Sơ lược về dân ca
Nguồn gốc
Dân ca là những bài hát,
khúc ca được sáng tác và lưu truyền trong dân gian mà không thuộc về riêng một
tác giả nào. Đầu tiên bài hát có thể do một người nghĩ ra rồi truyền miệng qua
nhiều người, từ đời này qua đời khác và được phổ biến ở từng vùng, từng dân tộc...
Các bài dân ca được gọt giũa, sàng lọc qua nhiều năm tháng bền vững cùng với thời
gian.
Âm điệu, phong cách và bản sắc
Dân ca của mỗi nước, mỗi dân
tộc hay của mỗi vùng, mỗi miền đều có âm điệu, phong cách riêng biệt. Sự khác
nhau này tùy thuộc vào môi trường sống, hoàn cảnh địa lý và đặc biệt là ngôn ngữ.
(Ví dụ: dân ca các dân tộc Tây Nguyên khác với dân ca Nam Bộ...). Nhiều bài dân
ca đã đạt tới trình độ nghệ thuật cao và có sức hấp dẫn, truyền cảm mạnh mẽ, được
phổ biến sâu rộng.
Việt Nam là một quốc gia đa
dân tộc với nền văn hóa lâu đời, do đó dân ca Việt Nam thật phong phú. Đa dạng.
Kho tàng dân ca Việt Nam bao gồm nhiều vùng miền, nhiều thể loại: Dân ca quan họ
ở Bắc Ninh, hát Xoan ở Phú Thọ, hát Ví, hát Trống quân ở nhiều làng quê Bắc bộ,
hát Dô ở Hà Tây, hát Ví dặm ở Nghệ An, Hà Tĩnh... ở Trung bộ có Hò Huế, Lý Huế,
hát Sắc bùa... ở Nam bộ có các điệu Lý, điệu Hò, nói thơ... Dân ca của các dân
tộc miền núi phía Bắc (đồng bào Thái, H' Mông, Mường...), dân ca của các dân tộc
Tây Nguyên (Gia-rai, Ê-đê, Ba-na, Xơ-đăng...) đều có bản sắc riêng.
Từ bao đời nay, dân ca gắn
bó với đời sống văn hóa và tinh thần của cộng đồng các dân tộc trên khắp dải đất
Việt Nam.
Hình thức
Ngoài những làn điệu thuộc
các loại dân ca khác nhau còn có những loại hát có nhạc đệm theo như Chầu Văn,
ca trù, ca Huế, ca Quảng, nhạc tài tử miền Nam... và những hình thức ca kịch
dân tộc độc đáo như Tuồng, Chèo, Cải lương...
Gìn giữ và lưu truyền
Dân ca luôn được bổ sung và
phát triển. Nhiều nhạc sĩ đã dùng chất liệu dân ca để sáng tác nên những bài
hát và bản nhạc mới đậm đà màu sắc dân tộc, trở thành những tiêt mục biễu diễn
rất hấp dẫn.
Học hát, nghe các làn điệu
dân ca và tìm hiểu về dân ca Việt Nam, chúng ta càng thêm yêu mến và tự hào về
nhân dân ta, đất nước ta. Dân ca là sản phẩm tinh thần quý giá của cha ông để lại,
càng trân trọng, giữ gìn, học tập và tiếp tục phát triển vốn quý ấy.
Sơ lược về dân ca Việt Nam
Dân ca Việt Nam rất là phong
phú. Tất cả những bài ca do dân quê sáng tác và không thuộc nhạc triều đình, nhạc
thính phòng, nhạc tôn giáo thì được xếp vào loại dân ca.
Xứ Việt Nam với hơn 80 triệu
người Việt và 53 sắc tộc khác nhau thừa hương một truyền thống dân ca đa diện.
Ðịnh nghĩa danh từ dân ca,
theo tôi, là những bài ca không biết ai là tác giả, được truyền miệng từ đời
này sang đời khác, dính liền với đời sống hàng ngày của người dân quê, từ bài
hát ru con, sang các bài hát trẻ em lúc vui chơi, đến các loại hát lúc làm việc,
hát đối đáp lúc lễ hội thường niên.
Dân ca lại mang một màu sắc
địa phương đặc biệt, tùy theo phong tục, ngôn ngữ, giọng nói, và âm nhạc tính từng
vùng mà khác đi đôi chút. Nhưng nhìn chung, vẫn là bài hát thoát thai từ lòng
dân quê với tính chất mộc mạc, giản dị của nọ
Dân ca Việt Nam được trình
bày theo trình tự một đời người, nghĩa là bắt đầu bằng các bài hát ru em khi em
bé bắt đầu chào đời, đến khi đứa bé lớn lên, trương thành và chết đi, sẽ có những
bài hát liên hệ đến từng giai đoạn của một đời người.
Tôi xin bàn về các bài hát
ru em và các bài hát nghe trong lúc trẻ em vui chơi, nô đùạ Chúng ta thường
nghe lúc còn ấu thơ, được chị, mẹ hay bà ngoại hoặc bà nội ru cho ngủ. Loại hát
này được gọi là hát ru (miền Bắc), ru con (miền Trung), hay hát đưa em, ầu ơ ví
dầu (miền Nam). Âm giai dùng trong loại hát ru em được thay đổi tùy theo vùng. Ở
miền Bắc, hát ru dựa vào thang âm ngũ cung (do-ré-fa-sol-la-do). Miền Trung sử
dụng âm giai tứ cung (do-fa-sol-sib-do), và miền Nam thì chọn âm giai ngũ cung
(do-mib-fa-la-do). Người mẹ thường bày tỏ nỗi lòng của mình, hay than van số phận
hẩm hiu của mình qua bài ầu ơ ví dầụ Lời ca thường lấy trong ca dao và thể thơ
là lục bát.
Ầu ơ Gió đưa bụi chuối sau
hè
Anh mê vợ bé bỏ bè con thơ
Con thơ tay ẩm tay bồng
Tay dắt mẹ chồng đầu đội
thúng bông.
Ðến khi đứa trẻ lớn lên,
trong lúc chơi giỡn thường hay hát những bài mà đa số các giai điệu đều dựa
trên thang âm tam cung (do-fa-sol). Chẳng hạn, khi chơi ú tìm, các trẻ em để
ngón tay trỏ của mình vào trong lòng bàn tay của một em trong bọn. Một đứa trẻ
hát:
Chi chi chành chành
Cái đanh thổi lửa
Con ngựa chết chương
Ba vương thượng hạ
Ba cạ đi tìm
Ú tim oà ập.
Khi nói tới tiếng "ập"
thì bàn tay nắm được ngón tay người nào thì người đó nhắm mắt đếm để cho những
người khác chạy đi trốn.
Ngoài ra còn có những trò
chơi khác như đánh trõng, táng u, đánh dũa, hoặc là oánh tù tì (từ chữ Anh là
one, two, three, nghĩa là một, hai, ba) giúp cho trẻ em Việt Nam giải trí trong
khi nhàn rỗi, ngoài giờ học hỏi ở nhà trường.
Tình yêu trong dân ca Việt
Nam
Dân tộc Việt Nam có một nền
dân ca lâu đời và rất phong phú. Người Kinh chỉ có hát chứ không có múa như các
sắc tộc khác cùng sống trên lãnh thổ Việt Nam.
Dân ca trữ tình hay hát giao
duyên hay hát đối đáp giữa trai gái được nghe khắp nơi. Từ Bắc tới Nam, từ loại
hát làm việc ngoài đồng (hò cấy) đến các việc làm khác như chèo thuyền (hò mái
đẩy, hò mái nhì, hò sông Mã), như đập đá (hò nện) hay các công việc có tính
cách tập thể (hát phường vải). Rồi các loại hát hội (Quan Họ, Trống Quân) được
thịnh hành nhiều nhứt ở miền Bắc.
Tình yêu không phải chỉ có
trong thể loại dân ca trữ tình. Chúng ta có thể gặp chủ đề "tình yêu"
trong những bài vịnh ca, anh hùng ca, loại hát chọc ghẹo. Tình yêu nam nữ chiếm
một số lượng rất quan trọng trong loại hát giao duyên.
Có một số nhà nghiên cứu cho
rằng dân ca đối đáp đã xuất hiện từ nhiều thế kỷ như Hát Quan Họ ở Bắc Ninh đã
được nói tới từ thời nhà Lý (thế kỷ XI) do các quan tướng tổ chức chào mừng vua
khi vua trở về thăm nơi chôn nhau cắt rún. Thời nhà Trần, cũng có sách vở nói tới
loại hát đối nam nữ và một số người hát nổi tiếng về nghệ thuật tức hứng nhạc
và lời.
Những bài hát trữ tình cũng
được thấy trong các thể loại khác: hò giã gạo miền Trung, hò miền Nam, các loại
hát nghi lễ và luôn cả được sân khấu hóa để làm thành những nhạc cảnh hay hoạt
cảnh múa hát (điệu Xin Hoa, Đố Chữ trong Hát Xoan, điệu Tiên Cuội tỏ tình trong
Tiên Cuội, v.v.)
Từ thời hậu bán thế kỷ XX,
có một số nhà nghiên cứu đã công bố những kết quả đáng được chú ý về những lối
hát giao duyên (“Quan Họ Bắc Ninh” do Nguyễn Văn Phú, Lưu Hữu Phước, Tú Viêm,
Nguyễn Chung Anh biên soạn; “Hát Ví Nghệ Tĩnh” của Nguyễn Chung Anh; “Hát Giặm
Nghệ Tĩnh” của Nguyễn Đổng Chi và Ninh Viết Giáo; “Dân ca Người Việt” của Tú Ngọc,
v.v.)
Phân loại dân ca Việt Nam
Phân loại theo vùng - miền
Thường thì sự phân loại này
căn cứ vào nơi phát sinh ra những bài dân ca ấy dưới các dạng hò, vè, lý... đặc
biệt là các bài dân ca Nam Bộ và dân ca quan họ Bắc Ninh.
Dân ca miền Bắc
Qua Cầu Gió Bay
oa Thơm Bướm Lượn
Cây Trúc Xinh
Bèo Dạt Mây Trôi
Giã Bạn
Người Ở Đừng Về
...
Dân ca miền Trung
Lý Thiên Thai
Hò Khoan Lệ Thủy
...
Dân ca Tây Nguyên & dân
ca miền núi
Chặt Gỗ Đóng Thuyền
...
Dân ca Nam bộ
Ru Con
Lý Ngựa Ô
Lý Bằng Răng
Lý Chiều Chiều
...
Dân ca vùng khác...
Bóng Em (dân ca Chàm)
...
Phân loại dưa trên thể loại
dân ca Việt Nam
Cải lương
So với chèo và tuồng, cải
lương là loại hình nghệ thuật sinh sau đẻ muộn. Nếu tuồng mang tính chất cung
đình, chèo mang tính chất dân dã nông thôn, thì cải lương mang tính chất thành
thị. Cái nôi của cải lương là vùng đồng bằng sông Cửu Long. Trong bộ môn nghệ
thuật này, giọng ca (hát) giữ vai trò rất quan trọng. Giọng ca ngọt ngào mùi mẫn
rót vào tai khán giả là vở diễn đã thành công hơn một nửa.
Ca nhạc Huế
Lúc đầu chỉ là thể loại ca
nhạc thính phòng, hình thành đầu thế kỷ XIX dưới triều các vua Nguyễn, phục vụ
trong cung đình. Đời vua Tự Đức (1848 - 1883) ca nhạc Huế phát triển đến đỉnh
cao, được truyền bá rộng trong dân gian, được nhân dân bổ sung những điệu Hò,
điệu Lý... Ca nhạc Huế từ đó được sân khấu hoá như các loại hình sân khấu khác.
Thưởng thức ca nhạc Huế, người
nghe cảm nhận được sự đan xen nhuần nhuyễn giữa dòng ca nhạc cung đình và dân
ca miền Trung.
Chèo
Là sản phẩm của vùng đồng bằng
sông Hồng. Chèo bao gồm múa, hát, âm nhạc. Giữa người xem và người diễn có sự
giao lưu. Lời văn trong tích trò đậm mầu sắc trữ tình của ca dao tục ngữ, tràn
đầy tính lạc quan trong những tiếng cười thông minh, hóm hỉnh và trí tuệ.
Chèo có thể diễn ở sân khấu,
nhà hát. Chèo cũng có thể diễn trên một chiếc chiếu ở giữa sân đình và chỉ với
3 nhân vật: 1 đào, 1 kép và 1 vai hề là đã nổi đình đám. ở đây phải kể đến ma lực
của tiếng trống chèo. Tiếng trống chèo cất lên có sức lôi cuốn con người, làm
cho người ta không thể không đến xem chèo. Bên cạnh tiếng trống, vai hề tưởng
như phụ nhưng lại rất quan trọng trong vở diễn. Hề làm cho khán giả rơi nước mắt.
Hề cũng lại làm cho khán giả cười đến vỡ bụng.
Những vở chèo Trương Viên,
Kim Nham, Lưu Bình - Dương Lễ, Quan Âm Thị Kính đã được xếp vào vốn quý của sân
khấu cổ truyền.
Hát Chầu Văn
Gắn với một số phức hợp tín
ngưỡng của người Việt, sau nhiều thế kỷ phát triển Hát văn (hoặc Hát chầu văn)
đã xây dựng được nhiều kiểu gõ nhịp và một hệ thống làn điệu, bài bản phong phú
với những quy ước về cách vận dụng cho từng hàng Thánh và từng loại Phủ.
Bên cạnh ba hệ thống làn điệu
của riêng mình Cờn, Dọc, Xá hát văn còn du nạp nhiều bài bản, làn điệu từ các
thể loại dân ca nhạc cổ khác.
Nhịp điệu và bộ gõ có vai
trò đặc biệt quan trọng trong sinh hoạt tín ngưỡng này. Chúng tạo nên một không
khí phấn hứng cao, góp phần người ngồi đồng có cảm giác thoát xác để nhập thân
vào các vị Thánh, đồng thời kết hợp với yếu tố tâm linh chúng góp phần tạo nên
một trạng thái tinh thần đặc biệt kiến người ta có thể thực thiện được những việc
mà ở trạng thái bình thường khó có thể làm nổi.
Hát văn cùng với tục hầu
bóng tiêu biểu cho một loại hình sinh hoạt tính ngưỡng tồn tại ở nhiều tộc
trong nước. Ngoài yếu tố tâm linh, sự hấp dẫn của phần ca nhạc xưa kia cũng đã
từng khiến nhiều người say mê. ngày nay những điệu Hát văn được giới thiệu với
nội dung mới trên các sóng phát thanh và trên sân khấu ca múa nhạc vẫn là những
mục được công chúng yêu thích.
Ca trù
Là bộ môn nghệ thuật mang
tính hàn lâm, được nuôi dưỡng giữ gìn trong dân gian suốt 10 thế kỷ qua. Nhiều
làng quê ở các tỉnh, thành thuộc đồng bằng Bắc bộ như Hà Nội, Hà Tây, Bắc Ninh,
Vĩnh Phúc... là những cái nôi của các làn điệu ca trù. Làng Lỗ Khê (Đông Anh -
Hà Nội) dân cả làng làm nghề hát ca trù.
Thưởng thức ca trù là thưởng
thức thơ và nhạc. Trong lối hát ca trù, cả người hát, người đàn, người thưởng
thức đều tham gia cuộc hát. Họ phối hợp ăn ý với nhau và cũng làm cho nhạc và
thơ hoà quyện vào nhau, đưa cuộc hát đạt đến sự hoàn hảo, tao nhã, trang trọng
Nhạc lễ cưới Khmer
Là một phần không thể thiếu
trong đám cưới của người Khmer Nam bộ.
Ngày nay, lễ cưới của người
Khmer ở Nam bộ đã có nhiều đổi thay, song những bài hát cưới cổ truyền vẫn còn
được lưu giữ trong nhân dân. Các nhà nghiên cứu đã sưu tầm được hàng chục bài
hát lễ và những bài dân ca được sử dụng trong đám cưới.
Mỗi bài hát tương ứng với một
nghi thức của đám cưới như nghi thức đưa chú rể sang nhà gái, xin mở rào để vào
nhà gái, mở màn cho cuộc vui, các lễ thức cắt tóc, giã thuốc nhuộm răng, cắt
hoa cau để làm lễ rắc hoa cau cho cô dâu chú rể, lễ rút gươm khỏi bao, lễ buộc
chỉ cổ tay, lễ lạy mặt trời, lễ nhập phòng, lễ quét chiếu, lễ chào cha mẹ họ
hàng, ... cho tới khi tiễn khách ra về.
Những bài hát, bản nhạc cổ
truyền trong đám cưới chính là tâm hồn, tính cách và là một phần cuộc sống của
người dân Khmer Nam bộ.
Hát Vè / Nói Vè
Vè là một bài văn kể một
chuyện đặc biệt xảy ra và ngụ ý khen chê. Bài văn làm theo thể thơ bốn chữ, năm
chữ, lục bát, hay song thất lục bát hoặc các thể thơ biến thể. Hát những câu vè
thường lấy giọng đọc lên, không có đệm trên, đệm giữa, hay đệm dưới như các lối
hát dân ca khác, nhưng dựa trên nhịp 2/4. Ở miền Nam, những câu vè về trái cây,
các loại cá, các thứ bánh, vv... ngoài lối vè kể chuyện. Các câu vè thường bắt
đầu bằng sáu chữ
Nghe vẻ nghe ve Nghe ve
Thí dụ vè trái cây:
Nghe vẻ nghe ve
Nghe vè trái cây
Dây ở trên mây
Là trái đậu rồng
Có vợ có chồng
Là trái đu đủ
Chặt ra nhiều mủ
Là trái mít ướt
Hình tựa gà xước
Vốn thiệt trái thơm
Cái đầu chơm bơm
Ðúng là bắp nấu
Hình thù xâu xấu
Trái cà dái dê
Ngứa mà gãi mê
Là trái mắt mèo
v.v..
Hát vè để tiêu khiển trong
lúc làm việc, hát lúc nhàn rỗi một mình. Hát vè không có nhạc, nhưng có tiết điệu.
Gần đây ở Việt Nam, có nhiều nhóm nhạc trẻ đã chuyển hát vè thành nhạc Rap rất
được ưa thích.
Các loại hát giao duyên
Có ba loại hát giao duyên
hay hát trữ tình:
1. Loại hát dính liền với tục
lệ kết bạn
2. Loại hát dính liền với cộng
việc làm
3. Loại hát dính liền với đời
sống hàng ngày.
Hát Ghẹo
Loại hát giao duyên với tục
lệ kết bạn như trong Hát Ghẹo (Phú Thọ) và Quan Họ (Bắc Ninh) chỉ có thể thấy ở
miền Bắc mà thôi.
Hát Ghẹo và Quan Họ thường
được ca hát trong dịp hội hè, lễ Tết. Điều đáng chú ý là chuyện ca hát chỉ xảy
ra trong khung cảnh của những nhóm ở những làng có kết bạn với nhau. Tục lệ này
ở Hát Ghẹo còn gọi là “hát nước nghĩa”.
Sự kết nghĩa giữa hai làng
là một tục lệ có từ lâu đời ở Việt Nam.
Trong Hát Ghẹo, những người
đi hát không tổ chức thành phường, thành họ hay thành bọn. Hàng năm, khi làng
mình hoặc làng kết nghĩa mở hội thì dân làng lựa những cậu trai cô gái có giọng
hát đẹp và biết rõ các bài bản để hát đối đáp. Nếu đón các người hát "kết
nghĩa" thì làng cử một đoàn phụ nữ và một "bà trùm" (một người
đàn bà có tuổi) ra đón tiếp và ca hát. Khi đi hát ở một làng khác thì có “ông
trùm” và một nhóm đàn ông hát giỏi được gởi đi. Trong năm, những người được lựa
chọn đi hát thường gặp nhau để hát chung và ôn lại những bài hát chánh của Hát
ghẹo.
Khi đi hát hội, những người
hát ngồi trên chiếu hoa hát đối suốt đêm với nhóm bạn “kết nghĩa”. Một đội nam
đối đáp với một đội nữ, và thường phải hát có cặp, có đôi, hát đồng âm, với một
giọng “dẫn” (giọng chánh), và một giọng “luồng” (giọng phụ).
Mỗi một cuộc thi hát gồm có
4 giai đoạn:
1. Hát mời ăn trầu bằng những
câu hát Ví gọi là Ví Trầu
Các bạn hát nói năng rất lịch
sự, gọi nhau bằng “quan anh” “quan chị” và xưng bằng em.
Em thưa với anh
Đôi nước anh em ta
Áo vải, dải gai, cổ kim chi
nghĩa
Anh đưa chân ra tôn thần đã
đoạn
Chị em nhà có cơi trầu đưa
tay nâng lại hầu anh.
Hay là:
Em thưa với chị
Miếng trầu ăn nặng bằng chì
Ăn thì ăn vậy lấy gì trả ơn.
2. Chặng thứ hai gồm những
bài hát thuộc giọng “sổng”.
Những câu hát trong chặng
này bày tỏ tâm sự, ước vọng về hạnh phúc lứa đôi. Qua hai chặng trên (giọng ví
và giọng sổng), cách hát của Hát Ghẹo chỉ dừng lại ở đối lời chứ chưa có đối giọng.
Cả hai bên nam nữ chỉ dựa trên một làn điệu duy nhứt mà thay đổi lời ca khác
nhau.
3. Chặng thứ ba là phong phú
nhứt với nhiều làn điệu chung quanh chủ đề tình yêu.
Chặng này được gọi là “sang
giọng”. Thường thì bắt đầu bằng câu:
Tình tang tình, tích tang
tích
Anh sang giọng nào cho em
sang với.
Vậy là mở màn cho chặng ba với
các loại “giọng vặt”
4. Chặng thứ tư là chặng
chót gồm các bài Ví tiễn để hẹn gặp nhau lần tới hát với nhau.
Có khi luyến tiếc nhau hát cả
mấy tiếng đồng hồ, bịn rịn không chịu chia tay và do đó, Hát tiễn kéo dài cho tới
hừng đông.
Hát Quan Họ
Hát Quan Họ là một sản phẩm
âm nhạc dân gian đặc sắc nhứt của Việt Nam, có thể so sánh ngang với tranh dân
gian làng Hồ (Hà Bắc), nghệ thuật xòe Thái (Tây Bắc), nghệ thuật khảm trai làng
Ngô Xá (Hà Tây), và Cũng như Hát Ghẹo, Quan Họ là loại hát giao duyên có nhiều
giọng điệu. Do đó đòi hỏi người hát phải có sự tập luyện công phu về sự sáng tạo
giai điệu mới.
Quan Họ là một tập thể người
gồm nam và nữ. Những tập thể như vậy bao giờ cũng ở cùng một làng. Số người
chung một nhóm có từ 4 tới 7 người. Đứng đầu nhóm là một người đứng tuổi gọi là
“Anh cả, Chị cả” hay còn gọi là “Ông già Quan Họ”, “Bà già Quan Họ”. Do đó
trong các điệu hát Quan Họ người ta thường nghe những danh từ “anh hai, anh
ba”, “chị hai, chị ba” do vai vế trong gia đình Quan họ.
Một làng ngày xưa ở vùng Bắc
Ninh có thể có tới 10 bọn Quan Họ. Nhưng họ không có quyền kết bạn với nhau mà
phải lựa một bọn ở một làng khác để kết nghĩa. Thường là một bọn nam của thôn
làng này kết nghĩa với một bọn nữ của thôn làng khác. Cuộc kết nghĩa bắt đầu là
cuộc gặp gỡ tại một cuộc hát hội. Bên trai vô quán mua trầu cau mời bên nữ. Nếu
bên nữ nhận trầu tức là muốn nói là họ chưa có kết bạn với ai. Nếu hai bên hát
tâm đầu ý hiệp ở một cuộc hát thì bọn trai mới đi tới nhà gia đình chị cả hay
chị hai của bọn gái để xin phép cha mẹ của chị cả chị hai để xin kết bạn. Sau
đó họ hát với nhau suốt cả đêm theo lề lối trình tự của một cuộc hát Quan họ.
Các tổ chức Quan Họ thường
hát nhân dịp hội đình, chùa, đám cưới, lễ hội hàng năm. Khi đi hát, trai thì áo
lụa, áo the, quần ống sớ, khăn xếp, ô lục soạn; gái thì nón thúng quai thao, mặc
mớ bảy mớ ba, áo tứ thân nhiễu điều, nhiễu tía, yếm đào xẻ con nhạn, thắt lưng
hoa đào, hoa lý, khuyên vàng và xà tích bạc.
Khi gặp nhau, họ ăn nói rất
lịch sự khách sáo. Thí dụ khi mời ăn cơm thì nói:
“Hôm nay liền chị đã có lòng
sang chơi bên đất nước nhà em, anh em nhà em chạy được mâm cơm thì đầu mâm đĩa
muối, cuối mâm đĩa vừng, mâm đan bát đàn để xin mời đường quan họ dựng đũa lên
chén, để anh em nhà em được thừa tiếp, ạ”
Trong bữa ăn, nếu bên nữ ăn
nhỏ nhẹ thì bên nam mời khéo:
Cơm hẩm ăn với rau dưa
Quan họ làm khách em chưa bằng
lòng
Các chị liền đáp lại như
sau:
Liền anh nói vậy chứ
Cơm trắng ăn với thịt gà
Tuy rằng ăn ít nhưng mà no
lâu đấy ạ
Khi muốn mời bên nữ hát, bên
nam lên tiếng :
Cung môn treo cửa mành mành
Gần mà chẳng được nghe canh
đồng hồ
Khi được bên trai mời hát,
bên gái lại nhún mình:
Các liền anh như ông trăng
sáng khắp cả bàn dân thiên hạ, chúng em như bóng đèn dầu thấp thoáng trong nhà.
Trong những ngày hội các
Quan họ gặp nhau hát ở cửa đình (“Cây trúc xinh”) sườn đồi, bờ ao, dọc đường
cái quan. Nhưng cũng có khi hát trên thuyền thúng ở ao, hồ vừa chèo thuyền vừa
hát. Do đó có các bài “Ngồi tựa mạn thuyền”, “Chén son để cạnh mạn thuyền”,
“Thuyền thúng”. Khi hát ở ngoài trời tất cả đều phải che dù cho phía nam và đội
nón quai thao cho phía nữ.
Cuộc hát Quan Họ phải theo một
trình tự cố định:
1. Mở đầu là hát giọng lề lối.
Giọng xưa nhứt là Phong thu, Gửi thư, Thơ Đúm, Đàn Đúm. Ngày nay các Quan họ trẻ
chỉ hát được các giọng Hừ Là, Là Rằng, Tôi Rằng, Bạn lan, Cây Gạo.
2. Sau đó tới giọng sổng và
giọng vặt. Trong giọng vặt có đủ loại hát bắt nguồn từ các điệu dân ca, hát tuồng,
chèo, chầu văn, v.v. Nhiều bài hát có quan hệ với bài lý (dân ca miền Trung và
miền Nam) như “Lý con sáo”, “Lý Mười Thương”, “Lý cây đa”. Từ bài Lý cây đa nẩy
sinh ra nhiều biến dạng “Lý Cây Đa”, “Chẻ tre đan nón”, “Trèo lên quán dốc”.
Trong dân ca Quan Họ tình
yêu được bộc lộ một cách bỏng bẩy, khéo léo:
“Vợ anh như ngọc như ngà
Anh còn tình phụ nữ là thân
em”
“Em đi đêm lại sợ Ông thầy
Em đi ban ngày sợ Mẹ mấy Cha
Yêu em, anh mở cửa ra"
"Ở nhà có mẹ cùng cha
Lẽ đâu tôi dám nguyệt hoa
cùng người”
3. Có những bài quan họ mới
được sáng tác gần đây. Bài “Ông Tơ” bắt nguồn từ bài “Nỗi dương sông” trong một
vở tuồng sân khấu dân gian. Năm 1944, bài quan họ “Ca Đàn” được sáng tác dựa
trên bài “Thu trên đảo Kinh châu” của Lê Thương, bài “Hát giã” dựa trên bản dân
ca “Cò lả”. Bài “Trống Cơm” được sáng tác vào năm 1954 dựa trên một giai điệu
xưa\.
4. Sau cùng là các giọng Giã
bạn, tiễn bạn kéo dài cho tới sáng như trong hát Ghẹo.
Hát trống Quân
Trống Quân là một hình thức
hát giao duyên rất phổ biến từ Thanh Hóa trở ra. Tục truyền rằng hát Trống Quân
xuất hiện từ thời nhà Trần vào thời nhân dân ta chống giặc Nguyên. Binh sĩ chia
làm hai bên vừa xướng vừa đối trong khi gõ vào trống đánh thành nhịp điệu.
Ông Phan Kế Bính, trong quyển
Việt Nam phong tục, cho rằng hát Trống Quân có từ thời Nguyễn Huệ Binh lính giả
thành trai gái để hát đối giải sầu trong khi hành quân đánh nhà Thanh.
Lời hát đối rất tình tứ.
Trai hỏi:
“Cái gì mà nó thấp cái gì
cao
Cái gì mà sáng tỏ hơn sao
trên trời.
Cái gì mà anh giải cho em ngồi
Đêm nằm thời mơ tưởng dạo
chơi vườn đào.
Cái gì mà nó sắc hơn dao
Cái gì mơn mởn lòng đào thì
anh bảo em.”
Gái trả lời:
“Anh hỏi thì em xin thưa
Thưa rằng thời đất thấp giời
cao
Ngọn đèn thời sáng tỏ hơn
sao trên giời
Chiếu hoa thời anh giải cho
em ngồi
Đêm nằm thời mơ tưởng dạo
chơi vườn đào
Nước trong thời nó sắc hơn
dao
Trứng gà thời mơn mởn, lòng
đào thì em bảo anh.”
Một số hát hội khác
Ngoài ra còn nhiều loại hát
giao duyên như Hát Ghẹo Thanh Hóa, Hát Ghẹo Long Xuyên, Trống Quân Phú Thọ, Trống
Quân Đức Bắc, Trống Quân Hữu Bổ, Hát Đúm Hải Dương.
Hát đò đưa thuộc huyện Thụy
Anh, Thái Bình chỉ hát lúc đò đi trên sông, chứ không hát khi đò cặp bến. Có
hai loại hát đò đưa: hát đường trường được hát lúc đông thuyền bè cùng đi trên
sông, trai gái hát đối đáp tỏ tình với nhau, và hát bỏ lửng là hát một mình
mang tính chất kể chuyện trong các sinh hoạt làm việc có loại hát Ví và hát Giặm
rất thịnh hành ở miền Bắc nhứt là ở Nghệ An và Hà Tĩnh. Loại hát ví được đổi
thành những tên khác nhau theo sinh hoạt: hát phường vải (Nghệ An), hát phường
cấy, hát phường buôn, hát chặt củi, hát ví đò đưa, hát phường chiếu, hát phường
vá lưới, hát chăn trâu, vv.. Hát Phường Vải ở Nghệ An chú trọng về thi thố văn
chương. Hát phường cấy thịnh hành hơn. Mỗi ngành làm việc đều dùng cách hát đối
đáp tình tứ để vơi bớt cơn mệt và chọc phá cho thoải mái.
Hát hội hay hát đối đều mang
những đặc điểm chung như sau
Người hát, làng xã, phải đối
nhau chẳng hạn nhóm nam ca sĩ đối lại với nhóm nữ ca sĩ, và thuộc làng xã khác
nhau
Hầu hết đều là tình ca để
đưa đến hôn nhân.
Ðặc tính đoàn thể rất được
nhấn mạnh, như trong quan họ có tục kết bạn và phải thuộc vào gia đình quan ho
Truyền thống này được thấy ở hát ghẹo ở Thanh Hóa, và hát xoan ở Phú Thọ có tục
lệ "nước nghĩa".
Thi đua là một trong những đặc
tính quan trọng. Trong một cuộc hát đối, các người hát thi đua về trí nhớ, lời
ca, óc nhạy bén, phải tùy cơ ứng biến, khi gặp khó khăn, tài sáng tác tùy hứng,
và kỹ thuật ca hát phải có trình độ cao. Do đó, các làng xã xứ ta thường hay tổ
chức hát lấy giải.
Ðặc tính bán chuyên nghiệp.
Người hát quan họ phải thuộc một số bài căn bản, phải luyện tập thường xuyên.
Do đó mới có tục lệ ngủ bọn, nghĩa là các người hát cùng chung một nhóm thường
tựu hợp ở nhà của một người trong bọn, ăn ngủ tại đó để có thì giờ học tập với
nhau và tập hát gọi là bẽ giọng.
Hát hội xảy ra trong một phạm
vi địa lý nhỏ hẹp, nhất là ở Bắc Ninh, Thanh Hóa, Phú Thọ miền Bắc xứ Việt Nam
mà thôi.
Mỗi cuộc thi hát như thế thường
chia làm ba hay bốn giai đoạn:
+ Hát mời ăn trầu trong trống
quân
+ Hát giọng lề lối trong
quan họ
+ Hát dạo, hát chào, hát mừng,
hát hỏi trong hát phường vải
+ Hát dạo, hát mừng, hát
thăm trong hát ghẹo
Sau khi hát mở đầu thì đến
phần hát thi. Phần này, bắt đầu các bài hát khó vì phải sáng tác tại chỗ, như
hát trả lời câu đố trong trống quân, giọng sỗng, giọng vặt trong quan họ,hát đố,
hát đối trong phường vải, và hát đối, hát đố, hát xe kết trong hát ghẹo. Chẳng
hạn như trong bài hát trả lời câu đố trong trống quân, bên gái ra câu đố thì
bên trai phải giải cho trúng và đố lại. Bên nào không đối được thì kể như thua.
Loại hát này được đệm bằng một nhạc khí đặc biệt là cây trống quân hay thổ cô.
Một cây mây dài bốn, năm thước căng vòng cầu bắt ngang một cái hố được đào ngay
điểm giữa cây mây. Một người hát đánh vào cây mây để đệm, tạo âm thanh giống
như tiếng trống.
Cuộc thi hát tiếp tục sang
giai đoạn ba với các bài hát khen tặng trong trống quân, hát mời, hát xe kết
trong phường vải, và giọng hãm, giọng huỳnh trong quan họ.
Sau cùng là hát tiễn như
trong phường vải, hát giã bạn trong quan họ, hát thề, hát dặn, hát tiễn trong
hát ghẹo.
Hò
Hò từ chữ HÔ mà ra, có nghĩa
là làm cho giọng mình manh hơn. Do đó, Hò thường đi đôi với việc làm nặng như
kéo gỗ, chèo thuyền, đập đạ Nhưng hò cũng có thể hát lúc nghỉ ngơi, lúc hội hè,
lúc đám tang như hò đưa linh, và có khi dính liền với một vùng nào đó như hò
Nghệ An, hò Thanh Hóa, hò Sông Mã, hò Ðồng Tháp.
+ Hò trong lúc làm việc, tiết
điệu ăn khớp với động tác, và thường dùng những chữ như dô ta, rố khoan, hụ là
khoan, vv...
+ Hò trong lúc nghỉ xả hơi,
thường là hò đối giữa trai gái có tính cách đùa giỡn, chọc ghẹo hay tỏ tình.
+ Hò trong lúc lễ hội, thường
là hò đối đáp để tranh giải.
Hò làm việc thường hò đông
người với nhaụ Một người hò trước và tất cả phụ họa theo saụ Người hò chánh gọi
là hò cái và những người phụ họa gọi là hò con. Hò chia làm hai phần: lớp trống
hay vế kể thì do một người hát, còn lớp mái hay vế xô thì do toàn thể phụ họa.
Ở miền Nam, hò thường nghe
trên sông, hay lúc làm việc ngoài ruộng. Mỗi tỉnh, mỗi vùng có những loại hò đặc
biệt. Do đó có tên gọi như hò Bến Tre, hò Cần Thơ, hò Ðồng Tháp.
Ở tỉnh Bến Tre, có thể có loại
hò như sau:
Hò ớ ơ Xứ nào vui cho bằng xứ
Cù Lao, ớ ợ Hò ớ ợ Tiếng muỗi kêu như ống sáo thổi Bông mọc như hàng rào sương
lý, ớ ợ Hoặc xuyên qua câu hò, chúng ta có thể biết người hò thuộc địa phương
nào như:
Hò, ớ ơ.
Ghe anh nhỏ mũi trắng lườn
Ở trên Gia Ðịnh xuống vườn
thăm em, ớ ơ.
Hò miền Nam gồm có hò
ba lý xuất xứ từ bài Bá Lý Hề của cải lương rất được thông dụng giữa các ca sĩ
chuyên nghiệp. Hò theo điệu ai oán dùng để kể chuyện. A li hò lờ xuất hiện khoảng
50 năm nay thôi, dùng thể thơ lục bát. Hò lô tô, hò cấy, vv... Các loại hò thường
được ứng khẩu tùy hứng, nhạc thì chỉ có một giai điệu duy nhứt, hay theo một
thang âm đặc biệt miền Nam (do-mib-fa-sol-la-do).
Miền Trung là nơi tập
trung của nhiều loại hò và nhiều giai điệu hơn hai miền Bắc và Nam. Ngoài loại
hò làm việc, hò đối, còn có hò đưa đám mạ Ở Thanh Hóa có hò sông Mã được chia
làm năm loại hò tùy theo giai đoạn: hò rời bến, hò đò ngược, hò đò xuôi, hò mắc
cạn, hò cập bến, với các đoạn kể, xô nhịp nhàng theo nhịp một, nhịp hai.
Trong khi chèo thuyền, chúng
ta còn được nghe các loại hò mái xấp, hò mái nhì, hò mái đẩy. Có giả thuyết cho
rằng mái có nghĩa là mái chèo, và còn có giả thuyết khác nữa cho rằng mái là
đàn bà đối với trống là đàn ông. Còn xấp có nghĩa là mau hơn, nhì có nghĩa là
đôi, là phải hát hai lần, còn đẩy có nghĩa là làm cho thuyền đi tớị Ở vùng Thừa
Thiên, Quảng Trị còn nghe hò mái ba nghĩa là phải hát ba lần.
Các loại hò làm việc như hò
đạp nước, hò tát nước, hò khiêng nước, hò xay lúa, hò giã gạo, hò giã đậu, hò
giã vôi, hò mài dừa,v.v...
Khi leo giốc, thì có hò leo
dốc. Khi đập đá thì có hò nện hay hò hụị Tiết tấu rất nhanh, và theo nhịp đập đạ
Người kể hát một đoạn, thì toàn thể hát "hụ là khoan" để làm tăng sức
mạnh khi làm việc.
Ở miền Bắc, hò đẩy xe, hò
kéo gỗ rất được phổ thông. Một người hát một câu thì cả đám hát rố khoan, rố
khoan rố khuầy hay hố khoan trong điệu bắt cái hố khoan hay bắt cá hò khoan do
các người chài lưới hát. Ngoài ra, chúng ta còn tìm thấy điệu hò giã vôi và hò
dứt chỉ ở miền Bắc nữa.
Hầu hết các điệu hò ở Việt
Nam đều dùng thể thơ lục bát với thể thức thêm những chữ không có nghĩa vào như
"là hụ là khoan, rố khoan rố khuầy", v.v... Với nghệ thuật ngắt câu
khác nhau tùy theo từng điệu hò hoàn toàn khác biệt và phong phú qua tài sáng
tác của các người dân quê, kho tàng dân ca do đó ngày càng to lớn hơn và xuyên
qua các lời ca trong điệu hò, chúng ta thấy một nền văn chương bình dân phản ảnh
trung thực ngôn ngữ của tiếng nói Việt Nam.
Lý
Là một loại dân ca đặc sắc của
Việt Nam. Lý có ở cả 3 miền Bắc, Trung, Nam của Việt Nam, nhưng có lẽ lý phát
triển mạnh nhất ở Nam bộ. Miền Nam có rất nhiều điệu hò và lý. Những bài nào
không thuộc vào hò thì là lý. Có Lý chim khuyên, Lý bông lựu, Lý chuồn chuồn,
Lý cây chanh, Lý chè hương, Lý bỏ bìa, Lý con khỉ đột, Lý ngựa ô, Lý quạ kêu. (Xem
bên dưới Lý Ba Miền & Lý Nam Bộ)
Dân ca Việt Nam rất
phong phú, đa dạng, dính liền với bài ca hơn là với dàn nhạc, và nhạc khí. Dân
ca đi liền với tiếng hát ru, đồng dao, trò chơi trẻ em, đến các điệu hò, lý,
các điệu hát trong khi làm việc, trong các lễ hội tạo cơ hội cho thế hệ gặp
nhau qua các loại hát giao duyên, qua tục "nước nghĩa", "kết bạn",
"ngủ bọn ". Mức sáng tác bài bản mới vượt qua những thể loại nhạc
cung đình, nhạc bác học, nhạc thính phòng và đưa vào trong văn chương bình dân
những đóng góp đáng kể (hát quan họ, hát phường vải). Phần nhiều chỉ có tùy hứng
lời trên một điệu nhạc (hát trống quân, cò lả). Chỉ có hát quan họ là vừa sáng
tác lời lẫn nhạc. Hiện có trên 700 làn điệu khác nhau trong truyền thống hát
quan họ. Hiểu được dân ca Việt Nam sẽ mang lại một niềm tự hào cho chính mình,
tạo một sự hãnh diện trong lòng khi xứ mình có một nền văn học dân gian phong
phụ Ngoài dân tộc Việt hay Kinh, chúng ta còn có 53 sắc tộc anh em sống rải rác
trên khắp lãnh thổ Việt Nam với hàng trăm thể loại dân ca, nhạc khí hoàn toàn
khác với dân tộc Việt.
Sơ Lược Về Dân Ca Nam Bộ
Nói đến nghệ thuật ca hát
dân gian cổ truyền Nam Bộ mà chỉ đóng khung trong một số làn điệu vọng cổ hay
bài bản cải lương, ca nhạc tài tử, thì quả chưa đầy đủ. Mặc dầu chúng ta không
phủ nhận tính hấp dẫn, yếu tố truyền cảm gây xúc động mạnh của các thể loại ca
hát đó, nhưng đứng trên góc độ nghiên cứu mà xem xét, thì sự phiến diện nói
trên có thể đưa đến những nhận định không toàn diện, và hiện tượng nhầm lẫn giữa
ngọn và gốc có thể xảy ra. Nội dung vấn đề trao đổi của bài viết này nhằm tìm
hiểu tính chất phong phú của nền dân ca Nam Bộ, một bộ phận trong kho tàng âm
điệu dân gian phong phú và quí báu của đất nước ta.
Nói đến Nam Bộ, chúng ta
nghĩ đến một vùng đất màu mỡ có phong cảnh thiên nhiên xinh đẹp hữu tình, có
tài nguyên giàu có, trù phú. Không thể quên được con người Nam Bộ với tính tình
cởi mở, hào hiệp, nặng nghĩa nhiều tình... mà hình như đất nước thiêng liêng đã
dành riêng cho mảnh quê phương Nam này! Từ Đồng Nai, Long Khánh, Biên Hòa, Đất
Đỏ... với những lô cao su thẳng tắp, bạt ngàn, sừng sững hiên ngang... như muốn
vươn lên hàng triệu cánh tay xanh biếc, rậm dày... che kín cả khoảng trời mênh
mông... chúng ta đi dần xuống miền châu thổ Cửu Long với những cái tên nghe
"là lạ" "dễ thương" như: Mỹ Tho, Bến Tre, Long Xuyên, Cần
Thơ, Rạch Giá... băng qua những "tấm thảm vàng tươi" đang óng ánh
trĩu cành phơi mình dưới ánh nắng chói chang của miền gần xích đạo.
Sau đó, chúng ta sẽ được nhẹ
nhàng, ung dung khua từng nhịp chèo nhặt khoan trên những dòng kênh lăn tăn gợn
sóng, dưới những rặng dừa xanh vào những buổi chiều êm đẹp... rồi để có dịp
bâng khuâng nghe những câu hò về đêm ngân vang dòng sông, bến nước... và khi tới
tỉnh Minh Hải lắm cá nhiều tôm, đặt chân lên mũi Viên An, mỏm đất tận cùng của
quê hương phương Nam... nghe biển Đông sóng vỗ quanh năm, một lần nữa, chúng ta
càng được khẳng định thêm về khả năng vĩ đại chinh phục thiên nhiên, cải tạo hiện
thực của con người trước bao nhiêu biến cố. Phải chăng phong cảnh thiên nhiên của
thực tại vốn tràn đầy thơ mộng, nên càng khơi nguồn âm điệu dạt dào cho dân ca
Nam Bộ giàu chất trữ tình, đậm màu thi vị... chắp cánh cho những hoài bão ước
mơ sớm trở thành hiện thực...
Chúng ta hãy làm quen với một
đoạn hò tâm tình:
... hò ơi!... Nho nhỏ như
ai, chớ còn nho nhỏ như em đây luôn chặt dạ bền lòng. Dẫu cho nước Đồng Nai có
chảy cạn, đá Đồng Nai có bị mòn, thì thủy chung như nhứt, trước sau em vẫn giữ
sắt son lời nguyền... ơ
(Hò miền Đông Nam Bộ)
Hay những lời "oán
trách" nhau trong điệu hò Trà Vinh:
Hò ơi... Tay cắt tay bao nỡ...
ruột cắt ruột sao đành! Một lời thề biển cạn non xanh. Chim kêu dưới suối, vượn
hú trên nhành, qua không bỏ bậu ơ ơ... mà sao bậu đành bỏ qua ơ ơ...
Cũng như tên nhiều miền của
đất nước, hò là một điệu dân ca phổ biến ở Nam Bộ nói riêng. Hò được gắn liền với
sông nước, với khung cảnh êm ả, phẳng lặng. Với một âm hưởng phóng khoáng, tự
do, mang ít nhiều nhân tố "tự sự", "vịnh thán", hò thường
được dùng để ngợi ca hay đề cao một đạo lý tốt đẹp nào đấy như lòng chung thủy
sắt son, niềm tin yêu chặt dạ bền lòng... Âm điệu của các thể loại hò ở từng địa
phương thường không giống nhau về chi tiết luyến láy, về cách xử lý các
"âm điệu" giữa câu, hay có đôi khi cũng khác nhau về kết cấu toàn bộ.
Thí dụ như: hò Đồng Tháp thì kết ở một nốt thuộc "át âm", nhưng trong
lúc đây, tuy cùng một điêu thức "xon", nhưng hò Miền Đông, hò Bạc
Liêu, hò Gia Ninh, thì lại dùng nốt chủ âm để kết hoàn toàn.
Việc xử lý kếu cấu này tùy
thuộc vào phong cách, vào nội dung của từng vùng, nhằm thể hiện được tính cách
riêng biệt, màu sắc độc đáo, chứ không phải là không có dụng ý. Thông thường do
ý nghĩa của nội dung lời hò giữ vai trò quyết định, nên giai điệu của hò này được
tiến hành theo đường nét bình ổn, "lên dần" hoặc "xuống dần",
cố tránh những bước nhảy quãng đột xuất, nhằm tạo ra một phong vị êm đềm, nhẹ
nhàng như kiểu "ngân nga, tự sự", nặng đi vào chiều sâu lắng hơn là ầm
ĩ, huyên náo. Hoàn cảnh xã hội ngày càng thay đổi, nên nội dung và hình thức hò
cũng được cải biên và bổ sung cho thích hợp. Ví dụ như, khi Mặt trận Bình dân
bên Pháp chiếm được nhiều thắng lợi trên địa hạt chính trị, thì ở Nam Bộ, kế
bên những loại hò mộc, hò huê tình, hò đối, hò thơ, hò truyện... lại xuất hiện
thêm một loại hò gọi là hò quốc sự. Nội dung hò quốc sự đề cập đến những vấn đề
chính trị cổ vũ và động viên tinh thần yêu nước của quần chúng. Sau đây là một
đoạn của hò quốc sự.
Nữ (vấn):
Hò ơi! Trên đời mọi vật bẩn
nhơ
Đều nhờ rửa nước trở nên
trong lành
Đến khi nước phải nhơ tanh
Lấy gì mà rửa xin anh phân
cùng...
Nam (đáp):
Hò ơi! Em ơi trải bao thế hệ
oai hùng
Nước nhà lâm nạn anh hùng ra
tay
Hi sinh bao quản thân dài
Nội dung lớn của hò phần lớn
dựa trên cơ sở của lối thơ lục bát, nhưng khi xử lý thì có thể giữ nguyên, hoặc
có khi lại mở rộng dài hơn để khớp với âm điệu của câu hò. Vì thế việc sáng tác
ra những câu hò được đông đảo quần chúng tham gia dễ dàng và nhanh chóng thu
hút được sự hâm mộ của quần chúng. Về tháng bảy âm lịch, thường là mùa cấy rộ
và cũng là lúc mà các "vạn" cấy (như phường, hội) được có dịp trổ tài
vừa cấy giỏi lại vừa hò hay... và dĩ nhiên sau những lần gặp gỡ, biết mặt... biết
tài nhau... là đến những lời hò hẹn cho những ngày sau mùa gặt hái...
Kế bên những điệu hò trữ
tình, êm dịu, dân ca Nam Bộ còn bao gồm những bài hát lý (hay là những điệu
lý). Lý là những khúc hát ngắn gọn, vui tươi, dí dỏm, mang tính chất lạc quan
yêu đời rõ nét với các nhịp điệu phong phú và sinh động.
Như bài Lý ngựa ô (Nam
Bộ):
Lý con ngựa... ngựa ô (2 lần)
Anh tra khớp bạc, lục lạc đồng
đen
Búp sen lá đậm - Dây cương đầm
thấm
Cán roi anh bịt đồng thà...
Lá anh í a đưa nàng... là
anh đưa nàng về dinh (2 lần)
... Nhưng cũng có khi, lý lại
được pha lẫn vào chút ít màu sắc trữ tình man mác như bài Lý lu là:
Ai về giòng dứa mà qua
truông
Nhắn thăm lu là với bậu ơ bậu
ơi!
Bỏ buồn cho nàng ơi! mà cho
ai?
Bỏ buồn cho nàng ơi! mà cho
anh!
Xét về phương diện âm hưởng
nói chung toát ra từ các điệu hò và Lý Nam Bộ, chúng ta rút ra được chất tinh
khiết, chân thật, tuy mộc mạc, pha lẫn chút ít âm điệu mênh mông của hò, với nhịp
điệu sinh động, vui phơi phới đầy tươi mát của các điệu lý. Đặc biệt về mặt kết
cấu, lý cũng có những phân biệt câu cú, khúc, đoạn rõ ràng. Sự trình bày phần
âm điệu được mạch lạc, có tính nhất quán toàn bộ, và dễ phát hiện, không cầu kỳ,
phức tạp, ngổn ngang.
Cách vận dụng và xử lý các hệ
thống điệu thức dân gian 5 cung hoặc 7 cung, hoặc 5 cung có thêm bớt bất thường
trong thể loại lý, càng tạo thêm được nhiều sắc thái về giọng điệu, càng làm
phong phú thêm, mở rộng ra nhiều khả năng kết hợp chặt chẽ giữa âm điệu và ngôn
ngữ. Hiện nay, theo chỗ chúng tôi được biết thì các cơ sở nghiên cứu đã sưu tầm
và chỉnh lý hơn 40 điệu lý như: Lý con sáo, Lý giao duyên, Lý cây bông, Lý chúc
rượu, Lý chia tay, Lý cây gòn, Lý con chuột, Lý bình vôi v.v...
Mỗi điệu lý nói trên đều có
một nội dung rõ rệt, hoặc phổ biến những kinh nghiệm sản xuất (như Lý đất dòng
chẳng hạn), hoặc ca ngợi những đức tính tốt trong cuộc sống (như Lý Ba Tri),
cái đẹp trong thiên nhiên (Lý cây xanh) hoặc oán trách nhau (như Lý lu là) hoặc
mỉa mai, châm biếm bọn lý trưởng, cường hào (như Lý con chuột, Lý bình vôi, Lý
con sam). Các chủ đề nhạc trong các điệu lý rất nhiều vẻ, dưới những hình thức
rất độc đáo, nhưng lại rất quen thuộc với phong vị cổ truyền của quần chúng từ
lâu đời.
Trong quá trình cải biên, bổ
sung, dĩ nhiên có một số chủ đề trong các điệu lý được sáng tạo, nâng cao.
Trong số ấy, chúng ta có thể lấy bài Ru con làm ví dụ. Từ bái Lý giao duyên của
vùng Trị Thiên, bài Lý giao duyên của Nam Bộ đã tiến lên trong một quá trình
hoàn chỉnh hơn dưới một tựa đề mới là Ru con. Đó cũng là một quy luật, một đặc
điểm cần lưu ý khi nghiên cứu vốn dân gian cổ truyền để chúng ta phân biệt được
tính giao lưu và tính bổ sung đổi mới luôn luôn của nó.
Dân ca là một mảnh đất trù
phú, một kho tàng âm điệu vô tận, nơi tập trung của tất cả những nhân tố thể hiện
trực tiếp nhất, sinh động nhất tính cách dân tộc của một địa phương hay một dân
tộc nào đó. Và nền âm nhạc chuyên nghiệp với tất cả những hình thức phong phú
muôn màu muôn vẻ của nó cũng đều bắt nguồn từ di sản dân tộc, từ vốn cổ truyền
của thế hệ trước để lại. Vì thế, tìm hiểu được kho tàng quý báu ấy đã là một
chuyện không dễ, nhưng cái khó hơn hết, cái quyết định hơn hết là cần phải biết
gạn đục, khơi trong, phải biết chọn lọc, lấy ra cái gì "tinh" nhất để
phục vụ tốt cho cái hiện tại. Đó là vấn đề rất thiết yếu mà các nhạc sĩ nghiên
cứu, sáng tác, biểu diễn, huấn luyện, không riêng cho một địa phương nào, đều
nhận thấy trách nhiệm của mình trước nhân dân trong việc xây dựng một nền văn học
nghệ thuật tiên tiến có tính chất dân tộc và tính nhân dân sâu sắc.
Nhạc dân ca 3 miền
hay nhất của NSND Thu hiền












Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét