyên bác nên rời khỏi nhà, coi chừng Tây tà
nó xúi giục. Năm nay bác hơn 70 tuổi rồi. À! Con Nguyệt nó có nhắn điều gì lạ
không? Coi bộ nó hồ nghi ba nó... Thôi! Cháu ngủ đi.
Ngọn đèn sắp tắt. Tôi mệt lả,
nằm co ro trên ghế trường kỷ cho đỡ lạnh. Ông hương cả vẫn ngồi bên bếp lửa, cầm
cây củi nhỏ khều mớ than ra khỏi bếp.
Mí mắt tôi sụp xuống. Muỗi cắn
trên má, dưới chân, trên cườm tay. Tôi nhắm mắt đập bừa. Dường như ông hương cả
đi ngang qua, đem bếp un lại gần để đuổi muỗi, săn sóc cho tôi. Rồi cánh cửa mở.
Ông ra sân hồi lâu. Có tiếng thình thịch bên vách. Ông lật đật trở vào:
- Ngủ chưa! Đừng giựt mình.
Hồi nãy, bác ra ngoài coi chừng. Gà gáy canh tư rồi. Lát nữa, đâm mây ngang, gần
sáng, cháu hãy về.
Hồi lâu, tôi mở mắt. Tư bề
im lặng, ông hương cả ngồi gần tôi, hút thuốc:
- Thức rồi hả? Uống nước
nóng không? Nếu ngủ không được thì cháu ngồi dậy. Bác muốn hỏi thật với cháu một
điều nầy. Cháu tin quẻ tử vi của bác không?
- Dạ, khó tin quá!
- À! Hồi nãy bác hỏi mà tại
sao cháu chưa chịu trả lời. Con Nguyệt gặp cháu nó còn nói gì thêm không? Cháu
đã giấu giếm tức là cháu khinh khi bác.
Cực chẳng đã tôi đành thú thật:
- Chị Nguyệt cho biết: Còn
người bà con... trong gia đình, hiện giờ làm thông ngôn ngoài đồn.
Ông hương cả gật:
- Có lẽ nó tới đây thăm bác.
Nhưng dễ gì nó gặp bác. Chừng nào cháu gặp con Nguyệt một lần nữa?
- Dạ, chị Nguyệt làm việc...
bí mật. Cháu ở lại nhà chớ có làm việc với ai đâu.
- Nó lấy chồng hơi sớm. Tụi
bây thiếu duyên nợ với nhau. Chắc nó còn lẩn quẩn đâu đây. Thôi để bác ngủ giây
lát. Cháu buồn ngủ không? Nhiều khi, thức suốt đêm mình tỉnh táo nhưng đến hừng
đông, khi mặt trời sửa soạn mọc thì mình ngủ gục...
Thếp đèn dầu mù u vụt tắt.
Ông hương cả ngáy pho pho, ngon lành. Tôi lúng túng, muốn tìm dầu để châm vào
thếp nhưng nào rõ chai dầu ở đâu? Chỉ còn biện pháp chót là quạt bếp un, hi vọng
rằng lửa sẽ nhóm lên, đánh tan sương mù trong nhà và làn khói tuy mỏng manh
nhưng cũng đuổi được vài con muỗi.
Giây lâu, ông hương cả trở
mình.
Mặt trời mọc, rọi vào nhà.
Tôi đến cửa toan mở chốt. Ông hương cả giựt mình vì tiếng động, nói nhanh:
- Cái chốt này khó mở lắm.
Cái chốt đặc biệt kiểu nhà xưa. Để cho bác.
Ông đứng dậy, mở chốt. Tôi
không cần chú ý đến cách mở cửa nhà, kiểu xưa. Bỗng nhiên, tôi thấy ông hương cả
đưa một tay lên trời! Một phát súng nổ. Và bọn lính Pháp quát to, cách chừng
vài chục thước.
Nhanh như chớp, tôi chạy đến
ông hương cả. Ông ôm ngực mà nói:
- Con ngựa bằng đất bùn...
Thôi cháu chạy lẹ đi. Nó bắn bác bởi vì...! Chạy đi!
Tôi liếc ra ngoài hàng ba.
Trên vách tường, mấy hàng chữ khá to, viết bằng than bếp: “Việt Nam Độc lập”,
nét chữ nguệch ngoạc. Có lẽ bọn lính Pháp thấy mấy chữ khó thương ấy nên bắn lập
tức, khi cánh cửa vừa mở. Chúng cho rằng quân thù đang trú đóng trong nhà.
Tôi ra sau nhà rồi cắm đầu
chạy, chạy miết. Hồi lâu bọn Pháp mới dám tiến vào trong.
Tôi không gặp chị Nguyệt đâu
cả. Hai chục năm qua, tôi không về xứ. Nghe nói xác ông hương cả được đứa cháu
đang theo Tây xin xác, chôn bên cạnh nhà. Hắn can thiệp quá trễ.
Con Rắn
Con rắn ấy vừa nhỏ vừa dài,
giống như chiếc đũa ăn cơm. Nó bò tới, bò lui trên nệm rồi kéo dài thân hình
ra, vặn ngược, vặn xuôi. Cặp mắt đỏ ngầu như tóe lửa, lưỡi le dài thòn. Chập
sau, bụng rắn tươm ra hai giọt màu long lanh như hai giọt nước mắt.... Bụng rắn
lại xé ra, hàng chục con rắn nhỏ nhô đầu phá bụng mẹ rồi nhảy lên chiếc mền của
bà cai tổng Bá.
Bà cựa quậy nhưng tay chân đều
tê liệt. Bầy rắn con chui xuống mền, bò lăng nhăng, lạnh ngắt trên bụng bà cai
tổng. Bà ú ớ, co tay, duỗi chân, đôi mắt mở ra thao láo trong bóng đêm. Từ
trong gan ruột bà lửa bốc phừng phừng... bầy rắn con ấy bò tới bò lui, cắn lộn
nhau để giành thức ăn, giành chỗ ở.
Ngọn đèn chong lu dần trên đầu
giường. Gà gáy văng vẳng, báo hiệu đầu canh năm. Bà cai tổng vặn tim đèn lên
cao, bước ra khỏi phòng ngủ...
Mụ Hai đang ngủ ở giường
ngoài lồm cồm ngồi dậy:
- Thưa bà, bà làm gì mà thức
quá khuya vậy?
Bà cai tổng đáp:
- Mệt quá. Nhưng cũng may.
Như vầy là tôi dậy sớm.
Đến bộ ván, bà cai mở nắp ô
trầu, đem chai dầu cù là, xoa trên bụng. Mụ Hai im lặng. Từ ba tháng qua, cứ thỉnh
thoảng là bà cai tổng lên cơn đau, một thứ đau đớn... không thể tả được. Bà hồ
nghi rằng từ khi ông cai tổng mãn phần đến giờ, bà con bên chồng toa rập nhau để
ám hại bà, hòng chia gia tài. Đứng về mặt pháp lý mà xét, bà là người chánh thức
được quyền thừa hưởng tài sản cò bay thẳng cánh ấy. Tuy vợ chồng ăn ở với nhau
không con nhưng xưa kia giữa hai người có làm giấy hôn thú. Bà đã nhiều lần
nghe bà con bên chồng hăm dọa sẽ giết, sẽ thuốc, sẽ thư... Bao nhiêu kế hoạch đề
phòng dường như gãy đổ. Bà mang chứng đau bụng kỳ lạ. Mấy ông thầy thuốc ta
trong xóm bảo rằng bà đau máu. Thầy thuốc Tây ở Rạch Giá nói ngược lại: bà chẳng
đau chứng gì cả.
Hai khoa Tây y và Đông y đều
vô lý. Bà linh cảm rằng mình đã bị “thư” một vật gì trong bụng. Và vật đó là một
con rắn hoặc một bầy rắn. Giấc mơ kinh khủng hồi nãy là bằng chứng tuy mơ hồ
nhưng đáng tin cậy nhứt.
Mụ Hai thừa hiểu tâm bịnh của
chủ nhà:
- Thưa bà, trước sau gì bịnh
cũng hết. Bà ăn ở hiền lành, tu nhân tích đức. Kẻ gian manh không ám hại bà được
đâu!
Bà cai tổng lắc đầu:
- Chắc nó thư một con rắn vô
trong bụng tôi.
- Xin bà đừng nói nhảm mà
hao gầy thân thể. Thưa bà, nếu bà tin cậy thì con sẽ chỉ cách.
- Kiếm người mở bùa, mở thư
à? Tốn kém bao nhiêu, bà không tiếc. Bà chỉ sợ tiền mất tật còn. Nhứt là tiếng
đồn đãi xấu xa của thiên hạ. Con Hai biết không? Tụi nó trông cho bà chết, nếu
không chết thì bà phải có chửa hoang để tụi nó chia gia tài.
Mụ Hai nhớ tới người tình
nhân của mình, giờ phút này đang ngủ chèo queo trong lò gạch cũ hoang vắng của
cậu Ba Chiêu. Anh ta tên là thầy Ngọc, chuyên nghề xem địa lý, xem tử vi và
đánh bài gian lận. Mấy lần rồi, mụ đến gặp thầy Ngọc để vấn kế. Thầy Ngọc một mực
từ chối: “Dục tốc bất đạt. Bà cai tổng ưa nghi ngờ”. Thầy đáp: “Trước sau gì,
trái cây chín cũng phải rụng nhưng bây giờ nó còn hơi xanh”.
Trời tờ mờ sáng, bà cai tổng
nằm lim dim trong khi mụ Hai lui cui nấu nước pha trà. Bà lại dụi mắt:
- Thôi! Mệt lắm. Con Hai biết
cách nào trị bịnh cho bà không?
Mụ Hai nhớ tới thầy Ngọc nên
trả lời:
- Dạ, có ông thầy này mở bùa
hay lắm. Để con tới nhà ổng, nói rõ chứng bịnh của bà rồi thỉnh thuốc về.
- Thỉnh thử coi. Nhớ dặn thầy
đừng tiết lộ cho ai biết. Bà hồ nghi trong bụng... có con rắn sống nhăn đang cựa
quậy. Ban đêm, thỉnh thoảng bà nằm chiêm bao thấy bầy rắn hiện về, chun vô bụng.
Nãy giờ, ngồi nói chuyện với
thầy Ngọc hơn nửa tiếng đồng hồ, mụ Hai ấm ức quá chừng:
- Mình hãy cố gắng. Nếu trị
dứt bịnh, bả dám đền ơn năm bảy trăm hoặc một ngàn đồng.
Thầy Ngọc ngồi chồm hổm, đôi
mắt lấp lánh trong khung cảnh tối om:
- Tiền bạc, ai mà không ham.
Tôi đâu ngu dại bỏ lỡ cơ hội. Đi chơi ngoài đường, gặp ai bỏ rơi một hai xu tôi
còn cúi xuống mà lượm huống chi số bạc to tát. Thôi, em mang gói thuốc này về,
nói rằng bả bị thư như vầy, như vầy... chớ không phải bị thư bầy rắn. Đừng cãi
lời tôi mà hư hỏng đại sự.
Mụ Hai ra về, tức giận vô
cùng. Tại sao thầy Ngọc chỉ biểu những việc lạc đề, gãi không trúng chỗ ngứa của
bà cai tổng.
Mụ vừa vào tới sân, bà cai tổng
chạy ra hỏi:
- Xong không?
Mụ đáp:
- Tôi đem gói thuốc này về
cho bà. Thầy giảng nghe hay lắm. Vô nhà, tôi nói đầu đuôi căn bệnh cho bà rõ.
Để giữ bí mật, mụ Hai đóng cửa
ngõ, đóng cửa cái rồi trình bày dông dài về kỹ thuật “thư, ếm” do một ông thầy
vô danh nọ tiết lộ:
- Thầy đàng hoàng lắm, muốn
làm việc nghĩa, cứu dân độ thế chớ không cầu danh, cầu lợi. Vì vậy thầy giấu
tên thầy, và chẳng bao giờ tọc mạch hỏi tên tuổi của bệnh nhân.
Bà cai tổng thích chí, khen
tấm tắc:
- Con Hai mày khôn lanh quá.
Đừng nói cho bất cứ ai biết rằng bà mang bệnh. Bà con của ông cai tổng hay được,
họ đàm tiếu hoặc tìm cách “thư” loại bùa khác, độc hại hơn.
Bằng một giọng bí mật, mụ
Hai cho biết: Mấy thầy “thư” thường bỏ thuốc vô thức ăn hoặc nước uống. Sau khi
ăn uống nhằm thuốc, bệnh nhân chẳng bao giờ hay biết. Nhiều người bị thư từ hai
ba năm rồi sau đó ăn nhằm thịt gà, thịt bò, thịt ngỗng... bệnh mới phát ra. Nếu
muốn tìm thủ phạm bệnh chẳng còn nhớ là vào dịp nào, do ai thuốc.
- Ông thầy bí mật suy luận rất
lâu, phân biệt mấy kiểu thư, nào thư cây đinh, nào thư con rùa...
Bà cai tổng hỏi nhanh:
- Con gì trong bụng của bà
đây?
Mụ Hai nói e dè:
- Dạ, con muốn nói nhưng sợ
bà không tin.
- Cứ nói. Ai giận hờn mà sợ.
- Dạ, thầy nói trong bụng của
bà có một miếng da trâu. Lâu ngày miếng da trâu ấy dày lên, nở lớn, lông trên bụng
mọc ngày càng dài.
Bà cai tổng lắc đầu:
- Thầy nói bậy! Con rắn. Nó
thư hàng chục con rắn con, trong bụng bà.
Mụ Hai vẫn trả lời đúng theo
lời dặn riêng của thầy Ngọc:
- Dạ, đó là miếng da trâu, cắt
miếng nhỏ dài nên nó nhúc nhích giống như con rắn. Bà còn nghi ngờ sao? Thầy
nói, da trâu phơi khô, tán ra nhuyễn như bột, nếu bỏ vô nước thì nó nở ra.
Bà cai tổng sực nhớ tới bao
nhiêu “điều tai nghe mắt thấy” liên quan tới thịt trâu. Loại thịt trâu ngâm
trong nước lạnh, chẳng bao giờ hôi thúi hoặc rã xác, trái lại, nó cứ tươi thêm.
Khi gặp xác trâu nổi lềnh bềnh trên sông, nhiều người bơi xuồng ra, cầm dao lóc
mớ thịt khuất dưới mặt nước đem về ăn ngon lành. Lại còn sự mầu nhiệm khác: thịt
trâu khó tiêu, có người mới nằm chỗ, ăn thịt trâu rồi trúng mà chết trên giường
với miếng thịt còn nằm ngoài cuống họng.
Bà gật đầu:
- Cũng có lý. Bao tử của
mình đầy nước và nóng hổi. Da trâu nở ra, còn tươi xanh. Để bà uống thử một
phen. Thuốc đâu rồi?
Mụ Hai trao cho bà cai tổng
gói thuốc bột của thầy Ngọc rồi khuyên bà nên uống lúc còn đói và nhịn ăn để chờ
đợi lúc miếng da trâu nọ xổ ra.
Sáng hôm sau, bà cai tổng thở
dài. Mụ Hai đã đoán trước những lời bà cai tổng sắp phiền hà. Và mụ cứ im lặng,
hồi lâu mới dám thưa với chủ nhà:
- Thuốc dở quá! Nếu vậy, phải
tìm thầy khác. Nếu thuốc công hiệu, miếng da trâu đã tuôn ra ngoài rồi.
Bà cai đáp:
- Nhớ kiếm ông thầy khác. Thằng
cha thầy da trâu này bói lạc quẻ. Báo hại bà đói bụng rồi “trả nợ” muốn thụt
con mắt, đứt hơi. Đây, cầm năm cắc bạc... đền ơn tạm cho thằng cha da trâu đó.
Nhớ ăn nói khéo léo, kẻo nó giận rồi thư vô bụng bà miếng da trâu thứ thiệt khổ
quá! Trời ơi... bầy con rắn cứ quậy trong bụng bà hoài... Hồi tối, bà nằm mê...
Mụ Hai lẩm bẩm:
- Một con rắn đủ nguy hại rồi,
nói chi tới mười con rắn. Bà ráng chờ đợi. Để con kiếm thầy khác.
Đang nằm lim dim trong lò gạch,
thầy Ngọc chợt thấy mụ Hai bước vào. Mụ cằn nhằn:
- Mình báo hại quá. Bà cai tổng
đòi thứ thuốc khác, thứ nào xổ ra nguyên bầy rắn con trong bụng bả.
Thầy Ngọc mỉm cười:
- Bả là tay đa mưu, đa nghi.
Dục tốc bất đạt. Cái trái cây mới chín nhưng chưa mùi. Hái quá sớm, thất bại, uổng
lắm.
Rồi hút thêm điếu thuốc, thầy
gật gù:
- Nhứt là trái này vừa bổ, vừa
ngon! Em Hai ơi! Mình ơi! Lại nằm gần anh để nghe anh làm bài toán thứ nhì.
Ráng chịu cực với anh chừng một hai ngày nữa. Em về thuật lại như vầy... như vầy...
rồi cho bả uống gói thuốc này.
Nói xong, thầy Ngọc tiễn người
yêu ra ngoài cửa lò gạch:
- Phải kiên nhẫn, ban đầu
mình dở rồi sau đó mới trở thành hay. Nhớ nghe không! Em cưng nhớ nói rằng em
đã bỏ ông thầy thứ nhứt và đó là gói thuốc của ông thầy thứ nhì.
Trưa hôm ấy, mụ Hai tường
thuật việc gặp gỡ với ông thầy “mở thư” thứ nhì. Theo lời mụ, ông thầy này đã lớn
tuổi, đầu râu tóc bạc, mới xem qua ngỡ như ông tiên trên núi Tà Lơn. Ông “tiên”
này cho rằng gia chủ bị thư một con đỉa trong bụng.
- Có lý hơn ông thầy thứ nhứt.
Con đỉa nó dài, nó cựa quậy, sanh đẻ ra đỉa con. Hèn chi trong giấc chiêm bao
bà thấy nó dài... như con rắn. Nhưng xưa nay bà đâu có ra ngoài vườn hoặc ra
ngoài ruộng mà bị đỉa chun vô bụng.
Mụ Hai cười giòn:
- Bà nói nghe chưa xuôi. Con
đỉa sống dai lắm. Tụi bất lương đem con đỉa phơi khô... vài ngày sau đem ngâm
xuống nước, nó sống nhăn. Ông “tiên” còn cho biết: Đỉa sanh con đẻ cháu bằng trứng
và bằng da... Tụi bất lương cắt một khúc da đỉa, đem phơi, tán ra thành bột rồi
bỏ vô lu nước. Bà uống nhằm thứ nước đó. Miếng da đỉa vô bao tử, nở ra, trở
thành đỉa mẹ. Rồi da của đỉa mẹ sanh ra đỉa con.
Lý thuyết ấy hơi khó tin
nhưng bà cai tổng cố gắng dung nạp, như kẻ sắp chết đuối ngoài biển khơi, tình
cờ vớ được một cái phao nhỏ xíu, một thứ phao không phải là phao, vì bản thân của
nó cũng sắp chìm.
Nhưng thà có còn hơn không! Đêm
ấy, bà cai tổng uống liều thuốc thứ nhì với thái độ gượng gạo... để đi tới kết
quả là nghe con vật gì cấu cào trong bụng nhưng chẳng bao giờ thấy nó bị tống
ra. Bà nằm thiêm thiếp, trong giấc mơ kinh khủng lại thấy con rắn nhỏ màu vàng
hiện về. Rắn ta níu đầu níu đuôi vào góc giường như giăng võng rồi xé tét cho bụng
nứt ra... Hàng chục con rắn nhỏ nhảy xuống mền, chui vào bụng bà. Rắn ấy ngày
càng to dần, trở thành hàng chục con rắn mẹ, mỗi con rắn mẹ lại đẻ hàng chục rắn
con khác. Bà tưởng tượng bầy rắn khổng lồ đang nô đùa, bò tới lui, le lưỡi,
phun hơi độc vào tim, gan, phổi phèo...
Mụ Hai chạy vào:
- Thưa bà...
Bà cai tổng ngừ ngừ như con
thú bị thương:
- Chết rồi... Con Hai mày kiếm
giùm bà một ông thầy khác. Bụng của bà có con rắn, thứ gì nho nhỏ chớ đâu phải
miếng da trâu hay con đỉa... Phải kiếm ông thầy biết “mở thư”.
Mụ Hai sực nhớ lời căn dặn của
thầy Ngọc:
- Dạ, thầy “mở thư” bây giờ
khó kiếm lắm. Bà cho con xin chút ít tiền để con đi vài ngày ở bên Giồng Riềng...
- Tiền đây. Con Hai nhớ đi cho
nhanh rồi về cho gấp nghe... Bà trông cậy vào một mình mày mà thôi. Bà khổ lắm,
chỉ còn là cái xác chết để cho bầy rắn con rúc rỉa. Tốn kém bao nhiêu, bà chẳng
tiếc. Bán nhà bán đất, bà không màng... miễn là đem con rắn mẹ với bầy rắn con
ra khỏi bụng... Ác độc quá.
Sau một đêm ân ái với thầy
Ngọc, mụ Hai khoan khoái nghĩ tới số tiền “cúng tổ” khá to:
- Mình nên cẩn thận.
- Em đừng dạy tôi điều ấy.
Em về trước đi.
- Mình về một lượt chớ.
Thầy Ngọc lắc đầu:
- Em ngu quá vậy? Em phải về
trước, bảo cho bà cai tổng biết. Hai đứa mình là kẻ xa lạ... Anh tới sau.
- Mình nói đúng. Để em về.
Thầy Ngọc nói gắt:
- Mắc dịch! Có cái đó, anh
căn dặn kỹ mà em vẫn quên.
Mụ Hai trở vào lò gạch, nhận
lãnh một cái ống trúc khá nhỏ rồi giấu trong ngực. Thầy Ngọc nói rỉ vào tai mụ
vài câu, mụ đưa ống trúc ấy lên tai để nghe rồi nhướng mắt.
- Thưa bà. Thầy sắp tới. Ông
thầy này khó lắm. Ông hứa bảo đảm sẽ mở thư cho bà thấy nhãn tiền.
Bà cai tổng mừng quýnh:
- Thiệt vậy không?
- Dạ... ổng tới kìa!
Thầy Ngọc được bà cai tổng
đón rước trọng thể. Thầy xem sắc mặt bà cai rồi nói khẽ:
- Xin phép bà cho tôi coi mạch
và coi mấy lằn gân xanh nồi trên bụng...
Bà cai tổng nói:
- Nhưng... xin thầy vô buồng
của tôi mà xem mạch, kẻo thiên hạ dị nghị. Hai à! Con vô đây với bà...
Thầy Ngọc sờ vào cườm tay bà
cai tổng. Mụ Hai đứng đó để đóng vai tuồng của người thứ ba. Bà cai tổng nói:
- Hai à.... Con ra ngoài,
khép cửa cho kỹ. Hễ có ai tới thăm thì nói bà đang mệt. Đừng để họ vô nhà rồi họ
đàm tiếu.
Thầy Ngọc gật đầu:
- Đàm tiếu thì tôi không sợ.
Tôi chỉ sợ... là bùa của tôi mất linh nghiệm...
Mụ Hai bước ra khỏi phòng.
Trong này, thầy Ngọc tiếp tục bắt mạch ở cườm tay rồi xem gân trên bụng của bà
cai tổng.
Thầy mỉm cười:
- Đêm nay là biết... Thôi, để
tôi ra ngoài, lo bào chế thuốc cho bà uống. Cỡ chín hay mười giờ khuya là xổ
ra. Nhớ kêu đứa ở để nó coi chừng kẻo... con thú đó còn sống. Tôi cũng thức tới
giờ phút đó...
Sau khi uống mớ thuốc tán,
bà cai tổng nằm liệt giường, nhịn đói. Giây lâu, thầy Ngọc vào phòng của bà để
xem lại bộ mạch, rót nước cho bà uống rồi đưa ra các lý luận tràng giang đại hải
về rắn trun, rắn nạp dưa, rắn Xiêm, rắn Ấn Độ, rắn Tà Lơn.
Trời đã tối. Thầy Ngọc nói
to:
- Đứa ở đâu rồi? Tôi muốn uống
trà.
Mụ Hai đến gần tình nhân, mắng
yêu:
- Mình dám kêu tôi bằng đứa ở
hả?
Thầy Ngọc nói:
- Chừng bả “xổ bùa”, em giấu
cái ống tre trong áo rồi la hoảng, gọi anh tới. “Nó” còn sống không? Đừng sợ gì
ráo.
Từ trong buồng, bà cai tổng
kêu rú lên:
- Hai ơi! Bà mệt quá. Hai
ơi. Vô đây “tiếp sức” với bà. Trời ơi... cái gì nôn nao trong bụng quá!
Mụ Hai “dạ” thật to, chạy tất
tả, tay sờ vào cái ống tre.
Ngoài này, thầy Ngọc lắng
nghe... chờ hiệu lịnh.
Bỗng nhiên, mụ Hai quát to:
- Bà ơi! Con gì sống nhăn
đây nè! Để con đem cây đèn chong lại coi cho kỹ... Úy trời đất ơi!
Bà cai tổng rú lên:
- Con rắn hả? Thầy ơi! Vô
coi giùm thử coi. Thuốc hay quá... Từ rày về sau...
Thầy Ngọc đốt thuốc hút rồi
đến cửa phòng, gõ vài tiếng xin phép vào để tỏ rằng ta đây là người đứng đắn,
tôn trọng thuần phong mỹ tục... Chập sau, mụ Hai mở cửa:
- Thầy coi thử... Con rắn
ghê quá. Nó nằm lờ đờ...
Thầy Ngọc nói lông bông, để
đùa với mụ Hai:
- Bị nhốt trong... bụng, nó
ngột thở.
Rồi day qua bà cai tổng, thầy
nói:
- Bà thấy khỏe khoắn chưa?
Bà đói bụng không?
Bà cai tổng nói nhanh:
- Hai à? Con ra ngoài, lo nấu
cháo cho bà ăn.
Mụ Hai bước ra. Trong phòng,
chỉ còn bịnh nhân và thầy bùa. Ai nấy đều thỏa mãn, vui ra mặt. Kẻ thì mừng “được”
hết bệnh, kẻ thì mơ ước xa xăm hơn:
- Bà cai à! Tôi muốn về gấp
nhưng... bà đã thấy, mỗi lần uống thuốc chỉ có xổ ra một con rắn thôi. Trong bụng
bà, còn chừng mười con rắn khác... Mười ngày nữa, mỗi ngày xổ một con.
Bà cai gật đầu:
- Tôi hiểu rồi. Thầy chịu
phiền thức với tôi mười đêm nữa, tại đây chớ gì?
- Nếu bà hiểu... tấm lòng của
tôi, tôi đâu ngại thức khuya dậy sớm.
Vài tháng sau, bà cai tổng bỗng
lớn bụng. Rồi sau tháng Giêng, bà xổ ra một đứa “thầy rắn con”, giống hệt
gương mặt láu cá của thầy Ngọc.
Con Rắn ri voi
Một buổi trưa, vào năm 1937,
chú Biện tống đang đánh tứ sắc cầu vui với vài người bạn, chợt nghe tiếng canô
chạy ầm ầm, ngày càng gần. Chú biện giựt mình, buông tay bài, nheo mắt:
- À! Ông cò Lơ Hia lùng bắt
chuyện gì đó...
Một người đưa ý kiến:
- Chẳng lẽ ông cò bắt bọn
mình. Chú biện quen thân với ổng mà?
Biện Tống lắc đầu:
- Ông Lơ Hia lợi hại lắm.
Tôi làm biện làng, tức là làm thơ ký cho thầy xã trưởng vậy thôi. Bất cứ giờ
phút nào tôi cũng có thể mất chức, bà con dư biết: lương bổng của tôi có bảy đồng
năm cắc. Mấy người giăng câu, bắt cua hàng tháng huê lợi nhiều hơn tôi.
- Nhưng mà thầy được ngồi
trong mát, khỏi dầm sương dãi nắng. Hễ cúng đình thì thầy ngồi gần mâm của mấy
ông hương chức hội tề.
Tiếng máy canô im bặt. Cả bọn
ngơ ngác. Ông cò Lơ Hia mặc quần áo kaki và đội “kết” trông oai vệ làm sao: dấu
hiệu “trái lựu đạn” đặc biệt dành cho ngành cảnh sát thời Pháp thuộc... chói ngời
màu bạc. Theo sau ông cò là một người mặc quần áo “xá xẩu” bằng lụa trắng.
Chú biện Tống thủ lễ, chắp
tay xá theo phong tục “An Nam”, nhưng ông cò Lơ Hia đã vui cười, đưa tay “bông
rua”:
- Rảnh chưa? Chú biện. Dường
như chú đánh bài tứ sắc với mấy người kia hả?
- Dạ, đâu có....
- Đừng chối. Dòm bộ tịch của
mấy người tôi đủ biết. Từ xưa tới giờ, tôi bắt hơn... một ngàn vụ cờ bạc rồi. Lần
này là vụ thứ một ngàn lẻ một.
Biện Tống nài nỉ:
- Xin quan lớn thương giùm.
- Nếu không thương thì nãy
giờ chú biện phải bị còng rồi. Còng rồi đem xuống canô, đem về nhốt tại khám đường
ở chợ Ngã Năm. Bây giờ, chú biện theo tôi, khỏi còng. Chú là người ốm yếu, còng
tay làm chi thêm vô ích.
Nói xong, ông cò Lơ Hia
khoát tay, ra lịnh giải tán đám người hiếu kỳ đang dụm năm, dụm bảy từ phía xa
xa. Thật là hồn phi phách tán. Chú biện Tống riu ríu bước theo ông cò. Người
Huê kiều nói tiếng Việt khá rành:
- Đừng sợ. Đừng sợ. Thầy Hai
đừng sợ. Thầy Hai làm việc ở xóm này lâu mau rồi?
Biện Tống liếc qua ông cò Lơ
Hia như để xin phép trả lời. Là người am hiểu chút ít việc quan việc làng, biện
Tống đã thuộc làu nguyên tắc: khi bị bắt thì tội nhơn chẳng được quyền nói chuyện
với kẻ khác, nhứt là khi quan trên chưa lấy khẩu cung.
Đến bờ kinh xáng, ông cò Lơ
Hia nói nhanh:
- Chú biện gặp dịp may rồi
đó. Tôi làm bộ như vậy để dân làng đừng nghi kỵ. Thôi, chú cứ xuống canô uống
rượu chát, bàn chuyện riêng với người này, ông Xìn Phóc, làm má chín, giàu có lắm,
ở Sanh Ga Bo mới qua.
Xuống canô, biện Tống mừng rỡ
vì thoát nạn. Nhưng mấy tiếng “má chín”, “Sanh Ga Bo” mơ hồ quá. Bấy lâu nay,
biện Tống ăn học rồi giao thiệp lẩn quẩn với những người làm ăn bậc trung ở chợ
Gò Quao mà thôi. Người tên là Xìn Phóc tỏ ra bặt thiệp, vui vẻ. Ông ta mở cặp
da - thứ cặp da hơi lạ - đem ra tấm danh thiếp:
- Thầy Hai uống rượu đi. Làm
quen với thầy Hai, tôi mừng lắm.
Trong khi hai người đàm đạo
với nhau, ông cò Lơ Hia ra sau lái canô ngắm cảnh rồi đem máy ảnh ra mà bấm.
Xìn Phóc mới giải thích rõ ràng hai tiếng “má chín”. Biện Tống tỏ vẻ.... lanh lợi,
nói mơ hồ:
- Vậy mà tôi tưởng “má chín”
là kẻ làm công hạng sang trọng, bạn thân của chủ tiệm hoặc có phần hùn trong
công ty nào đó.
- Má chín, đúng ra là người
mại bản, tiếng Tây kêu bằng “com-ra-đo”. Tôi làm “com-ra-đo” cho hãng buôn lớn
nhứt ở Sanh Ga Bo, thuộc về miền Hạ Châu. Hãng này giàu bạc triệu chớ đâu phải
ít. Phen này, nếu chịu hợp tác làm ăn với tôi thì thầy Hai lời bạc ngàn...
“Làm ăn” chuyện gì đây? Biện
Tống chợt nghĩ đến những giai thoại về bọn buôn lậu quốc tế, bọn ăn cướp biển ở
vịnh Xiêm La. Xóm này, ai nấy kiếm đủ cơm gạo qua ngày, tư bề là vườn rậm, nước
mặn đồng chua. “Hay là Xìn Phóc muốn tổ chức gián điệp quốc tế? Ông cò Lơ Hia
đưa hắn đến để gài bẫy mình chăng?” Biện Tống thở dài:
- Cám ơn “má chín”. Tôi dở lắm.
Xóm này đâu có huê lợi gì. Dân chúng lo đặt lươn, bắt rùa, bắt rắn...
Xìn Phóc gật đầu:
- Ông cò chỉ dạy tôi điều
đó. Tôi tới đây, sau khi hiểu rõ tình hình. Nhưng còn chuyện này... nhỏ xíu
thôi, tôi muốn nhờ thầy Hai giúp sức. Tôi ở lại đây với thầy Hai, bàn tính sau.
Ông cò Lơ Hia nhìn đồng hồ,
nói nhanh:
- Đủ rồi. Má chín với biện Tống
quen biết rồi hả? Này chú biện Tống.
- Dạ, quan lớn dạy điều chi?
- Dịp may hiếm có. Nếu “má
chín” bị cướp bóc, bắt cóc thì chú hoàn toàn chịu trách nhiệm nghe chưa? Má
chín ở lại đây chừng một hoặc hai ba tháng.
Xìn Phóc nhờ biện Tống tìm
cho kỳ được một con rắn “quí báu” có vảy nhỏ và mịn giống như miếng da rắn đã
thuộc xong, làm kiểu. Xìn Phóc đem trọn con rắn ấy về Sài Gòn rồi trở xuống,
mang theo khá nhiều tiền.
- Thầy Hai ơi! Con rắn đó...
trúng lắm, tốt lắm. Chẳng hay ở xứ này bà con bắt nó dễ dàng không?
Biện Tống cười giòn:
- Loại rắn ri voi, hàng hà
sa số. Nó lội dưới sông rạch, trong rừng vào tháng ngập nước như vầy.
- Bên Sanh Ga Bo, ông chủ
tôi muốn đặt mua chừng bốn ngàn miếng da rắn thứ đó, chở gấp về bển, trong vòng
hai mươi bữa. Bảo lãnh nổi không? Cứ một miếng da rắn, tôi để cho thầy một đồng
xu tiền huê hồng.
Lần đầu tiên trong đời, biện
Tống mới gặp một trường hợp may mắn như vậy. Từ trăm năm rồi... nghe ông già bà
cả nói lại thì rắn ri voi là loại vô dụng. Nó sống dưới nước, mỗi con to bằng bắp
tay, cắn không chết ai cả. Mấy tay bợm nhậu chê rắn ri voi, thịt nó ăn không
ngon bằng rắn hổ đất. Thỉnh thoảng, nếu bắt được rắn ri voi, mấy tay nhậu ăn tạm
hoặc thả nó xuống nước, phóng sanh. Xìn Phóc quả quyết da rắn rất có giá tại
Sanh Ga Bo. Người ta mua nó đem về, thuộc lại làm bóp đầm bán giá cao. Rắn ri
voi có vảy mịn, vảy ấy bám sát vào da, nổi hột sáng ngời. Người Âu Châu xem da
rắn ri voi là bảo vật, quí gấp mười lần da bò, da ngựa.
- Được không? Một miếng da rắn,
tôi chịu hai xu huê hồng!
Biện Tống nói thật thà:
- Một xu, hai xu huê hồng
tuy là số tiền khá to nhưng làm sao tôi nói cho bà con lối xóm nghe. Họ bị gạt
nhiều lần rồi. Năm xưa, có người đến mua con cắc kè, bảo rằng đem về lột da bán
ra ngoại quốc cho Tây với đầm làm bóp, làm dây nịt. Hắn cho hàng mấy chục tay
em vào thôn quê, mua cắc kè với giá hơi cao...
Người khá giả trong vùng
nghĩ ra cách: xuất tiền mua cắc kè của bọn tay em này để bán lại cho tay đầu nậu
ở chợ Gò Quao. Bọn tay em này làm giàu. Nhưng số cắc kè dự trữ ấy chỉ bán được
lần đầu mà thôi vì tay tổ lưu manh làm đầu nậu ấy chỉ mua một lần đầu lấy lệ. Mấy
người khá giả làm trung gian đành ôm bụng kêu trời với số cắc kè quá nhiều dự
trữ trong nhà, mua bằng giá khá cao, tưởng rằng bán lại thì lời to nhưng chẳng
ai mua lần thứ nhì. Tay tổ lưu manh và số tay em nọ đã cao bay xa chạy... một
cách hợp pháp.
Má chín Xìn Phóc cười giòn:
- Cắc kè là chuyện khác. Rắn
ri voi là chuyện khác. Thầy Hai hãy cầm số tiền này, mua về cho tôi.
- Tiền nhiều quá, nếu tôi giữ
trong mình, tụi bất lương dám cướp bóc bất tử...
- Thầy Hai quen với họ, chẳng
lẽ họ giết thầy Hai...
Biện Tống nhận số tiền hơn
ngàn đồng - số tiền to tát thời bấy giờ. Xìn Phóc xem kỹ lần nữa. Đúng lắm. Rắn
ri voi của miền U Minh đã được các nhà thuộc da ở bên Ăng Lê gọi là
“Acrochordus javanicus” với lời chú thích: serpent - éléphant d’eau douce (rắn
voi ở vùng nước ngọt). Ông ta chỉ dạy cho biện Tống về giá cả, cách lột da...
Đâu đó xong xuôi, ông ta nằm nhà, chờ ngày gom góp da rắn, đem về Sanh Ga Bo. Nếu
biện Tống giựt tiền thì ông ta sẽ nhờ sự can thiệp của tên cò Lơ Hia.
Hôm sau, biện Tống trở thành
nhân vật quan trọng nhứt trong xóm. Bà con bao vây chú ta để mượn tiền trước.
Biện Tống báo tin long trọng:
- Xứ người ta có mỏ vàng. Xứ
mình có rắn ri voi, quí như vàng. Da rắn này đem về thuộc lại, bán cho ông
hoàng bà chúa ở bên Tây. Hồi mấy năm trước, đã xảy ra vụ mua cắc kè. Lần này
khác hẳn. Cắc kè nhỏ quá, lột ra tấm da nhỏ xíu. Da rắn to hơn da cắc kè gấp bội,
đẹp hơn da trăn. Bấy lâu nay, người Huê kiều mua da trăn, bà con dư biết điều đó.
Lời giảng giải ấy được đa số
tán thành. Họ xin lãnh tiền trước. Biện Tống cho mượn, mỗi người năm đồng để
làm sở phí, chừng nào nạp da rắn thì trả thêm. Tuy nhiên, điều kiện nêu ra khá
gay go:
- Da rắn bán mắc hay rẻ, tùy
theo bề ngang. Nếu bề ngang không đủ một tấc thì bị loại.
- Da phải lột sạch sẽ, cạo hết
mỡ rắn.
- Nếu da bị lủng lỗ thì mất
giá. Miếng da nào lủng năm ba lỗ thì kể bỏ.
Làm sao tìm ra da rắn cho thật
nhiều, thật tốt để bán? Thiệt là thế gian hi hữu. Rắn ri voi, gọi ri voi vì nó
to lớn (như con voi!), da nó mang nhiều vảy rằn ri, đẹp hơn da trăn - được nâng
lên hàng đầu, quí hơn rắn hổ, rắn mái gầm hoặc cá tôm. Nó quí hơn con gà con vịt.
Gà vịt phải nuôi, ấp trứng... tốn thì giờ. Đằng này rắn ri voi thuộc vào loại
chim trời cá nước, ai bắt được nấy hưởng, khỏi đóng thuế cho sở kiểm lâm. Mọi
người đều mặc nhiên được quyền truy kích rắn, chẳng cần xin phép hương chức
làng, chủ đất, chủ vườn!
Bình thường, dân trong xóm
ưa... cờ bạc, đờn ca vọng cổ mùi mẫn hoặc hát huê tình đối đáp. Giờ đây, ai nấy
đều bận việc, bất luận già trẻ bé lớn, chẳng ai thèm cờ bạc vì bắt rắn của trời
đất, lột da nó ra, bán bằng giá quá cao... cũng là hình thức cờ bạc tinh vi mà
mọi người trong sòng đều hưởng lợi.
Vui sướng quá! Biện Tống lấy
làm hãnh diện. Chú tìm ra công ăn việc làm cho bà con lối xóm. Số da rắn mua được
tuy nhiều nhưng vẫn còn ít.
Ngày đầu, 200 miếng da.
Ngày kế đó, 300 miếng da.
Rồi ngày kế, 250 miếng da.
Đến ngày kế, 500 miếng da...
thứ thật to.
Thật là kỳ lạ, đáng suy
nghĩ. Làm thế nào dân làng tìm ra 500 con rắn mỗi ngày? Ban đầu, Xìn Phóc sanh
nghi, ngỡ là loại rắn khác. Nhưng sau khi xem kỹ, anh chàng “má chín” gật đầu,
xác nhận:
- Đó là rắn ri voi thứ thiệt.
Dịp này, ta nên mua da rắn với giá thấp hơn. Thầy Hai nghĩ sao? Rắn ri voi ở xứ
này sao mà mau lớn quá. Nè, mỗi tấm bề ngang hơn 3 tấc!
Biện Tống đáp:
- Để tôi đi dạo khắp xóm
làng rồi cho ý kiến sau.
Xìn Phóc ghé tai nói nhỏ với
biện Tống:
- Hai người mình làm giàu rồi.
Nếu rắn quá nhiều, tôi mua tám ngàn tấm da thay vì bốn ngàn như đã định. Đừng
cho họ biết, họ làm núng. Luôn dịp, thầy Hai ghi chép cách bắt rắn của họ để
sau này tôi qua bên Xiêm, qua Miến Điện dạy cho dân chúng. Dân Việt Nam giỏi
quá.
Ban đêm hàng trăm chiếc xuồng
tới lui khắp hang cùng ngõ hẻm. Dân làng đốt đèn như mở hội hoa đăng. Từ hồi lập
quốc, khai hoang, chưa lần nào vùng rừng tràm U Minh Hạ lại tưng bừng như vậy.
Biện Tống đã hiểu: dân làng không bắt rắn bằng tay hoặc không dùng mũi chĩa mà
xom. Phương pháp ấy quá chậm chạp, làm hỏng da rắn, mất giá. Xưa nay, họ quen
nghĩ câu: câu giăng, câu cắm. Mỗi người sắm hàng trăm cần câu, móc mồi cá sặc rồi
cắm xuống bãi bùn, tùy thích. Cứ năm bảy phút, họ bơi xuồng trở lại chỗ để gỡ rắn.
Rắn ri voi đớp mồi chậm chạp,
lưỡi câu mắc vào mép miệng rắn. Nếu gỡ ra quá chậm thì rắn sẽ sứt mép, tẩu
thoát.
Biện Tống đến gặp Hai Kỳ,
người đã bán trên 200 miếng da rắn. Nhà Hai Kỳ trở thành một cái xưởng khai
thác rắn sống. Trước sân, hàng chục tấm da, căng ra, đóng đinh cho thẳng thớm.
Trong nhà, Hai Kỳ đang lui cui lột da rắn. Rắn bị siết cổ, buộc vào gốc cột
nhà. Bàn tay khéo léo của Hai Kỳ cầm dao nhỏ, rọc một đường dài từ cổ tới hậu
môn rắn. Lột da là chuyện dễ, đàn bà có thể làm được.
Biện Tống hỏi:
- Xác rắn đâu hết rồi?
- Dạ, mấy bữa đầu thì tôi nướng,
nấu cà ri, thắng mỡ để dành. Mỡ rắn làm thuốc dán trị ghẻ, trị phỏng lửa. Lâu
ngày, tôi đào lỗ mà chôn... Uổng quá.
- Làm cách nào bắt rắn cho
nhanh?
Nghe câu hỏi ấy, Hai Kỳ nghĩ
hồi lâu:
- Khó nói lắm. Tôi chỉ biết
câu rắn mà thôi, câu cắm như chú biện thấy. Đằng xóm, có ông Bảy Đăng câu rắn
theo kiểu này lạ lắm.
- Kiểu gì?
- Ông ngồi một chỗ, thả cần
câu xuống nước, tay ôm cần như ông Khương Thượng trên thạch bàn. Kế bên có chai
rượu. Vậy mà mỗi ngày ổng câu hơn ba chục con rắn, giỏi hơn tụi trai tơ, tụi
này buồn bã suốt ngày, cắm hàng trăm cần, bơi xuồng tới lui vất vả quá.
Bảy Đăng là một ông lão khật
khùng, uống rượu li bì, say té lăn, ngủ bờ ngủ bụi. Riết rồi bà con hàng xóm chẳng
ai màng săn sóc lão. Biện Tống bơi xuồng đến gần chòi Bảy Đăng, chợt nghe lão gọi:
- Chú biện ghé đây chơi! Rắn
nhiều quá nè!
Hàng chục con rắn ri voi cuộn
tròn trong cái giỏ bằng tre. Bảy Đăng buông cần câu, nói vồn vã:
- Vui lắm. Nhờ ông má chín
Xìn Phóc mà sau này, tôi chết trong hòm. Mai chiều tôi mua cái hòm (quan tài)
thứ tốt cho bà con ngán chơi. Nếu má chín Xìn Phóc ở đây vài năm, tôi sắm cái
hòm bằng vàng.
- Ông làm cách nào mà câu rắn
giỏi hơn thiên hạ?
Bảy Đăng cười khì:
- Tôi câu bằng thuốc mê.
- Thuốc gì? Dùng chất... hóa
học hả? Hay là ông làm bùa?
- Đây nè!
Bảy Đăng chỉ vào chai rượu:
- Nó là rượu đế, thứ ngon.
Nói xong, lão mời biện Tống
uống. Biện Tống từ chối. Lão nốc một hơi rồi để chai rượu xuống bãi cỏ. Chai rượu
nằm hơi nghiêng, không đậy nút.
- Lát nữa, chú biện coi!
Hai người im lặng. Từ mé nước,
một con rắn ri voi trườn lên... đến gần miệng chai rượu rồi thập thò, rút lui
như hoảng sợ. Bảy Đăng nâng chai rượu, nhểu vài giọt xuống nước, trên cỏ. Con rắn...
hăng hái bò trườn, đến gần miệng chai. Bàn tay lanh lẹ của Bảy Đăng chụp xuống,
bỏ rắn vào giỏ.
- Rắn xưa kia không biết uống
rượu. Nhưng mà cho tụi nó tập tành nếm mùi... cay đắng. Bữa đó, tôi uống rượu,
ngủ quên rồi quơ tay kiếm chai rượu đổ hết. Chừng thức dậy, tôi thấy rắn bò lại
để hửi hơi.
Biện Tống như phát giác điều
gì quan trọng:
- Té ra cái chai rượu là cái
cần câu rắn.
Bảy Đăng vội đính chính:
- Là cái bẫy thì đúng hơn. Cần
câu này, tôi cầm trong tay để che mắt thế gian, vậy thôi. Rắn mê rượu. Nếu giàu
thì tôi giữ độc quyền bắt rắn, ngặt vì tôi nghèo. Tôi sẽ mua vài ngàn lít rượu,
đổ xuống rạch. Rắn trồi đầu lên mà nhậu, lờ đờ ai muốn bắt thì bắt.
Nhưng biện Tống vẫn chưa hết
thắc mắc. Mớ rắn của Bảy Đăng đều nhỏ. Làm sao mà lột được tấm da ba tấc bề
ngang? Bảy Đăng gật gù:
- Chuyện đó bí mật. Muốn am
tường thì nên tới nhà Sáu Kiến. Tôi bán cho Sáu Kiến. Thằng cha đó chuyên môn lột
da.
Biện Tống đến nhà Sáu Kiến.
Hắn đang làm việc trong căn chòi bí mật, sau hè, nài nỉ lắm vợ con hắn mới chỉ
rõ địa điểm, Sáu Kiến trợn mắt:
- Ủa! Chú biện, làm sao chú
biết tôi ở đây?
- Thì vợ con của anh nói.
- Đồ mắc dịch! Vợ con tôi
báo hại tôi...
Vừa nói Sáu Kiến vừa liếc
lên trần nhà. Ô hô! Biện Tống ngỡ mình lạc vào một cái hắc điếm trong truyện
Tàu, loại hắc điếm làm thịt người mà bán cho thân chủ. Hàng chục con rắn no
tròn, bóng láng, treo lủng lẳng, đong đưa, như những khúc dồi to tướng. Sáu Kiến
nói lẩn thẩn:
- Này chú biện. Chẳng lẽ tôi
bắt buộc chú uống máu ăn thề. Nếu chuyện này tiết lộ ra, chắc tôi giết chú.
- Sao? Nói gì ghê quá vậy?
Giữa anh em mình nào xảy ra chuyện xích mích. Treo mấy con rắn đó lên nóc nhà để
làm gì? Sao mà nó lớn quá vậy? Hèn gì mỗi tấm da lột ra ba tấc.
Sáu Kiến đưa ra một cái ống
bơm xe máy:
- Đó! Chú hiểu chưa. Tôi buộc
lỗ đít rắn lại rồi thì bơm hơi vô miệng rắn. Con rắn trở thành cái ruột xe máy,
căng thẳng, no tròn và chẳng bao giờ nổ. Tôi bơm hoài, bơm mãi rồi buộc miệng rắn
lại, treo tòn ten. Tới nước nào đó, tôi lột da, tấm da rắn bề ngang hai tấc sẽ
trở thành ba tấc, nhờ khí... của trời.
Biện Tống cười chua chát:
- Bà con mình sáng chế nhiều
kiểu hay quá.
Sáu Kiến nói:
- Cho thằng má chín Xìn Phóc
nó biết một trận. Nếu bị bơm hơi, da rắn phải mỏng. Hễ mỏng thì Tây với đầm xài
cái bóp mau rách hoặc sợi dây nịt mau đứt. Tụi nó phải qua đây, mua thêm nữa...
Nhưng Sáu Kiến lầm to.
Phen đó, Xìn Phóc mua mấy
ngàn tấm da rắn, trả tiền sòng phẳng, đi biệt tích. Mùa rắn năm sau, bà con lối
xóm có lòng mong đợi nhưng hắn không trở lại. Hỏi lý do thì biện Tống không biết.
Đến Tết, tình cờ biện Tống ra chợ Ngã Năm gặp ông cò Lơ Hia. Ông cò cho biết:
- À! Cái ông má chín Xìn
Phóc. Ổng gởi thơ cho tôi, chúc mừng năm mới. Ông nói da rắn ở xứ U Minh mỏng
quá, chuyến đó đem về, ổng lỗ vốn.
Biện Tống giả bộ ngây thơ:
- Tại sao lỗ vốn?
- Xìn Phóc nói: khi đem ngâm
chất hóa học thì da rắn cũng như giấy hút thuốc, nhiều chỗ bị đứt theo lằn
ngang, lằn dài. Thay vì làm được sợi dây nịt cho nguời lớn thì da đó chỉ dùng
làm dây đeo đồng hồ tay. Thay vì làm bóp cho đàn bà thì da đó chỉ dùng làm bóp
cho con nít. Mà con nít bên Tây đâu có xách bóp.
Con Sấu cuối cùng
Một tai họa thảm khốc vừa xảy
đến cho gia đình ông cai tổng Hy. Hôm ngày cưới vợ của đứa con trai út, đoàn
ghe rước dâu bị sấu cản mũi, bà con hai họ kêu la ỏm tỏi, sấu lặn xuống rồi trồi
lên đập đuôi ngay chiếc ghe chở cô dâu, chú rể.
Ai nấy trở về bình yên, trừ
trường hợp đặc biệt của cô dâu. Nàng mất dạng sau khi quơ đôi chân ngược lên trời,
lần cuối cùng, đầu và mình đều khuất dưới mặt nước xao động, trong miệng sấu.
Tôi đến chia buồn với ông
cai tổng Hy. Ông nói, giọng buồn bã:
- Nó mất xác. Bây giờ chỉ
còn chờ báo thù.
Vì chưa biết rõ, tôi hỏi kỹ:
- Sấu báo thù cho sấu...
Theo tục lệ hồi xửa hồi xưa, sấu là loài thú bị đày, mỗi con muốn thành tinh, để
đầu thai kiếp khác cần phải nuốt... chín mươi chín nhơn mạng, thêm một người nữa
là đúng một trăm chẵn. Nhưng mấy thầy câu sấu ở xứ mình quả quyết rằng họ có thể
sửa đổi luật lệ của quỷ thần. Họ sẵn sàng giết sấu để báo thù cho người chết với
điều kiện phải mướn bằng một số tiền khá cao.
- Ông mướn thầy câu sấu nào
chưa?
- Họ đòi giá cao quá, dầu bắt
được hay không, mình phải đặt “tiền tổ” trước khi họ ra tay. Khổ lắm. Họ biết rằng
kẻ bị “hùm tha, sấu bắt” chẳng bao giờ trở về nhà hưởng nhang khói nếu con sấu,
con cọp sát nhân kia còn sống. Vì muốn cúng kiếng cho con dâu, bác dọ hỏi giá cả...
sơ sơ trên hai trăm đồng. Còn thêm điều kiện: bao nhiêu vòng vàng trong bụng sấu
đều thuộc về quyền của họ. Cách đây vài bữa, lão Năm Hên tới đây hỏi han kỹ lưỡng
rồi xin phép bắt con sấu đó, không ăn một đồng xu nào hết.
- Người đâu mà tử tế quá vậy?
- Khó hiểu lắm. Ông ta nói rằng
muốn bắt một con sấu cuối cùng, trước khi giải nghệ...
Rồi ông cai tổng Hy nói khẽ:
- Chắc ông ta biết con dâu của
tôi... nó mang theo hai chiếc neo đúng hai lượng vàng nên động lòng tham. Hễ bắt
được con sấu, ông ta mổ bụng nó lượm trước hết rồi tri hô sau, hoặc chẳng thèm
tri hô gì ráo. Như vậy, ông ta vừa... làm giàu, vừa được tiếng tốt với hậu thế!
Để hiểu rõ hơn, tôi đến Ngã
Ba Đình để làm quen với ông Năm Hên. Biết tôi là người quen thuộc với gia đình
ông cai tổng Hy, ông Năm tỏ vẻ ái ngại:
- Nguy lắm. Tốt hơn cháu về
nhà chờ đợi. Khi nào bắt được nó, bác cho cháu hay.
Tôi nài nỉ xin phép ở lại
căn chòi che tạm ấy. Ông mãi im lặng. Tôi sanh nghi, liên tưởng đến hai chiếc
neo hai lượng vàng còn nằm trong bao tử con sấu ác nghiệt. Gương mặt ông Năm
Hên trông hiền nhưng bí hiểm lạ thường. Ông đi ra đi vào, quan sát bãi bùn,
nhìn mấy giề lục bình trôi ngang qua rồi nói:
- Sợ cháu không đủ kiên nhẫn.
Chuyện nguy hiểm này, bác muốn chịu đựng một mình. Nếu có mặt một người thứ
nhì, bác e xảy ra nhiều tiếng dị nghị. Hồi xưa cháu nên nhớ rằng bác làm nghề
này vì miễn cưỡng. Hôm nay bác muốn tự ý bỏ nghề không trống không kèn. Thôi,
được rồi. Cháu ráng ở sớm hôm với bác. Điều quan trọng là cháu đừng làm điều gì
mà bác ngăn cấm. Đừng chàng ràng hỏi tới hỏi lui. Đừng thắc mắc là tại sao cháu
hỏi mà bác không trả lời. Bây giờ thì cháu ăn cơm rồi ngủ cho thẳng giấc.
Vì tò mò muốn điều tra những
thủ đoạn của thầy câu sấu, tôi nhận lời và ngoan ngoãn ăn cơm. Ăn xong tôi lựa
một nhánh bần cổ thụ, trèo lên nằm co mình. Gió thổi mát rượi. Ông Năm Hên cứ
hút thuốc phì phà. Tôi vui sướng như nằm trên chiếc ghế dựa. Con sông Ngã Ba
Đình nổi tiếng có nhiều sấu hung ác nên ghe xuồng qua lại rất thưa thớt. Trời xế
dần, chưa chi mà cò, diệc bay giăng hàng về rừng. Lục bình trôi hết giề này tới
giề kia, mấy cây khô trốc gốc nổi lềnh bềnh quay qua quay lại như xác người rũ
tóc.
Tôi ngủ tự bao giờ, không
hay biết.
Bỗng nhiên, tôi giật mình thức
dậy. Một trái bần chín, khá to, vừa rụng xuống bãi bùn. Tôi mừng quýnh, nhảy xuống
đất, chạy ra ngoài bãi, cúi xuống lượm, chợt nghe nhiều tiếng động lạ lùng, giống
như giọng cười the thé của “cô hồn” ma quái.
Trên chòi, ông Năm Hên vụt đứng
dậy mỉm cười:
- Coi chừng. Không nguy hiểm
nhưng đừng giật mình, đừng la lớn. Nó đó!
“Nó” là ma hay là con sấu ăn
thịt đứa con dâu của ông cai tổng Hy? Tôi muốn hỏi to nhưng sực nhớ lời căn dặn.
Vả lại, tôi muốn tỏ rằng mình đây chẳng phải thợ câu sấu nhưng vẫn đầy đủ bản
lãnh.
Hai chân tôi đau điếng như đạp
nhằm gai. Vừa ngó xuống, tôi hoảng hốt: hàng chục con thú nhỏ - vóc dáng bằng
con cắc kè - chạy tới bao vây, nhe răng, phóng mình cắn khỏi mắt cá. Tôi rút
chân khỏi bùn, toan rút lui về phía cây bần để tìm một nhánh cây làm roi.
Không cần suy nghiệm, tôi hiểu
ngay! Đó là bầy sấu con mới nở, dưới bụng mỗi con đều dính những bệt màu vàng -
màu của tròng đỏ trứng sấu. Ông Năm Hên quát to:
- Chạy luôn đi!
Tới gốc bần, tôi trèo lên thật
cao rồi ngóng xuống bãi. Kìa, một con sấu dài hơn ba thước từ mé nước bò trườn,
bao vây đàn con, lùa xuống mé nước.
- Xuống đi.
Nghe theo lệnh ông Năm Hên,
tôi tới căn chòi. Ông cứ ung dung hút thuốc, nhìn mơ màng theo làn khói. Trên
vách lá, hàng chục cây mun - mũi tên bằng cây cau già phía trước có mũi nhọn bằng
sắt - nằm im lìm trong cái ống tre khá to. Bỗng dưng, tôi nổi giận, thầm trách:
- Lão Năm Hên này quá ác, muốn
nhử cho sấu ăn thịt kẻ khác. Đã ác, lão còn nhát gan. Cớ sao ông chưa chịu
phóng vài cây mun bịt sắt để giết con ác thú?
Tôi nói:
- Sao bác thờ ơ quá vậy!
Lão trợn mắt:
- Đó là con sấu cái. Nó lo
giữ bầy con. Con sấu đực mới là chánh phạm.
- “Nó” đâu rồi? Tại sao bác
biết là “nó”?
- Cháu đừng hỏi.
Rồi ông nói lảng qua chuyện
khác. Nào loài sấu đẻ hàng đôi ba chục trứng, đẻ xong sấu khoét lỗ, sắp trứng từng
lớp, cứ mỗi lớp trứng là có một lớp lá cây mục, cỏ khô. Đâu đó xong xuôi, sấu
kiếm lục bình, nhánh cây, rác rến mà phủ lên giống như mô đất, cao đến sáu bảy
tấc. Khi trứng gần ngày nở, sấu mẹ bò quanh quẩn, nghiêng tai nghe tiếng động
trong lòng trứng... Lúc mới nở, sấu con sống bằng chút ít tròng đỏ còn dính dưới
bụng. Hằng ngày sấu mẹ canh chừng sấu con, sợ sấu cha trở về ăn thịt con...
Chúng tôi ăn cơm chiều. Trời
sụp tối. Ông ngồi chồm hổm, bấm đốt tay, tính lẩm bẩm.
Đến khoảng đầu canh hai, ông
vỗ nhẹ vào vai tôi:
- Thức chưa hay còn ngủ?
Tôi trố mắt:
- “Nó” hả?
- “Người ta” căn dặn hồi đầu
mùa rồi, đừng hỏi nữa. Nếu buồn bực thì lại đây coi cái này cho vui. Tôi
bắt đầu lo ngại, nghĩ tới bao nhiêu giai thoại về hồn ma hiện về cỡi trên lưng
loại sấu đội đèn. Ông Năm thúc hối:
- Mau mau!
Qua khu đìa, tôi thấy dưới
này năm ba vật gì đen thui, giống như khúc củi nổi lều bều. Ông Năm giải thích:
- Tụi nó điếm đàng như vậy
đó. Nó xuôi chân xuôi đuôi và cứ nổi phêu phêu trên mặt nước. Con sấu cái ở
chính giữa, xung quanh là bầy sấu đực tới ve vãn. Sấu cái lội tới đâu, mùi “xạ”
trong miệng nó hôi thúi tới đó, rù quến bầy sấu đực... Tụi đực rựa đánh mùi,
giành “mèo”. Coi kìa!
Mặt nước xao động. Mấy “đốm
đen” chuyển mình rượt nhau, đập đuôi nghe ầm ầm, nước văng lên chấp chóa dưới
ánh trăng non. Chập sau, bầy sấu mất dạng.
Ông Năm Hên khép kín cánh liếp,
nói nhanh:
- Cháu thấy nhãn tiền chưa?
Con sấu cái này chờ “chồng”. Nó đánh bạt bầy sấu đực xấu máu. Bọn sấu đực giành
mèo dữ tợn lắm. Bác gặp nhiều phen lạ lùng: sấu đực cắn lộn, con này chui xuống
bụng con kia để thiến lẫn nhau.
Rồi ông tắt đèn chui vào nóp
ngủ.
Ngày qua ngày, ông Năm Hên
xuống bãi bùn, cắm nhánh cây để ghi mức nước lớn, nước ròng. Đôi khi, thừa lúc
tôi nằm lim dim, ông xách cây dao phay, đi ra sau nhà, khuất dạng trong vùng rừng
tràm lưa thưa. Tôi sực nhớ tới tập quán của vài người mỗi lần vào rừng phóng uế,
“bón phân cho cây” là họ mang theo cây dao để đào lỗ rồi lấp lại cho hợp vệ
sinh. Nhưng tại sao ông Năm Hên che giấu cái nhu cầu đơn giản ấy? Một buổi
sáng, nghe tiếng quạ kêu sau rừng, lão hối hả chạy ra khỏi nhà, hò hét inh ỏi:
- Quạ đùng! Quạ đùng!
Lão trở vào, hút thuốc, bấm đốt tay rồi chạy xuống bãi bùn. Hồi lâu, lão trở
lên:
- Cháu ở nhà một mình nghe
không? Bác qua bên kia chừng vài giờ đồng hồ. Ở nhà, nhớ đuổi quạ. Và đừng bao
giờ ra sau nhà, phía rừng tràm.
Tôi gật đầu, hứa vâng lời.
Chờ lão khuất dạng, tôi làm bài toán liều mạng. Ra sau rừng để xem thử. Tại sao
lão ngăn cấm? Nhứt định lão chôn giấu một vật gì bí mật. Rủi lão bắt gặp, tôi bị
rầy, bị đuổi ra khỏi nhà là cùng. Vùng rừng tràm quá thấp, nước đọng quanh năm.
Giữa ban ngày muỗi mòng cứ bay vo ve, từ mặt nước, bầy lăng quăng thoát xác bay
lên như con ngài lột vỏ kén. Hồi lâu, tôi đến vùng đất cao ráo, in tỏ rõ dấu
chân người. Tôi dừng bước, ngạc nhiên và sợ sệt, nhận ra một nấm đất vuông vức.
Kho tàng chăng? Bùa phép hoặc cạm bẫy gì đây? Sau khi hái một nhánh cây khô,
tôi xới đất: hai khúc xương lòi ra, xương ống chân và xương bắp đùi và mớ xương
vụn khác. Lập tức, tôi lấp đất lại rồi chạy nhanh về chòi để tránh mùi hôi
thúi. Té ra ông Năm Hên đã chôn nguyên cái chân của một người, người ấy phải
chăng là cô dâu của ông cai tổng Hy?
Chừng hai giờ sau, ông Năm
Hên trở về, nhìn thẳng vào mặt tôi như muốn nói điều gì... Ông vấn thuốc hút, mỉm
cười:
- Hổm rày, cháu buồn bực, hồ
nghi công việc làm của bác hả? Ráng ở thêm tối nay, tới trưa mai cháu về nhà được
rồi.
- Xin lỗi bác. Lúc bác vắng
mặt...
- Cháu đừng hiểu lầm. Bác mời
cháu ở lại chớ đâu muốn đuổi. Cái gì bác cũng tha thứ được hết. À, tuổi trẻ,
người ngoại cuộc như cháu ưa tò mò. Bác muốn cháu tò mò cho tới nơi tới chốn. Đời
bác quá già rồi. Bác làm rẫy khoai mì ở rạch Ngan Trâu, tính giải nghệ từ lâu
nhưng chưa giải nghệ được. Bữa nay hoặc sáng mai, bác giết con sấu cuối cùng.
Sanh nghề tử nghiệp, bác đều sợ, vì nếu “tử vì nghiệp” thì đó là luật quả báo.
Bác sợ những người tò mò, mới xem nửa chừng rồi bỏ cuộc...
Tôi im lặng, cúi đầu nghe lời
trách mắng quá nghiêm khắc ấy. Dường như ông Năm Hên muốn trút bao nhiêu bất
mãn chồng chất từ bao nhiêu năm qua lên đầu tôi.
Lão day mặt, hỉ mũi, nói nghẹn
ngào:
- Cháu nên ở lại. Bác sợ
cháu đồn đãi... bậy bạ. Giờ phút này, cháu thấy sự thật khi đào lên sau rừng.
Nhưng cháu có thể hiểu lầm... cũng như ông cai tổng Hy hiểu lầm.
Chiều hôm ấy, ông Năm Hên nhịn
ăn, vì buồn bực. Tôi lục nồi cơm nguội, nuốt lua láo nửa chén rồi chun vô nóp.
Ông đốt đuốc lên, nói khẽ:
- Đừng ngủ. Hễ nghe phía sau
rừng có tiếng sấu “nghé” đừng giật mình nghe không? Nước ở cái lung bên kia cạn
rồi. Tối nay nó về đó.
Tôi đứng lóm thóm bên ngoài
cửa, nhướng mắt... Bỗng nhiên, ông Năm Hên chạy ra ngoài, ngoắt lia lịa:
- Đừng sợ. Cháu coi kìa! Nó
trườn lẹ ghê, giống của nó dữ lắm. Bữa hổm, sấu cái lo ấp trứng, nó rảnh rỗi
sanh tật hung hăng đón ghe... đám cưới. Hôm nay, đoán chừng bầy sấu con đã nở,
nó bò về để ăn thịt con.
Dưới bãi bùn, con sấu hiện
ra, đen ngòm giống như chiếc xuồng độc mộc. Trăng sáng vằng vặc. Con sấu trườn
dài, dọc theo bờ sông, day mũi qua bên tả, bên hữu. Ông Năm Hên nói:
- Cháu cầm cây đuốc giùm
bác. Đừng la hoảng nghe không. Để bác giết nó. Cầm đuốc cho thật chắc!
Tôi nhận lấy bó đuốc...
Ông Năm Hên bước xuống bãi với
hai bàn tay không... Sực nhớ tới cái ống tre đựng mấy ngọn mun bịt sắt, tôi nói
nhỏ:
- Đem ngọn mun theo chớ?
- Khỏi cần. Chắc ăn lắm rồi.
Nó đó. Nhất định là nó.
Con sấu tiến lần về cái ổ trứng
- đúng nơi tôi bị bầy sấu con bao vây hôm nọ. Bầy sấu con hoảng chạy... Sấu đực
lướt tới đớp con. Nhanh như chớp, ông Năm Hên nhảy lên lưng sấu mà cỡi... Ông
cúi đầu xuống, hai tay cựa quậy... Sấu day mũi xuống nước rồi quẹo lên bãi, trở
mình, vật ông, Năm Hên nằm ngửa dưới bãi... Trong phút giây, người và sấu chỉ
là một đống đen thui. Khói từ bó đuốc thổi tạt ngang mặt tôi... Gió thổi hù hù.
Ông Năm Hên hò hét, làm vang động khu rừng tràm sau hè. Tôi đứng không vững vì
dường như mặt đất rung rinh. Bỗng dưng ông Năm Hên đứng dậy, chạy bò càn lên bờ
đến bên cạnh tôi rồi quỵ xuống, thở hổn hển:
- Nó gần chết rồi kìa.
Dưới bãi bùn lấp lánh ánh
trăng, con sấu đen ngòm nằm im. Tôi hỏi:
- Tại sao bác không kéo xác
nó lên. Hay là... để cháu tiếp sức với bác.
Ông khoát tay:
- Kìa! Con sấu cái với bầy sấu
đực bữa hổm trườn lên đó. Tụi nó kéo xác con sấu chết, ngâm vùi dưới đáy sông rồi
chia phần với nhau. Mình giành cái xác đó làm gì?
Lão nhìn trừng trừng vào mắt
tôi:
- Bộ cháu tiếc hai lượng
vàng trong bụng của nó hả?
Tôi im lặng, cúi đầu:
- Xin lỗi bác.
- Lỗi phải gì? Bác giải nghệ
rồi. Cháu tưởng bác vì tham hai lượng vàng nên liều mạng, cỡi trên lưng sấu hả?
Thôi mình vô nhà, nói vài lời nữa rồi ai về nhà nấy.
Ánh đuốc tàn rụi dần. Ông
Năm Hên nói:
- Sợ ma không? Nếu sợ thì
cháu cứ dỡ cái nóc nhà lá này mà bó lại làm đuốc.
Ánh lửa tắt. Tôi lính quýnh
chưa biết ứng phó ra sao. Thật ra, tôi sợ ma, vì sực nhớ tới hai khúc xương
chân chôn vùi sau hè. Giọng ông Năm Hên trổi lên trong bóng tối, ghê rợn như giọng
nói của ma:
- Ông cai tổng Hy hiểu lầm.
Bữa nay, bác ra nghề lần chót... Ồ, sức bác còn dẻo lắm, cháu thấy không? Bác cỡi
lên lưng sấu, lật hai cái chân trước của nó cho trở ngược lên lưng rồi bác điều
khiển như người cầm cương ngựa. Nó phải quẹo lên bãi như ý muốn của bác. Rồi
bác thọt cho nó đui hai con mắt. Kỳ sau, nếu muốn bắt sấu, cháu làm theo cách
đó. Bốn mươi năm kinh nghiệm của đời bác!
- Dạ, cháu không dám. Để
cháu thuật lại cho ông cai tổng Hy biết đầu đuôi.
Ông Năm Hên nói gắt:
- Đừng cho ổng biết điều gì ráo?
Hồi cỡi trên lưng sấu bác đâu nhớ tới hai lượng vàng? Bác ra nghề lần chót đâu
phải vì ông cai tổng Hy mà vì lý do khác. Nếu tiếc hai lượng vàng, ổng cứ mướn
thợ chài tới đó mà vãi... mò lên. Trời đất chứng minh cho bác.
Bầu không khí trở nên nặng nề.
Dưới mé sông, sấu quậy đùng đùng, con sống giành xác con chết. Ông Năm Hên vụt
đứng dậy:
- Cháu ở đây ngủ, bác về liền
bây giờ. Tới đây là dứt.
- Trời đất! Ban đêm, bác đi
đâu? Tội nghiệp cháu.
Ông Năm Hên ra khỏi cửa, mắt
đăm đăm hướng về phía bãi bùn:
- Nhắn với ông cai tổng: cứ
cúng cơm trên bàn thờ, vì người chết đã ngậm cười.
Tôi lính quýnh, tìm cách cầm
chân ông Năm:
- Thưa bác, còn cái ống tre
đựng mấy ngọn mun nè!
Nhưng ông Năm mất dạng trong
bóng tối. Tiếng nói của ông, ngày càng nhỏ rí nói vọng về căn chòi:
- Bỏ đi. Hay là cháu muốn
giữ làm kỷ niệm để khoe khoang với bà con rằng ta đây.... dám bắt sấu như ai
kia. Nếu muốn kỷ niệm, tốt hơn cháu nên ra về, im lặng, với hai bàn tay không,
trong bóng tối.
Sơn Nam

















Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét