Bùi Giáng là nhà thơ huyền vĩ độc đáo
trong lịch sử văn học Việt Nam. Thi sỉ lớn u huyền và thần bí. Để nhận định
rõ thế nào là huyền vĩ, chính Bùi Giáng đã nói lên như thường nhắc nhở tới Tô
Đông Pha (văn hào trung hoa 1037-1101), tới F.Holderlin (thi sĩ người Đức
1770-1843).Vì trước hết cùng đều là thi sĩ siêu hình triết lý, thâm trầm suy tư
thi hứng từ phận người phù du nhỏ bé nhưng thăng hoa bất tận trong cái u huyền
của trời đất.
Tô Đông Pha thần bí đạo giáo, nhưng không vô vi, lý tính con
người hiện thành vĩnh cửu với Mỹ Thức:
“Nguyệt hữu âm tình viên khuyết
Thử sự cố nan toàn
Đãn nguyện nhân trường cửu
Thiên lý cộng thiền quyên” (Trăng cũng có ẩn
tình khi tròn khi khuyết, mọi sự đâu có an nhiên bất biến, nguyện xin dời người
mãi mãi còn đây, ôm trong vô cùng nàng tiên sắc đẹp).
F.Holderlin thần bí thiên chúa giáo, như đã từng là tu xuất.
Đời người nghiệt ngã, mãi mãi là câu hỏi:
Weiss ich nichts und wozu Dichter in durftiger
Zeit. (Ta biết gì đâu, thi nhân đi về đâu trong thời nghiệt ngã)
Tuy nhiên, F. Holderlin nhận phải là
“Thi nhân hay đạo sĩ của lạc thần
Đêm dài cầm gậy đi lang thang
Hành hương khắp miền trái đất” (Bùi Giáng),
đi tìm trong “ngôn ngữ”, trong thi ca con đường
dẫn tới chân trời thánh thiện. Thánh thiện của “hùng tâm”(từ của Bùi Giáng),
thánh thiện của khát vọng thăng hoa.
Bùi Giáng u huyền và thần bí, gần gũi với Tô Đông Pha nhân
sinh quan thiền đạo, với F.Holderlin tràn trề niềm tin lãng mạn cao sang ở “một
đấng chí tôn”, tuy với Bùi Giáng chính là ở Thơ. Thơ là “ ngôn ngữ”
tuyệt đối nội tâm cảm thức ban cho mọi vật thể tâm linh:
“Bay về ổ chín tầng cao
Con chim vĩnh biệt quên chào mái hiên”.
Cho mọi sự kiện một chiều sâu nhận thức, nhớ nhung, âm thầm mất
mát trong cái phận phù du làm người.
“Đêm qua bên láng giềng
Trăng khuyết vàng, thu tới
Cô gái nhỏ thung dung
Qua miếng vườn hoa nhỏ
Qua miếng vườn hoa nhỏ
Đất nằm im dưới cỏ
Tô Đông Pha, F.Holderlin đều là thi nhân thần tượng trên văn
đàn thế giới! Bùi Giáng huyền vĩ cho đến nay vẫn là ẩn số, ngay trong văn học
Việt Nam dù Bùi Giáng là cả một vũ trụ thi tứ và ngôn ngữ của chúng ta. Chính
văn học Việt nam phải là nơi nhà thơ huyền vĩ Bùi Giáng được tuyên dương, nhưng
xã hội chúng ta còn chìm đắm dị nghị tranh đấu tư tưởng chính trị, ý
thức hệ xã hội chủ nghĩa. Thi tứ siêu hình triết lý còn xa lạ trong truyền thống
kim cổ của văn học Việt Nam. Hơn nữa, nhà thơ không để lại sự nghiệp đồ sộ thi
ca của mình một cách tối thiểu hoàn chỉnh nào. Người đời cốt là biết
một số như những cách ngôn tuyệt vời; hậu bối gia tộc cũng phát hành gần đây
nhiều tập thơ Bùi Giáng (những di cảo???), nhưng có biết đâu chỉ là những bài
viết khi về già, sau 1975, thô thiển ngạo mạn “mạt đời”. Tôi mạn nghĩ cho tới
nay có lẽ chỉ có: “Bùi Giáng Văn và Thơ, Ngô Văn Tao tuyển trích” xuât
bản năm 2007, Nhà Xuất Bản Văn Nghệ TP.HCM, một công trình khá đáng kể giới thiệu
Bùi Giáng, nhưng tuyển tập này được xuất bản, nhưng theo một “công văn
không lời” không được phổ biến ở Việt Nam. Sự thật, có thể nói phần lớn
thi ca của Bùi Giáng là bất tất nằm trong bao nhiêu bài văn thông diễn giải triết
lý hay thi tứ của triết gia, thi hào bốn phương (Không Tử, Tô Đông
Pha,Holderlin, Heidegger, Camus…).
Dưới đây như chứng nhận điều tôi viết trên, tôi xin trình bạn
đọc bài thơ xuất thần của Bủi Giáng: Mùi hương xuân sắc”, một bài thơ ẩn
trong những đoạn văn “thi ca thông diễn giải”(dịch thuật!) truyện “
Sylivie-Souvenir du Valois” của nhà thơ Gerard de Nerval. Ẩn mà có đây là tôi
đã thu ghép những “câu thơ” nguyên văn trích ra từ giữa những câu văn bất tất
bay bổng.
Mùi hương xuân sắc
Ta về ngóng lại dư vang
Rồi mai ly biệt lên đàng nhớ nhung
I- Con đuờng thằng con đường con
Nhịp mơ màng những quang gánh lên vai
Hồn tuổi trẻ phiêu bồng trong tơ tóc
Trút tình hoa rụng gió ở bên ngoài
II- Dư vang tiếng trống tiếng còi
Rập rờn đầu liễu mộng hoài xanh buông
Xa xôi thôn ổ ngậm buồn
Thanh xuân gái dệt từng guồng hoa bay
Còn nghe điệu hát nghiêng mày
Sử xanh lần giở bên ngày phù du
Trăng hoa thêu gấm khơi mù
Gióng tuôn thúy lục xuân thu lên ngàn
Ta về ngóng lại dư vang
Rồi mai ly biệt lên đàng nhớ nhung
III- Về đây gọi nước non mù
Dàn xuân sắc dải hoang vu hồng vàng
Pha mờ dấu biếc xuê xoang
Vong hồn ngẫu tượng ngụ trong câu đề
Sôi trào dòng mộng lối về
Tình xưa nghĩa cũ lời thề năm xưa
Hoang đường thần bí dư ba
Còn nghe nức nở chan hòa đâu đây
Đong đưa chúc phúc hàng hàng
Lời trong tiếng cũ lên đàng gọi nhau
Người nghe kẻ nói nghiêng đầu
Đằng cao thành mộng căn lầu bình minh
Em dàn tơ tóc bên mình chiêm bao
Mùa vàng xa biệt hội nào
Buồm lên gió dậy biển trào lên khơi
Mùa vang sóng vỗ bên đời
Còn trang phuơng cảo thu rời chân đi
IV- Hỡi ôi!
Trăng nhớ Tầm Dương là nhớ người
Em là Béatrice của tôi thôi
Miệng cười má lúm đồng tiền nhỏ
Em chút mơ màng…non nước ôi!
V- Em ngồi kiều diễm bên khe
Giòng xuôi thúy lục tơ se tâm hồn
Anh nhìn suốt xứ sau lưng
Thiên thu rụng bóng vô chừng thở than
Ngậm ngùi gió nội hoang mang
Theo nồng hơi thở miệng vàng đã xa
Cành non ước nguyện chan hòa
Sim ngàn sổ lá đêm ngà tử sinh
Gió sương từ tạ bên đình
Bóng sa hồ khép chặt tình mông lung
Rêu tần ngần tuyết in phong
Sóng phơi trường mộng từ trong dậy nguồn
Lung lay đầu liễu xanh buông
Mùa trăng nước đổ xô buồn đi xa
VI- Hương ngây tội lỗi rải mơ màng
Da thịt du dương của một nàng
Đã luống đời xanh trên gối lục
Linh hồn tĩnh dạ hận dư vang
Chuông nức nở gọi bình minh
Em ở anh đi tỉnh mộng mình
Chân bước tiếng kêu còn dóng dả
Hà sơn vạn lý lục hay xanh
VII- Nữ thần ôi! Em trường sinh trẻ dại
Tiên tử ôi! Em trẻ dại muôn đời
Hồn trinh bạch thâu canh kỳ ảo
Mưa xuân trăng muộn đêm dài tình say
VIII- Lặng lòng cư trú thiết tha
Tháp ngà thi sĩ nguy nga mộng trường
Đạm Tiên nàng ấy không chồng
Phụng thần hôn tại phiêu bồng dặm khơi
Thư sinh nhất giới bên trời
Trút nghiên cạn mực trong lời tang du
Đằng Vương Gác ngất non mù
Trút nghiên cạn mực trong lời tang du
Đằng Vương Gác ngất non mù
Lượt là tiệc rượu hững hờ mây trôi….
Chú thích: “Mùi Hương Xuân Sắc” là truyện thư sinh thi sĩ tạm
bỏ thành thị cùng đam mê (mê cô diễn viên kịch bản) về làng Valois (I), làm
quen với gái dệt thanh xuân (II). Rồi cùng những người ở chốn thanh bình
này nhớ lại những chuyện đẹp xưa như chuyện hôn lễ, vọng hồn hoài cổ (III). Đặc
biệt biết đến Béatrice kiều diễm để mà tưởng nhớ thầm yêu (IV,V). It
lâu sau trở lại Valois, thì nàng Béatrice đã bỏ đi tu (VI). Thư sinh
thi sĩ chỉ còn biết nuối tiếc, đắm chìm trong tháp ngà thi phú lầu xanh, tiệc
rượu (VII,VIII)
Hồi tưởng Bùi Giáng
Bên trên là chân dung Bùi
Giáng,
Trịnh Công Sơn ký họa mà chính Bùi Giáng phụ đề:
Chịu chơi hộ Trịnh Công Sờn
Cửa trời rộng mở rầp rờn
hoàng hoa
Chào nhau giữa những Vốc Ka
Liên Xô số rách ngộc…
(Nhân bữa rượu Trịnh Xuân Tịnh,
em trai của TCS,
“Mừng đãi” Bùi Giáng và tôi tháng 8/1988)
Ngày giỗ thứ 15 Bùi
Giáng
Bùi
Giáng là nhà thơ để lại trong nhân gian rất nhiều giai thoại. Giai thoại phản ảnh
sự bình dân thu nhận của người đời. Cho đến nỗi nhân dịp ngày giỗ thứ 15 của
Bùi Giáng, Đại Học khoa học xã hội và nhân văn TPHCM cũng lần đầu tiên tổ
chức một tọa đàm về “Thi Sĩ Bùi Giáng” (14/9/2013), đông đảo đến 300 người dự,
tuy nhiên cũng không tránh được phẩm chất “giai thoại” trong những bài đóng
góp. Chính có lẽ vì với hiện trường Việt Nam trong tư tưởng và xã hội học, khó
một ai có điều kiện thời gian và khả năng sinh sống để có tâm trí tìm hiểu và
trình bầy đến tận nơi chiều sâu và chiều rộng sự nghiệp của thi nhân.
Những
giai thoại và nhiều khi được thấy lên khung trên vách tường của những quán trà
nuớc xa gần, đầu đường hay xó chợ một hai câu thơ của Bùi Giáng (“Hỏi rằng người
ở nơi đâu - Thưa rằng tôi ở rất lâu quê nhà”, “Lời quê góp nhặt dông dài - Dệt
vào một tầm lai rai quần hồng”, “Cứ tưởng đầu đường thương xó chợ
- Ai ngờ xó chợ cũng thương nhau”….), tất cả chứng tỏ Bùi Giáng
đã đi vào lòng người như Nguyễn Du, như Trịnh Công Sơn…Nhưng như tất cả những
giai thoại, đôi khi không tránh được những sai sót của miệng đời. Có lẽ tôi phải
đính chính một hai điều.
1) Bức
họa trên “Quê Chàng Là Ithaque”* là của Bùi Giáng (in trên bìa của tập thơ “Vào
Chung Cục Thơ”, gồm muời chín bài thơ tiếng Pháp của tôi mà Bùi Giáng đã kiệt
tác họa lại). Một bức họa bột màu trên giấy độ 30x40cm, chứ không phải là
bức sơn dầu trên bố 100x120cmnhư sự đồn đại của báo Thanh Niên TPHCM và nhiều
khi trên mạng.
2) Nghệ
Sĩ Nhân Dân Kim Cương đã thổ lộ một câu cần nhắc lại: “Người ta gán cho tôi là
bông hồng trong môt giai thoại về Bùi Giáng. Tôi thật lòng không dám nhận; tôi
vẫn biết Bùi Giáng thật là một thần tượng thi ca.” Tiện đây nên nói , đối với
nhà thơ Bùi Giáng, nữ tính bao gồm tất cả những gì sâu xa nhât của “con người”,
thể hiện qua những thần thoại như Nausicaa, qua những mỹ nhân xa vời như Nam
Phương Hoàng Hậu như Marilyn Monroe, hay gần gũi như em mọi nhỏ, cô nàng bán
chuối ở ngõ chợ Lê Quang Định. Còn tình dục và tình yêu là cả một vấn đề tâm lý
học và hiện sinh học để thật hiểu Bùi Giáng hay Trịnh Công Sơn, vì đó
luôn là một vấn đề không nhỏ trong động cơ sáng tác của văn nghệ sĩ.
Ngày giỗ tưởng niệm Bùi
Giáng
Tất nhiên không chỉ ngày giỗ,
mà tôi luôn luôn niệm tưởng tới Bùi Giáng, như trước mắt tôi đây lên khung treo
trên bức tường bên bàn viết mấy câu thơ bút pháp của thi
nhân:
A Votre Majesté Ngô Văn Tao
Ruộng đồng không mọc lúa mùa
Từ hôm cánh trắng cò lưa tiếng
buồn
Đêm nào nhỏ giọt khe muơng
Đêm nay rớt hột mù sương bấy
giờ
Bùi Giáng
Du hí mộng trường mai vũ trụ
Dy hồn Tuyệt
Yến Dã man Oanh (cùng hai dòng chữ vuông hán tự)
Có thể nói từ buổi hè năm
1988, một người bạn đưa tôi tìm gặp Bùi Giáng, tôi đã có một bước ngoặc lớn
trong thế giới hiện sinh, giữa Bùi Giáng và tôi có một sự tương ngộ hy hữu.
Trong thế giới thầm lặng vô ngôn của tôi, tôi đã thông diễn giải nhiều tư tưởng
và văn chương nghệ thuật của Bùi Giáng. Từ đó tôi đã viết tặng Bùi Giáng nhiều
bài thơ nhắc nhở sự thông cảm đó, mà đặc biệt bài thơ“Quê Chàng Là Ithaque”, một
trường ca mà tôi sẽ trình bày lại gần đây, mà Bùi Giáng đã thật cảm kích. Ngược
lại, Bùi Giáng đã chính tay viết nhiều câu thơ tặng riêng tôi, cũng như viết lại
hàng trăm câu thơ để san sẻ với tôi. Đặc biệt nhất, là Bùi Giáng đã phóng tác
ra thơ bản ngữ thông diễn lại hàng chục bài thơ ngoại ngữ Pháp Anh của tôi, hơn
trăm Hán tự hài cú của tôi. Như đây tôi hoàn toàn xác định là ba câu thơ
cuối cùng mà Bùi Giáng đã viết rồi chỉ khoảng 12 giờ sau vào đêm đột quỵ,
diễn giải bài hán tự hài cú của tôi như linh cảm tương giao thổ lộ một sự thanh
thản ra đi:
他 鄉 日月當 時 過 Tha hương nhật
nguyệt đương thì quá
故 國 落枝梅 Cố
quốc lạc chi mai
松 下 願長眠 Tùng
hạ nguyện trường miên
Đương thì nhật nguyệt trôi
qua
Tha hương cố quận lạc hoa một
nhành
Trường miên nguyện ngủ dưới
ngành tùng trăng (BG)
Tất cả để Trịnh Công Sơn có
câu bình luận về chúng tôi: “Họ đã từng gặp nhau ở một bờ cõi mộng mị
hoang phế nào xa xôi và từ đó lại tiếp tục dắt díu nhau về quê quán bày biện lại
một tiệc đời đìu hiu lau lắt”. Trịnh Công Sơn còn vẽ bức sơn dầu trên bố
1mx1m, in ra trình bày trên bìa chính của tập nhạc phổ biến:Những Bài Ca Không
Năm Tháng, bức tranh ký họa tôi nấp sau Bùi Giáng, phác họa điển
hình cuồng sĩ có câu tự thán: Còn hai con mắt khóc người một con, mà ẩn
ý Trịnh Công Sơn cũng diễn giải ra làm chủ đề cho một bài hát.
Năm 1988 đặc biệt cũng là
năm khởi đầu công cuộc đổi mới chính trị xã hội Việt Nam. Ở
Sài Gòn khắp nơi đã công khai có những quán trà rượu; không biết bao nhiêu lần
mỗi khi gặp Bùi Giáng lang thang các cửa ngõ của Sài thành, là tôi
được ngồi với Bùi Giáng trong một quán con cóc với những ly rượu đế hay những
ly Vodka liên xô. Bùi Giáng hay mang theo bên người quyển truyện tiếng Pháp của
Gérard de Nerval: Sylvie (Bùi Giáng đã kiệt tác dịch ra Việt ngữ với
nhan đề: Mùi Hương Xuân Sắc). Đó chính là sự đưa đến bước ngoặc trong
đời sống văn học của chính tôi. Sự thức tỉnh như Bùi Giáng tận tụy đam mê suy
tư văn nghệ, quên đi bận tâm khoa học nghề nghiệp, tính toán nhỏ nhen sự đời, tận
lòng thông diễn những ý thơ, những ý niệm của văn nhân trong trời đất để say đắm
sống với tất cả những ẩn dụ có thể có như phát động tự chính mình.
Bùi Giáng hiện thân tiêu biểu
tất cả sự dấn thân suy tư đó. Bùi Giáng không vướng một hệ lụy tầm thường nào nhân
sinh xã hội, gia đình, danh vọng, tiện nghi vật chất, chỉ có với lý tính Bùi
Giáng là tư tưởng và ý rhơ. Bùi Giáng có thể hàng ngày hàng tháng trầm ngâm suy
luận trên một bài văn của Heidegger, một nhận định của Camus, những câu thơ của
Nguyễn Du… để ôm mang trong đầu cả một kho tàng văn học. Chỉ trên hai câu trong
một hán tự hài cú của tôi: Nhất đan chỉ khoảnh biệt ly thì. Tồn
vong vô lệ khứ, (一單 恉頃別離時 - 存亡無淚去), mà Bùi
Giáng phỏng dịch như nguyên văn là: Già bệnh chết thiết chết tha. Một
búng tay đã mà ra vô cùng, Bùi Giáng dịch xong, viết ngay trước mắt tôi và
cho tôi nguyên chữ vuông hán tự một bài thơ thất ngôn bát cú của Tô Đông Pha đã
từng gợi như vậy hình ảnh cái cánh cửa hé mở để đưa ra vô cùng.
Gần nửa năm cuối đời, Bùi
Giáng chỉ nằm liệt trên võng dưới cây mít trong dất biệt thự mà một gia đình họ
Bùi di tản năm 1975, đã để lại cho Bùi Giáng toàn quyền hưởng thụ. Bùi Giáng
không còn đi lang thang nữa, tuy nhiên đầu tháng 8 âm lịch Mậu Dần (1998), Bùi
Giáng vẫn cố tìm tôi để tận mắt thăm coi căn hộ tôi mới thiết lập, chắc với sự
nuối tiếc không có dịp cùng tôi chén thù chén tạc ở chốn này. Người phu xích-lô
bế Bùi Giáng lên thang vào căn hộ, chưa kịp ngồi Bùi Giáng đã choáng váng bảo
người phu chở ông về, tôi tiễn đưa và Bùi Giang không quên nói tôi phải gửi
ngay quà cho hai cháu gái Quỳnh, Na bảy tám tuổi vài cân hoa quả. Bà ngoại hai
cháu này, thuộc một gia đình khác trong họ Bùi được vào sống trong biệt thự,
chăm lo cơm nước cho Bùi Giáng vào những buổi này. Một hôm, bà tỏ tiếc thương
Bùi Giáng, Bùi Giáng nói: “Có gì mà tiếc thương, tôi ra đi như là thánh!”. Một
câu nói mang đầy ý nghĩa, và hơn nữa hàm chứa một sự thật, Bùi Giáng có cái nhận
thức thông xuốt huyền thoại. Trong những đoạn luận văn, trong những bài văn thơ
phỏng dịch tác phẩm cuả người, Bùi Giáng đưa lên một cái nhìn như lật ra hết những
ẩn ý mà có lẽ tác giả chỉ có trong tiềm thức, hay nhiều khi không tiên biết được
cái dư vang chữ nghĩa của chính mình. Tôi có thể tự hào rằng tất cả những bài
Bùi Giáng dịch thơ ngoại ngữ của tôi đều hoàn chỉnh mênh mông như vậy.
Ở nhạc có chữ “điệu”, ở
họa có chữ “mỹ”, theo Bùi Giáng ở văn chương có chữ “thơ”.
“Thơ”, một khái niệm Hegel-ian, là tuyệt đối không cùng mà Bùi
Giáng sống như đã “ngộ”. Nhưng mà “ngộ” chỉ có thể là thánh thần
lóe sáng giác thức tới chứ không “nắm bắt được”. Trong sự nghiệp văn thơ của Bùi
Giáng, ngay trong những bài luận bàn triết học, luôn luôn có những đoạn văn, những
chuỗi thơ mà ta có thể nhận thấy rõ sự say đắm vươn tới cái không cùng đó để mà
rồi phải hụt hẵng lệch lạc hầu như giận dữ ném ra những câu văn phá rối, những
câu thơ thô thiển. Tuy nhiên với nhiều câu thơ thô thiển, những câu vè lục
bát, tôi lại nghĩ tới cảnh Bùi Giáng ngồi ăn cơm thừa của phu đường, gọi cô
nàng bán chuối ở cuối chợ là nương tử giáng trần. Làm vè để biết nhận ra sự
thăng hoa của các cụ nông già làm thơ lục bát sai vần lạc ý những buổi chiều an
nhiên quanh hũ rượu. Làm vè để thông cảm và biết đáp ứng thơ của một
tu sĩ như Bà Thân Thị Quế, về già làm tu sĩ tuy nhiên hạ bút làm thơ và coi đó
là một cách để đạt tới chữkhông của Phật đạo.
Phải một ngày nào đó, qua những
gì tôi vừa diễn giải trên đây, chúng ta sẽ cùng nhau may ra cảm nhận được
Bùi Giáng chân thánh thiện lạc giữa trần gian.
Lai rai quốc lủi rượu đời
Trăm câu tiếu ngạo độ người
độ ta
Nay rồi cưỡi gió đi xa
Phở bò hủ tíu ngã ba bồ đề
Tháng 9/2013
Ngô Van Tao
*Quê chàng là Ithaque Vào
những năm 1960, Bùi Giáng đã từng say mê trong hội họa. Chỉ tiếc là vào năm
1967(?) hỏa hoạn đã hủy hoại những rương sách cùng những văn bản và
những tác phẩm hội họa của nhà thơ. Bức họa bột màu trên giấy 30x40cm “Quê
Chàng là Ithaque” này có lẽ là duy một bức hiếm hoi sót lại từ thời xa đó.
Bức này với màu sắc, nét vẽ
hoàn chỉnh siêu thực, chúng ta chỉ còn biết say mê trước bức tranh, thầm suy
nghiệm ý sâu của nghệ sĩ. Ithaque là hòn đảo quê nhà của tướng công Ulysse, mà
sử thi Odysée của nhà thơ thượng cổ Homère, người Hy Lạp, ca lên cuộc
hành trình thần thoại trong chín năm, sau khi đã diệt phá thành Troie để về cố
quận. Vậy bức tranh của Bùi Giáng cũng có nghĩa là “Trên đường về Cố Quận”.
Nhưng ngựa thiên lý có hình dáng của con lừa, mặt tướng công là mặt thiếu phụ rất
Việt Nam hiển hiện từ bi rạng rỡ trong một vòng hào quang. Vậy Cố Quận là gì?
Chắc phải là cái “Kim Tĩnh” phác họa dưới lòng thân ngựa; “Kim Tĩnh” là
ngôi mộ mà các cụ xưa thường xây sẵn, để luôn luôn nhắc nhở “sự trở về” của
chính mình.
Ngô Văn Tao







Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét