Người có quyền
Đứng ngắm trước gương, anh
ta cài khuy cổ áo, vuốt lại hai tà áo nhăn nheo, đội lại cái khăn lượt cũ cho
chữ nhân đúng ở giữa trán. Anh ta nhìn vào gương một lần nữa, thấy mình
"không ai chê vào đâu được", bèn ung dung ra đi. Chợt nhìn xuống đôi
mũi giày Gia Định anh lại hấp tấp quay vào gầm giường cúi tìm đến rỏ mồ hôi tai
mới thấy cái bít tất cũ. Anh lau mũi giầy, vui mừng rằng đã không quên một việc
có thể rất có hại cho danh dự của anh. Chứ gì! Anh mà lại đi đôi giầy bụi bậm
ra phố thì thiên hạ cười chết!
Qua gian nhà cầu, thấy bà mẹ
đương ngồi cân tơ, lưng quay vào tường, anh rón rén gót chân như một tên trộm.
Anh thở dài sung sướng vì mẹ không biết, không gọi lại hỏi, không căn vặn, để
mà, sau cùng, đay nghiến là anh lêu lổng, là ăn hại, và bắt quay trở lại, bỏ
khăn, áo ra.
Ra đến cửa hàng, cô Loan, em
gái anh, lúc ấy đương có mấy cô bạn, trông thấy anh thì thảy đều ngồi im một
cách kính cẩn. Các cô đương bàn chuyện mặc "soóc" để chiều chiều, lên
diện ở Hồ Tây... Thấy em gái đương chuyện như pháo ran mà trông thấy mình lại vội
im bặt, anh ta vừa ngạc nhiên, vừa sung sướng, không hiểu tại sao bỗng dưng cô
em lại sợ mình đến như thế.
Ngoài phố, đèn đã sáng. Một
ít giai gái đã bắt đầu đi nghễu nghện hai bên hè, tìm những cái thú ăn chơi của
ban đêm. Anh tránh cái hè đông người, bước sang hè bên kia. Anh đi đến phố Cửa
Đông, Đường Thành...
Nhưng mà đến chợ Hàng Da,
đương đi thẳng, anh bỗng dừng chậm đà chân, rồi tiến thẳng về phía Ngõ Trạm.
Anh ta tự hỏi: "Ta có nên đến đấy ngay bây giờ không? Ta lại hai bàn tay
không như thế này mà đến chỗ ấy ư?" Thế rồi anh liên miên nghĩ đến bà mẹ
ác nghiệt, người anh cả hiện đã là một ông phán, "vinh thân phì gia",
thằng em giai hiện đã đỗ tú tài mà chỉ giỏi hát lối Tino Rossi và đi đêm với bọn
vũ nữ, cô em gái út rất tân thời, được bà mẹ nuông hết sức mà mãi chẳng
"thấy ma nào nó rước"... Bỗng đâu anh oán giận tất cả ngần ấy người...
Hôm nay, anh đã là cha một đứa trẻ con! Vợ anh đã đẻ được một đứa con giai kháu
khỉnh vậy mà anh phải hai bàn tay không đến nhà hộ sinh! Mà gia đình anh tịnh không
ai biết!
Nghĩ đến đấy, anh đứng dừng
hẳn lại, rất ngạc nhiên để tự hỏi mình như một người qua đường: "Thế có tức
không? " Vì lẽ không ai đáp, anh lại cắm đầu cắm cổ đi, đi mãi, cũng chẳng
biết có nên tức hay là không nên tức.
Vợ anh? - à, mà cái đó đã cố
nhiên, thế là nó đã là vợ tôi, đứa bé kia là đứa con tôi, thưa các ngài! Đó là
một người đàn bà góa chồng rất trẻ, cũng vui vẻ, nhí nhảnh như số đông những
người góa chồng khác, mà anh đã gặp trong một cuộc chắn cạ, mà anh đã chim...
Đã chim...? Bẩm chính như thế đấy ạ! Nói thế chắc hẳn chẳng ai tin đâu, nhưng
mà sự thực ấy là thế. Người xưa nói "Tâm ngẩm tầm ngầm mà đấm chết
voi" - Phải biết! Hạnh phúc là một thứ quà của sự tình cờ nó thường cũng
có khi rơi vào giữa mồm cái thằng đại lãn nằm dưới gốc sung, hay là nó thường
rơi vào tay những quân ngu dại. Người xưa cũng đã nói cả rằng: "Ngu phúc
xuẩn thọ". Nhưng mà chính anh ta thì, thật tình, anh chẳng biết mình là một
người ngu.
Thấy anh mà cũng có nhân
tình, có một người hỏi nửa thật nửa bỡn:
Đối với một người vô nghề
nghiệp thì có một cô nhân tình cũng như là có một chức nghiệp. Anh ta vui vẻ
đáp lia lịa:
- Chứ ông tưởng! Cái món ấy
nó yêu tôi thì còn oan cái nỗi gì!
Thật vậy. Là vì anh không hiểu
rõ cái giá trị của anh. Chỉ biết rằng có một bà mẹ là một cụ cử hẳn hoi, có một
ông anh phán sự ngoại ngạch, có một cậu em tú tài, có một cô em gái hết sức
"a la mốt" thì là danh giá chán, anh ta chưa hiểu rằng tuy vậy, anh
cũng chẳng là "cái quái" gì cả. Nhưng mà thiên hạ lại chẳng ai nhìn
anh bằng cái thứ mắt mà anh nhìn anh. Người ta chỉ trông thấy anh là một kẻ
"thằng không ra thằng, ông không ra ông", văn dốt, vũ dát, hai mươi bảy
tuổi đầu còn ăn bám vào mẹ, cả ngày đi tìm những gia đình nhàn cư vi bất thiện
để gạ đánh cờ không ăn tiền hay là chầu rìa tổ tôm. Mà, rõ khổ! Đã thế, thỉnh
thoảng lại còn đi nhầm giầy nữa! Trong phố, người hiền lành nhất đời cũng bình
phẩm anh là: "Rõ cái anh chàng đến vô vị!". Còn người độc ác thì lại
kêu: "Cái thằng ấy có chó lấy!". Cả đến chính bà mẹ của anh nữa cũng
không bao giờ nghĩ một cách thận trọng đến việc lấy vợ cho anh. Bà chỉ ngong
ngóng xem người nào ế chồng, nhiều tuổi hơn anh hoặc là đã góa chồng rồi, thì mới
dám mong không bị từ chối.
Bởi thế cho nên anh... đi
chim! Bởi thế, anh phải có nhân tình! Mà có rồi ạ, rồi ạ!
Anh tự nhủ:
- Mẹ ta không muốn cưới vợ
cho ta chỉ vì không muốn mất ba trăm bạc. Thì ta sẽ lấy vợ không mất một xu
nào! Cho mà xem!
Anh lấy vợ thật: người đàn
bà ấy ăn ở với anh non vợ chồng mà già nhân ngãi... Tại sao người ấy lại yêu
anh ta nhỉ? Rõ khổ lắm, thì còn ai hiểu được lòng người, nhất lại là lòng người
đàn bà. Trong một buổi chắn cạ có sự thân mật, có sự kề đùi kề vế, anh ta vô
tình mà cảm được một người đàn bà góa chồng có trong lòng bao nhiêu giây đàn mà
đã từ lâu không có tay tiên nào gảy đến. Tức khắc, người ấy yêu anh. Một lần,
hai lần, những tưởng giải trí qua loa thôi, không ngờ cái tình bắt đầu phai thì
cái nghĩa nó cũng sắp sửa thấm. Nói cho cùng, người đàn bà ấy trót nhỡ mà yêu
anh. ấy sự đời là thế: có thứ đàn bà lấy chồng hoặc theo giai y như người ta
trót nhỡ đánh vỡ mất một cái chén vậy.
Về phần anh thì anh chẳng tốn
kém một đồng xu. Vợ anh tuy cô độc, tuy nghèo, song cũng có một nghề độ thân. Vợ
anh bán guốc trên chợ, thuê một căn nhà nhỏ trong ngõ Hàng Hành. Sớm đi tối về,
cơm đèn hai bữa. Trong những lúc ái ân, anh đã hứa:
- Mình cứ an tâm. Rồi tiện dịp,
tôi nói với bà lão nhà tôi thì mình cũng được về nhà tử tế. Rồi chúng ta xin bà
lão trăm bạc làm cái vốn riêng.
Người đàn bà kia gật đầu.
Tuy anh chẳng có nghề gì, nhưng cũng "con nhà danh giá". Em ông phán,
anh cậu tú, con cụ cử. Bẩm phải ạ, vậy các bà cứ thử nghĩ xem!
Ngót một năm trời, anh đủ sống
sung sướng. Tuy ban ngày chỉ đi gạ đánh cờ không tiền hay chầu rìa ván tài bàn,
nhưng mà, tối đến, từ 9 giờ đến 11 giờ thì anh lại căn phòng nhỏ với người yêu.
Xong cuộc anh về nhà trình diện mẹ, bị đánh chửi là đêm nào cũng đi, như một
người con chí hiếu ở thế kỷ hai mươi vậy. Chỉ có một lần là anh phải ngờ vực
cái người chung tình có một của anh. Mười giờ đêm hôm ấy, sau khi ốm liệt giường
liệt chiếu mất một tuần lễ, bất thình lình anh khỏi, và đến với vợ. Thì vừa lúc
anh gặp một ông to béo ăn mặc như một quan hàn, từ buồng vợ đi ra, dáng điệu mỏi
mệt, lừ đừ. Anh đã nghi, nói xa xôi, bóng gió, hỏi thật, thì vợ anh thét lên:
"Cậu người ta đấy, khỉ ạ!" từ đấy anh không gặp mặt cậu vợ ở nhà vợ nữa,
và được yên tâm.
Anh ta lại từ Ngõ Trạm quay
về phố Cửa Đông. Vì anh ta đã nghĩ: "Tuy bây giờ ta không có xu nào trong
túi, nhưng mà nay mai hẳn phải có tiền giúp được người yêu... Miễn sao cái khai
sinh gửi ra tòa Đốc lý! Thế là quan Đốc lý ngài nhận thực rằng ta là chồng nó,
là cha đứa bé. Mà lão có muốn phá cũng không kịp nữa: quan trên nhận thực rồi!".
Sau khi lý luận ngây thơ như
thế, anh gõ cửa nhà hộ sinh. Vợ anh trông thấy anh thì sưng mặt lên, không nói
gì cả, song anh cho đó là cái oẻ hoẹ, cái khó tính của gái đẻ. Người nữ khán hộ
giơ đứa bé con giai ra nói:
- Con giai hẳn hoi! Giống
ông như đúc?
Anh nhìn đứa bé, chẳng thấy
nó giống mình mấy (vì trẻ mới đẻ đứa nào chả thế) nhưng cũng nói:
- Vâng, nó giống tôi.
Cô khán hộ lại tiếp:
- Đây này: cái tai dầy chính
là tai ông, cái nhân trung dài chính là nhân trung ông!
Anh ta gật đầu:
- Cám ơn bà, bẩm chính thế đấy
ạ.
Rồi ngồi im như phỗng, hưởng
cái sung sướng có vợ, có con. Khi cô khán hộ ra khỏi phòng, anh mới hỏi người
yêu:
- Khai sinh cho con chưa thế,
hở mợ?
Người yêu của anh, đến đây,
ngồi lên, rầu rĩ nói:
- Thôi, tôi cũng không thể dấu
anh được nữa, vậy tôi dằn lòng phải nói... Người kia nhất định khai sinh cho nó
rồi.
Anh ta lặng hẳn người đi như
mó phải dây điện. Vừa thở hồng hộc vừa hỏi:
- Thế nào? Nói gì thế? Người
kia là đứa nào? Đứa nào là người kia?
Người vợ chung tình chép miệng
làm gọn một câu:
- Cái lão mà anh đã gặp, mà
tôi đã nhận là cậu tôi, chứ còn đứa nào!
Anh ta đứng hẳn ngay lên, nắm
tay lại. Những người hiền lành hay cục, những kẻ ngu vẫn quen hung hăng. Nhưng
người đàn bà ấy điềm tĩnh:
- ấy thế mới phiền chứ!
- Sao mày đã thề với ông?
- á à! Gớm nhỉ! Mày nói cái
mồm mày cứ gọn thon lỏn đi thôi! Chuyện dễ nghe nhỉ? Ông lại chém cổ... mày đi
bây giờ...
Anh ngưng lại để mà ngạc
nhiên về cái phũ mồm của mình lần đầu trong đời, anh đã nói nặng người yêu.
Nhưng người đàn bà cũng nổi nóng chẳng kém:
- Thôi đi, anh câm đi! Anh
ngu lắm? ừ, thử hỏi, trong một năm nay, tôi có tệ bạc gì với anh không, anh có
cho tôi được lấy một đồng xu nhỏ nào không? Cái bộ mặt anh mà lại đòi có tiền
à! Này tôi bảo thật, cái buồng ba chục một tháng này, tiền lão ấy đấy, cái buồng
ba chục đồng ở ngõ Hàng Hành, tiền lão ấy đấy, cơm tôi ăn cũng tiền lão ấy, con
sen tôi nuôi cũng tiền lão ấy, anh nghe ra chưa?
Anh ta tái người đi vì cái
"lão ấy" sao nó lắm tiền thế! Anh ngồi im lặng nửa giờ để rồi tìm ra
được mấy câu này:
- Mặc kệ chứ? ừ thì như thế,
nhưng mà hỏi rằng đứa bé này là con nó hay con ông?
- Anh thử nhìn xem? Anh vội
tin cô đỡ thế à? ấy là người ta nhầm, người ta nịnh anh. Cái mũi này mà là cái
mũi anh à? Cái mồm này mà là cái mồm anh à? Hai con mắt này mà là cái mắt anh
à?
Anh ta nhìn lại đứa bé mà
người đàn bà giơ ra. Anh chỉ có thể biết đó là một đứa trẻ mới đẻ thôi, chứ giống
chỗ nào thì anh không sao biết nổi! Tuy nhiên anh cứ nói bướng:
- Đích thị nó là con ông! Nó
giống ông như đúc!
Người đàn bà xua tay:
- Thôi không phải rườm lời!
Anh muốn còn tình còn nghĩa thì anh câm đi! Chứ đến luật pháp cũng không có quyền
buộc tôi có bổn phận gì với anh cả! Mà người ta nhất định đứng tên trong giấy
khai sinh rồi... Vả lại, anh có chắc đấy là con anh không?
Trước một lý luận cứng như
thế, anh ta ngồi im như một con cóc. Thật thế, anh không có tiền, chẳng có quyền,
cũng không dám tin đứa bé chính là con anh.
Anh đâm nản.
° ° °
Anh còn ngồi ỳ ra đấy như một
người đáng ghét thì người đàn bà nhìn qua cửa sổ một cách sợ hãi, nói:
- Chết chửa kìa! Người ta đến
kia rồi! Anh đi đi!
Lúc ấy, ở sân nhà hộ sinh thấy
có một người béo lùn - chính người anh đã gặp - hai tay ôm lễ mễ hai đống tướng
những: hộp sữa, rượu bổ, lê, táo, khăn mặt bông, bí tất mới.
Tức thì anh ta thấy sợ, sợ
như sợ một người cậu bên nhà vợ. Anh đứng lên đi lối cửa sau. Ra ngoài, anh lẩm
bẩm: "Được, cứ nuôi cho nhớn! Để đấy! Bao giờ ông có tiền ông mới đi kiện,
bắt thử máu cho mà xem!".
Sau cùng, thấy trong túi có
hai hào, anh đến một tiệm thuốc phiện để giết cái buồn cũng như số đông những kẻ
khổ sở khác.
1937
Cái ghen đàn ông
Chờ cho người ấy trổ tài
hùng biện đã chán chê đi rồi, Giao Đài mới bỏ tờ tạp chí xuống bàn và nói:
- Không, người ta chẳng nên
thật thà, nhất là khi người ta yêu nhau.
Tuy rằng chẳng ai lại hoàn
toàn thật thà với ai bao giờ, điều ấy thì ai cũng thừa biết, vậy mà người nào
cũng cứ ao ước sẽ có kẻ thật thà với mình thì có lạ không. Khôi hài nhất là khi
ta thấy ai có vẻ hơi thật thà với ta, chỉ hơi hơi thôi, ta cũng lấy làm sung sướng
lắm! Những kẻ đương lăn lóc trong tình trường cũng vẫn có cái ảo tưởng là đôi
bên hoàn toàn thật thà với nhau... tựa hồ sự thực làm cho ta sung sướng như ta
trúng số độc đắc! Này, các anh, thôi đừng ai nên để cái lòng thật thà của người
ta yêu đi kèm với hạnh phúc! Nó tai hại lắm. Nó chỉ phá hoại chớ chẳng kiến thiết
bao giờ.
Nghe đến đây, Lê Văn Thư, một
người lúc nào cũng lạc quan, bèn nổi giận mà rằng:
- Chà! Một người đàn bà như
Giao Đài mà lại để ở miệng thốt ra những lời lẽ đáng buồn đến như thế nữa ư?
Này, chị Giao Đài, coi chừng kẻo mà chị sẽ trở nên một thứ quái vật!
Giao Đài chỉ cười nhạt, lại
khoan thai nói thêm:
- Nghĩa là cũng như mọi người,
phải không, các anh? Người ta ai không là một thứ quái vật?
Không để ý, Lê Văn Thư lại sốt
sắng tiếp:
- Chết nỗi! Nếu lại không có
sự thật thà cứu vớt thì nhân loại còn có gì nữa! Thì làm gì có những ái tình,
làm gì có cái tình bằng hữu, làm gì có những tính tình tốt đẹp và những dây
liên lạc mà người ta bảo là thiêng liêng! Mà làm gì còn có hạnh phúc nữa!
Giao Đài lại cười rộ, coi
anh Thư như một đứa trẻ ngây thơ. Rồi nói:
- Coi chừng đó, anh ạ. Yêu
nhau là một việc mà thật thà với nhau lại là một việc khác.
Một người bèn hỏi:
- Vậy thì khi đã yêu nhau,
người ta có nên thật thà với nhau không?
Giao Đài chẳng cần nghĩ đáp
ngay:
- Không! Không! Chẳng bao giờ,
và chẳng nên một tí nào!
Các anh, các chị đây hẳn còn
nhớ vợ chồng anh giáo Hiển đấy chứ? Chị ấy vì hậu sản mà thiệt phận năm ngoái ấy
mà! ấy đó, một người đàn bà đáng quý và đáng thương. Kẻ ngoại cuộc là các anh,
các chị, ngồi đây hẳn phải tưởng cặp vợ chồng ấy sung sướng cực điểm. Thưa
không ạ! Anh Hiển, chi Hiển là hai kẻ đau khổ nhất đời. Lúc buông tay nhắm mắt,
chị ấy còn phải đem theo xuống suối vàng một thứ mà ta quen gọi là "hận
nghìn thu". Lúc khâm liệm cho vợ, anh giáo Hiển cũng vẫn còn là kẻ không
chút đỉnh lương tâm nào nữa!
Chỉ tại sự thật thà!
Tôi sở dĩ được rõ mọi điều
vì chị Hiển coi tôi là bạn thân hơn hết. Những chuyện gia đình, những điều tâm
sự, những cái éo le, khuất khúc mà không ai dám nói với một người thứ hai nào nữa,
thì chị Hiển đã có kể lể cả với tôi. Việc đôi lứa ấy vì ái tình mà lấy nhau, rồi
ăn ở với nhau vẻ bề ngoài ra làm sao, chẳng cần nói, các anh, các chị cũng thừa
rõ...
Sau ngày cưới được năm hôm,
chị Hiển đã đến chơi với tôi.
Cứ như những lời chị nói, cứ
trông những cử chỉ của chị, cũng đủ hiểu chị bằng lòng cuộc trăm năm đến có thể
hoá điên vì sung sướng. Chồng chị là người quân tử, có nhiều đức tính, lại yêu
quý vợ nồng nàn hơn ai. Nếu cứ theo nhịp ấy mà đi, thì giữa cái loài người khốn
khổ này, anh Hiển, chị Hiển, là một cặp vợ chồng tiên.
Mấy hôm sau nữa, khi lại
thăm bạn vào lúc anh Hiển vắng nhà, tôi thấy chị ấy có cái vẻ mặt của người hối
hận vì đã trót làm điều gì tai hại mà không còn phương gì cứu chữa nổi nữa. Mà
quả vậy! Luôn mấy năm sau trong cặp mắt ngây thơ vốn đầy những ánh sáng của chị,
tôi thấy hình như có một thứ bóng tối nó ám ảnh, nó làm thần thái của chị Hiển
lu mờ như mặt trời bị lấp bóng mây. Chị đã kể lể:
- Chị Đài ơi! Có lẽ từ nay
mà đi, tôi đành cam phận là người đàn bà khổ sở nhất đời rồi! Tôi đã nhỡ tay để
hạnh phúc của tôi vỡ ra làm trăm nghìn mảnh. Từ nay mà đi, tôi không còn dám
màng tưởng đến những ngày mà tôi đã thấy cuộc đời là có nghĩa lý là đáng sống
như những ngày mới bước chân về nhà chồng nữa. Thôi, thế là xong!
Nói thế rồi, chị Hiển buông
xuôi hai bàn tay như người thất vọng trước những mảnh vụn của một cái lọ quý
giá mà mình đã vô ý đánh vỡ vậy. Chỉ một cử chỉ ấy cũng đủ khiến tôi xúc động lắm,
và đủ đoán nổi cái hệ trọng của việc đã xảy ra. Tôi vội đứng lên, ra khép chặt
cửa phòng rồi quay vào nghe chuyện.
- Chị ạ, mấy ngày tân hôn,
nhà tôi không nói những lời nào khác những lời của một kẻ si tình, say mê, yêu
quý tôi. Nhà tôi đã có những lời lẽ ngây ngô vô cùng, những lời mà tôi tưởng
không ai biết nói như thế... Tôi đã sung sướng bao nhiêu, bây giờ lại hối hận bấy
nhiêu. Là vì đêm vừa qua, khi lên giường chung gối chung chăn, không hiểu bởi
những duyên cớ khốc hại gì, bởi thứ ma quỷ độc địa nào nó xui giục, mà nhà tôi
lại chợt hỏi: - Anh hỏi thế này em đừng cho là lẩn thẩn nhé? Trước khi biết
anh, em có hề yêu một người nào không?
Tôi ngạc nhiên thì ít, mà nổi
giận thì nhiều. Bèn làm bộ bình tĩnh hỏi lại:
- Sao anh lại hỏi thế nhỉ?
Chồng tôi vội vàng cắt
nghĩa:
- Không! Anh hỏi thế không
có gì là can hệ! Nếu em ngạc nhiên là vì em chưa hiểu rõ nghĩa chữ yêu mà anh
muốn nói. Yêu đây chẳng phải là thư từ, đi lại, rồi làm những điều mà đức hạnh phải
kết tội đâu. Yêu đây có nghĩa trong sạch hơn, bi đát hơn, có thi vị hơn, vì yêu
đây là ngưỡng mộ, là kính trọng, là yêu vụng, giấu thầm, là "để ý",
là vắng mặt thì khao khát mà gặp mặt thì không dám ngỏ bầu tâm sự... Nói nôm na
thì yêu đây nghĩa là có ý muốn người ta hỏi mình làm vợ.
Ngừng một lát, chồng em lại
tươi cười mà tiếp:
- Không can hệ, thật thế!
Cũng như anh chẳng hạn... Trước khi biết em và lấy được em, anh đã yêu không biết
bao nhiêu người đàn bà, yêu theo cái nghĩa đã nói trên. ừ, thế đi nữa thì có
sao đâu! Việc gì có thành sự thực hiển nhiên thì mới đáng kể, và nếu anh nói thế,
chính là vì đối với em anh muốn xử sự đặc biệt, nghĩa là cho em được hưởng cái
lòng thật thà, có một không hai của bọn đàn ông phần nhiều ích kỷ, gian ngoan.
Ngây ngô em hỏi lại:
- Sao bỗng dưng anh lại thật
thà như thế?
- Là vì anh đoán anh biết.
Anh hiểu rằng nhiều khi em thấy trong óc thoáng qua cái ý tò mò muốn biết ấy
cũng như đại đa số phụ nữ đối với chồng. Nếu em chưa hỏi là vì chưa tiện dịp,
và thế nào rồi cũng có phen em muốn thử hỏi thế một câu chơi. Đã thế thì liệu rồi
anh có giấu được em không? Giấu sao được, em tin sao được. Chẳng khi nào một
người đàn ông ngoài ba mươi tuổi mà trước khi lấy vợ lại chẳng hề "để
ý" đến một người đàn bà nào khác bao giờ! Nếu quả trên đời này có hạng đàn
ông ấy thật, đó phải là một hạng kỳ dị!
Em ngây mặt ra nghĩ, càng
nghĩ càng thấy chồng nói đúng sự thật lắm.
Chợt chồng em lại nói:
- Thí dụ như em chẳng hạn...
năm nay em đã 24 tuổi rồi. Vậy mà ái tình đến với người thiếu nữ rất sớm.
"Nữ thập tam nam thập lục" thật đúng như lời cổ nhân. Tạo hóa đã an
bài ra thế, không một người con gái nào lại vượt qua được cái công lệ ấy. Vậy
thì vào tuổi dậy thì, người ta phải mơ mộng, phải khao khát lòng yêu, phải để ý
đến đàn ông. Anh nói chuyện đây là dựa vào khoa học chứ không nói hồ đồ, vu vơ
gì. Đã thế thì không thể nào em lại không hề để ý đến một người đàn ông nào,
trước khi là vợ anh, trong cái thời hạn từ mười tám đến hai mươi tư tuổi. Vì rằng
không phải ở đời này chỉ có một anh là người đàn ông đáng yêu thôi, có phải thế
không?
Trước những lý luận đanh
thép của một người có khối óc tỉ mỉ sáng suốt như thế, tôi biết là chối cãi thì
không được, biết chối cãi thế nào? Có ai lại đủ nghĩa lý để chối cãi một chân
lý hay không?
Vả chăng, chồng tôi đã bảo
là "không can hệ". Mà muốn yêu chồng một cách hoàn toàn, tôi tưởng
không còn cách nào khác là đem lòng thật thà của mình mà dâng lên.
Chỉ nghĩ được có thế, tôi chẳng
ngại đáp:
- Anh nói đúng đấy. Năm mười
bảy tuổi, em cũng đã có yêu một người, yêu theo những cái nghĩa anh đã phân giải
lúc nãy. Không biết người ấy có để ý đến em không! Người ấy không hề hỏi em làm
vợ, và giá có chắc hẳn cũng không được nào. Bây giờ thì người ấy cũng đã lấy vợ,
cũng đã có con...
- Thế rồi sao nữa?
- Thế rồi... chả có gì nữa.
- Sau người ấy thì không để
ý đến ai khác nữa?
Em thật thà cả cười:
- Thì đến anh, và lấy được
anh, thế thôi.
Nhà em ngẫm nghĩ một lát,
phê bình:
- Thế nghĩa là em đã yêu người
ấy lắm, yêu lắm. Đến nỗi phải chán đời cho đến lúc lấy chồng, nghĩa là trong bảy
năm không còn sức để ý đến một ai nữa, nếu không có anh.
Tôi không đáp. Chồng tôi thở
dài, khiến tôi phải hỏi:
- Anh vì thế mà buồn đấy à?
Sao anh ác thế? Sao anh lại bắt em phải thật thà với anh để rồi làm em phải đau
đớn?
Nhưng nhà tôi đứng lên, thản
nhiên:
- Việc gì mà buồn! Có người
đàn bà nào mãi cho đến lúc lấy chồng mà cũng còn nguyên cái trinh tiết tinh thần
bao giờ! Tôi chỉ cần sau khi lấy tôi rồi thì vợ tôi không tư tưởng đến ai nữa.
Thế thôi!
Rồi chúng tôi nói những chuyện
khác, mãi cho đến lúc cả hai cùng ngủ. Nhưng mà, ba giờ đêm, chợt thức dậy, tôi
thấy nhà tôi, chị ạ, nhà tôi ngồi ở bàn, hai tay bịt lấy thái dương. Tôi vùng dậy,
hỏi một cách run sợ:
- Anh? Anh nghĩ ngợi đấy à?
Tôi muốn thà nhà tôi nói nặng
còn hơn chỉ thản nhiên đáp một cách độc địa thế này:
- Có thế!
Lúc ấy tôi bực lắm. Bao
nhiêu nỗi phẫn uất của giống đàn bà đã mấy nghìn năm bị áp chế, bị bó buộc vào
vòng nô lệ của giống đàn ông ích kỷ hình như dồn cả vào óc tôi. Tôi bèn nói:
- Thế tại ai gây ra chuyện ấy?
Anh đã thật thà với em thì em cũng phải thật thà với anh. Anh nghĩ xem, em chối
có nổi không? Vả lại như ai đã nói, điều ấy cũng chẳng can hệ gì.
Chồng tôi rền rĩ:
- Không! Chẳng can hệ gì cả!
Ấy cái ghen của đàn ông là
như thế đấy. Họ tò mò, họ bắt mình cung khai sự thật, để họ phải đau khổ, và
làm mình cũng đau khổ. Họ có hàng trăm cô nhân tình, họ ngủ với hàng nghìn con
đĩ thì không sao. Vợ họ mà để ý một người nào trước khi biết họ, thế cũng đủ họ
muốn tự tử. Chồng tôi lại đứng lên, đau đớn nói:
- Bây giờ thì tôi đã rõ sự
thật, đã rõ rằng cái hạnh phúc của tôi không hoàn toàn, và chỉ có giới hạn mà
thôi.
Tức thì tôi hiểu ngay rằng
thế là xong, vợ chồng mà đã thế thì không thể nào có hạnh phúc được nữa. Tôi
bưng mặt ngồi khóc như đứa trẻ không có tội mà bị cha mẹ đánh mắng, chị có biết
trong bao lâu không? Ngót một tiếng đồng hồ! Tuy rằng không ai to tiếng với ai,
song đêm ấy quả thật có một tấn kịch vô cùng thảm đạm. Sau cùng thì chồng tôi đứng
lên, ra vuốt ve tôi.
- Thôi, nín đi, em ạ. Anh
xin lỗi em. Anh sẽ quên đi, và anh cam đoan là sẽ quên được. Thật ra, trong việc
này, em chẳng có một phần lỗi mọn nào.
Tôi đã phải tìm nhiều lời lẽ
an ủi chị Hiển, và tôi đã cầm tay chị lôi lên miệng tôi mà hôn một cách đau
thương như hôn một người yêu trong một cảnh ngộ xót xa.
Năm sau, vì có giấy bổ tôi
đi Thái Nguyên, tôi không được cùng anh giáo Hiển dạy một trường, và do thế, phải
cách biệt chị Hiển. Thỉnh thoảng lắm mới lại có một lá thư trao đổi tin tức cho
nhau. Không bao giờ quên những tâm sự của mình, có khi chị Hiển gửi tôi những
lá thư dài sáu trang, tám trang, và tôi đã phải nhiều phen tùy chuyện kể trong
thư mà hoặc vui hoặc buồn cho bạn.
Một lần tôi rất vui vẻ vì chị
Hiển báo tin rằng đã tìm thấy cái hạnh phúc tưởng đã mất tích. Lời lẽ trong thư
đại khái rằng:
- "Chị Giao Đài ơi, em
hồi hộp báo tin mừng rằng có lẽ chồng em đã không còn muốn làm một người vô
nghĩa lý nữa. Nhà em đã biết nói đại khái như thế này: "Theo ý tôi, một cuộc
tình duyên hoàn toàn tốt đẹp phải là: Hai người, trước khi yêu nhau đều chưa để
ý đến người thứ ba hay là người thứ tư nào cả, và sau khi đã ăn đời ở kiếp với
nhau rồi, tất nhiên cũng phải giữ chung tình như trước, nghĩa là vợ cũng như chồng
không ai được có một phút điên rồ, mặc dầu là chỉ trong một phút, ngoại tình bằng
tinh thần. Như thế cho đến lúc chết.
Vì lẽ người đời không ai lại
vợ chồng cùng chết cả một lúc, tất nhiên phải còn lại một người góa vợ hoặc một
người góa chồng. Vậy thì các người sống lại ấy cũng không bao giờ mơ tưởng đến
một người thứ ba. Mãi cho đến lúc chết nốt! ấy đó. Nhưng mà trên thế gian này,
làm gì có cuộc tình duyên nào lại duy nhất, lại tự nó chịu những sự kiềm chế
như thế được. Vậy ta có thể kết luận rằng không có cuộc tình duyên nào lại hoàn
toàn cũng như không ai được hưởng cái "không thể có được" thì chỉ là
điên.
Nói thế rồi, chồng em kết luận
rằng không quan tâm đến cái điều của em mà xưa kia chàng coi như một cái tội lỗi.
Em sung sướng vô cùng".
Tôi để ý đến cách phân tích
nghĩa lý cuộc "tình duyên hoàn toàn" của anh giáo Hiển thì nhiều, và
mừng cho người bạn gái thì ít. Nhân một dịp nghỉ, tôi về, đến chơi người bạn đồng
nghiệp hiếu sự và điên ấy, thấy hai vợ chồng đều vui tươi như hai cái hoa. Tôi
đã toan đem cái ghen của anh Hiển ra làm đầu đề câu chuyện mà chỉ vì sợ nhắc lại
chuyện cũ thì không tốt cho vợ chồng người ta lúc đương yên lành, nên lại thôi.
ấy thế mà một tháng về sau,
tôi lại nhận được một bức thư của bạn trong đó bạn khóc lóc rầm rĩ, lại khổ sở
đau đớn. Rõ sốt ruột làm sao! Thật là chuyện trẻ con! Anh Hiển nhất định buồn rầu,
vì cho rằng chỉ có sự trinh tiết của tinh thần mới là đáng quý, và, chị Hiển đã
yêu một người khác trước khi lấy anh ấy, thế là đủ không còn trinh tiết nữa rồi,
và anh ấy tất phải khổ sở! Chị Hiển viết dưới cuối thư:
"Trong khi nói là quên,
chồng em đã dùng hết thời giờ, hết cả tâm trí để nhớ, để buồn rầu!".
Cái ghen của anh Hiển có một
thứ thế lực ở tâm giới anh đến nỗi khiến anh hóa ra tầm thường, hóa ra đê hèn,
hóa ra "bất thành nhân dạng".
Năm ngoái, chị Hiển sinh được
một mụn con gái rồi lại bỏ mất. Có lẽ vì phiền não quá nhiều. Chị đã lâm sản mà
thiệt phận. Vì nhằm vào ba tháng hè nên tôi thường ở bên giường chị ta. Lúc thở
hắt ra, chị cũng lại có tôi để chứng kiến cái khổ của chị, và tôi cũng không hiểu
tại một lẽ huyền bí gì của tạo hoá mà lại cứ tình cờ phải nhìn thấy tất cả những
cái đau đớn của người bạn khốn khổ ấy.
Khi thấy ông đốc tờ đã lắc đầu
thất vọng ở một góc phòng rồi, biết rằng cái giờ cuối cùng của mình đã đến, chị
Hiển bèn gọi chồng vào để "rối răng". Tôi đứng lên bước ra cửa thì chị
bảo cứ ngồi lại. Trước mặt tôi, chị Hiển kéo hai bàn tay của chồng về lòng, run
rẩy nói bằng một thứ giọng kỳ lạ:
- Em chết rồi, anh ơi! Quan
đốc chẳng nói thì em cũng biết! Chẳng còn bao lâu nữa! Em kiểm soát lại cuộc đời
thì thấy rằng cũng không đến nỗi thiếu thốn gì mấy, mà cũng đã hưởng nhiều thứ
lắm, nhất là lại được làm vợ anh để tự do yêu quý anh!... Em có thiếu thì chỉ
thiếu cái lòng yêu của anh, không phải cái yêu thương nhưng mà cái yêu hoàn
toàn của anh, mà thôi... Xin anh cho em được mang cái lòng yêu hoàn toàn ấy,
cái ái tình bất vong bất diệt ấy, xuống cửu tuyền! (Vì sắp chết nên chị nói văn
chương kiểu cách lắm). Từ khi em ốm nặng đã nhiều lần anh an ủi em là quên hẳn
chuyện xưa. Bây giờ xin anh cam đoan lần nữa trước mặt người bạn thân của em
đây, cho linh hồn em được thỏa. Anh nói đi, cho em nhờ!
Vào trường hợp này, trí người
ta thông minh sáng suốt lắm. Vì rằng khi thấy chồng ôm đầu nghĩ ngợi thì chị
nói một cách xót xa:
- Giời ơi! Thì ra anh không
yêu em, anh chưa quên hẳn chuyện xưa! Anh còn phải nghĩ lâu như thế cơ mà!
Tôi rùng mình run sợ vì thấy
anh Hiển đáp:
- Phải, anh đã nghĩ. Bây giờ
nói thế nào, chắc em cũng không tin đâu! Đấy em xem: anh không thể thật thà với
em được!
Người vợ đáng thương ấy nấc
lên mấy cái thì người chồng chữa một cách đã quá muộn:
- Tuy vậy anh cũng vẫn yêu
em, vì anh còn có bổn phận của một người chồng.
Chị Hiển nấc lên một cái cuối
cùng. Thế là tắt nghỉ. Và cách đấy một phút chị còn ai oán nhìn tôi. Cái nhìn ấy
phân vua với tôi về những sự thống khổ của một linh hồn phải ôm một mối hận để
lên cái thế giới của những linh hồn.
Giao Đài thuật chuyện xong
thì im lặng để chờ mọi người bình phẩm.
Một người trong bọn chúng
tôi đứng lên bực tức nói:
- Tội nghiệp! Một cuộc tình
duyên như thế mà để đến nỗi một điều nhỏ mọn vô nghĩa lý như thế phá hoại được.
- Vì ái tình là một vật mỏng
manh, chóng hỏng và dễ vỡ.
Người thứ ba thở dài mà rằng:
- Cái anh chồng trẻ con đáng
khôi hài như thế mà không ngờ là một tác giả của tấn thảm kịch như thế!
Người thứ tư nói:
- Tôi, tôi muốn nói rằng người
vợ ấy không thật thà với chồng ngay từ lúc mới bước chân về nhà chồng.
Nhưng anh Lê Văn Thư đứng
lên hậm hực:
- Nhưng mà tôi thì tôi muốn
cái thằng chồng khốn nạn ấy không nên thật thà với vợ nó nữa vào lúc vợ nó đã
thở hắt ra!
Giao Đài mỉm cười phân vua cả
bọn:
- ấy đấy! Anh Thư bây giờ đã
phản đối cái anh Thư lúc tôi chưa kể chuyện rồi đấy nhé! Sao anh không chủ
trương cái lòng thật thà mãi đi!
Tưởng chừng không ai phê
phán gì nữa, sắp nói sang chuyện khác, thì chị giáo Bích - một người từ nãy
chưa nói gì - đứng lên cầm cái chặn giấy gõ xuống bàn như lúc ra lệnh im lặng
cho học trò và hỏi cả bọn:
- Các anh các chị nghĩ về
anh giáo Hiển ấy thế nào? Một người đàn ông mà tầm thường như thế ư? Mà khi người
ta đã ghen đến như thế thì liệu người ta còn có biết được cái hạnh phúc nữa
không? ừ, ghen đến thế thì cuộc đời có thấy sướng gì nữa không?
Vì chị giáo Bích cũng sắp lấy
chồng nên người ta mỉm cười nhìn nhau một cách kín đáo và nói lảng sang chuyện
khác.
1937
Lòng tự ái
Trông thấy chồng về, chị vội vàng hỏi:
- Thế nào cậu? Dì nó đã đỡ chưa? Liệu có qua khỏi được không?
Phạm Quang đứng thở lử khử như người vừa mới phải đi bộ mười
cây số, tuy chàng chỉ đi có từ một nhà ở cuối phố về. Chàng từ tốn gác mũ lên
cái sừng hươu, cởi bộ áo ngoài, rồi nằm dài ngay ra sàn. Mãi mới đáp:
- Nguy lắm. Không biết nó có sống được không?
Vợ chàng ngừng hẳn đường kim mũi chỉ, cau lông mày lại hỏi:
- Thế dì ấy hiện giờ thế nào?
Quang uể oải đáp như người đương lúc nửa thức nửa ngủ:
- Cả một đêm, hôm qua li bì nói mê nói sảng mà lúc nào tỉnh
thì lại tỉ tê khóc lóc. Bác Dần mách rằng lúc mê sảng nó cứ gọi tên tôi. Không
khéo thì hỏng mất. Thôi thế mà ra tôi đã mắc một tội ác: giết một người đàn bà!
Chưa hiểu rõ đầu đuôi, tôi bèn hỏi chị Quang:
- Các bác nói đến ai thế?
- Dạ chúng tôi nói đến một người em họ của tôi đấy.
Một câu cắt nghĩa quá gọn ấy chỉ khiến tôi lại càng ngạc
nhiên hơn nữa, lại càng không hiểu gì nữa. Cái gì nhỉ? Chồng chị Quang lại có
can đảm nói những câu như thuộc về một thiên bi tình khi nhắc đến một người em
họ của vợ, lại trước mặt vợ như thế nữa ư?
- Thưa bác, tôi vẫn chưa hiểu gì cả?
Đến đây chị Quang nhìn tôi một cách láu lỉnh, nhìn chồng một
cách ranh mãnh, đằng hắng một cái rồi mới mỉm cười đáp tôi:
- Thưa bác, bệnh nhân ấy tức là em họ tôi, cô Oanh. Trước kia
khi chưa lấy tôi thì nhà tôi đã phải lòng cô Oanh chết mê chết mệt. Đến lúc hỏi
thì cô Oanh lại không thuận, ấy thế mới buồn chứ! Rồi nhà tôi hỏi tôi. Rồi cô
Oanh đi lấy chồng. Nhưng mà chẳng may cho cô Oanh lại lấy phải người chồng xấu,
không ra gì, chơi bời đủ ngón, lại hành hạ vợ một cách vũ phu nữa. Hiện giờ thì
chẳng rõ anh chàng bỏ cả vợ con ở nhà đi theo con đĩ nào. Cô Oanh buồn quá đâm ốm.
Có lẽ vì nhớ tiếc người cũ, vì hối hận nên cô mới nhắc đến tên người đã phải
lòng cô, người mà cô đã không lấy, tức là nhà tôi, như nhà tôi đã thuật mà bác
cũng được nghe.
Có lẽ Phạm Quang hổ thẹn cho rằng vợ nói chuyện không phải
lúc nên chàng giơ tay lên bưng lấy trán, thành thử muốn phản đối vợ như thế thì
kín đáo quá và làm ra bộ thản nhiên thì lại thành ra hớ hênh quá.
Nhưng chị Quang là người rất thông minh tức khắc hiểu ngay ý
chồng, chị vội nghiêm giọng đứng đắn hỏi:
- Thế cậu sang thăm vừa rồi thì có gì là đáng để tâm không?
- Tôi kéo ghế ngồi ở đầu giường thì dì ấy mở chăn ra nhìn
tôi. Chao ôi! Cặp mắt ấy có ngụ bao nhiêu nỗi khuất khúc của một linh hồn đương
đau khổ! Trong những tia sáng quắc một cách kỳ lạ ở đôi mắt của người đang ốm nặng,
tôi thấy như có sự hối hận, sự hy vọng, cái lo lắng phân vân. Rồi nó (anh ta vừa
gọi bệnh nhân là dì ấy, lại vừa gọi là nó) ấp úng hỏi tôi: "Anh! Anh vẫn
yêu em như xưa đấy à? Anh lại không giận em chút nào à?" - Tôi không biết
gật đầu hay lắc đầu, cũng không biết nên đáp ra sao. Lúc ấy bác Dần đang ẵm thằng
Chắt, đứa con chúng nó ở ngoài sân. Tôi bèn cầm hai tay nó kéo lên ngực tôi một
cách âu yếm lắm. Một lúc nó ngơ ngác nhìn tôi nghi hoặc đoạn rút tay ra quay mặt
vào tường. Sau cùng nó lại khóc, khóc tỉ tê, khóc hậm hực, khóc mãi. Tôi không
có can đảm ngồi nữa, loạng choạng đứng lên về đây. Giời ơi, biết làm thế nào
bây giờ?
Chị Quang ngây mặt ra một lúc, có vẻ buồn rầu một cách rất
thành thực, đoạn thở dài và ngậm ngùi nói:
- Rõ tội nghiệp! Dì Oanh nó thật là một người đáng thương.
Thái độ của chị khiến tôi lại càng phải kinh ngạc. Chúng ta
thử đặt mình vào địa vị người đàn bà có người chồng như thế xem cái ghen, cái
giận, cái uất nó sẽ ghê gớm như thế nào! Nếu ta có một người vợ mà lại đau đớn
vì một mối tình cũ như thế liệu cái mặt của chúng ta sẽ tươi bưới ra làm sao! Vậy
mà chị Quang đã chẳng những không ghen chồng, lại còn ngậm ngùi thương xót cô
em họ nữa!
Tôi thấy cái cần ghê gớm phải khen:
- Chị Quang! Chị thật là một người vợ hoàn toàn!
Bạn tôi thật có cái diễm phúc lớn mới được làm chồng một người
như chị. Tuy chỉ là một văn sĩ nghèo, anh ấy cũng có thể tự phụ được là người
sung sướng nhất trần gian. ở đời có được một người bạn tri kỷ của anh Quang lại
đồng thời là người bạn trăm năm của anh nữa thì thật quả bạn tôi đã cướp được hết
hạnh phúc của loài người.
Tôi tưởng khuây khỏa được bạn bằng cách vỗ vai bạn mà rằng:
- Anh này! Anh đã là một người sướng mà có lẽ anh không biết.
Chị Quang hớn hở hỏi tôi:
- Nào có gì lạ mà bác khen nhiều quá thế.
- Tôi cho là lạ lắm! Ghen tuông là cốt tính của người đàn bà!
Muốn sung sướng người ta tưởng phải yêu một cách hằn học đến bậc hóa ra ghen
tuông. Thế mà chị không ghen! Thế mà chị vẫn sung sướng.
Chị Quang mỉm cười khoan thai cắt nghĩa:
- Vì tôi là người đại lượng, có thế thôi. Nếu tôi đại lượng
thì vì lẽ gì tôi lại cấm nhà tôi làm một người đại lượng. Hai nữa dì Oanh nó chỉ
là một người lầm và đáng thương. Vì hỏi dì Oanh nó không được nên nhà tôi mới hỏi
tôi... Bác để ý cho: Tôi thì giầu mà Oanh thì là con nhà nghèo; dẫu rằng không
là bắt buộc tôi, tôi cũng thiết nghĩ: trong cái hạnh phúc của chúng tôi bây giờ,
dì Oanh nó cũng có một phần công lao! Chứ không ư? Nếu Oanh đã nhận lời thì
chúng tôi còn lấy nhau làm sao được. Cho nên tôi vẫn có cảm tình với Oanh. Người
đàn bà khác chắc phải ghen về trước, phải đề phòng về sau, phải ghét Oanh, phải
thấy Oanh khổ sở thì mới sung sướng. Nhưng tôi thì không thuộc hạng người ấy.
Hiện giờ thì đích thị là Oanh hối hận. Cái đó dễ hiểu lắm. Mà nguy nhất cho người
ta là khi đã mất lòng tự kiêu, tự ái. Đau đớn vì oán giận kẻ khác thì chẳng nói
chứ chính mình lại phải oán giận mình thì còn ai biết cứu chữa ra làm sao! Oanh
đã lâm cảnh ngộ đáng thương ấy thì tôi còn nỡ lòng nào ghen tuông với nhà tôi
làm gì. Ghen ghét Oanh mà làm gì! ấy cái nhẽ tôi là thế chứ không phải chúng
tôi là chị em họ.
- Phải lắm! Đã ghen thì chị em ruột cũng có thể đâm chém nhau
được nữa là chị em họ.
Chen vào giữa chúng tôi, anh Quang nói một cách căm tức:
- Mà tôi chẳng hiểu hiện Oanh đang ốm như thế nào? Mấy ông
lang băm nói huyên thuyên loạn xạ cả lên để cho không ai hiểu cả. Ông thì bảo
đau phổi, ông thì đau óc, ông thì lại kêu đau tim! Có là Giời cũng không hiểu!
Chị Quang nhìn chồng cười gằn:
- Mình rõ thật là gàn! Tất nhiên bệnh ấy là tâm bệnh thì dẫu
đã đau các cơ quan khác trong người, quả tim cũng chẳng phải là không đau! Theo
ý tôi Oanh mắc cả hai thứ bệnh: đau trong người và đau trong ý nghĩ. Có muốn chữa
chạy thì mình cứ việc chữa chạy cho cả quả tim, chứ cậy mấy cụ lang hủ lậu, thì
ăn thua gì!
- Mợ nói đâu ra đấy. Thế thì mợ thử giải quyết cho tôi một
phương cứu chữa xem sao? Nói không thì ai mà chả giỏi được.
Chị Quang chỉ tôi phân vua:
- Ơ kìa! Nói lạ nhỉ! Việc của mình chứ việc của em đấy à?
Tôi bênh vực bạn:
- Thì bác cứ làm phúc thử nghĩ hộ bác giai xem có phương kế
gì không?
Từ đấy trở đi chị lại cúi đầu trên đường kim mũi chỉ, mắt có
vẻ tư lự lắm. Tôi không hiểu đó là chị nghĩ phương kế cứu người đàn bà khốn khổ
mà chị đáng lẽ phải coi như kẻ tình địch hay là chị đã tiếc cái đại lượng phi
thường của mình chỉ vì lời khen ngợi sốt sắng của tôi. Cái điều ấy có thể lắm
vì trong đời vẫn có một số đông những người bướng bỉnh, những người mà ta muốn
thấy làm một việc gì thì ta phải ngăn ngừa hay là ta muốn họ không làm việc gì
thì ta lại phải hết lời xúi giục.
Chỉ biết rằng, đêm ấy bạn tôi giục tôi vào phòng ngủ để thuật
lại tỉ mỉ cho tôi nghe chuyện cái cô Oanh ấy, thì người vợ cứ chong đèn ngồi
khâu rất khuya.
° ° °
Sớm hôm sau, lúc bạn tôi gọi tôi ra bàn dùng thức điểm tâm,
thì người vợ ít có ấy vui vẻ hỏi chồng:
- Thế nào? Cậu đã nghĩ ra cách gì chưa?
Quang nhăn mặt gắt một cách khôi hài:
- Lại còn nghĩ ra được cái gì nữa!
- Rõ tội nghiệp! Kìa, nghĩ cả một đêm như Ngũ Tử Tư, đầu tóc
sắp trắng xóa ra rồi kia kìa.
Bạn tôi lại lấy tay bóp trán và cử chỉ ấy không hiểu tại sao,
tôi thấy là hệ trọng lắm. Tôi thấy như là người vợ chế giễu chồng được một câu
như thế thì sung sướng lắm, có lẽ người vợ bắt đầu không còn là người đàn bà
phi thường nữa, vì đã biết ghen. Nhưng chị Quang đã lại hỏi chồng:
- Có thế thôi mà mình cũng không nghĩ ra à?
Bất giác tôi thấy xấu hổ lắm. Câu nói ấy không những cho bạn,
mà còn như cho cả tôi cũng phải nghe. Sự thực thì, cả một đêm tôi cũng bâng
khuâng nghĩ hộ bạn mà không nghĩ ra phương kế gì cả. Cái lòng tự ái của giống
đàn ông xưa nay vẫn khinh thường đàn bà mà lại bị một người đàn bà chê bai một
cách gián tiếp là ngu dốt lúc ấy bị thương nặng và biến ra thành một sự bất
bình sôi nổi trong lòng tôi.
Nhưng chị Quang vốn là người rất thông minh. Thấy bạn chồng lại
đỏ mặt hơn chồng, chị bèn nói chữa:
- Phải lắm, như mình, thì chỉ bận tâm lo buồn thôi, chứ nghĩ
sao được giữa lúc tâm hồn bối rối. Tôi tuy chẳng giỏi giang gì, song tôi gần
như là kẻ ở ngoài cuộc, cho nên trí não tôi cũng có phần sáng suốt hơn.
Quang ngơ ngác nhìn lên, ngoan ngoãn hỏi vợ:
- Theo ý em thì nên như thế nào?
Trước khi đáp, người vợ còn cúi đầu ngẫm nghĩ, ý chừng để
giãi bày cho khôn khéo. Có lẽ muốn giấu cái hổ thẹn của mình nên chưa nghe vợ đáp,
Quang đã thở dài mà rằng:
- Buồn nhất là cơ sự này, tôi đã đoán được rằng không sớm thì
chầy, thể nào rồi cũng có lúc xảy ra... Hiện giờ, thằng chồng theo đĩ mà bỏ lửng
vợ, mà vợ thì đương nghĩ đến việc đệ đơn xin ly dị tại tòa. Cho mãi đến bây giờ,
tôi cũng chưa hiểu vì lẽ gì xưa kia Oanh lại từ chối lời cầu hôn của tôi! Từ chối
giữa lúc cả làng cho việc tôi hỏi Oanh làm vợ là may mắn cho Oanh lắm. Thế mới
lạ chứ, vì rằng chính nhà tôi đây, hồi ấy cũng phải ngạc nhiên về sự từ chối ấy.
Hay là tại hồi ấy, Oanh đã yêu ai rồi? Có phải cặp vợ chồng ấy đã vì ái tình mà
lấy nhau không? Oanh đã kiêu ngạo hay đã chung tình? Dù sao mặc lòng, xưa kia
tôi đã chung tình thì nay Oanh phải hối hận!
Chị Quang, một cách rất có ý tứ đáp lời cho câu hỏi lúc trước
của chồng:
- Mình tìm cách nào cho cô ấy không phải hối hận nữa, tôi dám
chắc bệnh sẽ khỏi ngay.
Bạn tôi vội nói:
- A! Tôi hiểu rồi đấy.
- ừ! Đã thế, mình còn chờ đợi gì nữa?
- Nhưng mà... nếu thế... nếu thế thì Oanh lại oán ghét tôi mất!
- Điều ấy cố nhiên...
Quang nghĩ hồi lâu để rồi lắc đầu:
- Không! Không thể được! Hiện giờ, Oanh đương hối hận, nghĩa
là đương yêu tôi... Oanh yêu tôi! Yêu nồng nàn, yêu thiết tha! Có nên làm mất
cái tình cảm tốt đẹp hiếm có ấy trong lòng một người đàn bà mà tôi đã yêu xưa
kia không? Phải đến như thế nào... Oanh bây giờ mới có tình cảm ấy với tôi chứ?
Đã thế thì tôi không thể nói dối được! Xưa kia, tôi bị người lãnh đạm, nhưng
lòng tôi đã được tự do yêu. Nếu nay tôi phải làm một việc để, do thế, tôi ghét
người ta thì chẳng những bỗng đâu tôi vứt cái tự do yêu người ta của tôi đi, mà
rồi người ta lại còn ghét thêm tôi nữa!
Vợ chàng giơ tay khuyên nhủ:
- Phải hy sinh! Phải có can đảm! "Yêu người yêu mình chỉ
là tự yêu"! Vẫn biết mình nói dối Oanh thì Oanh tất nhiên sẽ phải ghét
mình, nhưng mà tôi xin mình, cứ thử một mình mình biết, một mình mình hay, mà
yêu kẻ ghét mình tôi xem nào!
- Không! Tôi không thể làm cho Oanh đến nỗi phải ghét tôi được.
Tôi xin lỗi mình, mình là người đại lượng mình hiểu biết... Sự thực, tôi vẫn
còn thương Oanh lắm.
Chị Quang nổi nóng, gay gắt phân trần:
- Thế nhưng mà khi ông không chịu nói dối thì nghĩa là ông vẫn
dang tay vò nát quả tim đã bị thương của người ta! Ông không muốn bị căm hờn!
Phải, ông chỉ ích kỷ! Để cho người ta chết thì rồi ông thương xót một thể!
Phạm Quang ngã ngồi xuống ghế như một cái cây đổ. Chàng gần
như khóc:
- Thà để Oanh chết là hơn! Nếu chẳng may thế, tôi sẽ ấp mồ
Oanh mà khóc! Chết như thế, Oanh cũng được hả về phần hồn! Còn sống như em đoán
trước, xác thể không những tiêu mòn, mà cả đến linh hồn của Oanh cũng chẳng mát
mẻ nữa, vì rằng sự căm hờn đã đến chiếm chỗ trong tim.
Chị Quang lại cười gằn mà rằng:
- Thế thì mình nhầm! Sự căm hờn chỉ nuôi chứ không giết. Sự
căm hờn đẻ ra lòng tự kiêu, tự ái, mà lòng tự ái chính là một sức mạnh để tự vệ.
Chỉ có sự hối hận, sự tự mình phải giận mình, là giết mà thôi!
Quang vẫn thổn thức:
- Khốn nhưng tôi không muốn giết cái mối yêu ấy trong lòng
Oanh. Căm hờn là một cái xấu không nên có trong hồn một người đàn bà đã lầm
trong một phút, và do thế, mới đáng thương! Thà Oanh hối hận, thà Oanh tuyệt vọng!
Thà để Oanh chết vì ái tình! Để cho ái tình ấy đi theo linh hồn là cái bất vong
bất diệt, ái tình sẽ hóa ra cũng bất vong bất diệt!
Chị Quang run rẩy khẽ nói:
- Bảo Oanh chết, ờ thì được! Nhưng còn thằng Chắt? Nó mới có
6 tuổi! Mà nó là cháu tôi, cháu mình? Giết mẹ nó là giết nó! Mình không được
phép giết thêm một đứa trẻ vô tội!
Anh Quang ngạc nhiên nhìn vợ hồi lâu rồi mạnh bạo ra đi. Anh
đi đến nhà Oanh. Nửa giờ sau, về, mặt nhăn nhó, anh kể:
- Thế là xong, tôi đã đóng một vai trò tàn nhẫn hét sức!
- Thế nào?
- Tôi đã bảo Oanh như thế này: "Tôi chỉ còn thương hại
cô mà thôi! Cô hỏi tôi có giận cô không? Có yêu đâu mà giận! Sao xưa kia, cô đã
khinh tôi như thế? Bây giờ khổ sở, cô mới hối hận, mới quay lại yêu tôi... Cái
yêu như thế, hỏi có giá trị gì? Có ai lại vớt lại một bát nước mà ta đã hắt xuống
đất?" Oanh xúc cảm quá mạnh nên không nói được gì cả. Oanh nấc lên một cái
thì tôi bỏ mặc ra về.
Chị Quang so vai, hài lòng:
- Có thế, Oanh mới sống được.
Rồi chị ấy bảo tôi:
- Bác hãy chịu khó ở chơi đây ít lâu nữa mà xem. Việc này rồi
phải có kết quả tốt.
° ° °
Một tuần lễ qua...
Bữa ấy, chợt vợ chồng Quang gọi tôi ra cửa sổ. Thì Oanh đã ẵm
con dong chơi ngoài đường! Bấy giờ tôi mới biết mặt người đàn bà ấy. Nàng có một
vẻ mặt bình tĩnh một cách lạ, đủ biết trong lòng cái hối hận, cái nhớ tiếc
duyên xưa không còn nữa. Nước da tuy còn xanh, nhưng dáng đi đã có vẻ cứng cáp
lắm rồi. Tôi có cái cảm giác là người đàn bà ấy không thể chết được nữa. Oanh ẵm
con một cách âu yếm như đã quên, quên hết mọi sự để mà chỉ nuôi con.
Quang cầm hai tay vợ:
- Anh cảm tạ mình! Em đã dạy anh biết hy sinh và đã cứu nổi
hai mạng.
Tôi châm một điếu thuốc lá để tự thưởng, vì tôi đã hiểu rõ
cái lòng tự ái, kiêu ngạo, nó vừa làm đau khổ và vừa nâng cao phẩm giá người
đàn bà.
Muốn nhìn lại lần nữa, thì bóng Oanh đã thoáng khuất sau một
hàng rào găng.












Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét