Người ta thường nói Xuân
Hương vì tài cao nên trắc trở đường tình duyên: lấy phải Tổng Cóc dốt nát, lấy
ông Phủ Vĩnh-tường xứng đôi hơn nhưng lại phải làm lẽ... song đấy là truyền
thuyết. Mãi đến khi đọc "Long-biên trúc chi từ" của Tùng Thiện vương
(1), làm khi theo vua Thiệu-Trị ra Thăng-long tiếp sứ nhà Thanh sang phong
vương (1842), ta mới có bằng chứng Xuân Hương quả có thật và đã vất vả về đường
tình. Bài thơ gồm 14 đoạn, đoạn 8 và 9 vịnh cảnh Hồ Tây có nhắc đến Xuân Hương.
Thơ chữ Hán:
Tĩnh đầu liên hoa khai mãn
trì,
Hoa nô chiết khứ cung thần ti.
Mạc hướng Xuân Hương phần thượng quá,
Tuyền đài hữu hận thác khiên ti.
Trụy phấn tàn chi thổ nhất dinh,
Xuân Hương qui khứ, thảo thanh thanh!
U hồn đáo để kim như tuý,
Kỷ độ xuân phong xuy bất tinh!
Hoa nô chiết khứ cung thần ti.
Mạc hướng Xuân Hương phần thượng quá,
Tuyền đài hữu hận thác khiên ti.
Trụy phấn tàn chi thổ nhất dinh,
Xuân Hương qui khứ, thảo thanh thanh!
U hồn đáo để kim như tuý,
Kỷ độ xuân phong xuy bất tinh!
Ðại ý nói:
Sen Tịnh-đế nở đầy hồ,
Cô hầu gái hái hoa để cúng thần.
Ðừng dẫm lên mộ Xuân Hương nhé,
Ở suối vàng nàng còn ôm hận rút nhầm tơ (duyên).
Phấn rụng, cành tàn, một gò đất,
Xuân Hương đi về, cỏ xanh xanh.
Cho đến giờ u hồn còn như say ngất,
Mấy độ gió xuân thổi vẫn không tỉnh (2).
Cô hầu gái hái hoa để cúng thần.
Ðừng dẫm lên mộ Xuân Hương nhé,
Ở suối vàng nàng còn ôm hận rút nhầm tơ (duyên).
Phấn rụng, cành tàn, một gò đất,
Xuân Hương đi về, cỏ xanh xanh.
Cho đến giờ u hồn còn như say ngất,
Mấy độ gió xuân thổi vẫn không tỉnh (2).
Căn cứ vào mấy câu thơ trên,
ta biết chắc chắn đến năm 1842 thì Xuân Hương đã mất, tuy không rõ mất năm nào
nhưng mộ đã "xanh ngọn cỏ" và nàng quả đã "rút nhầm tơ
duyên"...
Vấn đề rắc rối từ năm 1963,
khi ông Trần Thanh Mại phát hiện ra tập Lưu Hương Ký (LHK) - mà tác
giả đích thực mang tên Hồ Xuân Hương- và bài "Tựa" LHK của Tốn Phong
Thị. Xuân Hương trong tập LHK cũng lận đận về đường tình, nhưng phong cách thơ
LHK thì khác hẳn những bài thơ truyền tụng (TTT) mà ai cũng biết. Từ đó (1963),
các nhà nghiên cứu chia thành hai nhóm : một nhóm tin tác giả LHK cũng chính là
tác giả những bài TTT, nhóm kia còn ngần ngại.
Dưới đây, tôi lần lượt trình
bầy từng mối tình của tác giả TTT và của tác giả LHK trong hai phần riêng rẽ, dựa
vào những tài liệu đã công bố trên sách báo, để minh chứng rằng trong hiện tình
chúng ta chưa thể xác quyết tác giả LHK và tác giả TTT là một người.
I- TÌNH DUYÊN CỦA TÁC GIẢ
THƠ TRUYỀN TỤNG (thơ chữ Nôm)
|
Số phận hẩm hiu, Xuân Hương
có ít nhất là hai đời chồng là Tổng Cóc và ông Phủ Vĩnh-tường, và ít ra cũng một
lần làm lẽ, còn Chiêu Hổ tuy đôi khi tỏ ra suồng sã nhưng chỉ là bạn xướng họa.
A- TỔNG CÓC
1 - Không ai biết đích xác
tên tuổi, gốc tích của Tổng Cóc. Có người cho là Xuân Hương lấy lẽ ông Phủ
Vĩnh-tường trước, góa chồng rồi mới lấy Tổng Cóc, tức là "lấy xuống".
Nhưng cũng có người, như ông Nguyễn Hữu Tiến trong Giai nhân dị mặc, cho
là lúc trẻ Xuân Hương bị mẹ ép uổng phải lấy cường hào Tổng Cóc trước. Tổng Cóc
đã dốt nát lại có tính ăn chơi bạt mạng, sau một lần đánh bạc thua nhẵn túi,
gia sản khánh kiệt nên tiếc của mà chết. Xuân Hương bèn làm bài thơ nổi tiếng
"Khóc Tổng Cóc" lời lẽ trào phúng, bởi đối với ông chồng không xứng ý
này nàng không có chút cảm tình nào.
2 - Khoảng năm 1989, ông
Nguyễn Hữu Nhàn viết bài "Phóng sự điền dã", theo những tài liệu của
ông Dương văn Thâm (3), cho biết Tổng Cóc là người Tứ xã, tên thật là Kình, tự
là Nguyễn công Hòa, "Cóc" là tên gọi xấu xí lúc bé để đánh lừa cho ma
quỷ khỏi bắt đi. Tên "Cóc" sở dĩ được nhiều người biết là vì bài thơ
của Xuân Hương. Tổng Cóc làm đến chức Phó Tổng, vốn dòng dõi Nguyễn Quang Thành
(đỗ Tiến-sĩ năm 1680), là một nho sinh từng xướng họa với Xuân Hương chứ không
phải dốt nát như người ta lầm tưởng. Thí dụ có lần Xuân Hương ra vế :
Tối ba mươi khép cánh càn
khôn kẻo nữa ma vương đưa quỷ tới.
Tổng Cóc liền đối :
Sáng mồng một mở then tạo
hóa để cho thiếu nữ rước xuân vào.
Tổng Cóc có tính ưa ăn chơi,
lấy Xuân Hương cũng là người hoang phí lại thêm nghệ sĩ tính. Chẳng bao lâu cửa
nhà sa sút, vợ cả ghen, Tổng Cóc bỏ đi biệt sau khi để lại một lá thư từ giã,
Xuân Hương lúc ấy đã có thai ba tháng. Xuân Hương sau cũng bỏ nhà đi, sinh hạ một
con gái nhưng không nuôi được, lúc ấy đang làm lẽ ông Phủ Vĩnh-tường. Tổng Cóc
dò tìm đến nhưng không dám giáp mặt, Xuân Hương làm bài "Khóc Tổng
Cóc" gửi chồng cũ, thực sự là khóc cho mối tình cũ của mình chứ không phải
trào lộng khóc Tổng cóc chết như ta vẫn tưởng vì như thế tỏ ra Xuân Hương ác,
không nhân hậu., theo tác giả
Những chứng tích được nêu ra
là :
- Căn nhà của Tổng Cóc đã cưới
Xuân Hương hiện là nhà ông Kiều Phú, xã Sơn-dương (xã này, cũng như Tứ xã, đều
thuộc huyện Phong-châu, Vĩnh-phú), vách bằng ván gỗ mít, còn lờ mờ vết chữ của
Xuân Hương.
- Trên bàn thờ gia tiên ông
Bùi văn Thắng, xã Tứ-mỹ, còn đôi bình tiện bằng gỗ mít, bị cưa chỗ loe miệng, một
thời bị rẻ rúng bỏ lăn lóc. Trên mỗi bình có hai câu thơ chữ Hán do chính tay
Xuân Hương viết:
Thảo lai băng ngọc kính (=
nói đến tấm gương bằng ngọc)
Xuân tận hóa công hương (= hóa công cũng chịu lúc tàn xuân)
Xuân tận hóa công hương (= hóa công cũng chịu lúc tàn xuân)
Ðộc bằng đan quế thượng (=
chi bằng lúc vin cành quế đỏ)
Hào phóng bích hoa hương (= tha hồ hoa biếc tỏa hương thơm)
Hào phóng bích hoa hương (= tha hồ hoa biếc tỏa hương thơm)
- Nhà thờ tổ dòng họ Tổng
Cóc nay là nhà ông Nguyễn Bình Lưu. Ông Dương văn Thâm vẫn còn nhớ đôi câu đối
treo trên cột...
B- ÔNG PHỦ VĨNH TƯỜNG
1 - Theo ông Ngô Lãng Vân
thì sau khi góa Tổng Cóc, Xuân Hương mở quán làm kế sinh nhai. Những khách hâm
mộ văn tài tìm đến xin xướng họa rất nhiều, trong số có một ông giải nguyên (đỗ
thủ khoa thi Hương). Xuân Hương ra đề : "Thạch liên thiên" (= thơ vịnh
đá liền với trời), ông giải nguyên cắn bút nghĩ mãi chỉ ra được bốn chữ "Thiên
thạch như lai ", Xuân Hương cho người ra bảo :"Nếu không làm được
thì xin về thôi, ngồi ngậm bút mãi làm gì ?". Ông giải nguyên uất quá ngất
đi, Xuân Hương thương hại viết nối cho thành hai câu thơ đầu :
Thiên thạch như lai bản thượng
huyền (= trời với đất xưa nay rất huyền bí)
Nhất triều vân vũ thạch liên thiên (= nhưng gập trận mưa thì đá liền với trời)
Nhất triều vân vũ thạch liên thiên (= nhưng gập trận mưa thì đá liền với trời)
Ông giải nguyên nhân đấy viết
nốt được hai câu cuối :
Bổ thiên thạch hữu kỳ công tại (=
đá có kỳ công đã vá trời)
Thiên thạch tương liên tự cổ truyền (= như vậy từ xưa đá với trời dính liền với nhau)
Thiên thạch tương liên tự cổ truyền (= như vậy từ xưa đá với trời dính liền với nhau)
được Xuân Hương khen hay.
Sau nhiều lần xướng họa, Xuân Hương trở nên vợ lẽ ông giải nguyên, sau này
thành ông Phủ Vĩnh-tường (4).
2 - Ông Phủ Vĩnh-tường"
là Trần Phúc Hiển?
Trong Quốc sử di biên, Phan
Thúc Trực (1808-52) có viết về một ông Tham hiệp trấn Yên-quảng bị án tử hình
khoảng 1818/9 về tội tham nhũng, có nhắc đến người tiểu thiếp của ông này :
Kỳ tiểu thiếp Xuân Hương,
năng văn, chính sự. Thời xưng tài nữ (5)
Năm 1973, ông Lê Xuân Giáo dịch
là :"Người tiểu thiếp của quan Tham hiệp lúc đó tên là Xuân Hương vốn hay
văn chương và chánh sự nên được người đương thời khen ngợi là 'nữ tài tử'
". Trong phần chú thích ông Lê Xuân Giáo viết thêm : "Xuân Hương
đây tức là Hồ Xuân Hương lừng danh thời Lê mạt, Nguyễn sơ mà ai cũng biết "
và kết luận rằng nữ sĩ có tới ba đời chồng chứ không phải hai: Tổng Cóc, ông
Phủ Vĩnh-tường, và cuối cùng là quan Tham hiệp Yên-quảng. Không rõ căn cứ vào
đâu ông Lê Xuân Giáo khẳng định rằng người tiểu thiếp ấy chính là Hồ Xuân
Hương? và thêm :"lấy độ một năm thì quan Tham hiệp bị tử hình "
(6).
Năm 1983, GS Hoàng Xuân Hãn
cũng cả quyết: "Chúng ta có thể tin chắc tài nữ này chính là tài nữ X. Hương mà ta từng quen biết " (7).
Sự thực Phan Thúc Trực chỉ
viết người tiểu thiếp tên là Xuân Hương chứ không nói họ của nàng, tôi ngờ
chính hai ông Lê Xuân Giáo và Hoàng Xuân Hãn đã suy đoán và thêm họ "Hồ"
vào.
Tuy nhiên, ông H.X. Hãn còn
căn cứ vào sáu bài thơ chữ Hán của Hồ Xuân Hương, tìm thấy trong Ðại Nam
dư địa chí ước biên, mục Quảng-yên, tựa đề :"Chu thứ Hoa-phong tức cảnh
bát thủ" (= Ðậu thuyền ở Hoa-phong tức cảnh làm tám bài) vịnh cảnh Hạ-long.
Trong số sáu bài còn lại thì bài cuối bị loại vì không ăn nhập với Vịnh Hạ-long.
Theo ông H.X. Hãn thì đời Gia-long, Yên-quảng (sau gọi là Quảng-yên) chia làm ba
huyện mà huyện Hoa-phong gồm các đảo trên Vịnh Hạ-long, và những bài thơ vịnh cảnh
Hạ-long là bằng chứng nữ sĩ đúng là người tiểu thiếp của quan Tham hiệp Yên-quảng.
Ông còn tìm tòi và khẳng định quan Tham hiệp ấy tên là Trần Phúc Hiển, tuy
không rõ đỗ gì, nhưng năm 1813 được từ Tri phủ Tam-đái thăng lên chức Tham hiệp
Yên-quảng (phủ Tam-đái đến 1822 mới đổi tên thành phủ Vĩnh-tường). Ông kết luận
:
- Khi chết Trần Phúc Hiển giữ
chức "Tham hiệp" thì không có lý do gì để Xuân Hương khóc chồng với
chức "Tri Phủ", cũ xưa và thấp kém hơn;
- Trần Phúc Hiển chết năm
1819, Xuân Hương không thể khóc chồng với cái tên "Ông Phủ Vĩnh-tường"
bởi lúc ấy "Phủ Vĩnh-tường" còn mang tên cũ là "Phủ Tam-đái";
- Nếu quả Xuân Hương sinh
khoảng 1772, như ông H.X. Hãn đoán, thì đến 1819 nữ sĩ đã gần 50 tuổi, với số
tuổi ấy khó lòng có thể tái giá với một "ông Phủ Vĩnh-tường" nào
khác.
Do đó bài thơ "Khóc ông
Phủ Vĩnh-tường" chỉ có thể là ngụy tác (8).
Lập luận của Giáo sư H.X.
Hãn có thể coi là vững:
a - Nếu chắc chắn tác giả
TTT và tác giả thơ vịnh cảnh Hạ-long là một (nên nhớ ông Phủ Vĩnh-tường là chồng
tác giả TTT chứ không phải chồng tác giả thơ vịnh cảnh Hạ-long), sự kiện Trần
Phúc Hiển từng làm Tri phủ Tam-đái chưa phải là một bằng chứng đích xác ông là
chồng tác giả TTT vì còn có biết bao nhiêu ông Phủ Vĩnh-tường khác. Xét văn
phong thì TTT khác hẳn thơ vịnh cảnh Hạ-long khó có thể chấp nhận hai tác giả
là một người được.
b - Nếu không có sự xuất hiện
của một ông Phủ Vĩnh-tường thứ hai, ông Phạm Viết Ðại, cũng có vợ tên Xuân
Hương.
3 - Ông Phủ Vĩnh-tường là Phạm
Viết Ðại?
A- Trần Phúc Hiển không phải
là người duy nhất có thể là "ông Phủ Vĩnh-tường". Trong Tạp chí Văn
Học (Việt-Nam) số 3, 1974, ông Phương Tri cho biết ông Trần Tường đã phát
hiện ra ông Phủ Vĩnh-tường tên là Phạm Viết Ðại, dựa vào Trà-lũ xã chi, gia
phả và trí nhớ các cụ già làng Trà-lũ. Phạm Viết Ðại sinh năm 1802, đỗ Cử-nhân
năm 1842, năm 1862 được thăng chức Ðồng Tri phủ Vĩnh-tường, đến tháng 4, 1862
thì mất, cái chết có phần oan khiên. Các cụ già trong làng còn nhớ những giai
thoại và thơ xướng họa giữa Phạm Viết Ðại với người vợ kế tên Xuân Hương, một số
thơ, tuy có sai ít nhiều, đã được ông Nguyễn Hữu Tiến nhận đúng là của nữ sĩ họ
Hồ. Trần Tường còn nhận thấy nhiều bài thơ vịnh cảnh của Xuân Hương trùng hợp với
những nơi mà Phạm Viết Ðại đã từng làm quan : Ninh-bình (2 bài), Thanh-hóa (3
bài), Sơn-tây (3 bài) (9).
a - Gia phả họ Phạm nay đã mất,
chỉ còn bằng vào Giai nhân dị mặc của Nguyễn Hữu Tiến;
b - Trong Quốc triều
Hương khoa lục, Cao Xuân Dục chép Phạm Viết Ðại chỉ đỗ thứ 16 trên 20 người,
mà truyền thuyết thì nói ông Phủ Vĩnh-tường đỗ giải-nguyên;
c - Phạm Viết Ðại chết năm
1862. Nếu đúng như Lê Dư viết là Xuân Hương chết sau chồng vài năm thì nữ sĩ phải
mất vào khoảng 1864/5 trong khi Tùng Thiện Vương đã thấy mộ Xuân Hương từ năm
1842 (tức là năm họ Phạm mới đỗ Cử nhân). Hồ Xuân Hương chết trước hai mươi
năm, không thể làm thơ khóc Phạm Viết Ðại được, dù cho ông là "Ông phủ
Vĩnh Tường".
B- Tuy nhiên, lại có một
Xuân Hương chết năm 1869, dựa vào Xuân đường đàm thoại của Tam nguyên
Trần Bích San. Nhà nghiên cứu Ðào Thái Tôn tỏ ý nghi Xuân đường đàm
thoại chỉ là loại "văn chơi", thiếu độ tin cậy cao :"không
có giả thiết nào đứng vững nếu tin vào Xuân đường đàm thoại ".
Thế nhưng năm mất của Xuân Hương trong Xuân đường đàm thoại lại gần với
năm mất của Xuân Hương vợ kế của Phạm Viết Ðại hơn là với Xuân Hương trong thơ
Tùng Thiện Vương, và còn phù hợp cả với Xuân Hương sinh năm 1814 của Ngô Giáp Dậu
(11).
Ông H.X. Hãn tỏ ý nghi ngờ
thuyết cho ông Phủ Vĩnh-tường là Phạm Viết "Ðạt" (chính ra là "Ðại")
có người vợ kế "tên Xuân Hương mà họ coi là Hồ Xuân Hương. Họ lại thêm rằng
bà vợ đã làm thơ đối đáp với chồng... Sự tin được thuyết này hay không liên hệ
mật thiết với kết quả điều tra xem bài "Khóc ông Phủ Vĩnh-tường" có
được ghi nhớ một cách đặc biệt trong họ Phạm ở Trà-lũ hay không ?" (12).
Ðành rằng độ tin cậy của những
tài liệu này không thể bì với bài thơ của Tùng Thiện Vương song thuyết cho ông
Phủ Vĩnh-tường là Trần Phúc Hiển cũng không hơn, cũng chỉ là phỏng đoán, dựa
vào cái tên "Xuân Hường" và những chi tiết "tiểu thiếp, biết làm
thơ", song phong cách những bài thơ của người tiểu thiếp quan Tham hiệp chỉ
giống phong cách thơ trong LHK chứ không giống TTT nên ta chỉ có thể coi tác giả
thơ vịnh cảnh Hạ-long với tác giả LHK là một nhưng không thể khẳng định họ cũng
là một với tác giả những bài TTT nổi tiếng xưa nay, mà ông phủ Vĩnh-tường là chồng
tác giả TTT chứ không phải chồng tác giả LHK.
C- CHIÊU HỔ
Như trên đã nói, Chiêu Hổ
không phải là bạn tình của nữ sĩ mặc dầu trong thơ văn xướng họa có những lời lẽ
trêu cợt suồng sã. Chiêu Hổ được người đời biết đến chỉ nhờ những lời đối đáp,
xướng họa với Xuân Hương. Cũng như Tổng Cóc và ông Phủ Vĩnh-tường, Chiêu Hổ là
ai thì vẫn còn là một vấn đề chưa được giải quyết thỏa đáng.
1 - Chiêu Hổ là một Huyện
quan?
GS H.X. Hãn cho biết khoảng
1892/3, A. Landes, Ðốc lý Hà-nội, đã thuê người chép lại những bài thơ Nôm,
trong đó có cả thơ Hồ Xuân Hương. Theo bản này thì trước cửa nhà Xuân Hương có
đề "Cổ Nguyệt Hồ", quan Huyện đi qua bèn vịnh :
Nhà Cổ hãy còn đeo đẳng Nguyệt,
Buồng Xuân chi để lạnh lùng Hương (13).
Buồng Xuân chi để lạnh lùng Hương (13).
Phải chăng vì thế mà có thuyết
nói khi Chiêu Hổ thi đỗ được bổ chức huyện quan, Xuân Hương ghẹo:
Mặc áo Giáp, giải cài chữ
Ðinh, Mậu Kỷ Canh khoe mình rằng Quý.
Chiêu Hổ đối lại:
Làm đĩ Càn tai đeo hạt Khảm,
Tốn Ly Ðoài khéo nói rằng Khôn.
Vẫn theo bản của Landes,
Xuân Hương đã từng cùng quan Huyện đi ngoạn cảnh Ðèo Ba Dội, cầm tay nhau mà
leo lên. Xuân Hương xướng:
Trèo một đèo, lại một đèo...
Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo.
Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo.
Quan Huyện họa:
Ðã khỏi Ðèo Ông lại một đèo,
Nhác coi phong cảnh ngán trăm chiều...
Nhác coi phong cảnh ngán trăm chiều...
Ông H.X. Hãn đặt câu hỏi phải
chăng quan Huyện đây là Phạm Viết "Ðạt" (14)? quên rằng trước đó
chính ông đã tỏ vẻ nghi ngờ thuyết cho Phạm Viết "Ðạt" là ông Phủ
Vĩnh-tường.
2 - Chiêu Hổ là Phạm Ðình Hổ
(1768-1839)?
Một số người (Văn Tân, Trần
Thanh Mại v.v.) đoán Chiêu Hổ chính là Phạm Ðình Hổ. Nguyễn Triệu Luật còn viết
rõ rằng Chiêu Hổ, tức Phạm Ðình Hổ, cùng với Nguyễn Án (đồng tác giả Tang
thương ngẫu lục với Chiêu Hổ) và Xuân Hương được người đương thời mệnh
danh là "Tam tài tử" (15).
Thực ra Chiêu Hổ không thể
là Phạm Ðình Hổ vì nhiều lý do:
a - Phong cách hai người
khác nhau rất xa: Chiêu Hổ tính tình phóng túng, tai quái, ưa b"n cợt và
khi xướng họa với Xuân Hương thường chỉ dùng Nôm; Phạm Ðình Hổ tính tình
nghiêm cẩn đến câu nệ, lại có ý khinh chữ Nôm. Trong "Tự thuật" ông
viết :"Có người đem những sách truyện Nôm và những trò thanh sắc, nghề cờ
bạc rủ rê chơi đùa thì ta bịt tai lại không muốn nghe. Ta đã học v" được
ít kinh sử, thế mà chữ Nôm ta không biết hết" (16).
Trong khi Chiêu Hổ trêu chọc
người thì Phạm Ðình Hổ lại bị người trêu cợt : Năm 1830, ông đang làm Tế tửu Quốc-tử-giám
đã xin từ chức, viện cớ "Học thức thô thiển, bị bạn đồng nghiệp trêu chọc"
(17).
b - Phạm Ðình Hổ chỉ đỗ
Sinh-đồ (Tú-tài), tuy được đặc cách vời ra làm quan nhưng không làm quan Huyện
mà làm ở Viện Hàn-lâm và ở Quốc-tử-giám.
c - Chữ "Chiêu" trỏ
vào con một ông Tiến-sĩ được học ở "Chiêu văn quán". Cha Phạm Ðình Hổ
chỉ đỗ Hương-cống (Cử-nhân) nên Phạm Ðình Hổ không thể dự hàng các "cậu
Chiêu" được (18).
I I - TÌNH DUYÊN CỦA TÁC
GIẢ LƯU HƯƠNG KÝ
|
Khác với TTT toàn là thơ
Nôm, tập LHK gồm 24 bài thơ chữ Hán và 28 bài chữ Nôm nhưng tựa đề thì vẫn bằng
chữ Hán. Ðọc LHK ta thấy Xuân Hương có khá nhiều bạn trai, bạn thơ, bạn tình...
nào Nguyễn Hầu, nào Trần Hầu, nào Tốn Phong thị, Mai Sơn Phủ, Thạch Ðình, Cự
Ðình, Thanh Liên, Chí Hiên... Trong số những bạn trai này, có khá nhiều bạn
tình thế nhưng trong "Bạch Ðằng giang tạm biệt" tác giả vẫn lên tiếng
trách người bạn tình không chung thủy:
Tơ tóc lời kia còn nữa hết ?
Chớ thói lưng vơi cỡ nước Ðằng (19).
Chớ thói lưng vơi cỡ nước Ðằng (19).
và than thân, trong "Cảm
cựu kiêm trình Cần Chánh học sĩ Nguyễn Hầu" :
Phấn son càng tủi phận long
đong. (...)
Lầu Nguyệt năm canh chiếc bóng chong.
Lầu Nguyệt năm canh chiếc bóng chong.
LHK có rất nhiều câu than
thân nên Trần Thanh Mại mới nhận xét :"LHK là tiếng kêu thất vọng để có một
tình yêu thành thực, thủy chung" (20). Ông Trần Thanh Mại xót thương
"người đẹp" thì nghĩ thế chứ công bình mà nói thì Xuân Hương của LHK
thiếu gì bạn tình, chính mình không chuyên nhất, không chung thủy, sao có thể
trách người chẳng thủy chung ?
Sau đây là những người bạn
tình của Xuân Hương, căn cứ vào tập thơ LHK:
A- NGUYỀN HẦU
Trong LHK có một bài rất được
chú ý là bài "Cảm cựu kiêm trình Cần Chánh học sĩ Nguyễn Hầu - Hầu,
Nghi-xuân, Tiên-điền nhân" (= Nhớ bạn cũ viết gửi Cần Chánh học sĩ Nguyễn
Hầu - Hầu, người ở Nghi-xuân, Tiên-điền) khiến ta nghĩ ngay đến Nguyễn Du bởi
Nguyễn Du quê ở Nghi-xuân, Tiên-điền, năm 1805 được phong Du Ðức Hầu, đến năm
1813 thăng Cần Chánh học sĩ sung Chánh sứ sang tuế cống nhà Thanh. Bài này chắc
viết sau khi Nguyễn Du được phong làm Cần Chánh học sĩ (tháng giêng năm 1813)
và trước khi Tốn Phong Thị hoàn tất bài "Tựa" LHK (tháng hai năm
1814).
Khó lòng có thể có một người
họ Nguyễn thứ hai ở Tiên-điền cũng được phong làm Cần Chánh học sĩ cùng trong
khoảng thời gian này. Trần Thanh Mại là người đầu tiên phát hiện ra bài thơ và
cũng là người đầu tiên đoán "Nguyễn Hầu" là Nguyễn Du.
Chúng ta thử nhận xét mối
tình giữa cặp tài tử Hồ Xuân Hương - Nguyễn Du.
1 - Tình của Xuân Hương đối
với Nguyễn Du qua bài thơ "Cảm cựu..."
Câu 1 & 2:
Dậm khách muôn nghìn nỗi nhớ
nhung,
Cậy ai tới đấy gửi cho cùng.
Cậy ai tới đấy gửi cho cùng.
"Dậm khách" trỏ
vào chuyện Nguyễn Du đang trên đường đi sứ.
Hai câu thơ này cho ta có cảm
tưởng trên đường đi sứ, qua Thăng-long, Nguyễn Du có gập lại Xuân Hương và bài
thơ được Xuân Hương sáng tác ngay sau khi đôi bên chia tay, lúc tâm thần đang bị
khích động nên mới có "muôn nghìn nỗi nhớ". Nếu không phải vừa mới gập
lại nhau mà chỉ bình tĩnh ngồi hồi tưởng lại mối tình chia cắt đã gần một chục
năm, kể từ khi Nguyễn Du vào Kinh làm quan (1805), thì tình đã lắng xuống, nhạt
phai, làm sao có thể xúc động để có "muôn nghìn nỗi nhớ" được?
Câu 3 & 4 :
Mối tình chốc đã ba năm vẹn,
Giấc mộng rồi ra nửa khắc không.
Giấc mộng rồi ra nửa khắc không.
Xuân Hương nói rõ hai người
dan díu với nhau đủ "ba năm vẹn", vậy ta thử tìm xem họ yêu nhau vào
thời điểm nào?
Nguyễn Du tuy sinh (1765) ở
Thăng-long nhưng năm mười tuổi mồ côi cha phải đến ở với anh là Nguyễn Khản được
vài năm thì về quê học. Năm 17 tuổi ta (1781), Nguyễn Du trở ra Thăng-long, đi
thi đỗ Tam trường (21) rồi ở lại Thăng-long cho tới khi kiêu binh phá nhà Nguyễn
Khản (1784), Nguyễn Du phải trốn lên Thái-nguyên ở với cha nuôi họ Hà, giữ chức
Chánh Thủ hiệu (một chức quan võ nhỏ) ở đó. Như thế thì sự hiện diện của Nguyễn
Du ở Thăng-long trong khoảng thời gian 1781-4 coi như chắc chắn.
Về Hồ Xuân Hương, ông H.X.
Hãn đoán bà sinh năm 1772 thì đến 1781 bà mới có 9 tuổi, dù cả hai đều có mặt ở
Thăng-long đủ ba năm cũng không thể bắt tình với nhau được.
Huống chi, theo ông Hồ Trọng
Chuyên thì năm 13 tuổi Xuân Hương còn ở quê nhà (Châu Hoan = Nghệ-Tĩnh) xướng họa
với Dương Tri Tạn rồi mới dời quê theo cha ra Bắc. Cứ cho là Xuân Hương ra
Thăng-long năm 13, tức là 1772 + 13 = 1785, nhưng lúc ấy Nguyễn Du không
còn ở Thăng-long mà đang ở Thái-nguyên (22).
b - GS H.X. Hãn đưa ra hai
thời điểm khác : 1790-3 và 1792-5 (23) song lúc ấy Tây-sơn
đã ra Bắc và Nguyễn Du chống Tây-sơn nên về ở nhà người anh vợ là Ðoàn Nguyễn
Tuấn ở Quỳnh-hải (Thái-bình) trong mười năm, từ 1786 đến 1796 (khi Nguyễn Du
vào Nam, định theo chúa Nguyễn nhưng giữa đường bị quân Tây-sơn bắt được, giam
ba tháng mới thả ra). Trong thời gian mười năm này, Nguyễn Du thường than trong
thơ tình cảnh bệnh hoạn, nghèo túng, có khi mấy ngày bếp không nhóm lửa, vợ con
nheo nhóc... Tuy nghèo nhưng cũng có hai lần Nguyễn Du ra Thăng-long :
- năm 1793, để thăm anh là
Nguyễn Nễ, đích xác Nguyễn Du trọ ở gần Giám hồ (căn cứ vào bài
"Long thành Cầm giả ca") chứ không phải là "ở nhà Nguyễn Nễ, gần
Giám hồ" như ông Hoàng Xuân Hãn nói ;
- và năm 1794 để tiễn Ðoàn
Nguyễn Tuấn vào Kinh làm quan.
Có thể Nguyễn Du còn có những
lần khác ra Thăng-long mà ta không biết, song với tình cảnh nghèo túng, bệnh hoạn,
lại ôm hoài bão hoạt động để khôi phục nhà Lê, khó có thể tin Nguyễn Du tìm
cách ra Thăng-long để dan díu với Xuân Hương. Dù có chăng nữa thì cũng chỉ là
những cuộc gập g" ngắn ngủi, bị gián đoạn, khó có thể là mối tình "ba
năm vẹn".
c - 1802-5? Thời
điểm này cũng không thích hợp nốt bởi mùa hè năm 1802 Nguyễn Du mới theo
Gia-long ra Thăng-long mà đến đầu Xuân năm 1805 đã vào Kinh làm quan, tính ra
chỉ có hai năm rư"i, không đủ "ba năm vẹn".
Câu 5 & 6 :
Xe ngựa trộm mừng duyên tấp
nập,
Phấn son càng tủi phận long đong.
Phấn son càng tủi phận long đong.
"Mừng duyên tấp
nập" mà cho là trỏ vào chuyện Nguyễn Du được thăng lên chức Cần-chính Học
sĩ và đi sứ e rằng quá khiên cư"ng, nếu trỏ vào chuyện Nguyễn Du cưới vợ
thì có lý hơn bởi câu sau cho thấy Xuân Hương chạnh nghĩ đến duyên phận lẻ loi
của mình mà "tủi phận long đong". So sánh duyên phận Nguyễn Du với
thân phận mình, như thế mới đối.
Câu 7 & 8 :
Biết còn mảy chút sương siu
mấy, (24)
Lầu Nguyệt năm canh chiếc bóng chong.
Lầu Nguyệt năm canh chiếc bóng chong.
Hai câu này nối ý hai câu
trên, than cảnh Xuân Hương lẻ bóng, đơn chiếc.
2 - Tình cảm của Nguyễn Du đối
với Xuân Hương
a - Tuy Xuân Hương nói mối
tình kéo dài "ba năm vẹn" thế mà trong cả tập LHK không có lấy một
bài thơ của Nguyễn Du xướng hay họa với Xuân Hương, đối với cặp tài tử hay thơ
như Xuân Hương - Nguyễn Du kể cũng lạ.
b - Năm 1813, Nguyễn Du trên
đường đi sứ, đã gập lại Xuân Hương ở Thăng-long, Xuân Hương viết bài "Cảm
cựu..." tả "muôn nghìn nỗi nhớ nhung" của mình thế nhưng Nguyễn
Du lại không có bài thơ nào nhắc nhở đến Xuân Hương và mối tình "ba
năm" ấy. Suốt dọc đường đi sứ ta chỉ thấy Nguyễn Du nghĩ đến "cô Cầm"
để rồi sáng tác ra bài "Long thành Cầm giả ca" nổi tiếng, nhưng tuyệt
nhiên không có lấy một nửa lời nhớ nhung Xuân Hương ! Nếu bảo Nguyễn Du đang
làm quan to, sợ "quan trên trông xuống, người ta trông vào", như ông
Hoàng Xuân Hãn nói, thì tại sao trong thời gian yêu nhau "ba năm vẹn",
chưa làm quan, cũng không có bài nào ? Không có trong LHK mà cũng không có
trong những tác phẩm Nguyễn Du để lại.
c - Bài "Mộng đắc
thái liên" (= Mộng thấy hái sen) của Nguyễn Du
GS H.X. Hãn cho rằng khi
Nguyễn Du vào làm quan ở Kinh và ở Quảng-bình đã làm bài thơ này có lẽ vì nghĩ
đến Xuân Hương.
Ðể xét xem người thiếu nữ
trong thơ có thật là Xuân Hương hay không, tôi chọn bản dịch từng chữ của ông
Mai Quốc Liên để giữ được đầy đủ chi tiết trong nguyên tác hơn là bản dịch
thành thơ của các ông Lê Thước và Phạm Khắc Khoan mà GS H.X. Hãn dùng (25).
Mộng thấy hoa sen
Buộc chặt quần cánh bướm,
Hái sen, chèo thuyền con.
Nước hồ sao lai láng,
Trong nước có bóng người.
Hái sen, chèo thuyền con.
Nước hồ sao lai láng,
Trong nước có bóng người.
Hái, hái sen Hồ Tây,
Hoa và gương đều để trên thuyền.
Hoa để tặng người mình trọng,
Gương để tặng người mình thương.
Hoa và gương đều để trên thuyền.
Hoa để tặng người mình trọng,
Gương để tặng người mình thương.
Sáng nay đi hái sen,
Nên mới hẹn với cô láng giềng xóm Ðông.
Chẳng rõ đến lúc nào không biết,
Cách khóm hoa nghe cười nói.
Nên mới hẹn với cô láng giềng xóm Ðông.
Chẳng rõ đến lúc nào không biết,
Cách khóm hoa nghe cười nói.
Mọi người đều biết yêu thích
hoa sen,
Nhưng ai là kẻ yêu thân cây sen ?
Trong thân cây sen có những sợi tơ,
Vấn vương không thể dứt được.
Nhưng ai là kẻ yêu thân cây sen ?
Trong thân cây sen có những sợi tơ,
Vấn vương không thể dứt được.
Lá sen sao xanh xanh,
Hoa sen đẹp đầy đặn.
Hái sen chớ làm hỏng ngó,
Sang năm sen không sinh lại được.
Hoa sen đẹp đầy đặn.
Hái sen chớ làm hỏng ngó,
Sang năm sen không sinh lại được.
Những chi tiết về thiếu nữ
hái sen không nhiều: cô ta mặc "quần cánh bướm", và là "láng giềng
xóm Ðông" của Nguyễn Du, song chẳng ai rõ nữ sĩ có mặc "quần cánh bướm"
hay không, và hai người có là "láng giềng" bao giờ không. Nếu Xuân
Hương là cô "láng giềng xóm Ðông" của Nguyễn Du thì, so với nhà
của cô, ắt hẳn nhà của Nguyễn Du phải ở phía Tây phường Khán-xuân, song
chúng ta chỉ biết thuở nhỏ Nguyễn Du ở nhà cha và anh tại phường Bích-câu, phía
Nam Thăng-long, và năm 1793 khi Nguyễn Du từ Thái-bình ra Thăng-long thăm Nguyễn
Nễ đã trọ ở gần Giám hồ, cũng là phía NamThăng-long nốt, chứ không phải
gần Hồ Tây và phường Khán-xuân, tương truyền là nơi Xuân Hương cư ngụ, ở Tây
Bắc. Kẻ ở Nam, người ở Bắc, đã không biết đích xác địa chỉ của hai người, làm
sao xác quyết được họ là "láng giềng" với nhau? Hơn nữa, Nguyễn Du
chỉ nói đi hái sen ở Hồ Tây chứ không nói là đi hái sen với người thiếu nữ sống
ở gần Hồ Tây. Chúng ta chẳng có bằng chứng nào tỏ ra người thiếu nữ hái sen
chính là Xuân Hương cả.
Chúng ta cũng chưa có bằng
chứng nào minh định là Nguyễn Du đã có một thời yêu Xuân Hương, bài "Cảm cựu..."
chỉ "minh chứng" mối tình của Xuân Hương đối với Nguyễn Du mà thôi.
Phần Nguyễn Du không có lấy một câu thơ nào cho biết đích xác Nguyễn Du có tình
với Xuân Hương. Ở đời có khi "hoa rơi tuy hữu ý" mà "nước chẩy lại
vô tình", chung quy chỉ là "giấc mộng rồi ra nửa khắc không"!
B- TRẦN HẦU
1 - Tình của Xuân Hương đối
với Trần Hầu
Trong LHK có ít nhất là 6
bài thơ xướng họa giữa Xuân Hương và Trần Hầu. Nữ sĩ cho biết Trần Hầu là người
đồng hương. Hai người hâm mộ tiếng nhau mà đem lòng quyến luyến :
Bấy lâu ngư"ng mộ tiếng
văn chương, nay mừng được gập mặt,
(...) Chén tình vừa nhắp đã nồng nàn, đôn hậu.
Thanh khí của châu ta còn được ưa chuộng,
Tài tình của chúng ta là chung đúc nơi đây (26).
(...) Chén tình vừa nhắp đã nồng nàn, đôn hậu.
Thanh khí của châu ta còn được ưa chuộng,
Tài tình của chúng ta là chung đúc nơi đây (26).
Tuy quyến luyến nhưng chưa
tiện ngỏ ý:
Thân bèo nước gập nhau, nâng
chén rượu dưới trăng,
Tấc lòng son sắt thực khó nói.
Gọi đàn, vì có ý mà gẩy khúc Cầu Hoàng,
(...) Sau phút ly biệt, còn lưu luyến biết bao tình (27).
Tấc lòng son sắt thực khó nói.
Gọi đàn, vì có ý mà gẩy khúc Cầu Hoàng,
(...) Sau phút ly biệt, còn lưu luyến biết bao tình (27).
và:
Trăm năm gập gỡ là bao nả,
Thắc mắc sầu riêng khó giở ra (28).
Thắc mắc sầu riêng khó giở ra (28).
Dẫu Xuân Hương tỏ ra có tình
ý thắm thiết nhưng thực ra đôi bên chưa có gì gọi là gắn bó.
2 - Tình của Trần Hầu đối với
Xuân Hương
Họ Trần xác nhận vì hâm mộ
mà tìm đến nàng:
Giữa chốn Long thành được
nghe nói đến nàng... (29).
nhận mình là người đồng
hương:
Phương chi lại là người đồng
quận (30).
và mình đã đứng tuổi:
Thương ta bất tài, mái tóc
luống bạc... (31).
Còn về giao tình giữa hai
người thì :
Chưa gập mà lòng đã mến trước,
Há phải đến lúc họa thơ với nhau mới có tình cảm mặn nồng ? (32)
Há phải đến lúc họa thơ với nhau mới có tình cảm mặn nồng ? (32)
Tình cảm mà đã "mặn nồng"
từ trước khi gập mặt thì không phải là tình yêu mà chỉ là lòng mến mộ văn tài của
Xuân Hương, huống chi Trần Hầu còn thêm:
Mừng cho nàng có phận gửi
thân nơi quyền quý,
(...) Chỉ mong cái tình của chúng ta gập nhau trong mộng (33).
(...) Chỉ mong cái tình của chúng ta gập nhau trong mộng (33).
Hai câu này cho ta có cảm tưởng
là thấy Xuân Hương đã kết duyên với người khác Trần hầu không tỏ vẻ đau khổ. Mối
tình Trần Hầu - Xuân Hương cũng chỉ được coi là "mộng", chẳng khác gì
mối tình giữa Nguyễn Du và Xuân Hương.
3 - Trần Hầu là ai?
Trong LHK, từ đầu chí cuối
Xuân Hương chỉ xướng họa với một " Hiệp trấn Sơn-nam-thượngTrần
Hầu", nhưng trong Tục Hoàng Việt thi tuyển, Nguyễn Ðình Hồ có
chép hai bài thơ chữ Hán của Xuân Hương:
"Ðang quét sân vừa đi vừa
than để trả lời" (sau Trần Thanh Mại phát giác ra tác giả bài này là một
thi sĩ Trung quốc);
"Bình thủy tương phùng
nguyệt hạ tôn" là một bài thơ Xuân Hương "họa" "Hiệp trấn
Sơn-nam-ha", nhưng trong LHK lại chép là của Xuân Hương "xướng"
với "Hiệp trấn Sơn-nam-thượng ".
Vì dựa vào Tục Hoàng Việt ...
GS H.X. Hãn tin là có tới hai ông Hiệp trấn họ Trần, một ở Sơn-nam-thượng và
một ở Sơn-nam-hạ, và tìm ra cả tên của hai người:
a - Hiệp trấn
Sơn-nam-thượng tên là Trần Ngọc Quán. Theo ông H.X.Hãn thì năm 1813, đời
Gia-long, có Trần Ngọc Quán làm Cai bạ Quảng-đức (Thừa-thiên) đến năm 1815 được
bổ chức "Hiệp trấn Sơn-nam-thượng" (Ðại Nam Thực Lục Chính Biên xác
nhận).
Dứt khoát ta phải loại bỏ Trần
Ngọc Quán vì lẽ đến tháng 2, 1815 ông này mới giữ chức "Hiệp trấn
Sơn-nam-thượng" trong khi bài "Tựa" LHK đã viết xong từ tháng
2, 1814, tức là từ một năm trước, và tất nhiên những bài thơ trong LHK phải được
viết ra từ trước bài "Tựa".
b - Hiệp trấn Sơn-nam-hạ
là Trần Quang Tĩnh. Vẫn dựa vào Ðại Nam Thực Lục Chính Biên, ông Hãn
cho biết Trần Quang Tĩnh quê ở Gia-định, năm 1807 được thăng từ Cai bạ lên
"Hiệp trấn Sơn-nam-hạ" (35).
Lần này thời điểm phù hợp
nhưng lại không ổn về địa điểm : Trần Hầu trong LHK là "Hiệp trấn Sơn-nam-thượng"
chứ không phải Sơn-nam-hạ. Trong Tục Hoàng Việt thi tuyển mới có
"Hiệp trấn Sơn-nam-hạ" song độ tin cậy của Tục Hoàng Việt...không
lấy gì làm cao, chép có hai bài thơ nói là của Xuân Hương thì một bài đã vơ nhầm
của một thi sĩ Trung quốc, bài thứ nhì có nhầm từ Sơn-nam-thượng ra
Sơn-nam-hạ, đổi "xướng" ra "họa", cũng không phải là chuyện
chẳng thể có.
Cứ cho là Tục Hoàng Việt... chép
đúng thì ta phải sửa lại tất cả những bài thơ xướng họa với họ Trần trong LHK
chứ không có lý do gì để tách riêng bài "Bình thủy tương phùng..."
cho là liên quan đến "Hiệp trấn Sơn-nam-hạ" còn tất cả những bài khác
thì vẫn với ông "Hiệp trấn Sơn-nam-thượng.
Mặt khác, Trần Hầu trong LHK
là người đồng quận (châu Hoan) với Xuân Hương, còn Trần Quang Tĩnh
quê ở Gia-định làm sao có thể coi là một được?
Ông Ðào Thái Tôn cũng chép rằng
bài "Bình thủy tương phùng..." là của "Hiệp trấn Sơn-nam-thượng",
theo LHK, nhưng trong phần chú giải thì lại chép theo ông H.X. Hãn về một
"Hiệp trấn Sơn-nam-hạ" thành ra đầu đuôi không ăn nhập với nhau. Phải
chăng ông Ðào thấy LHK "đáng tin cậy hơn" nhưng đồng thời ông cũng
"muốn tin" học giả H.X.Hãn (36)?
C- TỐN PHONG THỊ
Ngoài LHK Trần Thanh Mại còn
phát hiện ra ở Thư viện Khoa Học Trung Ương một bài "Tựa" tập LHK kèm
với 32 bài thơ của Tốn Phong Thị trong đó có 31 bài thơ chữ Hán nói đến mối
tình giữa Xuân Hương và Tốn Phong. Theo bài "Tựa" thì Tốn Phong cũng
quê ở châu Hoan như nữ sĩ, hai người gập nhau năm 1807 và đến năm 1814 thì Xuân
Hương đưa tập LHK nhờ Tốn Phong viết Tựa. T.T.Mại đoán Tốn Phong họ Phan chỉ vì
trong bài "Tựa" thấy nói Tốn Phong có cô "em họ tên Phan Mĩ
Anh". Ðoán thế là khiên cư"ng vì có thể là em họ bên ngoại, không
cùng một họ.
Theo ông Lê Trí Viễn thì
Xuân Hương có tới 10 bài thơ gửi Tốn Phong, tôi chỉ được đọc có năm bài với tựa
đề nêu tên Tốn Phong.
1 - Tình ý của Xuân Hương đối
với Tốn Phong
So với hai người
"tình" trước thì mối tình của Xuân Hương đối với Tốn Phong xem ra gắn
bó hơn, vì Xuân Hương nhắc tới "giải ước nguyền" trong bài "Tốn
Phong Thị nằm mộng, ghi lại mang cho xem, nhân đó ghi thuật bằng thơ" :
(...) Chén tình đã nhẫn lâu
mà nhạt,
Giải ước nguyền âu thắm chẳng phai.
Giải ước nguyền âu thắm chẳng phai.
và trong bài "Họa Tốn
Phong nguyên vận" thì nhắc đến "chén thề, món tóc (thề), trăm năm...":
Kiếp này chẳng gập nữa thì
liều,
Những chắc trăm năm há bấy nhiêu?
(...) Chén thề thuở nọ tay còn dính,
Món tóc thời xưa cánh vẫn đeo.
Ðược lứa tài tình cho xứng đáng,
Nghìn muôn non nước cũng tìm theo.
Những chắc trăm năm há bấy nhiêu?
(...) Chén thề thuở nọ tay còn dính,
Món tóc thời xưa cánh vẫn đeo.
Ðược lứa tài tình cho xứng đáng,
Nghìn muôn non nước cũng tìm theo.
Câu cuối nói lên sự quyết
tâm, chí tình của Xuân Hương.
2 - Tình của Tốn Phong đối với
Xuân Hương
Tốn Phong luôn luôn tán tụng
sắc đẹp và văn tài của Xuân Hương:
Trên đàn thơ xuất hiện một vị
thần thơ,
(...) Gập người ngờ là tiên nữ gửi xuống trần
(...) Gập người ngờ là tiên nữ gửi xuống trần
(Bài số 12, theo cách đánh số
của T.T.Mại)
song Tốn Phong chỉ nhắc đến
tình giao du, xướng họa :
Tựa :"Tình cờ mới gập lần
đầu mà thành đôi bạn thân thiết... Tôi phải xuôi ngược vào Nam ra Bắc không thể cùng
nhau xướng họa..."
Bài số 11: "Gập người
ngờ là có mối duyên bút mực từ xưa"
Còn duyên tình? Chỉ thấy Tốn
Phong than:
Duyên lạ mây mưa phó mặc hồn mộng,
Ðừng nói nhớ nhau với biết nhau
Ðồng tâm chỉ thấy vị ấm chén rượu. (Bài số 18)
Ðừng nói nhớ nhau với biết nhau
Ðồng tâm chỉ thấy vị ấm chén rượu. (Bài số 18)
Ở đây cũng như với họ Nguyễn,
họ Trần, hễ nói tới "tình" thì ta lại gập chữ "mộng".
Vì hiếm tài liệu chính xác về
Xuân Hương nên ta phải căn cứ vào bài "Tựa" của Tốn Phong tuy nhiên
bài này cũng có chỗ không ổn : Tốn Phong cho biết trong bài "Tựa" rằng
hai người quen nhau từ "Xuân Ðinh Mão" (1807), đến "Xuân Giáp Tuất"
(1814) thì gập lại, tính ra phải là 7 năm, thế mà Tốn Phong nhiều lần nói rõ là
chỉ có "6 năm" :
Bài số 28 :
Từ lúc chia tay người mỗi ngả,
Tình khách cũng đã sáu năm tới nay.
Tình khách cũng đã sáu năm tới nay.
Bài số 22 :
Cánh bèo gập nhau sáu năm về
trước.
Tốn Phong nhớ nhầm hay...
không biết làm tính?
D- MAI SƠN PHỦ
Trong LHK ít nhất cũng có tới
ba bài Xuân Hương viết về Mai Sơn Phủ nhưng không có thơ của Mai Sơn Phủ nên ta
chỉ có thể căn cứ vào thơ của Xuân Hương để phỏng đoán.
Chắc Mai Sơn Phủ cũng cùng
quê với nữ sĩ vì trong bài "Thuật ý kiêm trình hữu nhân Mai Sơn Phủ"
(= Kể ý mình và trình bạn là Mai xuân Phủ) có câu:
Trong bài "Họa Sơn Phủ
chi tác", ta thấy tình của Xuân Hương rất thiết tha:
Nước mắt trên hoa là lối cũ,
Mùi hương trong nệm cả đêm thâu.
Vắng nhau mới biết tình nhau lắm,
Này đoạn chung tình biết mấy nhau.
Mùi hương trong nệm cả đêm thâu.
Vắng nhau mới biết tình nhau lắm,
Này đoạn chung tình biết mấy nhau.
Song Sơn Phủ dường như lại hững
hờ nên Xuân Hương nhắc nhở:
Nhớ nhung đừng lỡ hẹn sai kỳ
(...) Hai ta đều muộn nói mà chi?
(...) Hai ta đều muộn nói mà chi?
và "khuyến khích":
Hãy nên trao gửi mối duyên
đi,
Lòng son ai n" phụ giai kỳ?
Lòng son ai n" phụ giai kỳ?
Xem ra, với Mai Sơn Phủ,
cũng vẫn chỉ là "giấc mộng tình quê" mà thôi.
Vì không được đọc những bài
thơ liên quan đến Thanh Liên, Chí Hiên, Thạch Ðình vv. nên tôi chỉ có thể bàn về
tình duyên của tác giả LHK qua Nguyễn Hầu, Trần Hầu, Tốn Phong Thị, Mai Sơn Phủ.
Tuy với ai Xuân Hương cũng tỏ ra khăng khít nhưng đối phương, nếu có thơ xướng
họa, chỉ thấy mập mờ nói đến "mộng".
Hơn nữa, khó có thể tin rằng
một người phụ nữ "nghiêm chỉnh", "biết dừng lại trên lễ
nghĩa" (như Tốn Phong viết trong bài "Tựa") lại có thể cùng một
thời gian "thành thật gắn bó" với ít ra là hai, ba người : Ong H.X.
Hãn cho là khoảng 1813/4, Xuân Hương nối lại tình xưa sau bẩy năm xa cách với Tốn
Phong khi ông này quay lại Thăng-long. Cũng trong thời gian ấy, Xuân Hương viết
bài "Cảm cựu..." bầy tỏ "muôn nghìn nỗi nhớ nhung" với Nguyễn
Hầu và trách người tình để mình "năm canh chiếc bóng chong". Ðấy là
chưa kể ông H.X.Hãn còn cho là lúc ấy Trần Phúc Hiển vừa được thăng chức Tham
hiệp Yên-quảng, trên đường đi nhậm chức, dong thuyền qua Thăng-long có ghé thăm
và hứa hẹn sẽ cưới Xuân Hương (37).
Ðiều khó hiểu là Xuân Hương
không những gắn bó với mấy người cùng một lúc mà còn không ngại ngùng đem những
bài thơ bộc lộ tình yêu khăng khít của mình với những người khác cho Tốn Phong
đọc và nhờ viết cả bài "Tựa" mà không sợ Tốn Phong ghen. Thói thường,
người ta dẫu có "ăn vụng" thì cũng tìm cách "giấu giếm".
Cho nên tôi nghĩ rất có thể Xuân Hương chỉ coi những "mối tình" này
là cái cớ để làm "văn chơi", hơi cường điệu một chút, chứ sự thật
không có tình ý gì cả. Bởi không có tình ý nên mới không ngại ngùng đưa cho Tốn
Phong đọc, biết rằng Tốn Phong sẽ hiểu. Quả nhiên ta thấy Tốn Phong viết trong
bài "Tựa":
"Thoạt đầu tôi hết sức
kinh ngạc, lạ lùng (vì bất ngờ khám phá ra Xuân Hương còn thắm thiết với
nhiều người khác ngoài mình ra) rồi dần dần càng đọc càng thấy lòng thư
thái (vì đã hiểu đây chỉ là "văn chơi", không phải sự thực) trở
nên vui thú, khoái trá (bây giờ Tốn Phong mới thực sự thưởng thức văn tài
của Xuân Hương)".
Nếu không thế thì vì sao thoạt
mới đọc LHK Tốn Phong lại "hết sức kinh ngạc, lạ lùng"? Không thể
nói "kinh ngạc" vì thấy thơ Xuân Hương quá hay, Tốn Phong đã xướng họa
nhiều lần với Xuân Hương còn lạ gì tài của vị "thần thơ" này ? Rồi tại
sao lại "dần dần càng đọc càng thấy lòng thư thái", cái gì đã khiến
lòng Tốn Phong "không thư thái" trước đó?
Mới đọc thoáng, tưởng như
tình duyên của tác giả LHK cũng trắc trở như tình duyên của tác giả TTT, nhưng
xét kỹ thì có lẽ không phải, "duyên" trong LHK chỉ là thứ "duyên
bút mực" còn "tình duyên" thực thì lại không thấy Xuân Hương viết
rõ, chỉ có thể đoán qua Tốn Phong, bài số 18:
Nhà Nguyệt bây giờ vui bạn
phượng
chứng tỏ khi Tốn Phong quay
lại thì dường như Xuân Hương đã kết duyên với người khác, mà lại là người xứng
ý nên mới "vui bạn phượng".
Chuyện Xuân Hương xuất giá
có thể là chuyện thực vì Trần Hầu cũng viết:
Mừng cho nàng có phận gửi
thân nơi quyền quý (38).
Tuy nhiên, tất cả vẫn chỉ là
phỏng đoán, vấn đề Hồ Xuân Hương và LHK còn dành cho ta nhiều nghi vấn...
Trong TTT ta không thấy có
bóng dáng Tốn Phong, Trần Hầu, Nguyễn Hầu, Mai Sơn Phủ v.v., và trong LHK cũng
không thấy bóng dáng của Tổng Cóc, ông Phủ Vĩnh-tường hay Chiêu Hổ. Tại sao lại
có sự trùng hợp kỳ lạ như vậy? Nếu cho là Xuân Hương về già tự ý loại bỏ những
bài TTT cho là nghịch ngợm làm lúc trẻ để đối đáp với những lời trêu ghẹo của
con trai cho nên trong LHK không có bóng dáng Tổng Cóc, Chiêu Hổ v.v. nhưng chẳng
nhẽ dân gian cũng tự ý loại bỏ trong TTT những bài có dính dáng đến Nguyễn Du,
Trần Hầu, Tốn Phong...? Loại ra vì lẽ gì? Huống chi văn phong của TTT và LHK
khác nhau rất xa, ai cũng nhận thấy.
Ta chỉ có thể đi đến kết luận
là về mặt tình duyên, cũng như về văn phong, trong hiện tình chúng ta chưa có cứ
liệu chắc chắn để xác quyết tác giả Lưu Hương Ký cũng chính là tác giả
những bài thơ truyền tụng ai cũng biết.
CHÚ THÍCH
|
1 - Tùng Thiện Vương Miên Thẩm
là em vua Thiệu-Trị, nổi tiếng văn tài cùng với Tuy Lý Vương Miên Trinh.
"Long Biên" ám chỉ Thăng-long.
"Trúc chi từ" là một loại thơ gồm nhiều đoạn ngắn ví như những khúc cây trúc.
"Long Biên" ám chỉ Thăng-long.
"Trúc chi từ" là một loại thơ gồm nhiều đoạn ngắn ví như những khúc cây trúc.
2 - Phần thơ chữ Hán của
Tùng Thiện Vương trích theo Trần Thanh Mại, Nghiên cứu Văn học, số
3/1963. Tôi chiết trung nhiều bản dịch cốt giữ nguyên ý của tác giả.
3 - Thơ và Ðời, tr.
2, 218-39.
4 - Ngô Lãng Vân, tr. 34-5.
5 - H.X. Hãn, tr. 178.
6 - Quốc sử di biên, tr.
281.
7 - H.X. Hãn, tr. 180.
8 - " " , tr.
196-7, 268-70.
9 - Ðào Thái Tôn, tr. 98.
10 - H.X. Hãn, tr. 268. Lê
Dư viết rằng Xuân Hương chết sau người chồng cuối cùng vài năm.
11 - Bùi Hạnh Cẩn, tr. 10.
12 - H.X. Hãn, tr. 278_9.
13 - " ", tr.
288.
14 - " ", tr.
291.
15 - Ngược Ðường Trường
Thi, tr. 104.
16 - Vũ Trung Tùy Bút, tr.
118.
17 - Ðại Nam Thực Lục, X,
tr. 161.
18 - Vũ Trung Tùy Bút, tr.
5 - Liệt Truyện, I I I, tr. 474-5- Bài của Tảo Trang - Tự vị Lê văn Ðức
và Lê Ngọc Trụ.
19 - Ðào Thái Tôn, tr. 117.
20 - " " ",
tr. 50.
21 - Ai cũng biết Nguyễn Du
đỗ Tam trường, nhưng không ai biết đích xác Nguyễn Du đỗ thi Hương hay thi Hội,
thi ở Thăng-long hay Sơn-nam, đỗ năm 17,18 hay19 tuổi. Gia phả họ Nguyễn ở
Tiên-điền tuy chép là Nguyễn Du đỗ Tam trường thi Hương nhưng cần phải kiểm tra
lại (cũng như chép Nguyễn Du đón đường vua Gia-Long để xin ra làm quan mà Ðại
Nam Thực Lục lại chép Nguyễn Du bất đắc dĩ phải ra tham chính với nhà Nguyễn
nên thường giữ im lặng, không bàn tâu gì, nên bị vua quở).
Theo tôi, thi Hương bắt buộc
phải thi ở quê hương mình, mà quê Nguyễn Du là Nghệ-Tĩnh, còn Thăng-long chỉ là
nơi Nguyễn Du sinh trưởng nên nếu là thi Hương thì Nguyễn Du bắt buộc phải về quê thi,
như người cháu năm đời là Nguyễn Mai đã đỗ Cử nhân khoa 1900 ở Nghệ, chứ không
có lý do gì để thi ở Sơn-nam (như gia phả chép) là quê vợ, trừ phi Nguyễn Du
khai gian. Nguyễn Du cũng không được phép xin phụ thí ở Thăng-long, vì trường hợp
này chỉ dành cho những người có cha đang trị nhậm ở Thăng-long, xa
quê hương, phần Nguyễn Du, mồ côi cha từ năm 10 tuổi ai cũng biết, tất nhiên
không được hưởng ngoại lệ này.
Căn cứ vào những tiểu sử
Nguyễn Du mà tôi được đọc thì sau khi mồ côi cha, Nguyễn Du về ở với anh là
Nguyễn Khản, học anh vài năm rồi về quê học Tiến-sĩ Nguyễn Hành (không phải
Nguyễn Hành cháu Nguyễn Du) ít lâu sau trở lại Thăng-long và thi đỗ Tam trường.
Nhiều người (như ông H.X. Hãn) khẳng định là Nguyễn Du đỗ Sinh-đồ (có người còn
biên là "đỗ Tú-tài" mà quên rằng thời nhà Lê chưa ai dùng danh từ
"Tú-tài", phải đợi vua Minh-Mệnh nhà Nguyễn mới cải danh từ
"Sinh đồ" ra "Tú tài") có nghĩa là đỗ Tam trường thi
Hương, chắc cho là Nguyễn Du chân trắng tất phải bắt đầu bằng thi Hương. Thực
ra Nguyễn Du vì có cha làm quan to nên được hưởng lệ tập ấm, miễn thi Hương, chỉ
cần đỗ một kỳ khảo hạch là được thi Hội. Ðiều này được ông Lê Xuân Giáo, từng
đàm luận về Nguyễn Du với Cụ Nghè Mai, xác nhận và còn thêm Nguyễn Du đỗ Tam
trường "có phân số" (tức là tuy không đỗ thi Hội nhưng bài làm không
quá dở). Theo Lịch Triều Hiến Chương - Khoa Mục Chí, thì Thăng-long
chỉ tổ chức thi Hội vào những năm:
1781 khi Nguyễn Du được 17
tuổi ta;
1785 khi Nguyễn Du 21 tuổi
và đã dời kinh thành lên Thái-nguyên.
Còn năm 1783, Nguyễn Du được
18 tuổi tây, 19 tuổi ta, thì không có khoa thi Hội nào cả.
Cho nên tôi kết luận rằng Nguyễn
Du chỉ có thể trở lại Thăng-long để thi Hội vào năm 1781, 17 tuổi ta.
22 - Hồ Tuấn Niệm, "Bàn
lại đôi điểm...", Văn Học, số 1.
24 - Theo H.X. Hãn, tr. 245,
thì T.T.Mại dịch là "sương đeo mái", Hồ Tuấn Niệm sửa là "sương
treo mái" cho gần với cách phát âm hơn, nhưng lại không có nghĩa, H.X.Hãn
sửa lại là "sương siu mấy" (sương siu = bịn rịn) rồi Nguyễn Quảng
Tuân, trong Kỷ Yếu Hội Nghiên CứuVăn Học, 1998, tr. 185-92, không
đồng ý, cho là "sương gieo mãi" mới đúng.
25 - Nguyễn Du Toàn Tập, tr.
192-5.
26 - Ðào Thái Tôn, tr. 143.
"Châu ta" = châu Hoan (Nghệ-an + Hà-tĩnh).
27 - " " ",
tr. 138.
28 - " " ",
tr. 144.
29 - " " ",
tr. 143.
30 - " " ",
tr. 197.
31 - " " ",
tr. 194.
32 - " " ",
tr. 199.
33 - " " ",
tr. 194.
34 - H.X. Hãn, tr. 274 - Thực
Lục, IV, tr.190, 350.
35 - " ", tr. 261
- " ", III, tr. 317.
36 - Ð.T. Tôn, tr. 137-9.
37 - H.X. Hãn, tr. 240.
38 - Ð.T. Tôn, tr. 194.
SÁCH THAM KHẢO
|
BÙI HẠNH CẨN, Hồ Xuân
Hương - Thơ chữ Hán, chữ Nôm và giai thoại. Hà-nội : Văn Hóa Thông Tin,
1995.
CAO XUÂN DỤC, Quốc Triều
Hương Khoa Lục. Nhà xuất bản TP HCM, 1993. Bản dịch của Nguyễn Thúy Nga,
Nguyễn thị Lâm.
DƯƠNG THƯỢNG NGÃ, "Hồ
Xuân Hương", Làng Văn, bốn số, 1997.
ÐÀO THÁI TÔN, Thơ Hồ
Xuân Hương - Từ cội nguồn vào thế tục. Hà-nội : Giáo dục, 1993 ; tái bản
năm 1995.
HOA BẰNG, Hồ Xuân
Hương, nhà thơ cách mạng. Saigon : Bốn Phương, 1950.
" " (Sơn Tùng
Hoàng Thúc Trâm), Quốc văn thời Tây Sơn. Saigon : Vĩnh Bảo, 1950.
HOÀNG XUÂN, LỮ HUY
NGUYÊN, Hồ Xuân Hương - Thơ và Ðời. Hà Nội: Văn Học, 1995.
HOÀNG XUÂN HÃN, Hồ Xuân
Hương - Thiên Tinh Sử, Hà-nội: Văn Học, 1995.
Bản này so với bản chính in
trong TS Khoa Học Xã Hội, Paris (số 12, 1/1986) có nhiều chi tiết sai
nhưng riêng đối với bài "Rút nhầm tơ duyên..." thì những sai lầm đó
không có ảnh hưởng gì.
HỒ TUẤN NIỆM, "Bàn góp
về nguồn gốc giai cấp của Hồ Xuân Hương", Nghiên cứu Văn Sử Ðịa, số
25, 2/1975.
" " "
"Bàn lại đôi điểm về Tiểu sử Hồ Xuân Hương",Văn Học, số 1,
1/2-1972.
" " "
"Chung quanh vấn đề Tiểu sử của Hồ Xuân Hương", Nghiên Cứu Lịch
Sử, số 152, 9&10 / 1973.
LÊ TRÍ VIỀN chủ biên, LÊ
XUÂN LÍT, NGUYỀN ÐỨC QUY"N, Nghĩ về thơ Hồ Xuân Hương. Sở Giáo-dục
Nghĩa-bình, 1987.
LÊ XUÂN GIÁO, "Thân thế,
Sự nghiệp và Tâm tình của Nguyễn Du tiên sinh",Tập sanVăn Hiến - Tưởng niệm
Ðại thi hào Nguyễn Du. Hoa-kỳ, Los Angeles, 1978?
MAI QUỐC LIÊN, NGUYỀN QUẢNG
TUÂN, NGÔ LINH NGỌC, LÊ THU YẾN, Nguyễn Du Toàn Tập - Thơ chữ Hán.Hà-nội :
Văn Học, 1996.
NGÔ LÃNG VÂN, Hồ Xuân
Hương Toàn Tập. Saigon : Sống Mới, 1971 ; tái bản ở Mỹ, không đề năm.
NGÔ THỜI CHÍ, Hoàng Lê
Nhất Thống Chí. Bản dịch của Ngô Tất Tố. Saigon: Phong trào Văn hóa tái bản
năm 1969 ; tái bản ở Mỹ.
NGUYỄN LỘC, Thơ Hồ Xuân
Hương. Hà-nội : Văn Học, 1982.
NGUYỀN HỮU NHÀN, "Hồ Xuân
Hương và Tổng Cóc (Phóng sự điền dã)", Hồ Xuân Hương - Thơ và Ðời, tr.
218-39.
NGUYỄN TRIỆU LUẬT, Ngược Ðường
Trường Thi. Hà-nội : Tân Dân, 1939; Saigon: Bốn Phương tái bản năm 1957
; tái bản ở Mỹ.
PHẠM ÐÌNH HỔ, Vũ Trung Tùy
Bút. Bản dịch của Ðông Châu Nguyễn Hữu Tiến. Paris : Ðông Nam Á tái bản.
PHAN HUY CHÚ, Lịch Triều Hiến
Chương - Khoa Mục Chí. Hà-nội : Sử Học, 1961. Tổ Biên dịch, Viện Sử học Việt-Nam.
PHAN THÚC TRỰC, Quốc Sử Di
Biên, tập Thượng. Phủ Quốc Vụ Khanh đặc trách Văn Hóa, 1973. Bản dịch của
Lê Xuân Giáo.
PHƯƠNG TRI, "Tài liệu về
Hồ Xuân Hương trên đất Nam hà", Tạp chí Văn Học, số 3, 1974.
TẢO TRANG, "Chiêu Hổ và
Phạm Ðình Hổ", TS Nghiên Cứu Văn Học, số 3, 1962.
Ðào Thái Tôn in lại trong Thơ Hồ Xuân Hương..., tr. 255-64.
Ðào Thái Tôn in lại trong Thơ Hồ Xuân Hương..., tr. 255-64.
TRẦN BÍCH SAN, "Xuân đường
đàm thoại", 1869. Trần Tường phát hiện và công bố trên Tạp chí Văn Học,
số 3, 1974, dưới nhan đề "Một số tư liệu mới tìm thấy về Hồ Xuân
Hương".
TRẦN THANH MI, "Phải
chăng Hồ Xuân Hương còn là một nhà thơ chữ Hán?", Nghiên Cứu Văn Học,
số 3/1963.
" " "
"Thử bàn lại vấn đề tục và dâm trong thơ Hồ Xuân Hương", Nghiên
Cứu Văn Học, số 4/1964.
" " "
"Trở lại vấn đề Hồ Xuân Hương", Nghiên Cứu Văn Học, số 10/1964.
" " " "Bản Lưu
Hương Ký và lai lịch phát hiện nó", Nghiên Cứu Văn Học, số
11/1964.
Nguyễn Thị Chân Quỳnh










Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét