Sư cụ triết lý - Bộ răng vàng - Hồ sê líu hồ líu sê sàng
Sư cụ triết lý
Cảnh chùa vắng vẻ.
Lá với hoa lung linh trước gió, hai gốc đại chốc chốc lại ném
một vài bông cho bãi cỏ sân nhà trai. Gặp hơi đất ẩm, mùi thơm bốc lên, thơm vô
cùng.
Muốn điều hòa thời gian, con chim gáy thỉnh thoảng lại cất giọng
gù gù bình tĩnh tựa hồ chẳng hề bị thôi thúc vì luật âm dương.
Kinh kệ xong, sư cụ Tăng Sương thơ thẩn dưới hiên muốn suy
nghĩ về vẻ tĩnh mịch của nhà chùa trước khi vào phòng riêng tĩnh tọa.
Ngài triết lý: khách thập phương ít lâu nay không năng lui tới
cửa thiền, tuy phần lý tài của nhà chùa có bề hao hụt, song đã có chí tu đến
thành Phật, ai nỡ đâu quan tâm đến chuyện tiền. Nghĩa đến chuyện tiền, chẳng
còn là từ bi.
Ngài lý luận thế này để tự an ủi:
"Ở trên thế gian này vật nào cũng có một nghĩa, sự nào
cũng có một lý. Cuộc đời là bể khổ thì sinh ra loài người chẳng lẽ đấng Thượng
đế lại làm một việc vô nghĩa lý sao? Không! Sinh ra loài người để bắt họ trầm
luân phải chịu thì bọn tăng ni sống mới có nghĩa, cái nghĩa cứu vớt họ.
Cảnh chùa vắng vẻ, dân gian thưa đến, nhà chùa sẽ quẫn bách,
cơ nguy rồi đến hết. Vực đạo, vậy đó há cũng lại là một sự vô nghĩa lý hay sao?
Không, sự tĩnh mịch khiến kẻ đi tu xa tục lụy, hồn phách phiêu phiêu, gần cõi
Niết Bàn. Cây gỗ đương mọc xanh tươi trong rừng mà có người bổ gốc đốn về, dễ
đó cũng là sự vô nghĩa lý hay sao? Không! Có đốn về thì mới có tạc tượng, thì kẻ
tu hành mới có được quỳ trước bệ để cúi đầu kinh kệ mà vọng tưởng đến Đức
Thích-Già-Mâu-Ni - Thượng đế không vô nghĩa lý bao giờ. Trên thế gian cũng như
trong vũ trụ, vật nào cũng có một nghĩa, sự nào cũng có một lý..."
Nghĩ xong, sư cụ ung dung dạo gót ra đến cái sân sau chùa.
Ngài muốn hiểu...nghĩa lý cái bãi cỏ hoang ở đấy. Chợt thấy sư bác đương lúi
húi làm gì vậy?...Sư cụ rón rén đến gần thì, mô Phật! - sư bác đương tu hành để
chóng thành sư hổ mang. Cái gói lá sen mới lôi dưới hố lên ấy, bên trong đựng
thịt cầy.
Đã muốn từ bi tất không được nộ. Bình tĩnh và khoan hòa, sư cụ
chỉ ra lệnh cho sư bác đem tang chứng ấy đến chịu tội trước bệ Phật mà thôi.
- Vậy trước sự này, người nghĩ làm sao?
- Bạch cụ, chúng tăng còn yếu linh hồn nên dễ sa ngã.
Mấy pho tượng trông bệ vệ uy linh...khói nhang nghi ngút tỏa
bay, tôn nghiêm vô cùng...Quái, mùi thịt cầy sao thơm thế?
Sư cụ Tăng Sương phán truyền:
- Đã sa ngã thì nên tự tìm cách chịu tội để chuộc lỗi.
Ứa nước mắt hai hàng, sư bác thê thảm:
- Bạch cụ, chúng tăng tưởng chỉ có cái hình phạt xứng đáng nhất
là bị đuổi khỏi nhà chùa. Song lẽ, nếu thế...thì, sáu bảy năm kinh kệ...
Sư cụ vẫn ôn tồn:
- Đấng Như Lai là chí thiện chí nhân: đánh kẻ chạy đi, không
ai đánh kẻ tìm đến.
- Nếu được tha thứ, chúng tăng xin ăn năn. Để vứt ngay gói
này...
Nhưng mà sư cụ lại giơ tay ngăn. Ngài vẫn ung dung phán truyền:
- Đấng thượng đế là bậc chí công. Cái cây trên rừng bị kẻ tiều
phu đốn xuống, đó là sự ác. Nhưng đốn xuống làm củi nấu nướng cho sống loài người
thì lại là sự thiện. Mà ta thuê thợ tạc gỗ thành tượng thì lại là sự thiêng
liêng. Ở đời này, vật nào cũng có một nghĩa, sự nào cũng có một lý.
Sư bác còn ngơ ngác thì sư cụ đã nghiêm nét mặt ra ý giận:
- Ta muốn biết người chịu cái hình phạt: hiểu cho ra nghĩa lý
mọi sự ở đời! Cố nghĩ cho ra xem!
Cau mày, sư bác nghĩ hồi lâu. Sau cùng run rẩy khẽ thưa:
- Bạch cụ, hay là...hay là Ngài...nếm một miếng?
Sư cụ bình tĩnh phán:
- Mô Phật!Người đã có cơ tu thành chánh quả, người đã biết
nghĩa lý sự tu. Tu là hiểu rõ nghĩa lý mọi sự ở đời.
Sư cụ vẫn thản nhiên nên sư bác tái mặt, sợ...Song lẽ, sư cụ
là người từ bi. Ngài đã hết hỉ, nộ, ai, lạc. Ngài chỉ ung dung, ôn tồn. Ngài
không sầm mặt không lắc đầu, chỉ khoan thai, bình tĩnh thò tay...nhót.
1935
Bộ răng
vàng
Cha vừa mất, hai quý tử nọ không lo việc tang lễ mà lại lao
ngay vào cuộc chia tài sản. Thật khốn nạn, người con bất hiếu còn cạy mồm người
chết để lấy răng vàng. Bằng ngòi bút tài hoa, sắc sảo, tác giả lên án mạnh mẽ
thói vô luân trong xã hội Việt Nam thuở còn bị thực dân phong kiến cai trị và để
cho người đọc hôm nay những điều cần phải suy nghĩ về đạo lý làm người.
Ông cụ già ngót tám mươi tuổi đầu ấy đã hứa với chúng cái chết
của mình ba tháng nay rồi, mà ba tháng nay rồi, ông cụ cứ nằm lỳ giữa giường để
rên đấy, ăn đấy, và thi hành mọi việc cần dùng ở đấỵ..
Cụ thật là người keo kiệt, đến lúc hấp hối rồi mà vẫn còn đo
lọ nước mắm, đếm củ dưa hành, hau háu chi ly từng đồng xu nhỏ một, chẳng chịu rời
chùm chìa khóa, mở tủ, lấy văn tự địa đồ chia của cho con.
Đến bây giờ thì ông cụ quả thật chết rồi, nhẹ nợ!...
Ông cụ chết rồi, thì thằng cả, thằng hai với vợ chúng xúm
nhau vào vồ lấy chùm chìa khóa, tính việc chia gia tài.
Chúng hãy để mặc cái thây ma nằm đấy. Cả hai ngày hôm ấy
chúng bận bù đầu vào trăm công, nghìn việc. Thằng hai nhường cho anh bộ đồ thờ
với yếu thư bàn độc, thì kỳ kèo ép anh phải bỏ tiền ra lo cho bố, thết đãi hàng
xã, hàng tổng thì phải lấy lại hai con lợn nái của mình.
Tối hôm sau, cái chết của ông cụ, họ hàng cũng không một ai
được biết, vì chúng... tính toán chưa xong.
Đến độ nửa đêm mọi việc đã thương lượng thực với nhau đâu vào
đấy cả. Lên giường nằm nghỉ, thằng cả mơ màng đến những cảnh phóng túng chơi bời
cũng như thằng hai, sướng bằng mở cờ trong bụng định những việc mưu danh, cầu
tước, mua lấy một chân chức sắc trong làng.
Bốn vợ chồng chúng xì xào to nhỏ với nhau, khúc khích với
nhau, duy chỉ một mình ông cụ, một cái thây ma phủ dưới một cái chăn đơn, nằm đờ
với ngọn đèn dầu to không bằng hạt đỗ. Vì không có chúc thư để lại, cái chết
kia là cái chết bất thình lình, chúng đã giấu kín ngày giờ với họ hàng, làng nước
thì chúng kêu gào khóc lóc làm chi?
Vợ chồng thằng cả muốn như ngủ rồi, thì vợ chồng thằng hai
rón rén đẩy cửa lôi nhau ra ngoài chuyện kín.
Thằng hai óc lý tài sáng suốt hơn thằng cả, nhớ rõ ra rằng
trong lúc sinh thời, ông bố muốn thay vào hàm răng cái còn cái gẫy, đã lên tỉnh,
vào nhà giồng răng vàng.
Chúng cứ xì xào cãi lẫy với nhau, con vợ nhất định rẫy rụa
không nghe, kêu rằng trong nhà có kẻ qua đời, người sống muốn cho kẻ chết được
thiêng liêng phù hộ cho mình, thường còn lắm khi bỏ vàng vào miệng. Nên khi thấy
chồng bàn lấy bộ răng trong mồm bố ra để bán, nó chẳng bằng lòng...
Thằng chồng phát gắt mà rằng:
- Cái đời đàn bà chúng mày sao mà ngu thế? Chết rồi, thì việc
cúng giỗ chẳng qua là việc dối lừa thiên hạ, bộ răng vàng ấy đem bán đi không
được chục bạc hay sao? Mày không nghe ông mặc kệ mày, miễn sao mày đừng để cho
vợ chồng anh cả biết. Ông làm gì thì mặc xác ông!
Rồi nó nguây nguẩy quay vào, để cho vợ một mình đứng đấy.
Trong nhà có người chết, ngoài sân lại thêm đom đóm bay liệng
lập lòe, cây cau, cây chuối cọ lá sột sạt vào nhau, con vện thình lình cắn bóng
một cách tức bực buồn rầu, nghe sợ đến rủn người đi được.
Chị vợ bỗng giật mình hoảng sợ, hấp tấp chạy vào những toan
ngăn chồng không cho làm thế, nhưng khi đến cửa buồng, nhìn vào thây ma trơ trơ
nằm đấy thì chị ta lại sợ, không dám bước vào.
Nó biết vợ nó phải lánh mặt đi rồi thì nó cứ việc tự do hành
động. Nó nhìn sau nhìn trước, lắng tai nghe kỹ, thấy vợ chồng anh mình đã ngáy
mới yên trí, rón rén đến bên giường bố chết, lật cái chăn ra.
Để một tay giữ trên đôi mắt người đã qua đời, còn một tay nó
bóp lấy hàm, cố vành cho được. Thấy hơi răn rắn, nó liền dùng hết sức, cố vành
mồm kẻ chết móc ra được bộ răng vàng. Như người sốt rét phải chậu nước lạnh dội
vào mình, nó bỗng run lên bần bật. Bộ răng vàng rơi lăn xuống đất nó cũng không
kịp nhặt, vì khi nhìn lại đôi mắt của kẻ qua đời đã bị bàn tay phũ phàng kia
làm cho lật hẳn mi lên. Mà cái mồm, một cái mồm không răng trông sâu hoăm hoẳm
mà tối om om, sau khi đã bị vành thì thôi, nhất định không thèm ngậm lại. Người
chết hình như trợn mắt, há mồm, nguyền rủa thằng con bất hiếu, trông đáng sợ vô
cùng.
Nó đứng ngây ra đấy kinh khủng mà nhìn không chớp mắt một hồi,
rồi sau khi rú lên một tiếng, bưng mặt đẩy cửa chạy đi.
Nghe thấy tiếng kêu ghê gớm lạ lùng hai vợ chồng anh đều ngồi
nhỏm dậy, chúng không hiểu nguyên do sao cả, chỉ nhìn nhau một cách kinh ngạc rồi
rón rén xuống đất, bước đến cửa phòng người chết, đứng đấy nhìn vào. Cái thây
ma trợn mắt há mồm như đang chửi rủa.
Hai vợ chồng sợ quá đứng sát nách nhau mà run lập cập, trống
ngực đánh thình lình. Giữa cái lúc bối rối tâm thần, mơ màng đến những chuyện
"quỉ nhập tràng" của bộ Liêu trai, không biết nên đứng ỳ ra đấy hay
cuống cẳng bỏ chạy đi đâu, thì thằng anh nhìn thấy cái bộ răng vàng nằm dưới gậm
giường nhờ ánh sáng đèn chiếu ra lóng lánh.
Cái việc thằng em vào đây, rú lên rồi ôm đầu bỏ chạy, nó hiểu
rõ ra ngay.
Nhìn ra sau lưng, thấy vợ chồng thằng em đã đứng tái mặt đấy
rồi, thì nó lên giọng đàn anh, mắng trùm: "Chúng mày thực là bất hiếu".
Người đàn bà kia cố cãi cho ra lẽ, kêu rằng dễ hết lời ngăn cản
mà chồng chẳng chịu nghe nào. Rồi chị ta xin lỗi cho chồng, những mong được lượng
ông giữ kín những chuyện nhơ nhuốc trong nhà, cứ việc lắp lại hàm răng vào mồm
cho bố.
Nhưng thằng anh lại không làm như thế, sau khi không có cách
nào vuốt mắt, đậy mồm cho người đã mất thì nó chỉ đành trùm chăn lên một cách gọn
gàng. Rồi nó quay lại mắng đứa em dâu:
- Chú thím đã định lừa tôi như thế, thì bộ răng này, sau khi
tôi bán được, mong rằng chú thím đừng nhớ đến chuyện chiạ..
Sau cùng, thì một cách tự nhiên, nhanh nhẹn nhất đời, nó cúi
xuống nhặt bộ răng vàng, bỏ túi.
1936
Hồ sê líu
hồ líu sê sàng
Không ai có thể thấy một gia đình thứ hai nữa giống gia đình
nhà danh họa Khôi Kỳ. Cứ cái tên của ông chủ cũng đã đủ ngộ nghĩnh rồi, nhưng
có bước vào nhà ông này, ta mới thấy nhiều cái lạ. Có thể bảo rằng đối với nhà
này, cuộc đời là một trận cười quanh năm.
Bất cứ đến lúc nào, ông còn đứng ngoài thềm ông cũng đã thấy
văng vẳng đưa ra những tiếng đàn nguyệt như bổng, như trầm, hoặc tiếng cái nhị
Sàigoòng rên rỉ. Nếu vào đến căn phòng làm việc của nhà họa sĩ, thì thật là một
sự lạ lắm, nếu ông không thấy vỏ hạt dưa bắn tung tóe đầy sàn, vài cái đĩa còn
thừa lác đác mấy miếng bánh khách, giấy bóng vỏ kẹo, hay mấy chai rượu ngọt chỉ
còn ít cặn, hay cái áo "cào cào" vài đôi giày mang cá mới của các tiểu
thư. ấy là không kể một đống ngổn ngang những sáo với hồ, những đàn với nhị,
cái nào cũng đứt giây long phiếm, dựa lảo đảo vào một xó gác, một thành ghế, hoặc
may lắm mới được treo cẩn thận trên tường.
Vì rằng Tuyết Nương với Bạch Vân đều là hai cô gái quý của
nhà danh hoạ Khôi Kỳ đàn cũng hay, ca lại càng "não" lắm. Thật là những
nàng tiên sa cõi thế, răng lóng lánh hơn mặt hoa tai đầm, nước da mịn hơn cả quần
lụa trắng, tóc đen lay láy, có màu mun hơn cả khăn nhung.
Chính ra, Khôi Kỳ không có địa vị gì trong nhà, chỉ Tuyết
nương và Bạch Vân mới là hai "bà" cầm quyền thay ông chủ.
Ông bố thường dậy từ lúc bà con hàng phố chưa ai nghe bánh
Tây nóng, giời rét thì quấn thêm cái chăn dạ, khoác thêm cái áo dạ đã ra ngồi kẻ,
đo, vạch, điểm trộn sơn, trộn thuốc để cho bà vợ quý với hai cô gái quý nằm ươn
xác chờ đến giờ học buổi sáng được ra chơi. Ông tuy có tài nhưng chưa "ăn
thua" gì cả. Ông vẫn còn nghèo lắm nên làm ăn rất chi chăm chỉ, những mong
có một ngày kia… Một vài cuộc triển lãm của ông tổ chức với mấy anh em đã hứa
cho ông con đường tương lai rực rỡ. Nhưng, vợ với con mà ông phải nai lưng ra
nuôi một cách rất vất vả chỉ những bắt ông sắm khăn san, giầy mang cá, cũng khiến
ông đủ "lệch nghiệp" rồi.
Bà vợ ông không nhúng tay vào một việc gì cả. Rất đẹp khi mới
cưới, rất được nhiều người họ nhà chồng kính yêu chỉ vì cái sắc, bá tước còn tự
hào là một người đàn bà đẹp, và, sau là một người đàn bà đẹp từ xưa! Đã là một
người thuở xưa rất đẹp, nay bà chán hết mọi sự, chỉ còn biết mùa rét thì trùm
chăn ngủ kỹ, nực đến thì gội đầu rồi xõa tóc ra quạt, đọc tiểu thuyết trên một
cái võng lúc nào cũng kêu "kĩu ca kĩu kịt" mắc lê khắp gian phòng.
Cho nên mỗi khi bà dúng tay vào việc gì thì cả nhà như một xứ nào gặp nạn động
đất vậy.
- Con Vân! Cái kéo của tao để đâu rồi thế?… Ơi Tuyết! Cái đê
với cuộn chỉ ở hòm mày đã vứt đâu?
Cứ nheo nhéo thế suốt ngày!
Rồi thì, Tuyết cũng như Vân, hai cô ùa nhau mở hòm, mở tủ.
Sau một hồi rối rít tìm chìa khóa mới mở được thì chẳng thấy đâu là kim, đâu là
đê, đâu là chỉ mà toàn mó phải những đũa, những thìa, những khuy áo, gương cũ,
hộp sắt tây, lọ thủy tinh, không biết đứa khỉ nào đã nhét cả vào đấy, và cất đấy
để làm gì !…
Cả mọi đồ vật bầy trong nhà cũng có một vẻ kỳ lạ lắm.
Cứ hai, ba tháng lại dọn một lần nên phòng khách cũng như
phòng ngủ trông đều có vẻ "chưa bầy xong" hoặc "đến mai xếp dọn"
của những nhà mới có việc bận rộn hôm qua. Vả lại, ai hỏi đến cái gì cũng không
thấy cả thì còn bày biện cái quái gì? Miễn là ông bố vẫn tìm thấy đủ cái mũ,
đôi giầy, bà mè: một cuốn tiểu thuyết Tam Hạ Nam Đường, hai cô con gái: phấn,
sáp, khăn nhung. Miễn ra ngoài đường, bà con phải nhầm là nhà có của. Cánh cửa
nhỡ hé mở người tò mò đi ngoài phố có thể nhìn trộm thấy cái tủ chè khảm nhưng
mặt kính vỡ chửa có tiền thay. Hoặc trên bàn thờ, cái bát nhang sứt vì mèo nhảy
đổ.
Có khi, ngồi vào mâm, đã cất đũa, ông bố mới sửng sốt tự trách
rằng quên chẳng để dành tiền mua lấy cái liễn ủ cơm. Gặp khi nào hơn hai giờ mà
hai cô gái quý mới thổi cơm xong thì chiều đến đã có lệnh của bà truyền rằng:
"Mới ăn cơm từ lúc hai giờ chiều không phải thổi cơm, để chờ hàng phở tối".
Một cảnh tượng rất thường nhưng nghĩ cho cùng, thật cảm động:
bốn người cùng, kẻ ngồi, người đứng, bưng mấy bát phở vội húp sụt soạt ở ngay
chỗ cánh cửa bước vào. Cầm cái khăn mặt bẩn như lau khăn bàn, ông bố húp vội
chén nước rồi lại quay vào cắm cổ làm việc, chẳng kịp xỉa răng!
Trong cái cảnh bừa bộn vô trật tự ấy, cái thản nhiên, cái
bình tĩnh của bà mẹ với hai cô thì thật là những kỳ công của tạo hoá! Trong óc
mấy người này đều chứa những tư tưởng gì khác, chứ không tráng qua một tư tưởng
nào về việc tề gia nội trợ bao giờ. Cho nên Tuyết Nương thì ăn vận theo gái Sài
Gòn, còn Bạch Vân gái Huế. Còn bà mẹ, nằm chao mình trong võng, sống một cách uể
oải với bộ truyện Phong thần mơ màng đến cái sắc đẹp thủa xưa.
Nhà danh họa Khôi Kỳ thì lúc nào cũng hớn hở tươi cười như đứa
trẻ con được mặc áo đẹp.
Miễn sao lúc nào cũng được thấy bên tai khanh khách tiếng cười
của hai cô con gái quý, ông bố có thể nai lưng ra làm việc, kéo cày trả nợ, nợ
vợ, nợ con. Hễ cô con gái nũng nịu, thỏ thẻ bên tai "Cậu cho con mua cái
san" (giẩu mỏ!) "Cậu cho con mua cái vòng" v.v... là ông bố gật
đầu ngay, móc ví lấy tiền ngay, dù gạo ngày mai chưa trông được vào đâu cũng mặc!...
Cũng lắm khi các cô ngồi cần cù kim chỉ đấy, nhưng áo rách đến
xả vai của bố cũng không thấy miếng vá, bít tất của bố thủng như rây bột cũng
chẳng được sợi mạng, các cô chỉ biết thêu hàng trăm hàng nghìn những chiếc mùi
xoa có cành hồng con bướm, để tặng những ai ai thì phải, chớ cũng không thấy để
bán bao giờ.
Các ông, các bà có được hân hạnh lần nào gặp những cô gái
quý, rất tân tiến ấy không? Nào có khó gì đâu, biếng việc nhà nhưng chăm chỉ việc
người, những cuộc diễn kịch, diễn cải lương Nam Kỳ, việc nghĩa hoặc các buổi chợ
phiên, đối với các cô không một dịp nào không dự vào ban tổ chức. Chỉ bởi thế,
các cô vẫn phải muộn chồng.
Vì rằng cứ trông cái cảnh gia đình ra ngoài khuôn mẫu hàng
nghìn vạn dặm của các cô, cứ nghe giọng bà mẹ của các cô sàn sạt, nheo nhéo cả
ngày, thì dù trong đám công tử đã cảm giọng Nam ai, Vọng cổ hoài lang, Văn
Thiên Tường của các cô, cũng có nhiều cậu muốn rước ngay các cô về nhưng phần
nhiều đều ngại ngần, tự hỏi với tự dọa: "Có nên lấy nó làm người vợ quý của
mình?" hoặc là "Nếu ta lấy nó thì rồi ta đến bố mẹ ta!...".
Người tử tế làm ăn, đã không ai dám rúng đến rồi, mà cả cái bọn
"mũ lệch vai so" cũng không mãnh nào dám rước. Đã đành là, đến nhà họa
sỹ Khôi Kỳ nghe hát, nghe đàn là thú, là vui, là cảm lắm nhưng mấy ông tài tử
Nam Kỳ đội mũ đỏ mực, quấn cái khăn quàng sặc sỡ, lê đôi dép Nhật, đàn hay, ca
thạo, hút thuốc lá cũng thạo, đối với con mắt bọn này đã như đinh như gai... ấy
là không kể trong khi mải vui nghe hát, nghe đàn, bọn này phải chịu cái khổ
hình nghe cả tiếng võng kĩu kịt của bà ở phòng bên cạnh, trông thấy thấp thoáng
bóng người, những cái vẻ mặt căm tức, giận dữ, định lấy tiền nhà tiền gạo, từ
tháng trước thu xếp chưa xong. Các cô vẫn ế.
Được một lần có một anh chàng góa vợ, đứng tuổi, rất thích cảnh
đời ra ngoài khuôn mẫu, vì cho sự lấy vợ chỉ là mua máy hát, đã định ngấp nghé
(ái chà!...) mượn người tiến dẫn đến năm bảy lượt, nhưng vì thấy cảnh gia đình
quá sức mình tưởng tượng nên trong lúc cô em gân cổ ca khúc Văn Thiên Tường
trong bản tuồng Tam ban triền điển thì anh chàng lim dim con mắt liếc nhìn cô
chị, phì phèo tẩu thuốc lá, nghe điệu đàn rồi vừa hát thầm, hoạ thầm, mà tự hỏi:
"Phải xem nó có ý y còn nguyên, nó còn nguyên..."
Việc chàng lại bỏ dở...
Thế là Bạch Vân với Tuyết Nương vẫn cứ ế chồng, mà họa sĩ
Khôi Kỳ được cảnh xum họp một nhà để tiếp khách toàn cầu, để méo mặt lo nợ, lo
chạy gạo, chạy tiền bánh ngọt, rượu, chè tiếp rước các ông công tử Bắc Kỳ, tiếp
rước các ông tài tử Nam Kỳ, và để lúc nào cũng được bên tai văng vẳng khúc đàn
ròn của bài vọng cổ:
Hồ sê líu hồ líu sê sàng!.





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét