Hương rừng Cà Mau 4
- Người An Nam mình ngồi
trên bộ ván chớ không ngồi ghế. Có hai kiểu ngồi: chồm hỗm hoặc xếp bàn tròn (xếp
bằng), thế thôi. Ngồi ghế, hai cái tay cái chân nó... tòn ten, kỳ cục lắm. Xưa
nay, ghế chỉ dùng cho vua hay quan lớn mà thôi...
Nhiều lần quan chủ quận viết
thư qua bót ông cò hỏi thăm nhưng không được sự giải quyết nào dứt khoát. Chẳng
lẽ giam giữ ông Từ Thông mãi mãi? Nhìn vào bản đồ vịnh Xiêm La, ông quận nảy
sanh ý kiến:
Hai ông già
Giặc Pháp tràn vào xóm, khoảng
đầu năm 1946. Hay tin ấy, thầy giáo Chích rất buồn phiền và căm hận. Suốt đêm,
thầy ngủ không yên. Dường như giặc Pháp bắn chơi cho vui, vì đạn dược còn quá
nhiều. Và tuy không phải người lính chiến đã từng xông pha trong trận địa, thầy
gật gù, kết luận:
- Tụi Thanh Niên Tiền Phong
đã rút lui, chẳng dám bắn một phát súng để cứu vớt thể diện cho đám con Hồng
cháu Lạc, cho đàn cháu của Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Đình Chiểu...
Về khuya, tiếng súng thưa thớt
dần. Và trong xóm vắng đã bị “tiêu thổ”, vài con chó tru nghe thảm thiết. Thầy
giáo Chích lồm cồm ngồi dậy, tắt ngọn đèn dầu cá rồi nằm xuống mặt đất. Gió thổi
lào rào, sương lùa vào, gian nhà lạnh lẽo. Bàn tay thầy giáo mân mê cái mền
rách nát, còn tạm dùng được nhưng đầy rận rệp.
Ngoài cửa, có tiếng ho hen
sù sụ. Thầy giáo ngồi dậy, chưa dám lên tiếng.
- Thầy giáo ơi! Thầy giáo...
Hồi lâu, giọng nói ấy nghe ấm
áp hơn:
- Tôi mà. Tôi là hương cả
An, mở cửa ra! Bộ thầy quên tôi rồi sao? Tôi muốn bàn với thầy một chuyện quan
trọng... Ủa, sao không trả lời. Tôi rình ngoài vách, thấy rõ thầy thổi cái đèn
cho tắt kia mà.
Thôi thì giáo Chích đành lên
tiếng:
- Mời ông vô. Thời buổi này,
khó sống quá. Tôi sợ...
Ông hương cả An đốt đèn rồi
nói rỉ vào tai người bạn trẻ:
- Tây đóng đồn, coi bộ mạnh
lắm đó. Nó chiếm tới chợ Cà Mau rồi, nghĩa là khắp Nam Kỳ lục tỉnh, như thời
xưa vậy. Mấy thằng Thanh Niên Tiền Phong tệ quá...
Vô tình ông hương cả đánh
trúng tim đen thầy giáo Chích. Thầy gật đầu:
- Tệ thật... Họ không giữ được
chữ tín với bà con chòm xóm. Họ thề ăn thua tới giọt máu cuối cùng, vậy mà... họ
rút lui không kèn không trống. Như tôi đây cũng là thơ ký kiêm ban cứu thương vậy
mà họ đi mất dạng không cho tôi hay biết... Té ra, họ sợ giặc, mất tất cả sự trầm
tĩnh của con người... công dân!
Thế rồi từ lúc nửa đêm về
sáng, hương cả An và thầy giáo Chích trở thành hai người bạn tương thân tương đắc
giống hệt nhau từ nhân sinh quan đến vũ trụ quan! Ông hương cả An cho biết “bọn”
Thanh Niên Tiền Phong là nhóm người ô hợp, trong đó có khá nhiều phần tử ở mướn,
và... tay sai của thực dân từ trước. Mấy câu sấm truyền “Long vĩ xà đầu” được gợi
lại, bàn tán. Bỗng dưng mà thầy giáo Chích đâm ra hoài cổ, ngâm khe khẽ câu thơ
“khiển hoài” của ông Đặng Dung hay Đặng Tất, đời nhà Trần: “Thế sự du du nại
lão hà?... Thời lai đồ điếu thành công dị. Vận khứ anh hùng ẩm hận đa...”
Ông hương cả nói:
- Đúng lắm. Hễ bọn thất phu
mà gặp thời thì lên mặt phách lối. Kẻ anh hùng cam nuốt giận, nuốt rất nhiều.
Như thằng cháu rể của bác, bác rành lắm. Vài đứa chạy xuống miệt Cà Mau, đem
theo vàng mà đồng bào lạc quyên để mua súng đạn. Dọc đường, lại dám tri hô bị
ăn cướp chận đánh. Rồi sau đó...
Thầy giáo Chích gật gù:
- Sau đó. Đem vàng bạc về
Sài Gòn, làm ăn mua bán... Tốt hơn, mình nên lo phận mình cho qua ngày qua
tháng, chờ khi nào sáng tỏ hơn. Bây giờ, vàng thau lẫn lộn.
Gà gáy sáng, gáy thưa thớt ở
tận trong ngọn rạch. Súng ngoài đồn nổ vang. Ông hương cả tạm biệt thầy giáo
Chích, nói với lại:
- Thầy yên tâm. Mình nên ở ẩn
một thời gian, mặc cho đời dị nghị. Rồi đây, mười năm sau, người đời hiểu mình
hơn.
- Chừng nào ông trở lại? Đừng
quên cháu, nghe bác. Ở đây một mình, buồn lắm.
- Đừng lo...
Nói xong, ông hương cả về
nhà.
Thầy giáo Chích, sống trơ trọi
một mình. Từ hồi binh đao bắt đầu dấy lên ở tận Sài Gòn, thầy đã biết lo xa,
cho vợ con về Bến Tre để khỏi bận rộn thê nhi.
Người trong xóm lần lượt tản
cư, cất chòi ngoài ruộng. Thầy giáo Chích tha hồ lục lọi những nhà vô chủ. Ngày
vui sướng nhứt trong đời đã đến: tình cờ gặp một bộ truyện Đông Châu Liệt Quốc,
suốt ngày đêm, thầy nằm vùi, đọc không bỏ sót một hàng, đọc tới đọc lui. Năm bữa
sau, tự dưng thầy giáo Chích tự phong mình làm nhà... thông thái. Thầy ghi chép
những cảm nghĩ lên giấy, phê bình các nhân vật Đông Châu. Dưới mắt thầy, Kinh
Kha là kẻ khờ dại, Khánh Kỵ Yếu Ly là kép hát vô danh, Thái tử Đan là kẻ chí lớn
tài mọn... Thầy muốn ghi lại những kinh nghiệm từ ngàn xưa để hy vọng lưu truyền
cho hậu thế...
Ông hương cả lắc đầu:
- Thầy giáo nhớ tới tôi, tôi
cám ơn. Ngặt trong thời loạn ly, khó làm thi phú cho có thần.
Thầy giáo Chích nài nỉ:
- Hết giấy rồi, uổng quá,
tôi lục lạo mấy cuốn tập cũ của học trò, bằng không thì bộ sách nầy còn dày
thêm cả trăm trang. Ông cứ làm một bài thơ bát cú để khi nào in ra thành sách,
cháu in bài thơ đó lên hàng đầu, ông ghém tâm trạng u uất vô bài thơ, ví thời đại
nầy như thời Đông Châu Liệt Quốc, ai dám bắt bẻ...
Rốt cuộc, ông hương cả nhận
lời với một điều kiện nghe qua thì hữu lý:
- Thanh Niên Tiền Phong biết
được bài thơ đó thì nguy lắm. Cũng như tập sách bình luận cổ kim của thầy có thể
làm “bên kia” thắc mắc. Tốt hơn, thầy xin làm thầy giáo vô ngạch... nhà nước.
Ông quan hai Phẹt-Năng ở ngoài chợ T.B là người hiền hậu. Hôm qua, ông ta mời
những thân hào tới, lập lại ban hương chức hội tề để người “An Nam cai trị người
An Nam”, còn ổng thì sớm muộn gì cũng về Mạc-Xây, làm nghề điều khiển hành
khách du lịch...
Giáo Chích nhận lời. Trên đường
đi ra chợ T.B, trong một thoáng, thầy ta hơi chạnh lòng. Làm sao lừa dối lương
tâm được. Như vầy là... theo Tây rồi! Một kiểu theo Tây hơi sạch sẽ. Nhứt là
khi thấy vài cụ già ngồi làm cỏ vườn cây ăn trái, hai bên đường. Trai tơ gái lứa
đều vắng. Các cụ hiên ngang ở lại, giả dại, giả ngây:
- Chào ông đại hương cả!
Chào thầy giáo!
Giáo Chích gật đầu, lấy lệ:
- Chào mấy ông...
- Bậy nè! Nay mai, thầy lên
chức “ông” mấy hồi. Quan hai Phẹt-Năng là người trọng dụng tất cả nhơn tài. Thầy
là người trí thức... sướng hơn tụi tui... Tụi tui tối ngày săm soi mấy gốc mận...
cho tới chết.
Ông hương cả day qua thầy
giáo Chích:
- Hay quá. Mình kiếm vài chục
trái mận sọc tặng cho ông quan hai Phẹt-Năng. Ổng ưa trái cây lắm.
Vùng đất T.B từ lâu nổi danh
về mận. Ở đây, có hai loại mận to trái, ngọt như đường, không có hột. Nhiều người
nhìn nhận: ăn mận nầy ngon hơn ăn trái bôm, trái xá lỵ. Màu mè tươi tắn hơn.
Thầy giáo Chích gật đầu:
- Mận hồng điều, ăn ngon vô
kể. Bên Tây, làm sao tìm cho ra thứ trái đó.
Vào buổi giao thông vận tải
còn quá khó khăn dân làng sẵn sàng tặng cho giáo Chích hàng trăm trái mận hồng
điều. Họ nói vài câu nghe đau xót mà chân thành:
- Để mà làm gì, nó rụng xuống
mương cũng uổng. Miễn là mấy ông Tây đừng đốn cái vườn mận là tụi tôi vui rồi.
Trái cây mà! Hiếm hiệm. Miễn gốc còn thì trái còn...
Câu nói xa xôi mơ hồ ấy khiến
thầy giáo Chích hơi buồn. Phải chăng mấy người đó muốn ám chỉ kẻ làm Việt
gian... chạy theo bơ sữa của quan hai Phẹt-Năng là mất gốc?
Sau khi trình diện với quan
hai Phẹt-Năng, giáo Chích được cấp cho cái giấy thông hành tạm. Quan hai căn dặn:
- Chừng hai ngày nữa, tôi
cho thầy dạy học tại chợ nầy.
Giáo Chích ngỏ lời cảm ơn.
Quan hai Phẹt-Năng nói tiếp:
- Tôi muốn cho thầy làm thơ
ký trong đồn nầy nhưng bấp bênh lắm.
Rồi quan hai Phẹt-Năng phàn
nàn về một vụ trộm cắp hết sức “dơ dáy”. Cách chừng ba hôm trước, bọn lính Pháp
và bọn thân binh phơi quần áo kaki bên hông đồn. Dè đâu, dân ở gần đồn rủ nhau
trộm, lấy tất cả quần áo và dây kẽm gai. Thủ phạm là một lũ trẻ con. Theo giả
thuyết của ông Phẹt-Năng thì chính bọn người lớn điều khiển, cho trẻ con thi
hành. Chúng nó nhảy vô vòng rào, cắt hai đầu dây rồi dùng dây đó mà quấn tròn,
gói ghém tất cả quần áo của lính.
Ông Phẹt-Năng điều tra thêm:
- Dân ở đây sống bằng nghề
gì?
Giáo Chích đáp:
- Nghề trồng mận. Mận nầy
ngon nổi tiếng, nên bán với giá cao: mận sọc đỏ và mận sọc xanh.
Trong một thoáng, ông Phẹt-Năng
cau mày suy nghĩ rồi mỉm cười:
- Dường như hai loại mận nầy
quí báu lắm. Ở xứ khác có không? Tại sao xứ nầy có?
Giáo Chích ngơ ngác:
- Bẩm ông...
Quan hai dịu giọng ngay:
- Ai đem hai thứ mận này tới
đây? Thầy giáo tìm tài liệu giùm tôi. Mận sọc đỏ, mận sọc xanh là thứ trái cây
mới xuất hiện.
- Tôi nào biết...
- Nhưng mấy người lối xóm chắc
biết rõ. Họ ở đây lâu đời, phải không thầy giáo?
Giáo Chích trả lời giọng
ngây thơ:
- Bẩm quan lớn. Để tôi mời
hai ông già cố cựu xóm nầy tới đây... cho quan lớn điều tra.
Vô tình mà giáo Chích lọt
vào quỉ kế của quan hai Phẹt-Năng. Số là tên quan hai nầy muốn nghiên cứu phong
tục, dò xét sự phản ứng của dân chúng khi người Pháp đến tảo thanh Thanh Niên
Tiền Phong. Hắn muốn đo lường sự trung thành của dân chúng đối với chánh phủ
Pháp tới mức nào.
Độ mười phút sau, giáo Chích
trở lại đồn. Quan hai ăn mặc chỉnh tề, vào phòng làm việc để đóng vai nhân vật
quan trọng. Qua khung cửa sổ, hắn thấy thầy giáo Chích và hai ông lão tiến vào
cửa, đội trên đầu hai thúng đựng đầy những trái mận đỏ, mận xanh no tròn.
Người lính canh chạy vô báo
tin. Quan hai Phẹt-Năng nói khẽ:
- Cho vô tự nhiên nhưng phải
để hai thúng mận ngoài cổng. Mầy lục soát thử coi có vũ khí gì trong thúng
không!
Giáo Chích được mời ngồi ghế.
Quan hai gọi lính đem vào phòng hai cái ghế rồi mời hai ông lão ngồi. Hai ông lắc
đầu, day qua giáo Chích như phân trần:
- Ngồi dưới gạch, dựa lưng
vô vách được rồi. Tụi tôi đâu dám ngồi ghế... kiểu Tây.
Giáo Chích nài nỉ:
- Ngồi trên ghế cho rồi mà.
Quan lớn ra lịnh!
Một ông lão đáp:
- Người An Nam mình ngồi
trên bộ ván chớ không ngồi ghế. Có hai kiểu ngồi: chồm hỗm hoặc xếp bàn tròn (xếp
bằng), thế thôi. Ngồi ghế, hai cái tay cái chân nó... tòn ten, kỳ cục lắm. Xưa
nay, ghế chỉ dùng cho vua hay quan lớn mà thôi...
Quan hai trố mắt khi nghe
giáo Chích “thông ngôn” lời ông lão. Thế là ông hương cả được gọi vào. Ông
hương cả xác nhận:
- Người bình dân An Nam có
hai cách ngồi là xếp bằng và ngồi chồm hỗm mà thôi!
Quan hai hơi bực dọc. Hai
ông lão cứ khoanh tay, nhìn nhau. Quan hai hỏi:
- Sao họ day mặt chỗ khác? Họ
khinh tôi hả?
Giáo Chích khuyên nhủ. Nhưng
hai ông lão vẫn cứ cúi mặt. Giải thích rằng:
- Sợ lắm. Thời xưa, theo tục
lệ An Nam thì dân phải kính trọng xá quan, quì lạy vua. Nhìn thẳng vào mặt người
ta là vô phép. Bởi vậy, khi tâu với vua, mấy ông tể tướng còn phải quì cúi mặt.
Đã đến lúc không còn nhịn được
nữa. Nhưng quan hai Phẹt-Năng là kẻ được đào tạo ngành gián điệp từ bên Pháp. Hắn
đã lôi cuốn được hầu hết mấy ông cựu hương chức hội tề, luôn cả thầy giáo
Chích.
Dưới mắt hắn, hai ông lão
kia thuộc vào loại người khó mua chuộc. Và trước khi mua chuộc thì hắn cần phải
hăm dọa khéo léo. Dùng lời ngon ngọt nhưng gợi nhiều ý nghĩa xa xôi để hai ông
lão suy nghĩ và càng suy nghĩ thì càng sợ oai lực nhà nước Pháp.
- Ông già này, tên gì?
Giọng nói của quan hai trở
nên cứng rắn. Ông lão thứ nhứt vụt đứng dậy:
- Quan lớn gọi tôi?
Quan hai Phẹt-Năng khoát
tay:
- Ngồi xuống!
Ông lão lẩm bẩm:
- Ngồi mà nói chuyện là vô
phép. Hay là...
Giáo Chích chận lời:
- Ổng sợ ông chạy trốn. Cứ
ngồi mà nói. Ông tên gì?
- Dạ, tên Mười Bạch.
Quan hai nói chẫm rãi:
- Nhà ông trồng mận đỏ?
- Dạ, đó là mận hồng đào.
Xưa kia xứ nầy không có mận đỏ. Mấy thứ kia trái ăn hơi chát, bán rẻ. Gọi là mận
ta.
- Mận hồng đào có từ bao giờ?
Tại sao trước kia chẳng nghe ai nói?
Lão Mười Bạch gãi đầu, day
qua giáo Chích khẩn cầu nhờ giải thích giùm. Giáo Chích muốn khoe khoang sự hiểu
biết của mình với quan trưởng đồn:
- Thưa ông, hầu hết loại
trái cây... đều từ xứ lạ đem tới...
Rồi như nhận thấy sự lẩm cẩm
của mình, giáo Chích sửa lại:
- Thưa ông tôi muốn nói: sầu
riêng, chôm chôm, măng cụt... đều là giống cây ở miền dưới, tức là Mã Lai, Nam
Dương đem lên Nam Kỳ. Còn trái mận hồng đào thì...
Giáo Chích cụt hứng, cố tiếp
lời:
- Ông Mười Bạch ở xóm nầy
hơn 50 năm, chắc hiểu rành hơn tôi. Cách đây chừng ba năm, mận hồng đào chưa
có. Ai đem giống mận đó tới vậy?
Lão Mười Bạch thở dài rồi cười
nhếch mép:
- Dạ nói ra sợ quan lớn chưa
tin. Tôi là người đầu tiên trồng giống mận hồng đào tại xứ nầy.
- Giống mận ở đâu mà có?
- Trời mà biết! Số là...
Lão Mười Bạch ngưng một chập
rồi tiếp lời:
- Số là năm đó trong vườn
tôi trồng nhiều mận ta. Tôi ra vườn hái trái, thấy một cây mận hơi lạ... Lá nó
lớn, bông nó to... Nó kết trái. Đó là trái mận hồng đào. Tôi sực nhớ mấy năm
trước chim bay qua vườn của tôi từng bầy. Và có một con chim lạ to lớn, mặt mày
quái dị. Tôi muốn nói là...
Quan hai nửa tin nửa nghi
bèn thúc hối:
- Nói mau đi!
Lão Mười Bạch đáp:
- Nói ra sợ quan lớn chê
bai. Số là con chim đó ăn mận từ xứ lạ, bay qua đây rồi tình cờ... ỉa xuống.
Cái hột mận còn nguyên, châm rễ, mọc lá... Sự tích mận hồng đào là vậy!
Quan hai Phẹt-Năng hỏi:
- Còn mận sọc xanh? Ai đem
nó tới?
Mười Bạch nhìn ông bạn già
là Tư Nếp.
Anh cắt nghĩa đầu đuôi phải
quấy cho quan am tường. Tôi nói chuyện mận hồng đào. Anh bạn nói chuyện mận sọc
xanh đi! Sự tích cũng giống như vậy thôi...
Lão Tư Nếp vừa nói, vừa gãi
đầu:
- Dạ năm đó, tôi ra ngoài biển
Cà Mau mà đánh lưới. Tình cờ gặp con cá hình thù quái dị. Chừng đem về xẻ làm
khô, tôi thấy trong ruột cá có cái hột gì đen thui, trồng thử thì nó sống nhăn,
mọc lên, trổ ra trái mận sọc xanh. Mận xanh, mận hồng điều đều chiết nhánh được.
Lần hồi hai thứ mận mọc lan tràn. Thiên hạ chê thứ mận ta, chát ngầm.
Quan hai Phẹt-Năng đứng dậy:
- Cho hai ông già nầy về!
Nghe chán quá. Một thứ thì do cá dưới nước, một thứ thì do chim trên trời. Hai
ông già nói dóc. Coi chừng tôi!
Rồi day qua giáo Chích:
- Xong rồi! Đưa hai ông già
ra cửa.
Đến cổng, giáo Chích tạm biệt
lão Mười Bạch và Tư Nếp.
Mười Bạch nói:
- Thầy giáo phá tôi hoài. Để
tôi ở yên. Tại sao mấy ông Tây ưa cắt nghĩa quá.
- Thì người Pháp muốn biết
nguồn gốc vài thứ trái cây lạ ở thuộc địa, vậy thôi. Mà hồi nãy mấy ông nói thiệt
hả?
Lão Tư Nếp đáp:
- Thì ông bà mình có câu “cá
nước chim trời...”. Cái gì lạ thì do cá nước chim trời... đem tới. Trời mà biết.
Cắt nghĩa làm chi. Hai thứ mận đó ăn ngon, hợp với phong thổ, nó sống hoài. Thầy
giáo biểu tôi cắt nghĩa cho ông quan hai nghe sự tích. Làm sao cắt nghĩa...
Cũng như thầy giáo hỏi tại sao tôi biết ăn, biết thở. Từ rày về sau, thầy đừng
làm vậy nữa. Tôi phiền lắm!
Giáo Chích bẽn lẽn:
- Tôi hứa để hai ông ở yên,
trừ khi nào quan hai muốn điều tra...
Mười Bạch nói gắt, chỉ ngón
tay vào một gốc cây đã trụi nhánh, trong sân.
- Đây là cây mận hồng điều.
Muốn biết thì cứ coi nó trổ bông kết trái. Mấy cha nội Tây ưa đốn ngang để làm
nọc giăng sợi dây phơi quần áo. Coi bộ nó còn mọc hoài...
Nói xong, hai ông lão vừa đi
vừa chạy... Giáo Chích bị chạm tự ái, đến gặp quan hai để mong giữ uy tín:
- Hai ông già đó lợi hại lắm,
có con cháu theo Thanh Niên Tiền Phong đó quan lớn!
Quan hai Phẹt-Năng gật đầu rồi
đưa tay vỗ nhẹ lên đầu giáo Chích như người cha khen đứa con có hiếu. Thầy giáo
Chích thấy đau xót lạ lùng.
Hai viên ngọc
Ông hội đồng Tần khi
trở về già sống quanh quẩn trong gian phòng thiếu cửa sổ, suốt ngày sờ mó mấy
cái tô, cái chén đời Khang Hy, Càn Long. Và mỗi đêm, trước khi ngủ, ông mở tủ sắt,
đem ra chiếc hộp nhỏ cẩn xà cừ.
Sau khi đóng kín cửa phòng,
ông từ từ mở nắp hộp kiểm soát một lần chót mấy viên ngọc xanh, ngọc vàng, ngọc
tím. Ông nâng một viên ngọc trắng tuyệt, tròn như chiếc nhẫn, để gần đôi mắt
tèm hem. Trong kho tàng của ông chỉ món ấy là quí nhứt.
Tục truyền đó là viên ngọc
phòng thân của tướng Tôn Thất Hiệp - vị quan võ đàng cựu, thuộc hoàng tộc - được
lệnh vua Tự Đức kéo binh từ Bình Thuận tới đánh chiếm đồn Khải Tường - ngoại ô
Sài Gòn - đã lọt vào tay thực dân Pháp. Trong một trận xung phong mãnh liệt, tướng
Tôn Thất Hiệp tử thương. Nhiều người tỏ vẻ bi quan, cho rằng viên ngọc ấy chẳng
có giá trị, thay vì hộ vệ chủ, nó trở thành sát chủ.
Tuy nhiên nhờ viên ngọc
phòng thân ấy mặt của ông Tôn Thất Hiệp vẫn tươi rói, xác ông cứ điềm nhiên như
người đang ngủ mê. Mãi đến bốn ngày sau, quân sĩ liệu chừng vị tướng soái khó bề
hồi sinh nên đành tẩn liệm di hài, chở về Huế để mai táng. Một gia đình quí tộc
ở An Nhơn đã thừa cơ hội lén trộm viên ngọc ấy.
Rồi kẻ trộm đã khoét vách
vào phủ thờ của kiến họ nói trên. Dịp may, ông hội đồng Tần mua lại với giá
cao, tương đương với một trăm giạ lúa vào khoảng năm 1940.
Bàn tay ông hội đồng đặt nhẹ
viên ngọc quí ấy lên miếng gấm lót đáy hộp. Ông gật đầu, mỉm cười một mình với
hy vọng xa xôi. Vài năm nữa, trước khi mãn phần, ông sẽ nuốt viên ngọc ấy vào bụng
(nếu đeo trước ngực thì biết đâu có kẻ sẽ đánh cắp). Xác của ông nhờ vậy mà bền
vững với thiên thu...
Ngoài cửa có tiếng động.
Ông hội đồng giựt mình, nghĩ
đến trường hợp bọn gian phi xông vào nhà, cướp giựt mấy món cổ ngoạn.
Ông hỏi:
- Ai làm gì vậy?
Người lão bộc nói khàn khàn:
- Thưa ông, khách tới.
Giọng của lão bộc vẫn tự
nhiên. Nhưng ông hội đồng nghiêm mặt, chưa vội tin.
Như đoán được ý của chủ, người
lão bộc lại lên tiếng:
- Thưa ông, ông chủ Hai ở Hà
Tiên mới tới.
Ông hội đồng vững bụng, bước
lại mở cửa thật nhanh. Ông chủ Hai vốn là người bạn cố tri của ông. Từ Hà Tiên,
ông bạn già chịu khó tới đây, ắt có chuyện quan trọng, lý thú.
- Ông anh ở Hà Tiên mới tới
hả? Chờ tôi một chút.
Giọng ông chủ Hai trả lời:
- Tôi đây mà! Xe đò hư máy,
bể vỏ nên tới trễ. Tôi lật đật lại đây....
Ông hội đồng vặn cái hột
xoài ngay ổ khóa rồi bước ra:
- Mời ông anh lại xa lông uống
trà, chờ bầy trẻ lo cơm nước.
Chủ Hai lẩm bẩm nhìn xéo về
phía người lão bộc:
- Ồ! Để ông già này xuống bếp
lo cơm nước. Tôi hơi mệt, muốn nằm trong phòng cho ấm cúng hơn. Vả lại, công việc
này hơi dài dòng.
Cửa phòng khóa chặt trở lại
như trước. Ông hội đồng đề phòng “tai vách, mạch rừng”. Đôi bạn già nheo mắt:
- Chuyện gì dài dòng, quan
trọng dữ vậy? Uống tách nước trà này rồi ông anh nói cho tôi nghe gấp. Chuyện ở
Hà Tiên hả?
Ông chủ Hai cười khẽ:
- Tôi đố ông anh đoán ra. Bạn
già với nhau, giống nhau ở điểm đó...
- Trật rồi. Món đồ quý giá
vô ngần, đông tây kim cổ....
- Chắc là ông đã gặp một
viên ngọc quý giá?
Ông chủ Hai gật đầu lia lịa:
- Ông anh đoán tài tình lắm.
Người ta vừa điềm chỉ cho tôi một viên ngọc trường sinh kỳ diệu. Ông anh chẳng
bao giờ nghĩ tới công dụng lạ lùng của nó. Công dụng rõ rệt, thiết thực, không
phải mơ hồ như mấy loại ngọc kỵ phong, kỵ thuốc độc hoặc bắn không lủng da thịt.
Bàn tay ông hội đồng Tần mải
mân mê điếu thuốc Gò Vấp vấn chưa xong. Vừa rồi, ông chủ Hai cố ý hài hước, nhắc
đến viên ngọc phòng thân của tướng Tôn Thất Hiệp. Để chứng tỏ sự hiểu biết khá
rộng rãi của mình, ông hội đồng Tần cố vận dụng trí nhớ, nói thao thao bất tuyệt
về con đường gay go mà mấy nhà chơi đồ xưa đã trải qua. Ngọc quý ở Việt Nam gồm
nhiều loại.
Nào là ngọc như ý, loại đá cẩm
thạch màu xanh, chạm nồi hình con giao long, hình dáng ngọc như ý giống như cây
cù ngoéo để các vị vua chúa dùng gãi ngứa sau lưng.
Nào là ngọc lam quỳnh, tròn
cỡ ngón tay cái, trong ruột khoét bộng, chứa thuốc độc. Thời xưa, các vị đại thần
hoặc sứ giả thường đeo nó ở ngực, phòng khi cần hy sinh, giữ tiết tháo. Gặp trường
hợp khẩn cấp, các ngài đem viên ấy ra, mở nút mà uống để quyên sinh thung dung
trực nghĩa.
Sau rốt, ông hội đồng Tần lắc
đầu:
- Thôi, tôi chịu thua ông
anh. Viên ngọc quí mà ông anh nói tới thuộc vào loại gì? Tôi suy nghĩ không ra.
Ai có loại ngọc đó? Liệu chừng họ bán cho tôi không?
Ông chủ Hai bắt đầu trình
bày:
- Gần đây mấy ông Tây tới
núi Ba Thê để bòn vàng tại gò Óc Eo, đền vua hồi xưa, cách đây mấy ngàn năm.
- Tôi biết tin tức đó rồi.
Sao nữa?
- Ở núi Ba Thê, người ta tìm
trong ngôi mộ xưa, gặp viên ngọc trường sinh.
Ông hội đồng Tần hơi thắc mắc:
- Ai dám bảo đảm giá trị của
viên ngọc đó. Nếu trường sinh thì tại sao chủ nhân lại chết trong ngôi mộ cổ
đó?
- Xin ông hội đồng bớt nóng
nảy. Ở xóm Lê Trì, có người Miên đi núi Ba Thê để bòn vàng. Năm sáu ngày liên
tiếp, anh ta chẳng gặp món gì ráo. Đến chừng nghe đồn rằng thiên hạ đã gặp một
ngôi mộ xưa, anh ta đến quá trễ, chỉ còn lượm được viên ngọc màu trắng, lọt
trong lòng ngực của người chết. Chắc chắn xưa kia viên ngọc được chủ nhân đeo
trước ngực, đến chừng thịt nát thì nó lọt vào trong.
Cuối cùng, anh nọ lượm viên
ngọc, đem về xóm Lê Trì, bỏ lăn lóc trong cái chén trên bàn thờ.
- Rồi làm sao ông anh gặp? Nó
trường sinh ở điểm nào?
- Một người hương ấp ở Lê
Trì lên Hà Tiên làm công tại lò vôi của ông bang Sầm đến mách bảo riêng cho tôi
hay. Lập tức, tôi đến nơi xem tận mắt.
Nó tròn cỡ ngón tay cái,
khuyết một bên nhưng điều ấy không quan hệ. Thấy viên ngọc nó có tì vết, móp
méo, tôi xin phép chủ nhà đi rửa ráy cho sạch.
Trời ơi! Nó cứng hơn đá. Tôi
mài thử vào nắp lu. Nắp lu bị hao mòn. Tôi rưới nước vào, hy vọng rằng làm viên
ngọc sẽ mềm “ăn” vào chất nhám. Nhưng tôi thất vọng, đem trả cho chủ. Viên ngọc
đó bất quá chỉ là một cục đá cứng mà thôi. Chập sau, tôi nằm ngủ dưỡng sức, chờ
chuyến xe lôi để về Hà Tiên. Ngủ xong, tôi thức dậy.
Ông hội đồng Tần chẳng còn
bình tĩnh được nữa:
- Chuyện ngủ, chuyện thức của
ông sao mà dài dòng vậy? Thế gian này ai ngủ mà không thức, trừ người chết.
Ông chủ Hai cười giòn:
- Cái việc thức giấc của tôi
thật là màu nhiệm, phi phàm, đáng giá ngàn vàng. Sau khi thức, tôi đi rửa mặt.
Tôi đứng bên cạnh lu nước, cầm cái gáo dừa. Bỗng nhiên, hai chân tôi ngứa ngáy
khó chịu. Tôi dòm xuống, thấy một bầy kiến lửa; nó bu vàng lườm ngay chỗ tôi
mài thử viên ngọc lúc nãy, nó sắp hàng bò tới bò lui, từ nắp lu tới ngoài vườn.
Kiến lửa ơi là kiến lửa. Tôi sanh nghi, trở vào nhà mượn viên ngọc của gia chủ
để trong chén rồi rót nước mưa vào. Rõ ràng hạt ngọc méo mó nọ có chất ngọt, uống
vào thì mát mẻ, bổ khỏe như nước dừa xiêm Bến Tre.
- À! May quá...
Sau bữa cơm thịt gà xé phay,
ông chủ Hai và hội đồng Tần nằm kề nhau, rù rì như đôi tri kỷ quá tương đắc.
Lát sau, chủ Hai ngủ khò. Nhưng ông hội đồng Tần khó dỗ giấc ngủ. Lâu lâu, ông
đánh thức người bạn già, dọ hỏi về cách thức ngoại giao với người chủ viên ngọc,
phỏng định giá cả. Rốt cuộc, hai người đồng ý tranh thủ thời gian lên đường vào
ngày mai, theo chuyến xe đò sớm nhứt.
Ông hội đồng hỏi:
- Nhà của nó ở đâu? Tới hay
chưa? Nó tên gì? Nó giàu hay nghèo? Tôi hồ nghi nó sẽ làm giá thật cao. Hoặc có
kẻ nào đến đó phỗng tay trên thì mình hụt đổi.
Chủ Hai gật đầu từng chập:
- Đừng lo xa. Bữa hổm, tôi
căn dặn kỹ lưỡng rồi. Chủ nhà là người đã từng chịu ơn tôi hồi chầu xưa.
Hai người qua cây cầu khỉ, đến
miếu ông Tà rồi theo đường mòn giữa hai hàng tre già mát rượi. Ông hội đồng vô
cùng sung sướng, vì mình như kẻ “đạp tuyết tầm mai” mùa đông. Ông tưởng tượng đến
những giờ phút mãn nguyện khi “viên ngọc nước dừa” nọ lọt vào tay mình. Chắc chắn
là vị thuốc bổ khỏe, cứ mỗi buổi trưa nóng nực, ông chỉ cần bỏ viên ngọc vào
chén, đổ nước lạnh vào để bào chế ra thứ nước dừa - hiếm có nước cam lồ thứ thiệt.
- Đây rồi. Nhà này - ông chủ
Hai vừa nói vừa nắm tay ông hội đồng.
Sau vài câu xã giao thường lệ,
ông chủ Hai đi thẳng vào vấn đề:
- Chú em? Cục ngọc bữa trước
còn không?
Chủ nhà lặng thinh, gài nút
cổ áo cho ra vẻ khiêm tốn, lễ phép. Đôi mắt ông hội đồng Tần cứ nhướng lên, hướng
về phía bàn thờ để tìm cái chén to, trong đó có viên ngọc quí giá. Lạ quá. Mái
nhà thấp chủm, trời tối om om. Cái lư nhang nằm đó trơ trẽn. Có tiếng thằn lằn
chắt lưỡi. Dưới bếp, mùi mắm bò hóc xông lên, khó thở.
Hồi lâu, chủ nhà mới khai khẩu:
- Cục ngọc nào? À, tôi nhớ rồi.
Phen đó tôi đã thuật đầu đuôi cho ông nghe đó hả?
Rồi chủ nhà nhìn về ông chủ
Hai:
- Ờ... Ờ... để coi. Một người
bạn của tôi mượn nó, đem về Mỹ Lâm. Tôi chờ ông lâu quá. Vài ngày nữa, chắc người
bạn đem về đây...
Ông hội đồng Tần hỏi gắt:
- Vài ngày là bao lâu?
- Dạ, đường xá xa xôi...
Ông hội đồng nghĩ đến thủ đoạn
làm giá nên mở lời:
- Trời! Sao không để dành
cho tôi xem. Tôi biết mà “ngọc lành chờ đợi giá cao”, người xưa thường nói. Tôi
đến đây xem thử và sẵn sàng chuộc nó với bất cứ giá nào. Ông chủ nhà cứ nói thiệt
đem cho tôi xem thử liền bây giờ. Tôi là bạn thân của ông chủ Hai chớ nào phải
kẻ xa lạ mà ngại ngùng.
Chủ nhà như không lưu ý đến
lời thỉnh cầu tha thiết ấy. Ông ta thong thả xuống nhà bếp, thúc hối vợ con bắt
gà làm thịt đãi khách quí.
Ông chủ Hai gật đầu:
- Thiệt mất công quá. Dường
như chủ nhà muốn đãi khách để tống khứ, phải không ông anh? Hay là mình đi qua
Mỹ Lâm, cách đây chừng chục cây số thôi.
Rồi ông gọi chủ nhà:
- Tại sao chú không chờ tôi
tới?
- Dạ, tôi không ngờ. Người bạn
nọ dường như muốn xem thử để... so sánh.
Ông hội đồng trố mắt:
- So sánh cái gì? Người đó
cũng có một viên ngọc khác nữa à? Bòn ở núi Ba Thê?
Chủ nhà thở phào, nhẹ nhõm:
- Dạ... Anh bạn đó đi tìm
vàng ở núi Ba Thê một lượt với tôi. Anh ta ghé nhà người quen để ăn cơm. Ăn cơm
xong, trời sẫm tối, chuyển mưa dông. Vì nóng lòng muốn tới núi Ba Thê cho kịp với
thiên hạ, anh bạn bất chấp mưa gió, đội nón lá, mặc áo tơi ra sân. Bỗng đâu anh
ta thấy nhiều tia sáng chớp lòe, từ dưới đất chớp ngược lên trên trời. Ảnh đi
phăng tới, gặp trong bụi tre gai một viên ngọc. Quí giá vô song...
Chủ Hai nói:
- Ủa! Màu nhiệm quá vậy? Nó
quí như viên ngọc nước dừa không?
Chủ nhà nheo mắt:
- Dạ, thứ khác. Tạm gọi là
“ngọc chớp”!
Miệng ông hội đồng Tần há hốc:
dè đâu ở thế gian này còn nhiều loại ngọc kỳ dị, có công dụng thiết thực hơn ngọc
lam quỳnh, ngọc như ý mà ông gìn giữ trong cái hộp cẩn xa cừ. Ông hỏi gắt:
- Nó chớp thiệt hay không?
Chủ nhà mỉm cười:
- Dạ, chớp thiệt. Tôi xin lấy
một thí dụ. Từ khi gặp viên ngọc chớp, gia đình người bạn tôi sanh thêm tật ăn
cơm chiều hơi trễ nãi. Cơm dọn ra, gia đình ngồi chung quanh mâm, không cần đốt
đèn cho sáng. Vì họ để cục ngọc đó ở mâm. Ánh sáng do viên ngọc đó chớp ra...
nào kém ngọn đèn con cóc!
Hôm sau, hai người cám ơn
gia chủ, lên đường tìm ngọc nước dừa và ngọc chớp ở tận Mỹ Lâm, theo địa chỉ rõ
rệt.
Người chủ nhà ở Mỹ Lâm tỏ vẻ
thản nhiên, chẳng thèm mời hai ông khách quí vào nhà. Vừa cắt cỏ cho trâu ăn,
ông ta vừa nói:
- Anh sui của tôi ở chợ Rạch
Giá tới đây, mượn hai viên ngọc đó đem về coi chơi.
Nhà anh sui dễ kiếm lắm. Tại
xóm Bánh Tằm, Cầu Đúc, hỏi tên Năm Hến.
Nỗi thất vọng hiện rõ rệt
trên gương mặt ông hội đồng Tần. Thế rồi, ai lo phận nấy. Mối tình tri kỷ dường
như sứt mẻ. Ông hội đồng cảm tạ chủ nhà rồi day qua ông chủ Hai:
- Cám ơn anh bạn đã có công
điềm chỉ. Coi bộ gay go quá. Thiệt là “kỳ nhông là ông kỳ đà, kỳ đà là cha cắc
ké, cắc ké là mẹ kỳ nhông”...
Ông chủ Hai nói giọng buồn
buồn:
- Tôi nói bằng sự thật. Tiếc
vì tuổi già sức yếu, công việc làng xã còn bề bộn. Tôi cần về Hà Tiên, ông anh
chịu phiền vậy...
Hội đồng Tần nói gắt:
- Tôi đi tới cùng cho biết
đá biết vàng. Một mình tôi, tôi đi. Thử xem thời thế ra sao?
Đây, chợ Rạch Giá, xóm Bánh
Tằm, gần Cầu Đúc, nhà lão Năm Hến. Trước còn bỡ ngỡ, sau đến chỗ thân mật. Ông
hội đồng nài nỉ hết lời:
- Giấu giếm làm gì? Tôi muốn
coi cho biết mặt hai viên ngọc đó chớ chẳng muốn mua hoặc tịch thâu. Tội nghiệp
tôi. Phen này mà thất bại ắt thiên hạ cười dữ lắm.
Lão Năm Hến lắc đầu:
- Uổng quá. Đối với tôi, hai
viên ngọc đó cũng quí nhưng gìn giữ mà làm gì? Đời này, ngoài chợ bán thiếu gì
nước xá xị, nước dừa tươi. Đường phố sáng trưng bao nhiêu đèn điện. Tôi cất hai
viên ngọc chớp và ngọc nước dừa đó trong cái hộc tủ. Mấy đứa cháu nội của tôi
đi học về, lục lạo, lúc tôi ngủ trưa. Tôi hỏi lại mới hay rằng tụi nó dùng ngọc
mà bắn “cu li”, rớt xuống kinh xáng trước nhà từ lâu rồi!
Bỗng dưng ông hội đồng Tần
cười ha hả. Chẳng lẽ đi năn nỉ mấy đứa cháu nội của lão Năm Hến này. Rõ ràng là
kẻ thất phu, giá áo túi cơm đang đùa giỡn với ông từ mấy ngày qua. Khó sống
quá. Ông hội đồng tự so sánh với một sứ giả thời xa xưa. Nếu có đem theo kiểu hột
ngọc đựng thuốc độc, chắc ông đã uống để quyên sinh, giữ giá trong tiết sạch.
Ông nhớ tới cái hộp cẩn xa cừ ở trong phòng. Hay là ông chủ Hai đã dùng quỉ kế,
bày chuyện cho ông đi xa nhà - điệu hổ ly sơn - để thừa cơ hội ấy bố trí tên
lão bộc làm nội ứng. Chẳng lẽ ông chủ Hai lại tàn nhẫn đến thế. Ôi thôi, cái
nghề sưu tầm đồ cổ ngoạn để làm của riêng, để sống dai, sống khỏe, để cái xác của
mình chết khô, không bao giờ hôi thúi... là cái nghề bạc bẽo, tuyệt vọng vậy
thay!
Ông đứng dậy, nói với Năm Hến:
- Biết tôi cười chuyện gì không?
- Làm sao tôi biết được? Ông
cười cho cái lão người đời muôn sự của chung hả? Tôi ăn học ít oi lắm.
- Ha ha... Tôi cười vì tôi sẽ
làm giàu to.
Lão Năm Hến chưng hửng:
- Ông nói điều gì? Tôi chưa
hiểu?
Hội đồng Tần lại mở gói thuốc
Gò Vấp hút phì phà, nhìn dòng nước cuồn cuộn dưới kinh, chảy vội vào chân Cầu
Đúc ra biển gần đó.
- Tôi sẽ xin phép quan chánh
tham biện chủ tỉnh đấu thầu khúc kinh xáng trước mặt nhà này. Tôi mướn người ta
đắp đập ở hai đầu kinh, chận lại đừng cho nước chảy, uổng lắm.
Lão Năm Hến trợn mắt:
- Bộ ông muốn tát nước để
tìm hai viên ngọc chớp, ngọc nước dừa? Tốn kém lắm. Vô ích. Như mò kim đáy biển.
Ông hội đồng lắc đầu, buồn
giùm cho những kẻ phàm tục:
- Mò lên làm chi. Tôi để nó
nằm tại đó. Viên “ngọc nước dừa” sẽ pha vào nước. Tôi múc nước lên, vô chai, đậy
nút bán hàng vạn chai, cạnh tranh với “xá xị”, “li mô nách”. Còn viên “ngọc chớp”
thì cứ chớp hoài suốt đêm, gió thổi không tắt, chẳng tốn xăng nhớt chạy máy.
Công ty nước ngọt và công ty nhà đèn của Tây phải phá sản vì tôi cạnh tranh với
họ mà....
Bầu không khí trở nên trầm lặng.
Lát sau, lão Năm Hến nói một câu xa xôi để đuổi ông khách lẩm cẩm nọ:
- Vậy thì đâu có gì lạ. Nước
dưới sông bao giờ cũng ngọt xớt, nước Hậu Giang chảy về đây mà. Còn ban đêm, bữa
rằm, trăng sáng soi bất cứ nhà ai. Ôi thôi! Để tôi lo làm ăn... Ai mà rảnh rỗi
như ông!
Hát bội giữa rừng
Rạch khoen Tà
ưng ngày...
Cháu X...
Hèn lâu, bác mới nhận được
thơ của cháu gởi xuống thăm bác. Dưới này, xóm riềng đều được vạn sự bằng an.
Trong thơ, cháu có hỏi về sự tiêu khiển của người mình hồi mới khai thác đất
hoang, năm sáu chục năm về trước. Cháu nói hồi đó dân mình ưa hát đối, hát huê
tình.
Không phải vậy đâu! Hát đối
cần có sông rạch thông thương để bên trai bên gái tự do bơi xuồng song song
nhau mà hát. Đằng này, “dưới sông sấu lội, trên rừng cọp đua” có ai dám bơi xuồng
ban đêm bao giờ! Việc hát đối cần có ít nhiều tiền bạc để làm tiệc tùng thiết
đãi tất cả những ai có mặt cho vui với nhau. Đằng này, dân mình hồi đó còn
nghèo lắm, ruộng chưa hết phèn, đình chưa cất, hương chức làng chưa có.
Bởi vậy chỉ có hát bội là
cách giải trí độc nhất của người đi khai phá đất mới.
Ai hát bây giờ? Lẽ tất nhiên
không phải là mấy người trong xóm. Họ không biết chữ Nho, tiền Đường, hậu Tống
gì hết.
Phải mời một gánh hát bội từ
xa lại hát chơi một đôi tháng. Nói đúng hơn, ông bầu gánh đích thân tới xóm
mình. Năm đó, nhớ kỹ lại... bác chừng mười bảy tuổi, xóm Khoen Tà Tưng mới chỉ
có hai mươi căn chòi lá.
Ông bầu gánh tới bàn với mấy
ông kỳ lão:
- Bà con tôi muốn lại đây
hát giúp vui.
Hát bội ai mà không ham, ngặt
ông bầu nọ buộc nhiều điều gắt gao quá. Như là phải nuôi cơm toàn ban nam nữ.
Như là phải cất rạp sẵn cho mấy ổng hát.
Nghe qua, mấy ông kỳ lão lắc
đầu vì đào kép toàn ban hát họ đông gần bằng dân số xóm này... Hơn nữa rạp cất
giữa vùng cọp beo, nghĩ cũng khó bảo toàn tánh mạng cho người hát và người đi
xem hát. Ông bầu đành năn nỉ:
- Bà con thương giùm, anh em
tôi cực chẳng đã mới chạy xuống miệt này! Không lẽ bà con bắt nộp cho Tây chớ
anh em tôi ở miệt Vũng Liêm vô hội “Kèo xanh” rồi bị đổ bể.
Động lòng trắc ẩn, mấy ông kỳ
lão đồng ý. Rồi thì mõ đánh chuyền rao cho đầu trên xóm dưới hay rằng:
“Nay mai có hát bội tới, trước
mua vui sau làm nghĩa, mỗi nhà nên tùy hỷ góp vài vùa gạo để nuôi họ. Đồng thời,
tất cả những thanh niên trai tráng phải vô rừng đốn tràm, vạt nhọn dưới gốc sẵn”.
Hỏi:
- Hát ban ngày hay ban đêm?
Ông kỳ lão nói:
- Hát ban đêm mới vui chớ,
ban ngày để làm công việc đồng áng.
Có người cật vấn về vụ cọp
ăn thịt người, ông kỳ lão nói:
- Bà con đừng lo, cứ đốn
tràm về đây, nhiều chừng nào tốt chừng nấy. Phen này, mình mời cọp và sấu tới
coi hát với mình cho vui luôn thể.
Tràm đốn về chất đống. Ông kỳ
lão đích thân đốc suất việc xây rạp. Cơ mưu của ông như vầy: cất một cái nhà
sàn ở giữa sông, theo kiểu ba căn hai chái. Ba căn giữa dùng làm sân khấu, hai
chái dùng để đào kép ăn ở nấu cơm. Như vậy, nhứt cữ lưỡng tiện chớ chòi trong
xóm nhỏ quá, đâu đủ chỗ cho họ ở đậu.
Hỏi:
- Dân tụi tôi đứng đâu mà
coi hát?
Ông kỳ lão nói:
- Bà con dốt quá! Chung
quanh sân khấu nọ, mình xốc cừ làm vòng thành, gốc cừ này khít gốc kia chừng một
gang tay. Ai muốn coi cứ việc bơi xuồng vô vòng rào nọ. Xong xuôi đóng cửa lại.
Cọp phải bơ vơ ngồi trên rạch, sấu thì đành ngóng mỏ, ngoài vòng. Trong này,
mình ngồi trên xuồng mà coi sáng đêm ăn thua. Tuồng Tàu dài lắm.
Xóm Khoen Tà Tưng rộn rịp
còn hơn Tết, suốt ba bốn ngày liên tiếp họ dựng rạp, xốc nọc dưới sông. Mấy anh
chị đào kép mới tới vô cùng mừng rỡ, họ cởi áo ra tiếp tay.
Nhà cất xong, bây giờ tới lượt
lợp lá, lót sàn. Lá dừa mọc sẵn dựa mé. Tràm nhỏ cây, ở đâu mà chẳng có, cứ đốn
về lót thế cho sàn. Đêm hát ra mắt, vui quá đỗi là vui! Đào kép thì áo mão xanh
đỏ, đầu giắt lông trĩ, ngặt hai bàn chân thiếu hia, thiếu hài. Trống đánh thùng
thùng, kèn thổi tò tí te.
Hai bên rạp chong bốn ngọn
đuốc sáng rực.
Họ hát tuồng Phong Thần, lớp
lập Bá Lạc Đài. Tuồng nhắc lại khi Tử Nha còn hàn vi nhờ người bạn là Tống Dị
Nhơn cưới vợ cho. Vợ tên là Mã Cơ. Rủi thay, cô vợ này có tật thô lỗ, xúi giục
chồng đi ra chợ kiếm tiền cho cô đi xài phí. Tử Nha ra chợ làm thầy bói, gặp
con Tỳ Bà Tinh là chị em của Đắc Kỷ. Tử Nha biết đúng chơn tướng con yêu nọ,
nên xin phép Tỷ Cang thiêu sống nó. Tỳ Bà Tinh hoàn nguyên hình là cây đàn tỳ
bà bằng đá.
Giáo đầu là lời chúc mừng
nhà vua. Sau đó, Dị Nhơn múa mà rằng:
Sông Hà Lạc, qui trình tám
quẻ,
Cửa Võ Môn, cá nhảy ba từng.
Trẻ ngậm cơm ngả ngớn đền
Xuân,
Già vỗ bụng chình chòng cõi
Thọ.
Miêng Trì là quê ngụ, Dị
Nhơn thiệt tên già!
Tử Nha bèn bước ra, xưng
danh, than thở rằng mình chưa gặp vận. Dè đâu bà vợ là Mã Cơ xấn xả chạy lại mắng
Tử Nha:
Bớ ông Tử Nha này:
Tôi, cầm khỉ không tường khỉ
múa,
Còn chăn voi chẳng biết voi
lung.
Hay mần răng! Này tôi nói
cho:
Bảo đừng về tiên ngộ tiên
khùng,
Khá kiếm chỗ ở thuê ở mướn.
Để trả tiền đường, tiền đậu
đây... à!
Tức quá Tử Nha ra chợ ngồi
làm thầy bói. Tỳ Bà Tinh liền tới thử tài. Biết chân tướng yêu tinh của mình
không qua được cặp mắt thần của Tử Nha, Tỳ Bà Tinh liền tri hô vu cáo rằng Tử
Nha toan hiếp dâm nó. Ông trùm xóm hạ lệnh cho dân chúng rượt bắt Tử Nha:
Tốc bôn trì, tốc bôn trì!
Lai ứng tiếp, lai ứng tiếp!
Lão già này hãm hiếp, hãm hiếp!
Bắt gái trẻ hoang dâm, hoang
dâm!
Quyết sanh cầm, quyết sanh cầm!
Nan dung thứ, nan dung thứ!
Tuồng này nghĩ thiệt lạ, thiệt
hay. Nhiều người ba bốn chục tuổi mới được xem lần này là lần thứ nhứt. Họ thức
sáng đêm ngồi dưới xuồng, khi mệt mỏi thì nằm xuống. Rồi lại ngồi dậy. Hai ba
đêm đầu, cọp sấu không dám lại vì tiếng trống, phèng la, đốt lửa.
Việc gì cũng vậy, riết rồi
sanh chán. Xưa kia, ông Từ Thức cưới vợ tiên ở Bồng Lai mà còn đòi trở về dương
thế, hà huống chi xem đoàn hát Bầu Tèo này biểu diễn.
Mấy đứa con nít xem một chập,
ngồi ngủ gục. Chừng trống đánh giựt mình, tụi nó dụi mắt, cằn nhằn: “cái gì mà
tốc bôn trì, tốc bôn trì hoài! Cả tháng rồi không có gì mới. Cứ con yêu Tỳ Bà
Tinh chưn cẳng có ghẻ ngứa...”. Tụi nó xúm nhau bơi xuồng về. Hỡi ơi! Hai ba
ông cọp chạy dài theo bờ rạch! Thôi thì đành trở vô vòng hàng rào nọ mà chờ đợi
tới sáng.
Cũng chuyến nọ, con Tỳ Bà
Tinh đang hát bỗng nhiên mặt mày xanh lét, tay run run chỉ xuống sông rồi chạy
trở vào buồng. Rõ ràng là Tỳ Bà Tinh thấy hai con sấu đang ngỏng mỏ vô hàng
rào. Ông kỳ lão ra lịnh giống phèng la. Sấu lặn mất.
Lần lần, dân chúng thỏn mỏn
về số gạo nuôi đào kép. Ba chục ngày là ba chục vùa gạo! Ông bầu tìm cách sáng
chế tuồng mới nhưng quanh đi quẩn lại chỉ bấy nhiêu đào kép, bấy nhiêu áo mão.
May thay, lúc đó dân xóm Khoen Tà Tưng có sáng kiến qua xóm Tà Lốc mời mấy người
Miên bên đó để xem hát trước mua vui, sau nữa là chia sớt gánh nặng lúa gạo.
Người Miên rất đỗi hoan hỷ. Họ giúp sân khấu nọ vài điệu múa “rầm” lúc sửa soạn
vô tuồng. Gần vãn hát, họ đưa lên một anh hề Miên giễu bằng tiếng Việt Nam.
Chuyện giễu của họ như vầy: anh nọ ở bên này sông, có cô tình nhân ở bên kia
sông. Không biết cách nào qua được, anh dậm chân:
- Cô Hai ơi! Sông sâu sào vắn
đâm không tới! Muốn qua thăm bậu ngặt không có chiếc “re”!
Lúc đầu nghe giễu như vậy ai
nấy cười nắc nẻ. Lần hồi sanh nhàm. Vì vậy, gánh hát bội phải từ từ rút lui qua
xóm gần đó, cách chừng ba chục cây số.
Trời bắt đầu sa mưa. Gánh
hát ra đi, nghĩ cũng hợp thời cho dân xóm này nhưng bất lợi cho họ. Họ rã gánh
lần lần, lưu lại khắp trong vùng hoang vu này nhiều chuyện hay hay. Dân xóm
Khoen Tà Tưng bị ảnh hưởng của họ đậm quá! Mấy đứa con nít chăn trâu nhái lại
giọng hát bội, thét lên inh ỏi ngoài đồng:
- Muôn tâu bệ hạ! Muốn yên
nhà lợi nước, nên trồng đước với dà. Mai sau có hư cửa hại nhà, đốn nó làm kèo
làm cột...
- Muôn tâu bệ hạ! Muốn yên
nhà lợi nước, nên trồng đước với su, bắt khỉ đột cầm tù, ắt yên nhà lợi nước...
Có một anh hề trong gánh hát
trốn ở lại. Người đó sau này là ông Biện H. Ông biết chút ít chữ Nho. Nhờ ổng
mà xóm này có viết liễn. Nghe đâu chú của ổng hồi trước phò ông Phan Thanh Giản
thủ thành Vĩnh Long. Ổng phải giả danh kép hát chạy xuống miệt này. Trước khi
làm biện ở đình, ổng nổi danh một thời về tài hát huê tình. Ổng nói: phải nhái
theo lời văn của hát bội, thí dụ như: “Cả tiếng kêu...! Ớ này em Hai ơi! Sách có
chữ thiện ác đáo đầu...” thì câu hát mới vui, có tinh thần.
Ý kiến đó được anh chị em
hát huê tình khen là phải.
Câu chuyện hát bội hồi xưa tới
đây cũng khá dài rồi. Nhưng chưa hết, vì còn mấy ông cọp nọ. Có lẽ mấy ổng mê
hát bội hơn loài người. Chừng một tháng sau, cái sân khấu nọ tốc nóc, bao nhiêu
nọc tràm làm hàng rào đã lung lay ngả nghiêng trên dòng nước, chừng đó người ta
nhìn thấy một đôi ông cọp thường lui tới ngồi cú rũ dựa vào gốc cây gừa bên bờ
rạch. Nhứt là đêm có trăng, mấy ổng le lưỡi dài thòn, như nhớ tiếc bao nhiêu
con mồi ngon, bao nhiêu tiếng kèn, tiếng trống. Biết đâu về sau này mấy tiếng
“coi hát cọp” là do sự tích của mấy ổng hồi xưa, không chừng!
Non trăm năm về trước, làn
sóng người Việt Nam từ Cần Thơ, Vĩnh Long đổ xuống Rạch Giá, Cà Mau để khai khẩn
đất hoang. Họ đã gặp những trở ngại thiên nhiên nào? Tài trí, sự dũng cảm của họ
ra sao? Lòng chúng ta không khỏi phập phồng âu lo khi ngày nay đọc lại quyển
Truyện đời xưa của cụ Trương Vĩnh Ký.
Cụ có nhắc lại câu chuyện cọp
ở vùng Gò Quao. Cọp ta đi dạo xuống bãi sông để tìm mồi, rủi bị kẹt đuôi trong
bụi dừa nước... Rõ ràng thời ấy cọp quá lộng hành dám bỏ rừng sâu, bén mảng đến
các xóm nhà sát mé sông, nơi mà chúng bị cô lập, thất thế nhứt. Ông cha ta đã
đánh đuổi lũ cọp ấy như thế nào?
Có người đáp: nhờ các thầy
võ giỏi, chuyên môn đánh cọp xuất thân ở các trường võ Quảng Nam, Quảng Ngãi. Gặp
lúc nước nhà loạn lạc, các thầy chạy vào vùng Cà Mau mà ẩn lánh. Võ nghệ của
các thầy quá đỗi cao cường, gặp cọp là rượt bắt lại, nắm gáy đè xuống, nện vào
lưng cọp những quả đấm thôi sơn chẳng khác nào chúng ta ngày nay đánh một con
mèo hoặc một con chó con... Người khác bảo rằng: họ đã từng gặp mấy ông
thầy bùa Xiêm, chuyên môn dụ dỗ cọp. Các thầy Xiêm nằm ngửa dưới gốc cây giữa rừng
mà thổi kèn, nói đúng hơn là thổi vào một miếng lá tre. Tức thời cọp mẹ, cọp
con chạy lại, quỳ xuống hầu hạ canh gác cho thầy ngủ. Sau khi thức dậy, thầy
Xiêm vỗ về từng con, nhổ vài sợi râu hoặc vài sợi lông để nuôi sâu. Lông cọp,
râu cọp được đem về cắm trong măng tre đang mọc. Vài hôm sau thì ô hô, mỗi sợi
là một con sâu. Tục truyền rằng loại sâu ấy lớn bằng cườm tay, mặt đỏ hói, mình
mẩy vằn vện, có đuôi dài ngoe nguẩy. Nhiều người nuôi nó trong một cái hũ kín
mít để giữ nhà.
Khi có khách đến sâu cọp nhảy
dựng trong hũ nghe rổn rảng rồi la hét! Ngoài ra, cứt của loại sâu này rất quý
giá vì nó là vị thuốc độc, giết người trong nháy mắt, v.v...
Sự thật ra sao?
Cọp U Minh, cọp Gò Quao ngày
nay bị tiêu diệt hoặc bị xua về Bảy Núi, về Tà Lơn phải chăng là nhờ các thầy
võ Quảng Nam hoặc các thầy Xiêm có bùa phép?
Trả lời câu hỏi ấy, cách hay
nhứt là đến tìm các ông bà lão hiện còn sống ở vùng Gò Quao, Trà Ban. Mấy ông
bà này nếu không trực tiếp đánh cọp thì ít ra cũng đã thấy và nghe rõ ràng hơn
chúng ta. Vậy xin mời các bạn đọc thân mến đến phỏng vấn và nghe các ông trả lời.
- Thưa ông, ông xuống đây lập
nghiệp từ hồi nào?
- Điều đó không nhớ chắc chắn
ngày tháng. Nhưng mà mấy cháu nên nhớ: hồi Tây đánh nước mình, miệt Rạch Giá,
Cà Mau còn hoang vu. Ngoài biển có ghe đánh lưới của người Hải Nam. Còn trong đất
liền chỉ có mấy nhóm người Triều Châu, Phước Kiến qua đây từ đời ông Mạc Cửu. Họ
ở gần chợ Rạch Giá, chợ Bạc Liêu bây giờ. Kỳ dư, có vài sóc người Miên ở giữa đồng.
Thưa thớt lắm. Sông Cái Lớn, Gò Quao này nhiều khi chèo ghe suốt ngày mà không
gặp một nhà nào. Nghe nói hồi Gia Long tẩu quốc, nhiều người cất nhà ở Tân Bằng,
Cán Gáo, Rau Dừa, Cái Nước. Hồi tôi xuống Gò Quao này, ở miệt dưới đã có vườn
tược, có cau lão rồi. Nhưng đó là chuyện xa xôi, cách mình một khoảng rừng trên
trăm cây số. Nghe nói chớ tôi chưa từng đi tới.
- Lúc đó miệt Trà Ban này phải
chăng là hoàn toàn không có ai ở?
- Sự thật như vậy. Vài nhà
người Miên ở tận giữa đồng nhưng họ không làm ăn chung đụng với người mình. Kỳ
dư, ven sông Cái Lớn này toàn là rừng. Trên bờ có cọp, dưới sông có sấu. Mình
chèo ghe ban ngày, chừng vài trăm thước là thấy sấu nổi trước mũi ghe. Trời chạng
vạng, nghe cọp rống, mấy ổng úp mặt xuống đất nên có tiếng dội...
- Hồi mới tới cất nhà, chắc
cọp khuấy rối mình dữ lắm?
- Không có! Mình ngu dại gì
vô rừng già cất nhà ở. Cứ lựa mấy vàm rạch nhỏ, chèo ghe vô tuốt trong ngọn
cùng mà cất chòi. Làm như vậy có hai điều lợi. Một là trong mấy ngọn rạch không
có rừng già. Rừng chỉ ăn dài theo mé sông Cái, bề sâu vô chừng hai ba ngàn thước....
Phía trong toàn là sậy, đế, cây mốp, rừng chồi. Mình có thể phá gấp sậy đế đó để
làm ruộng trước, có lúa gạo mà ăn liền. Điều lợi thứ hai là ở xa cọp. Lúc mới
xuống làm ăn, mình cần sự yên ổn. Hơi đâu mà lo chuyện đánh cọp, trong lúc mình
không rành võ nghệ.
- Ở hẻo lánh như vậy, chắc sợ
cọp dữ lắm. Cọp ưa tìm người mà ăn thịt...
- Vài người lo xa. Họ rào
chung quanh chuồng heo. Sợ nhứt là khi mình đi ruộng, cọp lén vào nhà bắt con
nít. Lần đó, cọp tới sân tôi chạy vòng quanh tìm cách vô nhà. Đứa con tôi ở một
mình. Nghe tiếng động đậy nó chạy ra sát hàng rào. Cọp ta không phương thế nào
vào trong được nên day lại, thò đuôi vô kẽ hàng rào. Trưa về nhà nghe con tôi
nói lại: “Ba ơi! Hồi ba đi ruộng, có con mèo vện lại đây, thò đuôi vô. Con nắm
đuôi mà nó mạnh lắm, kéo ra được chạy vuột”. Chừng đó, lối xóm ai cũng hoảng sợ
xây hàng rào chung quanh nhà. Đêm cũng như ngày chỉ nghe động tịnh là nghĩ tới
cọp. Nhưng dân mình gốc ở hai huyện (Cần Thơ, Vĩnh Long) xuống đây. Ở đó, đất
khai khẩn lâu đời rồi nên phần đông nghe tới tên cọp là sợ chớ ít ai thấy tường
tận ông cọp lần nào. Có một cô nọ ngồi rửa chén sau nhà, thấy cái tàu mo cau rụng
xuống bèn vụt chạy vô nhà, đóng cửa lại: “Má ơi, cọp! cọp!”. Hỏi cọp ra sao. Cô
ta nói nó cao lắm, lưng nó vàng, bụng nó rằn. Chừng xem kỹ lại rõ ràng là tàu
cau... Có bà lão khác ngồi câu cá dưới gốc cây xộp. Cọp trong rừng men chạy ra
chụp một cái. Bà nọ té nhào bên một gốc cây. Nhờ vậy mà cọp chụp hụt. Sau đó cọp
chạy cong đuôi vô rừng. Bà ngồi dậy mở mo trầu ra ăn rồi lững thững về nhà nói
lại. Bữa nay xui xẻo quá. Câu cá không được con nào, nhè gặp heo rừng ra nhát.
Chừng cả nhà hồ nghi trở ra gốc xộp mà xem kỹ, rõ ràng là dấu móng cọp. Kể từ
đó, thiên hạ ưa bàn tán về cọp, bắt đầu lo ngại. Có người bàn: nên thành lập một
đội binh để vô rừng đánh cọp. Công việc đầu tiên là đốn tre tầm vông vạt nhọn để
sẵn. Khi gặp cọp thì đánh trống lên, cả xom xách tầm vông tới nghinh chiến. Mới
nghe qua, dường như có lý. Nhưng năm đó, ở rạch Cái Cam, Phong Điền, Cần Thơ,
có người xuống cho hay: “Ở xứ tôi, có bố trí như vậy nhưng thất bại. Gặp cọp,
đánh trống lên, ai nấy xách tầm vông chạy tới. Cọp im lặng, trụ hình một chỗ.
Thinh không, ổng hét lên. Tức thì ai nấy chạy tán loạn. Có người thiếu điều đổ
ruột vì chạy càn đụng nhằm ngọn tầm vông của bạn mình. Về sau, có người gài bẫy
được một ông cọp. Họ đút mũi tầm vông vô miệng cọp để đâm. Dè đâu cọp nhai nát
như... mình ăn mía”.
- Vậy làm thế nào đánh cọp đến
đỗi không còn sót một con như ngày nay?
- Chuyện đó phải làm lần hồi.
Bố trí một đạo binh đánh cọp không xong, dân xóm này mới bày đặt cất miễu thờ cọp.
Đó là ngụ ý: “Chúng tôi là người làm ăn, không dám đả động tới ông, xin ông cứ ở
trong rừng để chúng tôi được yên ổn!”. Cất miếu xong, chạng vạng có người tới đốt
nhang. Mấy hôm đầu, ông cọp đi vòng quanh miếu, đứng nhìn nhang rồi về. Bữa sau
đem ra cúng một cái đầu heo rừng. Cọp mừng lắm. Từ đó xóm giềng được yên.
Nhưng, tạo hóa vần xoay, dân
miệt trên xuống đây khai khẩn ngày thêm đông.
Đất giữa đồng khai thác hết.
Bấy giờ chỉ còn là đất rừng sát mé sông, nơi cọp ở. Đó là hồi nguy nan nhất cho
dân mình và cũng cho cọp. Nhiều người làm gan cất nhà sát mé rừng. Ban đầu, đôi
ba nhà, sau, năm mười nhà. Họ thấy ở gần rừng mé sông tuy là nguy hiểm nhưng có
nhiều huê lợi khác: ăn ong, làm rẫy. Một công rẫy trúng mà được tới một trăm
hai chục giạ khoai lang. Lúc này, nhiều người chết vì đi một mình vô rừng bị cọp
chụp bất thình lình. Họ sắm mác thông, thứ có cán dài để ứng phó. Nhưng ở chỗ rừng
dày, con người khó bề xoay trở để thủ thế.
Thời thế tạo anh hùng. Bận
đó, ông thầy Râu (thầy thuốc Nam, vì có râu dài nên gọi là thầy Râu) có đứa con
gái bị cọp vồ. Tức mình ông cầm mác rượt theo tận giữa rừng, chém cọp rớt một cẳng.
Tư Ngạn bị cọp cõng mất một con heo nái. Chú rượt theo cầm cự với cọp suốt buổi
trưa. Nhờ lối xóm tiếp cứu nên mới thoát nạn. Từ đó về sau, chú ưa uống rượu, cặp
mắt luôn luôn đỏ ngầu.
Kinh nghiệm là không nên
đánh cọp nơi chật chội, tư bề có cây cối. Cọp sợ con người. Bằng cớ là ở giữa đồng
trống, mình cầm mác thét lớn là cọp chạy mất. Vì vậy, khi dân mình phá động rừng,
cọp tản mác, kiếm nơi khác mà hùng cứ. Rạch Cái Bần này lần hồi còn sót lại được
ông Mun.
- Tại sao ông Mun dám ở lại?
- Vì ông thuộc về loại cọp
già, đã từng chống chọi nhiều phen với loài người. Cọp nhỏ thì đi. Cọp già ở lại.
Thứ già là thứ dữ. Mỗi rạch chỉ còn sót lại một hai ông. Dân trong xóm đều quen
mặt nên đặt tên. Có hai ông. Ông Vện với ông Mun. Vện là cọp đực. Ông Mun là cọp
cái.
Trời đất dành riêng cho đôi
cọp này số phận riêng. Trước hết xin nói về ông Mun.
Thường ngày ông tới lui vàm
Xẻo Gừa - một xẻo nhỏ, có cây gừa to lớn, nhỏ gừa (rễ thòng xuống) buông xuống
hàng trăm cây to bằng cổ tay, bằng cây cột nhà. Ông Mun ngủ sát gốc, chung
quanh có nhỏ gừa che chở nhiều lớp.
Ông dạn lắm. Sáng đi, chạng
vạng về. Tháng Tư năm đó, ông sanh được bốn ông Mun con....
Thật là khủng khiếp, lạ thường.
Xưa nay, cọp sanh một hay sanh đôi là cùng. Đàng này sanh tới bốn con. Dân làng
nhìn nhau lắc đầu, tưởng tượng một ngày kia bốn ông Mun nhỏ lớn lên, sung sức.
Phải đối xử bằng cách nào?
Bắt bốn ông Mun con chăng?
Chuyện đó rất dễ. Ông Mun mẹ thường đi tìm mồi, để bầy con bơ vơ ở gốc cây gừa.
Nhưng mất con, ông Mun mẹ sẽ đổ quạu, trả thù, gây nhiều chuyện bất an cho xóm.
Lo xa rồi lại nghĩ gần, ông
thầy Râu, ông hương quản Huệ, ông tri Khách lừa bày ra một kế: bắt bớt ba, chừa
lại một.
Thi hành xong, ba ông đem ba
con cọp nhỏ về nhà. Xóm giềng rất đỗi vui mừng. Nhưng ba ông không yên trí, sợ
ông Mun mẹ đánh hơi theo tìm con để trả thù...
Sau rốt, các ông mua nhang
đèn về dựng bàn thờ trước nhà mà khấn vái:
- Xin trình cùng ông Mun được
hay: Thói thường xưa nay một mẹ thì một con. Đằng này, ông sanh tới bốn con.
Dân làng chúng tôi lo sợ nên thừa lúc ông đi vắng có tới xin bớt ba con, chừa lại
cho ông một con. Như vậy không mích lòng ông mà cũng không hẹp bụng chúng tôi.
Ông Mun về ổ, thấy mất con,
gầm thét, rồi vài hôm sau dẫn đứa con còn lại đi đâu mất.
Bây giờ làm sao để nuôi ba
ông cọp con nọ?
Cọp con hiền lắm, mình mẩy mềm
mại, bò tới bò lui, cái lưng uốn éo như con mèo lớn. Tối ngày, mấy cậu cứ đòi sữa.
Biết được chuyện ấy, người đàn bà động lòng, xúm xít lại, đặt mấy cậu ngồi giữa
bộ ván, ai nấy ngồi xung quanh mà dòm ngó cho mãn nhãn. Các cậu đánh hơi rồi từ
từ bò ngay lại người đàn bà nào có sữa để đòi bú. Bà chủ H. cho bú thử. Kết quả,
vài ngày sau vú sưng lên làm độc, đau sứt núm vú, bấy giờ thiên hạ càng lo ngại.
Sau cùng, chở ba cậu ta ra chợ Rạch Giá để nạp cho quan phó chủ tỉnh. Ông phó
tên Quitxy thưởng cho hai mươi lăm đồng bạc trắng.
- Còn ông Vện?
- Ông Vện có lẽ là chồng ông
Mun, cha của mấy cậu nọ. Phải chăng vì già nua bịnh hoạn mà ông Vện không theo
vợ theo con. Buổi sáng đó người ta thấy ông Vện nằm dài trên bờ rẫy, sát mí rừng.
Ban đầu ngỡ là ông ngủ trưa. Chừng mặt trời lên cao ngạc nhiên làm sao, ông vẫn
nằm ì không nhúc nhích. Thiên hạ xúm lại gần, lấy đất chọi thử rồi lấy cây dài
đem chọc, chừng đó mới biết ông chết. Họ thui râu của ông, lấy thước đo ông dài
một thước sáu. Người khác đòi khiêng lên cân thử. Các bậc kỳ lão cản ngăn, cho
rằng làm vậy là quá khinh thị mạt sát kẻ đã chết.
Rạch Cái Bần không còn cọp nữa.
Các rạch khác cũng nỗ lực như vậy. Lần hồi, ghe xuồng đi thông thương ngày đêm
từ ngọn Cái Cau đến vàm sông Cái Lớn. Câu hát thời xưa:
U Minh, Rạch Giá thị quá sơn
trường,
Dưới sông sấu lội, trên rừng
cọp tha.
không còn. Ghe xuồng, tàu bè
tấp nập, bọn sấu phải lui về vàm. Cũng thời câu hát xưa, thiên hạ sửa lại như vầy:
Đường đi Rạch Giá thị quá
sơn trường,
Gió run bông sậy, dạ buồn nhớ
ai.
Bông sậy là nơi rừng đã khai
thác thành rẫy. Lòng dạ con người thơ thới hơn. Không còn sợ cọp, sợ sấu. Họ rảnh
trí mà ngắm cảnh nhớ tình. Nhớ ai bây giờ? Trai nhớ gái. Vợ nhớ chồng. Người
nay nhớ công ơn người xưa đã đánh cọp để tạo lập nên làng nên xóm. Họ không phải
là thầy nghề võ, thầy bùa.
Chẳng qua là họ muốn sống
nên phải ráng sức cùng nhau, mỗi người ráng một ít. Sự thật về chuyện đánh cọp
Gò Quao là vậy. Nó dễ mà khó, khó mà dễ. Người đánh cọp thời đó không bao
nhiêu, tên tuổi của họ không cần bia đồng tượng đá. Vậy mà về sau này có bao
nhiêu người tự xưng là thầy đánh cọp thời xưa để hát thuật Sơn Đông, bán thuốc
trật gãy xương hoặc bán bùa Xiêm để dụ dỗ gái tơ. Thiệt đáng trách biết chừng
nào.
Hòn Cổ tron
Ông từ thông ra Hòn cổ Tron
cất chòi mà nương náu không biết từ bao nhiêu niên kỷ rồi. Tóc của ông lốm đốm
bạc, khi thì thả dài xuống khỏi lưng quần, khi thì bới thành búi to sau ót, gài
lại bằng một cọng gai kim quít.
Một bộ quần áo nghĩ cũng hơi
dư mặc đối với ông! Nhiều khi năm ba tháng liên tiếp ông phơi lưng trần với nắng,
bên mấy gốc săn đá cổ thụ, lá cành xơ xác vì những cơn gió triền miên của biển
khơi. Khi trời nực thì có những khe suối trong veo đón mời. Ông cứ ung dung mà
uống, mà tắm một cách tự nhiên, vô tình khuấy rối giấc mơ của đàn bướm trắng
đang xao động bay lên chập chờn như muốn rời mấy nhánh mai hoằng lơ thơ cúi
nghiêng mình chấm mí nước... Hôm nào vui cho bằng hôm mười bốn, hôm rằm! Ông Từ
Thông ra sau rẫy, đào lên củ khoai môn to lớn, đem luộc chín. Ngồi trên vồ cẩm
thạch, ông chậm rãi ăn buổi chiều, thỉnh thoảng rứt từ miếng khoai, thảy xuống
nước. Loài cá nhỏ bu lại nhởn nhơ mỗi con khoe một vẻ riêng. Tận dưới đáy biển,
loại sò, loại ốc, loại nhum đang há miệng, le lưỡi, bò chậm chạp trên nền đá
tím nổi gân vàng, trên nền đá vàng nổi gân trắng. Hoàng hôn tràn tới chính là
lúc cảnh vật dưới biển ngời lên, bóng mây phản chiếu lấp lánh như gấm. Đêm về,
trăng mọc. Nơi thủy cung rộn rịp nào kém chốn trần gian! Từng đợt rong chìm lững
lờ mơn trớn, khoác thêm lớp xiêm lụa mỏng cho bầy cá hường. Và muôn vì sao trên
dải Ngân Hà sa xuống đậu lấm tấm khắp nhánh san hô trắng bạc.
Ở hòn Cổ Tron giữa vời vịnh
Xiêm La này, ông Từ Thông cơ hồ quên cả loài người và loài người cũng hầu như
quên rằng mình có một đồng loại ở ngoài mỏm đá chơi vơi kia. Điều ấy, chúng ta
không nên trách ai cả, chẳng qua là... hải giác thiên nhai. Không lẽ ông phải
vượt bốn mươi cây số đường biển để tới công sở Lại Sơn, bên hòn Rái mà trình diện.
Chính quan phủ quận Châu Thành, Rạch Giá còn ngán đi kinh lý đến làng Lại Sơn!
Từ dinh quận của ông đến công sở làng ít nhứt cũng là năm chục cây số đường hải
đạo mênh mông sóng cồn. Mấy chiếc “ca nô” oai hùng trong sông rạch chỉ là cái vỏ
trứng vịt giữa biển. Nhà nước thuộc địa nào chú ý đến việc cung cấp tàu đồng,
tàu sắt để quan chủ quận đi cai trị dân! Không lẽ ông quận lại cưỡi ghe bầu
hàng trăm cây số. Vả lại ghe bầu nào phải như chim trời mà bay thẳng một đường
ngay. Ghe chạy theo đường gãy. Ngoài biển khơi, đường gãy là đường gần nhất giữa
hai điểm cách nhau; cái khoảng gần trăm cây số trên kia dài gấp ba gấp bốn.
Năm ấy, tháng ấy, ngày ấy...
ông Từ Thông bỗng nghe chút gì băn khoăn, rào rực trong lòng ông và ở ngoài đời.
Từng đàn chim sắc đen ngòm như bầy quạ bay lượn quanh hòn Cổ Tron, rú lên, rít
lên, lắm lúc như toan đáp xuống, đột nhiên đảo ngược, đi thẳng một mạch khuất
trong mây khói.
- Bữa nay họ làm cái gì vậy
cà?
Ông Từ Thông hối hả trèo lên
chóp đá mà ngóng. Hướng Nam, hướng Tây, hướng Bắc không có gì lạ. Duy chỉ có hướng
Đông: kìa, sừng sững dưới ánh nắng ban mai năm ba hòn đảo nhô lên, những hòn đảo
mới lạ. Ông trố mắt, liên tưởng đến phép dời non lấp biển rất nhiệm mầu của tay
Thợ Trời khéo léo. Không thể lầm lẫn được! Hồi nào đến giờ, ông rất sành sỏi về
vị trí mấy hòn đảo nhỏ án ngữ chung quanh đây. Từ hòn đảo mới nổi ấy, một đốm
trắng ngời, một chiếc “ca nô” rồi hai chiếc, ba chiếc đang rẽ sóng chạy phăng
phăng lại nơi ông đang ở. “Tự năm bảy năm nay, mình chưa mất lòng một con sâu,
một con kiến, không lẽ bây giờ có kẻ báo oán mình? Oán nào đã gây ra mà báo?”.
Nghĩ vậy, ông trở xuống chân hòn sát mé biển, chờ đợi.
Chập sau, mấy chiếc “ca nô”
xáp gần bờ; họ đưa tay ngoắc ông.
Người Việt Nam nọ lên tiếng:
- Ông già! Lại đây quan lớn
hỏi.
Ông Từ Thông nhìn năm sáu
người mặc võ phục trắng đứng gần thầy thông ngôn.
Mấy người võ phục nói ríu
rít. Ông đoán đó là “tiếng Tây”...
- Ông già! Đây là Bu-lô
Đa-ma?
Ông đáp:
- Dạ không biết. Nó là hòn Cổ
Tron. Chung quanh đây là mười hòn nhỏ khác. Không có nơi nào kêu bằng hòn
Đa-ma...
- Vậy nó là hòn Nam Du,
trong bản đồ ghi rõ đường hoàng. Ông nói kỳ quá!
Ông Từ Thông lắc đầu:
- Dạ, lời thật khai ngay.
Tôi không biết. Xung quanh đây là hòn Mẫu, hòn Dài, hòn Cổ Sơn, hòn Móng Tay.
Chập sau, thầy thông ngôn mới
đồng ý:
- Đúng vậy, Bu-lô Đa-ma hoặc
hòn Nam Du là tên theo sách chữ Nho, theo nhà binh. Hòn Cổ Tron là tên tục của
nó. Nè ông lão! Quan lớn ra lệnh như vầy...
- Bẩm thầy, quan lớn là người
của nước nào, tôi chưa rành.
- Ông giỡn sao chớ? Hay là
ông ngủ mê? Cỡ này, nhà nước thuộc địa Tây đánh với nước Xiêm.
- Bẩm thầy, đánh ở đâu? Tôi
chưa được am tường.
- Đánh tại nước Cao Miên.
Đánh luôn tại Bu-lô Đa-ma tức là cái hòn Cổ Tron này.
Ông Từ Thông cau mày:
- Mô Phật. Cầu xin Phật Trời...
Thầy thông ngôn đắc ý:
- Không sao đâu! Hễ làm con
dân thì phải gánh vác nghĩa vụ. Quan lớn muốn biết hổm rày có tàu bè lạ nào chạy
tới đây do thám không?
- Dạ, không thấy.
- Hòn này bao nhiêu dân
đinh?
- Bẩm thầy, có một mình tôi
thôi. Còn mấy hòn gần đây, tôi không rành. Chắc là năm bảy người, toàn dân “An
Nam” mình.
- Được, thôi bây giờ quan lớn
muốn ông kiếm giùm trái cây, nước ngọt. Rồi quan lớn cho chút ít tiền... Thời
buổi này ông nên xài phí. Việc sống chết bất thường lắm.
Có lẽ sợ ông Từ Thông trốn
luôn trên chót hòn nên thầy thông ngôn đi theo sát bên ông, sẵn sàng giúp ông
quảy mớ chuối, mớ mít. Trước lạ sau quen, ông Từ Thông hỏi dọ sơ qua về tình
hình trong bờ:
- Trận giặc này không biết
dân “An Nam” mình hao bao nhiêu không thầy?
- Hỏi làm chi vậy? Ở đây yên
thân già của ông rồi. Nghe nói dân miệt Hóc Môn, miệt Long Hưng... nhộn dữ lắm.
Tây không muốn nói chuyện đó.
Một mối buồn len vào tâm não
ông Từ Thông. Ông nghe gió thổi bốn bề, lạnh lùng. Lương tri như rực sáng nhắc
nhở ông món nợ gì đối với đồng bào, giang sơn. Không giúp nước được thì ít ra
ông cũng cần biết những gì xảy ra đau buồn trong nước. Cây có cội. Nước có nguồn.
Chim có tổ. Cá có hang. Đôi mắt già của ông Từ Thông ngẩn ngơ nhìn muôn lớp
sóng cồn. Chân trời u ám, mấy đám mây tang bay thấp là đà... Ông hổ thẹn, tủi bấy
phận mình không bằng con đỗ quyên đêm hè kêu khắc khoải.
Thầy thông ngôn nói to khiến
ông giật mình:
- Quan lớn đi về. Ông muốn
xin điều gì, vật gì không? Ổng tử tế lắm.
Ông Từ Thông chấp hai tay ra
vẻ cung kính:
- Tôi muốn vô đất liền, miệt
Rạch Giá hay Cà Mau gì cũng được để thăm bà con. Nhờ quan lớn cho giấy phép chứ
thời buổi chiến chinh này... Tôi không có giấy thuế thân, hồi nào tới giờ.
Vị quan hải quân gật đầu. Thầy
thông ngôn viết lia lịa rồi vị quan ký tên. Ông Từ Thông cầm miếng giấy thông
hành hộ mạng nọ, vô cùng mừng rỡ:
- Chúc quan lớn đi bình yên.
Mà... quan lớn chạy “ca nô” về đâu?
Thầy thông ngôn nói:
- Về tàu lớn. Mấy chiếc tàu
binh... của tôi sơn có vằn có vện. Ông không thấy sao? Họ sơn tàu lại cho giống
cái hòn giữa biển. Hồi sáng tụi tôi bỏ ống nhòm thấy rõ ràng ông đứng trên chót
hòn này. Nhờ vậy mà ông khỏi bị bắn. Ban sơ, quan lớn tưởng đâu hòn này là chiếc
tàu binh của kẻ địch. Ông hiểu chớ?
Chưa vô tới Rạch Giá là ông
Từ Thông cảm thấy cuộc đời đảo ngược, từ địa vị hoàn toàn tự do đến chỗ mất tự
do. Ông trung thành với đất nước nhưng cớ sao đất nước đối xử với ông quá bạc bẽo,
ghẻ lạnh? Từ hòn Cổ Tron, ông quá giang tàu buôn Hải Nam đi một mạch đến hòn
Tre, nhờ chiếc ghe câu kiều đưa vào chợ. Dè đâu, tàu của sở “đoan” xét hỏi. Miếng
giấy thông hành nọ bị hồ nghi là giả mạo vì không có đóng mộc, vì đương sự
không có giấy “lão” chứng tỏ rằng tên họ của mình đúng như trong giấy phép. Tàu
“đoan” chở ông về giao cho ông cò Tây. Giam giữ ông được hai ngày, ông cò phú nội
vụ qua dinh quận. Ông quận vốn là người mộ đạo Phật nên cho phép ông Từ Thông
đi dạo chợ. Ông Từ Thông bày tỏ lý do:
- Dầu muốn trở về hòn Cổ
Tron, không dễ gì kiếm được ghe xuồng mà quá giang. Gió thổi Nồm rồi. Phải chờ
mùa Bấc...
Dạo chợ mấy buổi, ông Từ
Thông phát chán. Cầm mấy cắc bạc (của ông chủ quận cho) ông không biết mua sắm,
ăn uống những gì. Rốt cuộc, ông mua tiền xu khoai môn mà ngồi ăn ngon lành nơi
góc chợ. Còn dư, ông vào tiệm hàng xén mua nhang đèn, đèn cầy để về cúng bà
Chúa Hòn mặc dầu ngoài hòn không có chùa miễu gì cả. Ông cũng thích chí sực nhớ
lại mua vài cây kim, nửa cân đường cát trắng.
Nhiều lần quan chủ quận viết
thư qua bót ông cò hỏi thăm nhưng không được sự giải quyết nào dứt khoát. Chẳng
lẽ giam giữ ông Từ Thông mãi mãi? Nhìn vào bản đồ vịnh Xiêm La, ông quận nảy
sanh ý kiến:
- Hòn Cổ Tron tuy thuộc quận
Châu Thành nhưng nằm gần phía làng Đông Hưng, quận An Biên. Ngày năm tây tháng
tới, ta đón thầy xã trưởng Đông Hưng mà gởi ông đạo này.
Rừng của làng Đông Hưng âm u
quá, khó mà nhìn ra xa quá vài công đất để tìm lại chân trời; chạng vạng là un
khói lên, không như hồi ở ngoài hòn Cổ Tron, hồi ông ngủ trần không cần mùng mền.
Thầy xã trưởng giao trách nhiệm gìn giữ ông cho thầy hương quản. Thầy hương quản
lại đổ gánh nặng ấy cho người em vợ là hương tuần Hay.
Người giam giữ và người bị
giam giữ lần hồi thông cảm nhau. Chú hương tuần lo đặt rượu đế. Ông Từ Thông đi
cắm câu, kiếm “mồi” về nhậu.
- Ở đây vui quá phải không?
Ông Từ Thông gật gù:
- Không được vui lắm. Coi bộ
bà con mình nghèo hơn ngoài hòn Cổ Tron của tôi. Áo quần không có. Mình mẩy bị
ghẻ khuyết ăn lở lói thâm niên. Nhà cửa xiêu vẹo, nay ở mai dời... Chắc là tại
giặc Xiêm.
Hương tuần Hay trả lời:
- Giặc đâu không thấy. Người
ta đánh mà mình chịu cực mới đau thương cho chớ!
- Buồn quá chú hương tuần à.
- Hơi đâu mà buồn. Xứ này chịu
cảnh này không biết tự hồi nào, từ hồi chưa có giặc Xiêm lận. Riết rồi quen,
yên tịnh.
Ông Từ Thông thích chí:
- Thì ở ngoài hòn Cổ Tron của
tôi, tứ bề sóng gió nhưng mà cũng yên tịnh. Cớ sao? Vì chung quanh có hàng chục
hòn khác án ngữ. Tôi là người chạy giặc, vô trong đất liền này thăm bà con...
Nhưng mà cũng yên tịnh, nhờ bà con thương tình.
Ngày tháng trôi qua đều đều.
Hôm ấy không nhớ rõ hôm nào, thầy hương quản đọc báo Lục Tỉnh Tân Văn biết được
tin trận giặc Xiêm đã chấm dứt. Tây và Xiêm dường như thủ huề. Thầy tự ý ra lệnh
trả tự do cho ông Từ Thông.
Ông Từ Thông ngạc nhiên:
- Tôi bị giam hồi nào?
- Ông chủ quận biểu tôi giữ
ông lại để làm tù binh, chờ mãn giặc mới thả ông về Cổ Tron.
- Về thì về, không sao đâu -
Ông lẩm bẩm.
Thầy hương quản nói:
- Hồi bị giam ông có đồ đạc
gì bị tịch thâu không? Tôi kêu nài giùm.
- Vài ốp nhang, đèn cầy, kim
may quần áo, đường cát trắng... Nhưng mà thôi. Ở ngoải, dầu không có mấy thứ
đó... nhưng cũng như có.
Gặp dịp thuận tiện, thầy
hương quản tìm ghe cho ông quá giang ra hòn Sơn Rái.
Ông ra đi, hơi buồn.
Dư luận trong xóm nổi lên
bàn tán. Người cho rằng ông muốn truyền bá một thứ tôn giáo mới, thí dụ như “Đạo
Tịnh” bằng cớ là ông ưa nói hai tiếng yên tịnh. Kẻ khác thì nghi rằng ông ở Côn
Nôn thả bè vượt ngục trốn về.
- Nè cha nội sành sỏi lắm!
Cây đèn “măng sông” của Chệt Kỵ hư “béc” đốt không cháy, vậy mà cha nội sửa lại
được trong nhấp nháy...
Lại còn nhiều giả thuyết
khác ác độc hơn, cho rằng ông thường lân la mấy nhà có đàn bà góa, gái tơ vân
vân...
Nhưng thời gian là vị trạng
sư hùng biện nhất thanh minh cho ông Từ Thông. Dư luận bất chánh bị đánh tan,
quên lãng. Kỷ niệm lần lần trở nên trong sáng, tươi đẹp. Chiều chiều, khi ra bờ
biển để câu cua, đẩy xịp, người ta nhớ ông Từ Thông như nhớ một cái vỏ ốc xà cừ
ngũ sắc tấp vào bãi bùn. Như nhớ vài trang sách Phong Thần tình cờ lượm được
trong ngăn tủ bỏ quên, những trang sách rách nát hơi khó hiểu vì thiếu hồi thứ
nhất và không có hồi sau phân giải.
Hội ngộ bến Tầm Dương
A Lẩu ơi, đong hai xu rượu!
- Anh tư nâng ly rượu, nốc một hơi. Rồi nhướng mắt:
- A Lẩu có ba tội lớn. Biết
không?
A Lẩu ngạc nhiên:
- Cái nầy “hóa” có đóng
ba-tăng, có đóng giấy thuế thân cho Tây, làm sao tội được?
- Nè! Tội thứ nhất: Lớn tuổi
rồi mà A Lẩu không cưới vợ. Tội thứ hai: Viết liễn đối dán đằng miễu ông Tà.
Ông Tà của người Miên đâu đọc được chữ “các chú”. Còn tội thứ ba... tội nầy mới
nặng.
- Hóa không biết. Làm sao nặng
nhẹ?
- “Lứ” vẽ cái hình gì treo
trên vách? Có mặt trăng, có cây sậy lại có cây tùng bên bờ giếng... Xứ nầy làm
sao có cảnh đó. Vẽ tầm bậy...
A Lẩu nghiêm mặt lại. Chập
sau thở dài:
- Hóa vẽ hình bên Tàu.
Anh Tư cười to:
- Lứ sanh đẻ bên nầy, chưa về
Tàu lần nào, làm sao thấy cảnh bên Tàu?
- Tại nghèo mà! Cái hình đó
vẽ chỗ gần nhà ông bà. Ba của hóa nói lại. Xứ đó ở kế bên bờ sông lớn, bên Tàu
ai cũng biết. Có bến ghe đậu. Có quán bán rượu. Có chuyện đời xưa hay lắm.
Anh Tư như chợt tỉnh. Vốn là
tay đờn kìm, anh đâu có dè bấy lâu nay mình ở gần một người có tâm hồn nghệ sĩ.
- Đong cho ly rượu nữa đi! Rồi
nói sự tích bên đó cho tôi nghe.
- Xứ đó có cái bến. Hồi xưa,
một ông quan nọ làm thơ hay lắm. Bị người ta ghét, nói lên ông vua. Ông vua giận
đuổi xuống phía Nam, đày ở luôn đó. Ghe của ông quan đậu ở tại bến. Gặp một người
con gái đờn tỳ bà...
Anh Tư vỗ bàn đắc ý:
- Đờn tỳ bà có giống đờn kìm
của tôi không?
- Đâu phải! “Hóa” thấy trong
sách vẽ hình cây đờn đó nhỏ hơn. Ôm đờn trên lưng con ngựa. Cây đờn của bà Chao
Cung đó...
- Ờ! Chao Cung... Bà Chiêu
Quân Cống Hồ...
- Lứ nói phải. Người con gái
đờn tỳ bà cho ông quan nghe. Ông quan buồn, khóc. Người con gái cũng khóc. Đờn
thêm một lần nữa, khóc nhiều hơn. Vì hai người làm ăn không khá, hết thời rồi.
Gặp nhau, họ buồn... Ông quan đặt bài thơ kỷ niệm cái bến “Xìm-dan”.
Anh Tư lắc đầu, ôm bụng mà
cười muốn... ra nước mắt. Anh liếc mắt nhìn bức tranh thô sơ trên vách: đám lau
sậy, cây tùng, bến nước.
- Trời ơi! Cái “bến Tầm
Dương... ờ... ờ (anh lấy giọng sắp vào Vọng cổ) Bến Tầm Dương trăng nước lờ đờ...”
- A Lẩu day mặt qua chỗ khác, trán nhăn lại. “Mình cao hứng thiệt tình, tại sao
người bạn Tàu này lại giận”? Anh Tư như cụt hứng, trở về nhà bên cạnh. Hai Lượng
đang bước vào, kêu lên ỏm tỏi:
- Thợ hớt tóc đâu? Tư Đờn
kìm đâu? Có ông lớn Hai Lượng lại hớt nè!
- Bữa nay sao lại buồn xo vậy?
Hai Lượng đáp:
- Nhà nước giao rừng nầy cho
Tây làm rừng “cúp”. Tây hãng Củi sửa soạn đào kinh, bắt buộc người làm củi phải
chở củi ra theo đường đó bán cho hãng. Bất tuân thì ở tù! Việc làm ăn ngày một
xuống dốc. Hồi trước, mình tự do bán ra ngoài, miễn là đóng thuế cho Kiểm lâm.
Bây giờ siết lại, bắt buộc mình phải làm mướn cho nó. Mỗi thước củi nó mua có một
cắc rưỡi!
Anh Tư chép miệng:
- Tôi cũng vậy. Anh thấy
không. Cỡ nầy mỗi ngày hớt có... hai cái đầu. Tôi tính bỏ nghề nầy, trở lại nghề
rừng với anh. Nghe anh nói, thối chí quá... Hai Lượng nằm ngả dài lên bộ vạt
cây đước rồi ngồi vụt dậy nhìn mấy chữ “quảng cáo” của anh Tư dán gần tấm kiếng:
Một năm mưa gió hai mùa,
No cơm ấm áo cũng nhờ anh
em...
- Gỡ quảng cáo đi, anh Tư.
Bây giờ, anh đờn tôi hát nghe vui hơn. Nói thiệt với anh, nghe tin rừng nầy sắp
làm “cúp” tôi buồn quá. Chim chóc hết chỗ ở. Rùa rắn cũng phải lui. Chim với rắn
vốn là bạn bè của mình bấy lâu nay. Tôi mới đặt một bài Xuân tình để làm kỷ niệm.
Tựa là Thượng điểu, hạ cầm. Mình kể sơ nghe chơi cho con nít nó biết, không dám
nói chen thêm chuyện quốc sự, Tây nghe được rầy chết... Anh nhịp đi. Xuân tình,
lớp một. Tôi vô:
- Nghe vẻ nghe ve, nghe vè hạ
thú thượng cầm,
Tôi lại khen thầm, chủ bút đặt
có duyên.
Hay la lớn tiếng, con tu hú,
con ác là.
Nhảy nhót lang ba, chích
chòe, bìm bịp.
Chúng hay ăn hiếp, con chim ụt,
chim mèo.
Lót ổ la reo, con dòng dọc,
áo dà
Ẩn núp trong nhà, con se sẻ,
con bồ câu!
Thứ đậu lưng trâu, con sáo
sành, sáo nghệ.
Lặn không xiết kể, con cồng
cộc, chằng bè.
Tháy máy hay dè, con cúm
núm, trích cồ,
Ăn uống hồ đồ, già đãy, kên
kên,
Đáp xuống bay lên, chim
nhàn, thầy bói,
Cái mồng đỏ chói, con cao
các, hồng hoàng,
Thức trót canh tàn, con chim
cú, chim heo,
Hay ăn lắc lẻo, con sa sả,
thằng-chài,
Cần cổ quá tay, con cò, con
diệc,
Bay cao kịch liệt, con én,
con diều,
Giò cẳng thêu lêu, con so
đũa, học trò.
Xuống nước ưa mò, con vịt nước,
le le.
Hay hát tích te, con gà rừng,
cu gạch.
Trong rừng rục rịch, con tằng
hắng, chằng nghịch,
Cái đuôi nhúc nhích, là con
nắc nước, con loi choi,
Cái con cao lớn quá, hẳn hòi
là con khoang cổ với con nhan sen,
Còn thứ ở trong ô rô, cóc
kèn là con chim chóc, bảy, tám, chín, mười cái ổ con chim sâu...”
Anh Tư buông đờn xuống, khen
thầm tài của Hai Lượng. Hai Lượng ngồi, giả bộ vuốt râu:
- Đây mới là thượng cầm. Nay
mai, có bài ca đủ loại hạ thú. Buồn quá! Rượu đâu?
- Nãy giờ quên! Để tôi kêu
thằng A Lẩu đong rượu đem qua giùm...
Tới phiên Hai Lượng đờn. Anh
Tư phải ca. Anh nói:
- Túng bài quá. Anh ca luôn
trớn đi!
- Đâu được. Hai bàn tay cầm
búa đốn củi chai cứng mà tôi còn ráng đờn. Ca hoài mệt lắm. Ca đi... Nè, Ngũ điểm
Bài tạ.
Tư Đờn gãi đầu:
- Bây giờ tôi làm chủ quán
rao hàng cho anh thèm chảy nước dãi.
- A Lẩu qua tới đó hả? Đưa
rượu cho ảnh uống đi! Giới thiệu với A Lẩu, Hai Lượng cũng là nghệ sĩ bồ nhà.
- Quán nầy bán đồ ngon,
Bán thịt sấu, thịt trăn, thịt
mèo.
Gà quay, phá lấu bồ câu
Lại thêm đủ thứ thịt hươu,
thịt rừng.
Thịt chồn xào lộn với củ
hành
Còn đầu ông Địa tôi nấu canh
chua.
Lại thêm cỏ nhác, rượu Tây,
rượu Tàu.
Còn rượu đế tôi ngâm với rắn
mối,
Gà xào, chuột lột, tôi nấu
ca ri.
Rắn hổ hành, làm sạch tôi nấu
rô ti,
Xin mời quí khách! Muốn xơi
thứ nào?
Còn thịt heo sống, tôi bóp
tái thật chua,
Nem tôm, nem thịt lại thêm mắm
lòng.
Hầu hết quí khách ăn chơi
cho phỉ!
Còn thịt xá xíu tôi chặt lộn
với thịt phay,
Thịt phá lấu ăn với cải
xanh.
Còn thứ ngon nhứt: cải bắp nấu
canh thịt chuột cống xù...
Thích chí quá. A Lẩu cười
híp mắt. Tư Đờn hỏi:
- Lứ có hiểu hết không?
A Lẩu gật đầu:
- Không nghe được hết, chớ
cũng biết. Bài hát... giỏi quá.
- Lứ cũng giỏi nữa. Vậy thì
lứ làm ơn đong thêm một ly nữa. Ly nầy mới trả tiền. Mấy ly hồi mấy bữa rày
cũng vậy. Được không? Về tính sổ, tụi tôi mỗi đứa thiếu bao nhiêu rồi?
Hai người theo A Lẩu về tiệm.
A Lẩu lật sổ ra lắc bàn toán.
Hai Lượng bảo:
- Lứ lắc bàn toán đi. Tôi
hát theo. Lắc bàn toán là đờn đó. Đờn những con số theo điệu Mẫu Tầm Tử:
- Lác xa, lác dì, lác xa,
Xa chập lác xa chập xa dì,
Lác xa lác dì xa chập,
Dì xa cháp lạc, chạp dì chạp
xa (2 lần)
Xa lác xa dì xị lạc chạp xa
(2 lần)
(Thật lẹ) Lác xa lác xa dì
Dì xa dì xa cô lác cô xa.
- A Lẩu thấy âm nhạc của tụi
tôi chưa?
Cả ba đều cười giòn. Tư Đờn
mới hỏi:
- Tụi này nghệ sĩ lắm. Mình
nghệ sĩ với nhau mà dường như hồi nãy tôi ca “Bến Tầm Dương trăng nước lờ đờ”,
A Lẩu coi bộ giận tôi. Anh em mình có gì thì cứ nói. Hay tụi tôi biên sổ thiếu
chịu nhiều quá?
A Lẩu cảm động:
- Hồi nãy “hóa” giận thiệt.
Hóa mua bán ế. Lứ bên kia ít ai tới hớt tóc. Xóm nầy ai cũng nghèo, mua thiếu
chịu hoài. Mình gặp nhau, không ai giàu hết. “Hóa” buồn, vẽ cái hình bến Tầm
Dương để nhớ ông nội ở bên Tàu! Muốn về bên Tàu một lần, để dành mấy năm rồi mà
chưa đủ tiền.
Hai Lượng thở dài, ngóng ra
sân. Xa xa, kìa rặng cây mắm xanh rì. Nơi đó, mé biển chót vót, sóng đang gào
thét, phù sa tràn vào, diễn tuồng bãi biển hóa ruộng dâu.
- A Lẩu đừng buồn. Bên Tàu
thiếu đất làm ăn. A Lẩu qua ở đậu bên nầy. Còn hơn tụi tôi đây, đất nước ông bà
để lại nhiều quá mà không chỗ làm ăn! Nay mai, tụi tôi phải dời ra ngoài đất
mũi mới bồi kia mà ở. Rừng nầy, Tây đo hết, vô bản đồ để làm rừng “cúp” cho
nó... Ờ! Cái hình bến Tầm Dương “lứ” vẽ đâu? Coi thử được không? Coi kỹ một lần
nữa.
Bến nước cỏn con. Cây tùng
gie nhánh. Vài bụi lau sậy trổ bông, nghiêng mình theo gió. Bức tranh thủy mạc
đơn sơ ấy gây cho Hai Lượng mối cảm hoài man mác:
- Ờ, đây nè! “Gió buồn cuốn
rủ ngọn vi-lau mà lòng anh đây buồn như vi-lau cuốn rủ”. Bến Tầm Dương đời xưa
sao buồn quá vậy, A Lẩu? Ráng vẽ tấm sơn thủy khác cho hợp với đời nay thử coi!
Lứ sợ Tây hả? Sợ Tây thì làm sao vẽ cho hay được? Mình là nghệ sĩ nghèo gặp
nhau, làm ăn thất bại, cười hát, đầu đội trời chân đạp đất mà!
- Tụi nó không hơn tôi đâu.
Tôi biết là tụi nó tới chân núi, hỏi thăm mấy ông thầy địa lý, mấy ông thầy
bùa, thầy ngải rồi lò mò tới. Tụi nó vác búa, vác dao là để...
Hồn người trong ly rượu
Trong gian phòng hơi tối,
hùng chăm chú nhìn mấy con số thâu xuất trong quyển số “công nho” làng Tây Yên:
- Đinh Văn Mão đóng thuế điền
2 đồng, biên lai số 00217.
- Quách Yến đóng thuế thủy lợi
Kinh Dài 65 đồng, biên lai số 00218.
- Tu bổ trường làng ngày
21-1-1937, xuất 6 đồng 8 cắc 6 xu...
Chàng buông viết xuống, đi
nhanh đến vách để tìm cái bàn toán. Từ hồi nhận chức vụ biện làng, làm việc tại
nhà ông Tư đến nay chàng mới sáng mắt: người Trung Hoa bày ra cái bàn toán thật
tiện lợi, để sử dụng, khi lắc mấy con toán, âm thanh vang lên đều đều, vui vui.
Cái bàn toán treo hơi cao, kế
bên tấm lịch. Chàng vói tay lên chợt rùng mình vì từ trong phòng, một bàn tay
trắng muốt đưa ra, nắm chặt bàn tay chàng. Chàng suýt kêu to vì ngạc nhiên, vì
sợ hãi:
- Ai... vậy?
Người chủ của cái bàn toán
ngà vẫn chưa chịu xuất hiện. Nàng nói lanh lảnh:
- Anh này giả ngộ hoài! Hổm
rày tôi biết... anh mê tôi lắm nhưng anh sợ, anh không dám nói ra. Phải vậy
không?
Hùng định thần, tìm cách gỡ
rối. Cô Huệ, người vợ mơn mởn của ông xã Tư đang trêu ghẹo, thử thách chàng. Huệ
là người ở cùng xóm. Năm mười bảy tuổi, hồi năm ngoái, nàng vâng lịnh cha mẹ để
làm lễ vu qui, làm vợ ông xã Tư. Ông xã tuổi hơn năm mươi, lớn hơn nàng những bốn
chục cái xuân xanh, và ông ta cũng giàu có hơn gia đình nàng gấp trăm lần! Hùng
lẩm bẩm:
- Trời! Tội nghiệp tôi, bà
ơi.
Huệ cười giòn, lú mặt ra,
bàn tay nàng vẫn bám chặt cổ tay Hùng:
- Hễ anh kêu tôi bằng bà thì
nắm chặt như vầy hoài.
Hùng lắc đầu, mấy giọt mồ
hôi tươm ra như sương trên vầng trán đau khổ:
- Rủi ông xã về thình lình,
chắc ông giết tôi quá!
- Bây giờ anh muốn chết hay
muốn sống?
- Dạ, muốn sống.
Mấy ngón tay Huệ như bắt đầu
mở vòng vây.
Nàng nói:
- Sống để làm gì?
- Dạ, sống để... làm biện
làng, giúp việc cho ông xã.
Huệ buông tay xuống cười
khanh khách rồi tát yêu vào má Hùng:
- Anh này nói dóc quá. Tôi
nói cho anh mừng, sáng nay nhà tôi đi hầu quan chủ quận, tới chiều mới về.
Trong nhà, chẳng còn ai. Con nhỏ ở dưới bếp là đứa thân tín.
Dứt lời, Huệ bước ra khỏi
phòng. Hùng cầm cái bàn toán, đặt trên bàn rồi ngồi ghế giả bộ như say sưa làm
việc. Ngoài hiên, cơn gió nhẹ thổi qua, vô tình đẩy cánh cửa khép lại he hé. Ấm
áp quá. Nhưng Hùng vẫn chưa yên tâm. Mấy năm trước, chàng gặp Huệ nhiều lần qua
mấy dịp cúng đình làng, hai người cùng nhau trao đồi những cái liếc tình tứ. Thế
thôi. Rồi nàng ngoan ngoãn vâng lịnh cha mẹ, làm vợ lão xã Tư. Xã Tư vốn nổi
danh gian ác, giết người không gớm tay. Cuộc hôn nhân trái cựa ấy khiến dân
làng bàn tán không ngớt. Đa số cho rằng Huệ ham tiền, muốn chiếm đoạt gia tài
ông xã Tư trong mai hậu. Nhưng lại còn giả thuyết:
- Ông xã Tư có bùa, có ngải,
Huệ đã uống nhằm bùa của lão ta chuộc từ núi Tà Lơn huyền bí.
Huệ đứng dậy, bước khoan
thai đến bàn giữa, rót tách nước đem lại dâng cho Hùng với dáng điệu trịnh trọng:
- Mời anh... Anh nhát quá.
Bấy giờ, Hùng bắt đầu tỉnh
táo. Bao nhiêu khí phách bừng sôi mạnh trong huyết quản của chàng trai yêu đời.
Huệ là gái có chồng, đang sống trong vòng áp bức của ông chồng già, nghiêm khắc
mà nàng còn đủ can đảm huống chi chàng... Nếu ông xã đuổi, chàng đi tìm sanh kế
nơi khác và rủ Huệ trốn theo.
Chàng nâng tách nước uống một
hơi. Nàng cười:
- Thủng thẳng mà uống. Coi
chừng phỏng miệng.
Chàng đáp:
- Chết cũng không sợ, miễn
là...
Rồi hai người tha hồ trò
chuyện, kể lể cho nhau bao nỗi nhớ nhung uất hận. Nàng an ủi Hùng:
- Em nói với ba má gả Lan
cho anh.
Lan là em gái của Huệ, siêng
năng hơn Huệ nhưng kém lộng lẫy hơn. Hùng cau mày:
- Anh chỉ yêu Huệ mà thôi.
Huệ đáp:
- Anh này bướng quá, lì quá.
Em hiểu lòng anh từ mấy tháng nay. Nhưng từ rày về sau, anh nên cẩn thận. Hôm
trước, anh vô tình vẽ lại mái tóc của em trên tấm giấy chậm. Chồng em đã chú ý
rồi đó...
Từ đó về sau, mỗi dịp ông xã
Tư đi hầu quan chủ quận “mỗi tháng hai lần, để nạp thuế”, hai người tha hồ ân
ái. Hùng đánh bạo, vào phòng của Huệ, nằm trên chiếc gối thêu rồng thêu phụng bấy
lâu chỉ dành cho ông xã Tư.
Huệ càng đẹp, càng xinh
thêm.
Hùng thỉnh thoảng ca vọng cổ
trước mặt ông xã Tư. Ông xã cười gằn, liếc lên vách, nhìn cái bàn toán treo sát
cửa phòng. Và cách cái bàn toán chừng vài tấc là thanh đoản đao bén ngót, mua từ
miền cao nguyên.
Hôm ấy, sau khi rảnh việc,
Hùng về nhà trọ ở xóm vàm. Chàng đang sờ vào túi, đếm thử mấy đồng bạc chợt
nghe tiếng gọi to, phía sau:
- Chú biện!
Đó là ông xã Tư. Ông ta gọi
lần nữa, giọng rắn rỏi hơn:
- Hùng! Mày đứng lại.
Nghĩ rằng xã Tư là kẻ đa
mưu, chẳng lẽ ông ta dám giết mình lúc ban ngày, gần xóm đông đúc nên Hùng mạnh
dạn đứng lại:
- Thưa ông...
- Mày đi đâu vậy?
- Dạ về nhà.
- Tao hỏi mày đi về... âm phủ
hay muốn ở lại dương gian. Mày nghe rõ chưa?
Hai người bước chậm rãi bên
cạnh nhau. Hùng chú ý một điều: ông xã không mang khí giới... gương mặt cau có
chứng tỏ ông ta ghen bóng ghen gió chứ chưa nắm được bằng cớ nào cụ thể. Để tỏ
rằng ta đây là... anh hùng, chàng nói thẳng:
- Tôi đã nói chuyện riêng với...
bà nhiều lần, lúc ông vắng mặt.
- Tại sao mày không nói lúc
tao có mặt? Chuyện riêng là chuyện gì? Nói thật đi, tao tha tội cho. Tao biết
mày quen với gia đình bên vợ tao, từ lâu...
Mấy tiếng “gia đình bên vợ”
giúp Hùng tỉnh táo, sáng trí. Chàng xoay sang vấn đề khác:
- Thưa ông, tôi quen với gia
đình bên ông... Xóm giềng ai cũng biết...
Rồi chàng cố tình ngưng câu
nói, chờ ông xã Tư thúc hối:
- Mày muốn làm rể hả? Tao cưới
con Huệ, mày tức hả?
Thấy ông xã Tư đã lọt vào quỉ
kế của mình. Hùng nói:
- Xin ông đừng nóng giận.
Tôi muốn làm rể và khi ông cưới cô Huệ, tôi tức giận thiệt đó...
Rồi chàng dang xa vài bước,
thủ thế:
- Nhưng... tôi muốn cưới
Lan, em cô Huệ. Tôi tức giận vì mình nghèo túng. Phải chi tôi có chức phận làm
được hương thân, hương hào thì đâu đến nỗi thất vọng vì tình.
Ông xã Tư gật đầu từng chập,
bán tín bán nghi. Có lẽ thằng Hùng thổ lộ tâm tình chân thành của nó vì Huệ còn
đứa em gái khá đẹp mà ông xã toan đem về làm... tỳ thiếp trong mai hậu. Tuy
nhiên, câu trả lời của Hùng vẫn chưa đánh tan sự ghen tương:
- Mày nói với vợ tao chuyện
gì? Nói mấy lần? Nói tại đâu?
- Dạ, nói nhiều lần. Tôi nhờ
cô Huệ trình bày hoàn cảnh tôi với ba má cổ. Tôi muốn nhờ ông giúp giùm, nói vô
vài tiếng ngặt tôi chưa dám.
Đến xóm trên, ông xã Tư ghé
vào quán, uống rượu liên miên, tìm cách ứng phó. Hùng nhanh trí, bơi xuồng thẳng
về phía Kinh Dài, nơi trú ngụ của gia đình Huệ. Chàng thuật đầu đuôi tai nạn đã
xảy ra rồi quì xuống lạy.
Ông hương kiểm Lưu, cha của
Huệ ban đầu tức giận nhưng ông nghĩ đến tương lai Huệ, thở dài. Hùng nài nỉ thống
thiết:
- Ông xã Tư đa mưu túc trí,
dám giết tôi để trả thù, giết cách này hoặc cách khác... Xin bác bình tĩnh giúp
đỡ cháu. Cháu hiểu phận mình chưa xứng đáng làm con rể trong gia đình.
Ông Hương kiểm Lưu bỗng giật
mình:
- Xã Tư bây giờ ở đâu?
- Dạ, ổng uống rượu ở quán,
tại xóm vàm.
- Nguy lắm. Lan ơi!
Lan bước tới, khép nép cúi
chào Hùng. Ông hương kiểm day lại Hùng:
- Mày đi cho khuất, kẻo
thiên hạ sanh nghi.
Hùng trố mắt, bước ra về,
nghe ông hương kiểm căn dặn Lan:
- Con tới nhà chị Huệ, nói
như vầy, như vầy... kẻo người nói một đàng, người cung khai một nẻo. Đi cho gấp
kẻo.... xã Tư về trước. À! Đem nải chuối cau này, gọi là mượn cớ thăm viếng.
Năm ba hôm sau, Hùng cúi đầu
làm việc, chẳng dám nhìn Huệ hoặc ông xã Tư. Thái độ ông ta thật khó hiểu, thỉnh
thoảng vào phòng nói chuyện rù rì với Huệ rồi trở ra. Hùng mừng thầm hy vọng
tai qua nạn khỏi vì chàng đã đánh lạc hướng xã Tư một cách khéo léo.
Xã Tư mở tủ, trao cho Hùng
mười đồng bạc. Hùng trố mắt:
- Thưa ông, chưa tới ngày
lãnh lương.
- Tao cho mày mượn.
- Dạ, làm sao tôi có tiền trả
lại.
Xã Tư nói:
- Tao biểu điều gì, mày đừng
cãi. Ngày mốt, mày cưới vợ.
- Dạ, cưới ai?
Câu hỏi vặn ngược khiến ông
Tư càng nghi ngờ. Tại sao biện Hùng thú thật rằng nó yêu Lan nhưng nó lại không
biết... cưới ai làm vợ? Ông ta nói:
- Cưới con Lan. Tao nói với
con Lan rồi. Ông hương kiểm Lưu đồng ý. Mày cầm số tiền này may sắm quần áo.
Ngày mốt ông hương kiểm Lưu làm đám nói cho mày có thể xuống nhà ổng ăn cơm, ở
tại đó để làm rể. Hàng ngày, mày được quyền nói chuyện tình với con Lan. Ban
đêm mày... tự do ra vào phòng của nó.
Quả thật ông xã Tư là đối thủ
lợi hại. Ông ta xuất ra số tiền ấy để làm kế ly gián khiến cô vợ trẻ nghi ngờ mối
tình son sắt của Hùng. Hùng đau xót nhưng chẳng biết nói sao... Đôi mắt chàng
long lanh ngấn lệ:
- Tôi chưa muốn cưới vợ.
Xã Tư cười, đắc chí:
- Thằng này lạ quá. Muốn cưới
vợ lại không muốn. Mày giỡn với tao hả? Người ta cưới vợ rồi cười, mày lại khóc
hận. Mua sắm quần áo đi. Từ giờ phút này, tao cấm mày nói chuyện riêng với vợ
tao, hiểu chưa. Nếu bắt gặp, tao giết mày. Xứ này, thiên hạ nghe oai danh tao
quá nhiều. Tao giết bất cứ ai, nếu tao muốn. Tao không sợ ở tù đâu... Và hễ giết
kẻ gian thì lương tâm tao không bao giờ ăn năn hối hận gì ráo.
Hùng ngoan ngoãn cúi đầu. Bơ
vơ quá. Bỗng dưng, chàng yêu Huệ hơn bao giờ hết. Ngày mốt, chàng làm lễ hỏi
Lan. Vô lý quá. Chẳng biết khi hay tin này, thái độ của Huệ ra sao? Xã Tư độc
ác thật. Hắn ghen tương, trả thù, bày kế ly gián để giết lần giết mòn cuộc đời
Hùng và Huệ.
Nhưng khối óc non nớt của
Hùng chưa suy luận, tiên đoán nổi những chuyện sắp xảy tới.
Ngày mười lăm dương lịch, xã
Tư đi hầu quan chủ quận như thường lệ. Huệ nằm rũ rượi trong phòng. Từ khi làm
lễ hỏi Lan tới giờ, xã Tư bắt buộc Hùng nghỉ việc mười hôm. Ông ta bảo với vợ:
- Em đừng hiểu lầm. Anh cho
thằng Hùng nghỉ tạm để vợ chồng nó hưởng tuần trăng mật. Sau đó, nó về đây làm
sổ sách như trước.
Huệ ngơ ngác:
- Mình nói sao? Hùng hưởng
tuần trăng mật?
- Nó ngủ chung một phòng với
con Lan.
Huệ đập tay xuống bàn, giận
dữ. Xã Tư liếc thấy sự ghen tương đang hiện rõ trên mặt vợ. Huệ còn yêu Hùng.
Huệ không muốn Hùng... nhập phòng với Lan.
Ông ta cười gằn:
- Em giận ai?
Huệ lanh trí, tìm được câu
trả lời:
- Em giận tất cả mọi người.
Mới làm đám hỏi mà nhập phòng à? Tục lệ nào cho phép chuyện bất lương đó?
Ông ta đáp:
- Tôi muốn như vậy để thằng
Hùng khỏi làm chuyện bất lương khác.
Nói xong, ông ta xuống ghe,
ra lịnh cho mấy thằng trạo chèo đi dinh quan chủ quận ở tận chợ Gò Quao.
Gian nhà trống trải lạ thường.
Hồi lâu, nàng thấy Hùng và Lan bước vào. Lan rưng rưng nước mắt khi gặp chị:
- Chị đừng hiểu lầm.
Huệ vội đóng cửa phòng:
- Về đi! Về hết đi! Tao muốn
chết.
Hùng chạy tới, xô cửa phòng,
nói nhanh:
- Huệ, em đừng dại dột. Hễ anh
nói, chắc em không tin. Hôm nay, anh dẫn Lan tới đây. Lan sẽ trình bày cho em
biết tất cả sự thật.
Bây giờ, Huệ mới bắt đầu yên
tâm. Hai chị em Huệ và Lan ôm nhau khóc nức nở. Lan nói nghẹn ngào:
- Ông xã bắt buộc Hùng và em
phải ngủ chung một phòng để gây dư luận xấu. Thiệt ra anh Hùng là người tốt.
Đêm đó, anh Hùng ngủ dưới đất, em thì ngủ một mình trên giường.
Huệ nghiến răng:
- Khổ quá. Tại sao ba má
không cản ngăn.
- Dạ, ông xã hăm he. Nếu ba
má từ chối thì ông xã sẽ làm lớn chuyện, giết chị lập tức. Ông nói chị tư tình
với anh Hùng...
- Chị hiểu rồi... Vợ chồng
em về đi!
Hùng và Lan vô cùng bối rối.
Cuộc thăm viếng này sẽ làm cho Huệ uất ức đến mức tự tử. Chàng nài nỉ Huệ:
- Lan đến thăm để nói sự thật.
Huệ à, anh thề chung thủy, sống chết với Huệ. Anh chỉ sợ Huệ thay lòng đổi dạ
thôi.
Rồi chàng lau nước mắt cho
Huệ. Nàng nắm tay chàng:
- Anh nhớ giữ lời hứa. Em sợ
rằng...
- Thôi, em đừng nói nhảm!
Lan cứ về một mình. Anh ở lại đây làm sổ sách....
Khi xã Tư trở về nhà, Huệ và
Hùng đều sợ sệt.
Mọi khi ông ta về vào khoảng
bảy giờ tối. Phen này, mười hai giờ trưa, ông ta về để làm gì? Phải chăng Hùng
và Huệ vừa sa vào cạm bẫy ông ta?
Hùng đứng dậy chào:
- Ủa! Ông không đi dinh quận
sao?
Xã Tư vỗ vai Hùng:
- Đừng gọi tôi bằng ông! Hai
đứa mình là bạn rể với nhau. Cứ gọi tôi bằng anh.
Rồi ông ta hạ giọng:
- Hay gọi thân mật... bằng
thằng, thằng xã Tư cũng được.
Huệ đỡ lời:
- Mình nói khó nghe quá. Hay
là bữa nay mình uống rượu nhiều?
- Mới uống rượu chút ít. Tôi
mới mua được một con khỉ nên lật đật trở về làm tiệc. Mình ăn thịt khỉ chớ. Để
Hùng xuống ghe, đem con khỉ lên.
Nói xong, ông xã Tư nắm tay,
dắt vợ vào phòng.
Ngoài này, Hùng bước lững thững
ra sân, xuống ghe với hai thằng trạo thân tín của ông xã. Chiếc ghe rời bến,
vào mương nhỏ khuất lá um tùm.
Xã Tư đem cái ly to lớn để
trên bàn nói rối rít với Huệ:
- Máu khỉ uống bổ lắm. Hổm
rày, em xanh xao...
Huệ trợn mắt. Linh cảm như
báo trước điềm không may:
- Ừ? Uống bổ lắm.
Cánh cửa hé mở. Một thằng trạo
bước vào, nâng một tô rượu đỏ ngầu. Xã Tư cười hề hề:
- Em uống đi.
Huệ nâng tô rượu lên...
Trong đáy tô rượu đỏ ngầu, tanh tanh, dường như ẩn hiện một dáng người... Nàng
run rẩy, buông tay. Tô rượu đổ xuống bàn, văng vào áo ông xã.
Xã Tư hỏi:
- Em chóng mặt hả?
Huệ nói gắt:
- Em muốn mửa. Uống rượu như
vầy, dã man quá! Dã man!
Xã Tư hiểu rằng Huệ đang chửi
mắng mình. Ông ta nắm tay vợ:
- Em buồn mửa thì ra ngoài
này... Mửa ở đây, dơ dáy nhà cửa.
Ông ta đưa Huệ đến cái mương
sau vườn rồi dắt nàng xuống chiếc ghe, nơi Hùng nằm sóng sượt tắt thở trong
vũng máu linh láng.
Huệ chạy trở vào nhà, rút
thanh đoản đao - thanh đoản đao treo gần cái bàn toán, ngay cửa phòng. Nàng chờ
đợi, đứng nép bên cửa.
Nàng đâm ngay bụng xã Tư rồi
đâm vào ngực mình, ngã gục.
Từ đó về sau, thiên hạ đồn rằng
Huệ trở thành ma quỉ linh thiêng, gọi là cô Huê, cô Huê ở cây dương đình làng
Tây Yên. Huê chính là Huệ, nói theo giọng kỵ húy.
Hương rừng
Sống ở rừng U Minh Hạ từ lâu
rồi mà Hoàng Mai hãy còn có cảm giác như lạc loài tận đâu đâu, bước chân đi
không vướng đất.
Ví nàng như cánh bèo rày đây
mai đó thì không đúng cho lắm: có lẽ nàng như đóa hoa sen, gần bùn mà chẳng hôi
tanh mùi bùn. Nhưng loại hoa sen thông tục quá, lại thường lọt vào tay phàm! Đằng
này, bẩm sinh nàng thuộc về một phẩm chất thanh cao hơn.
- Tằng tổ nhà ta vốn họ Trần,
nhờ dày công phò Chúa từ Thuận Hóa đến đây nên được cải ra họ Nguyễn. Niên mỗ,
ngoạt mỗ, quân Tây Sơn đến mãi tận chốn rừng già này, chúa Nguyễn đành ra khơi
tìm nơi cứu viện. Thảm hại thay! Tằng tổ nhà ta tuổi già, nhuốm bệnh không vượt
biển hộ giá được, đành cam lỗi đạo quân thần, giả dạng lê dân, nương náu nơi chốn
thanh lâm u cốc. Người được phong đến chức ngự y. Gia phổ ghi ghép rành rành, nội
xứ này, chỉ dòng họ ta là có gia phổ đó con.
Cha của nàng thường nhắc nhở
như vậy.
- Là quan ngự y, cớ sao tằng
tổ ta không tự chữa bệnh được. Hẳn là bệnh nan y! Thưa cha...
Bao lần nàng ướm hỏi như vậy
nhưng không dám. “Thuộc dòng hoàng phái nhưng sao triều đình không chú ý tới mà
ban cho chút bổng lộc?”. Đó là nỗi thắc mắc triền miên của nàng khi thấy cha
già chuốt tre đan giỏ mà độ nhựt hoặc ngồi buông cán câu bên bờ trúc, giữa trăm
bầy muỗi rừng.
Thỉnh thoảng, cha nàng nói
khẽ như thanh minh, tự an ủi:
- Hoàng đế đang tức vị thuộc
dòng ngụy do tân trào dựng lên. Giọt máu hùng anh của tiên vương này đã bị lưu
đày nơi hải đảo Bòn Bon, bặt tâm nhàn cá. Nhận chức hương giáo trong ban hội tề
làng Khánh Lâm sở tại, chẳng qua là cha muốn bưng bít dư luận. Bổng lộc của tân
trào, cha nào màng, chỉ nguyện làm bạn bầu với cây cỏ, gió trăng.
Ngày ngày lớn khôn, Hoàng
Mai càng yên tâm tin tưởng nơi dòng máu quí phái của mình. Cội hoàng mai cổ thụ
trước sân, há chẳng là một bằng cớ? Bao năm rồi, nó vẫn bền gan khoe sắc khi
gió Tết thổi về; vùng U Minh này mấy ai biết thưởng thức giống hoa vương giả lạc
loài! Bản Nam Bình réo rắc trong ruột cây đàn thập lục chỉ riêng cho nàng thông
cảm đó thôi... Nhưng cơ trời không ai ngờ được, tránh được. Mây đẹp của đỉnh Ngự
Bình có khi tan, nước yên lành của dòng Hương thường bị gợn những làn sóng nhỏ.
Năm ngoái, năm kia, khi vừa quá tuổi trăng tròn, một buổi chợt soi mặt vào lu
nước mưa, nàng bắt gặp cái màu trắng trong leo lẻo của làn da mình. Miệng chúm
chím hàm tiếu, nàng vuốt mớ tóc đen huyền; bàn tay ngà đặt trên má đỏ hây hây,
mơn man chuyền suối tóc về trên sau lưng gầy. Nhưng... lạ kìa! Hàng chục sợi
tóc thi nhau tuôn xuống.
Gió nhẹ thoảng qua; chân tóc
đã lấm tấm đung đưa, vướng bận chưa chịu bay đi như còn than van niềm biệt ly
vô cớ. Nàng cau mày trở vào phòng, cầm lược, chải kỹ. Nàng toan rú lên. Lược
đùa đến đâu là tóc rụng đến đó như lá úa trên cành đến độ gió trở mùa. Nàng e
thẹn. Nàng giận dỗi.
Thân phụ nàng - ông hương
giáo - chạy tới. Nàng soi gương, không day lại rồi trả lời tiếng rú khi nãy:
- Không có gì lạ đâu, thưa
cha.
Ông hương giáo đã hiểu nguồn
cơn. Mớ tóc rối nằm cuộn đống trên bàn khiến ông xúc cảm, không che giấu được
cơn buồn. Chiếc gương mờ soi đôi má ửng của Hoàng Mai, màu ửng đỏ lạ thường,
không biến đổi dầu khi nàng sợ hãi.
- Từ hồi tấm bé, làn da của
Hoàng Mai mịn quá, bóng quá. Trăm sự đều do đó mà ra...
Ông thở dài, cũng như ông đã
thở dài hồi mấy năm trước, tuy gió bấc về không lạnh lắm nhưng Hoàng Mai đòi đốt
lửa để sưởi rồi giẫm chân lên than hồng mà cười. Đêm đến, ông nghe tiếng rên
khe khẽ. Ngỡ là con gái mình nhuốm bịnh, ông đến gọi cửa đôi ba lần. Hoàng Mai
nằm đó, tỉnh mà như say, hơi thở hổn hển, đôi mặt úp vào chiếc gối mềm như trốn
tránh mấy sợi tơ trăng buông xuống từng hồi, khi gió rạt rào khẽ rung làm hở ra
mấy mí lá che trên đầu vách.
Bịnh của nàng ông đoán được,
ngặt không muốn nói rõ tên ra: bịnh nan y - bịnh cùi. Ông chỉ khuyên con gái
năng đi guốc vì ở rừng này... “phong” nhiều lắm. Quyển gia phổ ngủ từ lâu đời
dưới lớp bụi trên bàn thờ được vời xuống, lật ra kính cẩn dưới ánh nến bạch lạp.
Hơn trăm năm qua, kiếng họ Nguyễn chưa ai nhiễm chứng ấy, rõ ràng không phải là
bịnh di truyền. Ông suy luận:
- Có thể nhà mình đắp nền
trên ngôi mộ xưa của ai. Và tự ngày xưa, ai dám chối rằng khu rừng này không là
bãi sa trường mà người thắng kẻ bại đều lẫn lộn trong đống xương vô định đã hóa
ra cát bụi.
Trang phụ lục thứ sáu của
quyển gia phổ thứ nhứt còn thố lộ vài chi tiết khó hiểu, viết bằng chữ nôm:
“Đến Ngạc Ngư Đàm tức Đầm Sấu,
Ao Sấu, hơi sông lạnh buốt, chướng khí xây thành. Khách hỏi: loại ngạc ngư (cá
sấu), từ đâu lạc vào đầm? Kẻ thổ dân thưa: không ai rõ. Chúng đến đây như án ngữ
nẻo đường qua truông quỉ. Nơi ấy, muôn nghìn ma quái như ẩn, như hiện. Lại có
loài ong dị thường năng về làm tổ: loại ong này lưng nhuộm ngũ sắc, vượt thiên
lý để hái nhụy trăm hoa đem về luyện ngọc. Người phàm chưa ai đến gần được.
Chúng không sợ khói, hửi nhằm
hơi kim khí ô trược là chúng ào ra như giông tố giết cho kỳ được kẻ ngạo mạn.
Quan ngự y họ Trần biết được tin ấy bèn sai quân sĩ bày mưu kế hòng cướp ổ ong
nọ, đoạt loại ngọc thiên nhiên hiếm có đem về luyện thuốc trường sinh...”
Tư Lập, tay thanh niên khét
tiếng về nghề ăn ong ở xóm Cán Gáo được ông hương giáo mời về nhà, bày rượu thịt
thết đãi, đối xử như thượng khách.
Trang gia phổ lại giở ra, đọc
nho nhỏ vừa đủ cho Tư Lập nghe. Tư Lập gật đầu.
Trong rừng già này, bên kia
ao sấu, thỉnh thoảng loài ong ngũ sắc ấy trở về. Ban đầu chú Tư dùng con dao
xương nai mà cạo lấy mật nhưng không hiệu quả. Lần sau, chú mài miếng xương người,
dẹp như cây dao, theo ý muốn của ông hương giáo. Ngọc ong đã lấy được, đem về.
Chú bán tín bán nghi vì thấy “ngọc” chỉ là mớ nhụy bông quến lại thành ké mà
loài ong dự trữ bên góc ổ. Từ đấy, ông hương giáo mời Tư Lập ở luôn trong nhà
cho có bạn. Ngày đêm, ông chong hàng chục ngọn nến bạch lạp chung quanh mớ “ngọc”
để luyện, hy vọng rằng khi đúng một ngàn ngày nó sẽ trị được bịnh nan y của
Hoàng Mai. Tư Lập như không chú ý đến điều vô lý đó, cứ ra vào nhìn trộm hình
dáng giai nhân ngồi nằm trằn trọc... Mãi đến hôm nọ, lúc đứng ngắm thẫn thờ cội
mai già trước sân, chú nghe hơi thở nào ấm nồng, nhồn nhột sau gáy:
- Anh Tư ở đây vui chớ? Nãy
giờ em không dám hỏi.
Chú nhìn kỹ: không phải là dạng
hồ ly tinh trêu cợt, chính là Hoàng Mai, cô gái con ông hương giáo mà bấy lâu
nay chú trộm nhớ thầm thương.
Nàng nói tiếp:
- Cha của em dặn em gọi bằng
anh. Và đừng làm anh buồn.
Chú hiểu ý “À té ra bấy lâu
nay ông hương giáo thương mình”. Chú đánh bạo tìm bàn tay nàng. Nàng lắc đầu:
- Em hơi mệt, như vậy...
Rồi nàng nâng tay áo lên, thứ
tay áo lỏng thỏng quá rộng quá dài:
- Anh nắm cái chéo tay áo
này, em cũng đủ vui rồi.
Cảm động làm sao! Ngạc nhiên
làm sao! Một mùi hôi hám từ trong tay áo bay ra... Khi níu cái chéo tay áo của
người đẹp, Tư Lập thấy rõ ràng bên trong: ngón tay của nàng rụng mất hồi nào,
chỉ có năm cuộn vải nhỏ quấn khéo léo thay thế.
Hôm sau, chú viện cớ ra đi
lúc mùa bông tràm nở trắng rực. Chú không thèm làm nghề ăn ong nữa. Hàng trăm tấm
kèo bằng cây mun, chú giao lại cho ông hương giáo. Chú về Long Xuyên. Nhưng
hương rừng có ma lực quyến rũ. Lúc mới đến thì vui. Ở lâu lại sanh buồn. Xa
cách lâu ngày thì đâm ra nhớ không nguôi, không trở lại không được.
Chú lại trở về.
Sông Trèm Trẹm bắt nguồn từ
xóm Cán Gáo chảy về phía nam, qua xóm Tân Bằng rồi đổ ra sông Ông Đốc, hòa mình
vào vịnh Xiêm La.
Thằng Kìm nóng lòng, không
biết Tư Lập muốn dừng lại làm ăn ở khúc nào. Giây lâu, Tư Lập nói:
- Rừng U Minh còn nhiều bí mật!
Đừng lo mà. Tao hứa dẫn mày tới chỗ này vui lắm, đừng sợ chết đói. Có tao.
Xuồng dừng lại giây lát nghỉ
trưa rồi mái dầm lại tiếp tục khoát dòng nước đỏ ngòm, tuy chảy mạnh nhưng tứ bề
gió khuất nên không gợn sóng. Đôi bờ quanh co, hoa lá nghiêng mình, giao đầu, bắt
tay nhau che kín bóng mặt trời.
Khách đi đường ngỡ mình lạc
lối trong hang, thứ hang thiên nhiên, bất tận. Có tiếng vượn hú. Từ bên này,
con vượn bồng con, nắm sợi dây rau câu, lấy trớn đu mình sang nhánh ở bờ bên
kia để hái trái vừng. Trái quá chát, vỏ quá dày, vượn nhăn mặt, bực tức ném mạnh.
Trái vừng sa vào giữa lưới nhện giăng hờ, lơ lửng. Lưới rung rinh không đứt hẳn;
con nhện hoảng hốt, thả sợi tơ dài sa xuống. Chợt thấy mặt nước, nó toan rút trở
lên. Nhưng trễ quá rồi! Con cá bông phóng mỏ theo, táp mạnh. Thằng Kìm ngỡ đó
là con trăn. Cá lớn bằng cột nhà vảy xanh vảy trắng thêu từng vòng ngời lên khắp
thân mình. No mồi, cá lặn sát đáy, lội nhanh. Bầy cá con hối hả di chuyển theo
mẹ, hàng trăm con lấm tấm như rắc cườm đầy mặt nước, mất dạng trong bóng mát đằng
kia. Bờ sông im lìm, mặt nước thẫn thờ trả lại bóng dáng hiền hòa của cây chồi
mọc sát mé bãi: bông vừng buông thõng xuống từng xâu chuỗi hường, chen lấn, nối
tiếp nhau như bức mành mành. Nhánh vừng khô cằn, lá vàng rụng như mất hẳn. Đôi
đọt non nhú lên, mỏng mịn, chưa nhuốm được màu xanh vì thiếu nắng; ở xa, trông
như những cánh bướm khổng lồ đang phập phồng, ngứa ngáy, chưa đậu yên chỗ là đã
muốn bay.
- Kìm, mày biết nước dòng
sông này màu gì không?
- Ở dưới sông, giống như màu
máu bầm. Múc lên tay thì coi như nước trà pha đậm.
Tư Lập day lại:
- Hồi xưa có người nói nó giống
như cà phê đen. Ờ... mày uống cà phê lần nào chưa?
- Chưa, chú Tư à.
- Bán thiếu gì, tại chợ Thới
Bình. Dân ở chợ là người mới tới mua bán lập nghiệp, họ chưa dám đi sâu vô rừng
làm ăn như tụi mình bây giờ. Họ nể nang dân phía này lắm.
- Sao vậy, chú Tư?
- Vì dân này là dân cố cựu,
phá sơn lâm, đâm Hà Bá mở đường cho họ tới sau làm ăn. Con nhà tướng đi mở đường
máu mà!
Tư Lập vừa nói vừa với tay đập
sau lưng. Thằng Kìm đã hiểu nghĩa mấy tiếng “mở đường máu”. Ba bốn đốm máu đỏ
ngời; mấy con muỗi vừa bị đè nhẹp xác.
Nó sực nhớ đến bầy muỗi bu
quanh nó mấy ngày rày. Ban đầu, nó bực mình, đập giết thẳng tay, phải buông dầm
khiến xuồng lủi vô bờ. Mỗi lần như vậy, Tư Lập day lại:
- Cứ bơi lẹ, muỗi cắn ít
hơn. Ở lầy quầy mình bị cắn nhiều mà không đi tới đâu hết. Xuống xuồng để bơi
chứ đâu phải để đập muỗi.
Nghe lời Tư Lập, thằng Kìm bấm
môi chịu đựng.
Vài tiếng gà gáy văng vẳng,
hưởng ứng nhau phá tan không khí tĩnh mịch. Vòm cây lần lần trống trải rớt từng
mảng, ngưng đọng không chịu trôi theo dòng nước ngày càng chảy hăng. Bên bờ, nước
đổ róc rách theo con lạch nhỏ, vỏ tràm trôi lềnh bềnh trắng. Thằng Kim nôn nức:
- Tới chỗ nghĩ chưa, chú Tư?
- Chưa. Hai doi nữa. Mày nhớ
không, hồi sáng tới giờ mới qua có sáu doi.
Hai doi, đường còn xa. Thằng
Kìm yên lòng vì sẽ đến chỗ nghỉ trước khi trời sụp tối:
- Chú có bà con ở đây hả?
Tư Lập cau mày không trả lời,
mở gói thuốc ra vấn hút. Đó là gói thuốc mà chú hứa tiết kiệm, để dành hút khi
tới nơi.
Thằng Kìm đoán chừng Tư Lập
đang suy nghĩ nhiều. Chú lẩm bẩm:
- Ừ, bà con hay là người
dưng, chuyện đó không quan hệ. Nhắc tới tao buồn quá, muốn quày trở lại bây giờ.
Nhưng đã tới đây rồi không lẽ lại quay trở về. Tao không muốn kiếm nhà quen. Ở
gần xóm đông thì bất lợi, ở xa quá thì cũng hại. Mày tin tao. Tao không dại gì
trở lại đây mà tìm cái chết... Ờ, mày họ gì? Mấy ngày rày, tao quên hỏi.
- Họ Trương hay họ Trần gì
đó, tôi quên rồi. Nghe nói hồi đó ba tôi đổi họ.
- Ối! Họ gì cũng được, miễn
tới chừng người ta hỏi thì đừng có trả lời lập dập. Nói vậy chớ ai xét hỏi. Tao
có quen với vua. Hồi xưa, có người xóm này được cải ra họ Nguyễn cho giống với
họ vua... Họ nói vậy hay lắm.
Thằng Kìm ngơ ngác hỏi:
- Bà con với vua sao lại ở
đây?
Tư Lập không trả lời. Chú
bơi mạnh, mũi xuồng quẹo vô bờ, phía trái. Vàm mương nhỏ hiện ra. Chú nói:
- Mày nghỉ tay đi. Tới phiên
tao rồi...
Ngồi trước mũi, chú bơi phía
mặt vài dầm, rồi trở lẹ qua bên trái, bơi vài dầm. Xuồng lướt tới ồ ồ. Gặp dây,
gặp nhánh cây cản mũi, chú bứt, bẻ rôm rốp. Gặp nước cạn, chú đứng mà chống hoặc
quì trên sạp xuồng, ngả mình tới lấy trớn. Thằng Kìm vui sướng quá. Lúc này nó
khỏe tay, dầu muốn tiếp sức với Tư Lập cũng không được. Mũi xuồng quá nhỏ, nào
đủ chỗ để hai người cùng ngồi ngang nhau. Hơn nữa, bơi xuồng theo lối mới này
nó chưa quen. Mặt trời sụp xuống thấp, rọi thẳng từ trước mặt. Con rạch quá nhỏ,
uốn ngoằn ngoèo như ruột ngựa nối liền qua những lung, bàu, tròn tròn méo méo
như hình mấy cái bao tử, gan, lá lách... Sậy mọc khỏi đầu.
Hương rừng ngào ngạt, mùi
hương xa lạ nhưng rất quen thuộc. Thằng Kìm hít mạnh để hửi cho kỹ, để nhớ rõ
nhưng nhớ mãi không ra. Chợt ngẩng đầu lên, nó trố mắt. Rừng cơ hồ không còn
chiếc lá nào cả! Trên hàng vạn nhánh to nhánh nhỏ, bàn tay thần nào rắc lấm tấm
hàng hà sa số đợt bông gòn, không phải riêng trước mặt mà khắp các tứ phía. Rừng
sáng lạng, ai dám nói rừng là âm u? Bông kết oằn sai, mịn màng, trắng tuyết;
đài, cánh đâu không thấy chỉ thấy toàn là nhụy ngọt.
Nó buột miệng:
- Rừng cây gì vậy? Chú Tư.
- Thằng quỉ! Hửi mà không biết
mùi mật ong sao? Tràm chớ giống gì! Muôn ngàn hũ mật ong của trời ban xuống cho
trần gian còn treo lủng lẳng như mù sương trên nửa lừng đó. Hửi vô thì say. Say
thì không tỉnh được. Có người toan dùng nó mà luyện thuốc trường sinh, từ trăm
năm nay...
Tư Lập ngâm mình dưới bưng
nãy giờ khá lâu rồi. Nước dâng lên nửa ngực. Hai tay chú quậy dưới bùn, chân bò
tới lui, bọt nước sôi ùng ục. Chú rút lên một cây búa to tướng, nói huyên
thuyên:
- Nó còn nguyên, mới tinh. Bộ
trái đất xoay tròn sao mà! Hồi năm ngoái tao nhớ rõ ràng, nhận ở gần gốc tràm
bên kia. Bây giờ nó chạy qua bên này. Để tao rửa sạch cho mầy coi. Cam đoan
không có một bợn sét, khuất dưới lớp bùn non, mưa nắng không sao thấu tới. Sét
ăn hư hỏng là khi nào mình giữ không kín. Lòng người cũng vậy... Mày chưa hiểu
hả?
Thằng Kìm thật tình không hiểu
câu nói lắt léo của Tư Lập. Nó không cần tìm hiểu. Cây búa khiến nó ngạc nhiên
hơn: cán dài cỡ năm tấc. lưỡi cao hơn hai tấc, bề ngang lưỡi búa trên một tấc
rưỡi, lớn như mấy cây búa mà các ông tướng hát bội thường vác ra khi đánh trận.
- Cầm thử coi nặng không?
Tay anh hùng mới cử nó được. Tạo ra lúa gạo, xuồng chèo là nhờ nó. Nên nhà nên
cửa, nên đất nên vườn, nên chồng nên vợ, xưng hùng xưng bá cũng nhờ nó.
Tư Lập nói tiếp:
- Đói bụng chưa?
- Hơi đói. Nãy giờ tôi lưỡng
lự; gạo còn chừng hai nắm, không lẽ nấu cháo. Hay mình kiếm nhà nào mượn đỡ.
- Mượn gạo mà ăn, xưa quá! Ở
xứ này, tao không muốn gặp mặt ai hết. Con người ta chết... không phải vì thiếu
gạo. Tới lớn, mày hiểu câu nói đó. Bây giờ đi với tao tìm nhà quen, bảnh thì
mày đi trước một lần coi!
Nói vậy chớ Tư Lập bước trước,
đạp lên choại, lên dớn nghe sột soạt. Thay vì đi thẳng lại phía rừng tràm trắng
tinh, thơm ngào ngạt, Tư Lập quẹo về phía rừng thấp lè tè, cây cối mọc so le hỗn
loạn. Bùn non ngập mắt cá. Muỗi bay lợn cợn, vướng vít dưới chân cây còn u tối.
Tư Lập khuyên nhủ:
- Ráng chịu cực! “Lô” rừng
tràm đằng kia là của người ta. Rừng chồi phía này mới là của mình. Vắng hai năm
nay, tao ngán rồi, không muốn nhớ lại cái mùi nhụy tràm.
- Sao vậy?
- Đừng hỏi nữa. Tao muốn
lánh mặt người quen. Mai chiều, có lẽ mình qua nơi khác. Gió thổi hiu hiu, buồn
quá.
Tư Lập thẫn thờ đôi mắt bỗng
nhiên khoát tay, ra dấu im lặng. Chú ngồi nép xuống. Thằng Kìm cũng bắt chước,
cúi đầu, ái ngại. Tư Lập cầm tay nó nói khẽ:
- Đừng động đậy, thở nhè nhẹ.
Nó kìa...
Thằng Kìm ngớ ngẩn, liên tưởng
đến thứ tai nạn khủng khiếp:
- Co... ọp hả?
- Nói bậy xui xẻo! Ong mật.
Và nó định thần khi Tư Lập
nói rõ thêm:
- Ong mật... đi ăn bông. Bay
rề qua rề lại, thấy chưa, thấp chủn trên đọt sậy kìa.
Thằng Kìm mừng rỡ:
- Ngộ quá! Ổ nó ở đâu đây, hả
chú. Làm sao kiếm được? Ý! Nó lớn bằng hai con ong ruồi.
- Om sòm cái miệng! Về chống
xuồng lại đây mau, tao chờ! Nhớ cái hộp quẹt máy.
Thằng Kìm hối hả làm y lời.
Trở lại chỗ cũ, nó chợt nghe tiếng “hì” ở phía sau rừng tràm. Té ra nãy giờ Tư
Lập lội tắt qua mương đi lại đằng ấy.
Chú vội ngồi lên xuồng, chụp
lấy cây dầm, hờm sẵn:
- Bậy quá! Nó “đi bông” tới
đây rồi mất dạng. Chờ một hồi nữa coi.
- Đi bông là gì? Chú Tư.
- Là đi hút nhụy bông... kìa
mê quá!
Một con ong rồi hai con ong
bay qua sát ngọn cỏ, lưng ngời những rằn xanh đỏ, hai chân sau quặp lại kẹp hai
đốm vàng sậm mà thằng Kìm đoán là nhụy bông. Ong vừa qua khỏi chừng mười thước.
Tư Lập hối hả bơi xuồng theo. Nhưng hai con ong nọ lại đáp xuống, mất dạng. Chú
nói:
- Đây là trạm thứ nhì của tụi
nó. Rán chờ chút nữa. Chém chết tao cũng ăn được ổ này.
Sau đôi ba lần theo dõi rồi
dừng lại như vậy, Tư Lập bỗng cười vang, múa men tay chưn như đứa trẻ thấy kẹo.
Hàng trăm con ong bay chập chờn trước mặt, đáp xuống, vọt lên cao, không dời chỗ.
Chú ngóng xem hướng gió trên ngọn cây, ra lịnh cho thằng Kìm đứng yên rồi chú
đi khuất, chập sau mang về một nắm rễ cây gừa.
Hộp quẹt bật lửa lên. Nắm rễ
gừa ngún cháy, khói bay đều. Chú nói nhỏ:
- Đi theo tao, đừng chạy bất
tử nghe!
Chú phồng má thổi mạnh, khói
tung bay mịt mù chưa tan là chú thổi thêm một lần nữa, chân bước nhanh tới. Hiển
hiện sau một lớp khói mỏng kia, vật gì lạ thường như một trái cây khổng lồ, lớn
bằng cái nia, đen ngòm, rực rỡ như nạm muôn ngàn hột thủy tinh chấp chóa...
Thằng Kìm há miệng:
- Ổ ong hả? Ong đâu hết rồi?
- Cả triệu con kết lại, nằm
sắp lớp đen ngời, chớp cánh lia lịa đó. Không thấy sao! Ổ ở bên trong. Lên xuồng
đi. Rủi bề gì tao với mày thối lui, lặn dưới mương, úp chiếc xuồng này lại mà
che...
Tư Lập cầm nhánh cây khô gạt
vào ổ; ong rớt xuống cỏ từng mảng, lần lần tan ra. Ổ ong khoe màu trắng tinh
như sáp treo trên khúc cây gác nghiêng; cây kèo.
Chú quát:
- Chống xuồng lại. Tao với
mày khiêng nguyên cái ổ xuống. Dầu sao mình cũng mang tiếng ăn cắp của thiên hạ
rồi.
Đặt dưới xuồng, ổ ong nức
ra, mật vàng tươi chảy đọng vũng. Tư Lập chụp cây dầm, bơi trối chết, lướt qua
sậy, qua năn. Thằng Kìm cúi đầu sát ván, nhắm mắt, e nhánh hai bên quật nhằm.
Nó cười tươi khi thấy mái chòi hoang hiện ra trước mặt. Tư Lập trao cây dầm cho
nó thò tay xé tàn ong:
- Trời ơi! Tao ăn cắp... của
tao.
- Chú nói gì?
- Miếng kèo bằng cây nhum. Hồi
năm ngoái tao gởi lại cho người quen. Chữ “điền” tao khắc rành rành.
Cây rừng chuyển răng rắc.
Đâu đây có tiếng chửi thề ỏm tỏi, xen vào những tiếng dầm khuấy nước. Tư Lập
cau mày.
- Họ đi theo dấu bắt tụi
mình. Không khéo lại xảy ra đâm chém, uổng mạng. Nhiều khi họ mạo nhận là của họ
để hăm dọa mình. Lát nữa, mày đừng yếu bóng vía... Cứ cãi lại cho tao.
Thằng Kìm giựt mình:
- Chú đi đâu? Một mình tôi
không dám...
- Tao núp sau hè. Họ tới
kìa! Cầm búa lên! Đụng độ thì ta ra ăn thua.
Nhanh như chớp, Tư Lập rút
lui, ngồi khuất sau bụi mật cật. Thằng Kìm nhìn trước mặt. Hàng cây rung rinh,
rẽ ra. Một người vạm vỡ cầm búa, bước tới:
- Khôn thì chịu tội. Thằng
kia, mày ở xóm nào tới?
Thằng Kìm cố giữ sắc trầm
tĩnh:
- Tôi ở đây, mần ăn...
- Ăn cắp chớ mần ăn? Tao
theo dấu tụi bây nãy giờ. Công trình mấy tháng nay tao tạo sẵn để mày hưởng! Đã
ăn cắp rồi còn gỡ luôn tấm kèo, chẳng khác nào ăn trộm rồi đốt luôn nhà của tài
gia.
- Tôi không biết gì hết...
- Chém chết mẹ chớ không biết...
Lưỡi búa của khách hươi lên.
Thằng Kìm cũng nâng cây búa một cách vụng về. Khách nhìn nó, ngạc nhiên rồi
nhìn cây búa:
- Mày ăn trộm búa nữa hả?
Ráng mà đỡ. Nè!
Hoảng hốt, Tư Lập nhảy ra, nắm
cườm tay người khách lạ:
- Tao ở nhà ông hương giáo
ngày xưa đây mà. Chú mày đến sau nên không biết rõ tao là ai.
Khách trố mắt:
- Trời cậu Tư. Về hồi nào?
Trời... nãy giờ thấy cây búa, tôi hồ nghi là của cậu. Sao không lại thăm cô
Hoàng Mai?
Tư Lập vuốt mồ hôi trán:
- Thôi! Về đi. Nhắn với ông
hương giáo rằng tối nay tao tới.
Khách nói:
- Buồn lắm! Cô Hoàng Mai yếu
nhiều.
Tư Lập thở dài:
- Vậy hả? Đừng nói nữa. Về
trước đi.
Khách rút lui. Tư Lập nói ngậm
ngùi:
- Trốn mà không khỏi. Trốn
Tây tà là chuyện dễ; trốn người quen là chuyện khó hơn. Ta ăn cắp tổ ong khi
nãy làm chi? Nghề ăn ong có nghiệp chướng... Đây là tổ ong cuối cùng của tao
trong nghề...
- Sao vậy? Ai đau nhiều vậy
chú? Cô Hoàng Mai là người bà con...
- Bà con không phải bà con.
Người dưng không phải người dưng. Tối nay mày thay mặt tao, lại đó mà thăm ông
hương giáo. Phần tao, tao phải xa rừng này. Ở lại đây, mày có dịp học khôn. Đừng
buồn. Để tao nói lại đầu đuôi sự tích, hồi năm trước.
Nghe xong thằng Kim đi từng
bước chậm rãi đến nhà ông hương giáo. Câu chuyện tình của Tư Lập hãy còn lãng
vãng trong trí nó. Gió chiều nhẹ thổi. Mùi bông tràm ngào ngạt. Nó nhìn từng gốc
cây, từng tiếng lá trở mình mà khoan khoái trong lòng. Rừng U Minh này đối với
nó cơ hồ không còn gì là bí mật khó hiểu nữa.
Đến nhà ông hương giáo, nó
được thiết đãi cơm nước tử tế. Nó nói dối rằng... chừng lát nữa Tư Lập sẽ đến.
Nhưng Tư Lập có đến đâu! Đêm đó, nó được nằm ngủ trên ván gõ, trải chiếu bông,
giăng mùng rộng rãi. Nửa đêm, nó chợt tỉnh vì ánh đèn chói mắt.
Ông hương giáo nói:
- Chú em thức hả? Kìa! Trên
bàn thờ, từ bao năm rồi, tôi luyện “ngọc ong” để trị bịnh. Bịnh gì, chắc chú Tư
nói sơ cho chú em hiểu rồi. Tôi buồn quá. Tư Lập không trở lại nhà này nữa đâu.
Chú em cứ nói thiệt. Phải vậy không?
Thằng Kìm nói:
- Dạ cháu không biết. Chú Tư
không nói rõ...
- Ta hiểu lắm. Dù sao, trở về
lần này, Tư Lập cũng đã tỏ ra có nghĩa! Ai nỡ câu thúc chí trai của mình trong
một xó để đổi lấy chữ nhàn? Ai nỡ bõ cái danh dự để mua chuộc một chức tước quý
phái huyền ảo. Từ xưa, tằng tổ của ta cũng vì khí khái ấy mà phò Chúa, xiêu lạc
đến đây! Bây giờ ta yếu lắm rồi. Dầu muốn bắt chước Tư Lập, ta cũng không còn sức
lực để bắt chước. Gia thế của ta, thiên hạ đã rõ. Câu thúc Tư Lập ở mãi tại đây
chăng? Ta chỉ là người hương giáo, quyền hạn gì? Ừ! Tội là tội cho Hoàng Mai.
Năm nay, nó ngồi một chỗ, không còn đủ sức mà ra thăm cội hoàng mai trước ngõ
như hồi Tư Lập biết.
Sáng hôm sau, thằng Kìm từ
giã ông hương giáo rồi đến ngồi bên mé rạch. Bông vừng tươi thắm, cây cối hai
bên bò giao đầu lại, mát mẻ. Nó chờ đón bất cứ xuồng ghe ai, đi về đâu cũng được,
để quá giang. Sau lưng nó, trên thềm nhà, trong bóng mát, hình dáng của Hoàng
Mai với đôi mắt và mớ tóc trùm kín trong chiếc khăn. Chiếc tay áo của nàng lòng
thòng che khuất mấy ngón tay, từ từ nâng lên như tiễn đưa một hình bóng.
Kho Vàng
Năm tự làm nghề mua bán nồi ở
chợ Sóc Xoài, nổi danh giàu có nhứt nhì trong vùng, vào khoảng năm 1940. Ông ta
giao thiệp rộng, hễ ai cần dùng tiền bạc thì cứ đến gặp mà mượn, mượn có ăn lời.
Ngoài ra, ông ta sẵn sàng đi
xa. Nếu người nào đó muốn cầm cố nhà cửa ruộng đất, tánh ông rất kỹ lưỡng, khi
làm ăn thì xem tận nơi, điều tra khéo léo cho biết đất cát, nhà cửa ấy do ai
làm chủ? Phải trưng ra đủ thứ giấy tờ, làm giấy đem cho hương chức làng thị nhận.
Một buổi tối, đâu vào khoảng
hai giờ khuya, ông đang ngủ thì chợt nghe có tiếng cãi vã dưới bến. Hai người nọ
cãi qua cãi lại, ban đầu to giọng, về sau thì rất nhỏ. Đó là điều kỳ lạ khiến
ông lồm cồm ngồi dậy để theo dõi:
Một người nói:
- Tôi chắc mà. Mấy ông thầy
địa lý kéo nhau tới núi Ba Thê. Họ đi suốt ngày chung quanh núi. Ngu dại gì mà
họ đi như vậy!
Người kia đáp:
- Mình đi săn vàng chẳng
khác nào mò kim đáy biển. Dân núi Ba Thê ngu dại gì để cho người khác tới chia
của. Không đủ cho họ chia...
- Tôi biết chắc rồi. Ở dưới
chân núi chớ không phải ở trên sườn núi. Một cha nội ở xóm tôi từ núi Ba Thê về,
làm giàu, mang theo một cái mão bằng vàng ròng, nặng hơn một kí-lô.
- Thấy không? Hay là nghe đồn
đãi?
- Tôi không thấy cái mão bằng
vàng nhưng tôi thấy hắn ta cất ngôi nhà ngói. Ngôi nhà cất chưa xong thì hắn lại
trở vô núi Ba Thê, từ hai ngày rày. Tôi theo dõi, thấy xuồng hắn ta quẹo qua
ngã ba nầy.
Ông Năm Tự chú ý nghe tiếp,
nhưng hai người này bàn bạc với nhau nhiều chuyện quá xa xôi: nào là hùn vốn để
mướn người đào đất, nào là cách thức canh phòng đừng cho người lạ mặt theo dõi.
Đại khái, họ tính mướn nhân công đến chân núi để cuốc đất, theo kiểu cuốc đất
trồng khoai. Khi nào gặp vàng thì họ sẽ giết mấy người làm công ấy, giống như hồi
đời xưa, mấy ông bạo chúa xây xong lăng tẩm là giết tất cả thầy thợ.
Hai người ấy bơi xuồng ra
đi, khi bìm bịp kêu nước lớn. Trên nhà, ông Năm Tự cứ thao thức, chờ trời sáng.
Đây không phải lần đầu tiên mà ông nghe nói về kho vàng vô chủ ở núi Ba Thê. Ngọn
núi nầy không cao cho lắm, nằm trên cánh đồng không mông quạnh khoảng giữa chợ
Rạch Giá và chợ Long Xuyên, gần núi Sập. Trên núi, còn vài ngôi chùa Miên. Năm
ngoái, ông Năm Tự đến núi một lần để xem giá cả đất vườn. Một người bạn muốn
bán lại cho ông vài mẫu vườn, sát chân núi. Ông Năm đi ngang qua công sở, thấy
một pho tượng Phật xưa, bốn tay, tạc bằng đá... Ngoài ra, rải rác trên sườn núi
còn vài cái am nhỏ, thờ nhiều pho tượng khó hiểu, như kỳ lân mọc cánh, con bò
quì bốn chân, mặt bò giống như mặt người. Thiên hạ đồn đãi rằng mấy chục năm về
trước một ông bác vật người Pháp đến núi Ba Thê đào vàng, gặp cái hang sâu thăm
thẳm, ăn thông ra ngoài biển khơi. Ông bác vật xuống thử, được người tu hành
nào đó căn dặn vài lời... Khi trở lên, ông bác vật nọ hoảng sợ, về Sài Gòn
không dám tiết lộ bất cứ điều gì, vì dường như đã bị hăm he: nếu thất hứa, ông
ta sẽ hộc máu chết tốt.
Ông Năm Tự đến núi Ba Thê
ngay trong ngày hôm sau. Dưới chân núi, lúc bấy giờ là mùa nước lụt, chỉ có mấy
gò đất nổi lên, lúa sạ gặp nước cứ dâng lên cao. Hàng trăm con trâu đang gom lại
trên năm bảy cái gò sát chân núi, khung cảnh trông khá lạ lùng, hùng vĩ. Mấy
người chủ trâu ở mấy làng lân cận không tài nào tìm đủ cỏ cho trâu ăn; nước ngập,
cỏ không sống được. Họ giao cho một người chủ thầu lãnh trách nhiệm giữ trâu
trong mấy tháng nước lụt, đưa bầy trâu đến nơi cao ráo, ở núi Ba Thê hoặc vùng
Bảy Núi. Tới khi nước giựt xuống thì đem trâu trở về làng, trả cho chủ cũ.
Linh tính như báo trước với
ông Năm Tự rằng mấy gò đất cao ráo nầy có thể là nền nhà, nền chùa từ cả ngàn
năm về trước, nếu đào lên thì gặp vàng. Ông lại gần mấy đứa bé chăn trâu để làm
quen. Chiếc xuồng của ông vừa cặp vào là bọn trẻ reo hò:
- Ai vậy? Cho tụi tôi tiền bạc
phải không? Tụi tôi là vua xứ nầy. Muốn ăn cơm thì đưa vài cắc, tụi tôi làm tiệc
cá lóc nướng đất sét. Ngon lắm.
Ông Năm Tự đáp:
- Cám ơn mấy em. Bác đi kiếm
mấy người quen. Hồi sáng tới giờ, mấy em gặp chiếc xuồng nào tới đây không?
Dụng ý của ông Năm Tự là dò
xét bọn người mà ông gặp hồi tối, tại chợ Sóc Xoài. Nhưng mục đích chánh của
ông vẫn là tìm hiểu bọn trẻ quá ranh mãnh nầy. Bọn chúng sống với nghề chăn
trâu từ nhiều năm, di chuyển hàng trăm cây số ngàn, không thua người lớn về
kinh nghiệm trường đời. Đứa bé chăn trâu lớn tuổi nhứt lên tiếng:
- Cho tiền thì tụi tôi chỉ
cho! Họ muốn làm quen, họ vô phép quá. Họ gọi tụi tôi bằng tụi bây, hăm he rằng
trâu ăn cỏ trên đất của họ, họ có thể đuổi bất cứ lúc nào. Nhè tụi tôi mà họ
rung cây nhát khỉ chớ!
Ông Năm Tự nhìn kỹ thằng bé
nọ. Đúng là đứa lanh lợi, trán cao, tóc dựng đứng như rễ tre, cánh tay có xăm
vài chữ nho. Lúc nầy, tốn tiền bao nhiêu ông cũng không tiếc, may ra ông được
ít nhiều vàng bạc, bằng không thì cũng được ăn vài bữa cơm ngon lành.
- Một đồng bạc, xài tạm đủ
không? Ngày mai tôi trở lại ăn cơm.
Thằng bé nói:
- Bữa nay ông ghé lại đây ăn
cho vui, chớ tôi không dám nhận tiền trước.
Ông Năm Tự đáp:
- Vậy thì chiều nay bác trở
lại, bây giờ bác còn lên núi để lo công chuyện làm ăn khác.
Thằng bé chăn trâu đã hiểu
người khách lạ muốn điều gì rồi. Ba năm qua, mỗi lần đem bầy trâu tới chốn này,
luôn luôn nó gặp nhiều người đến tìm vàng. Bọn này không bao giờ nói thẳng ý định,
cứ làm quen với nó rồi viện lý do vu vơ rằng đến tìm vài con trâu thất lạc, hoặc
tìm vài đọt sậy, đem về làm thuốc trị bịnh trâu mắc toi. Thằng bé theo dõi, thấy
họ đến gốc cây thị, trên giữa gò đất để tìm vài cục gạch. Đó là loại gạch lớn gấp
ba, gấp bốn gạch dùng để xây nhà ngày nay. Vài người đào thử, nhưng thất vọng,
vì đất trên gò quá cứng, toàn là gạch với đất sét, xen vào đó là đá xanh, từng
cục đá nhỏ, đập sẵn tự thuở nào.
Ông Năm Tự đưa ra một đồng bạc.
Thằng bé tỏ dấu cảm động, nhận tiền rồi tự giới thiệu:
- Tôi là thằng Đống, mỗi năm
mỗi tới đây. Chủ tôi là tằn khạo Bảy, đang uống rượu trên núi với mấy người bạn
nào đó. Làm chủ thì khỏe hơn làm công, đời là vậy!
Ông Năm Tự buột miệng:
- Ừ, mầy là thằng Đống, tao
tin mầy lắm. Mầy biết tao tới đây để làm gì không?
Thằng Đống cười hề hề:
- Sao không biết, nói ra kỳ
quá. Nói vậy là ông hiểu rồi. Ông cũng như mấy người hồi sáng...
- Nghĩa là sao? Họ tới đây
làm gì?
Đột nhiên thằng Đống nhìn về
phía bên trái nói khẽ:
- Ông ơi, họ tới đó. Tôi chỉ
tay cho ông thấy. Ông ăn xài rộng rãi với tôi thì tôi đối xử lại đàng hoàng.
Ông đừng nói gì hết. Quả thiệt thế gian nầy thiên hạ ham tiền bạc, tới mức điên
khùng.
- Họ ở đâu?
Thằng Đống nói:
- Xin lỗi ông, hồi nãy tôi
nói một lần rồi, tôi là vua xứ này. Cãi lời tôi thì ông thua họ đó. Bây giờ,
ông ngồi xuống, đừng cho họ thấy.
Ông Năm Tự thầm phục sự lanh
lẹn của thằng Đống. Đằng kia, sát bên gò, một chiếc xuồng nhỏ đậu lại. Gò khá rộng
và cao, lau sậy mọc khỏi đầu người, bầy trâu di chuyển tới lui, thỉnh thoảng
vài cặp sừng nhô lên. Dưới xuồng có hai người. Dường như họ nhìn về phía thằng
Đống và ông Năm Tự rồi cho xuồng quẹo về bên trái, khuất dạng. Thằng Đống nói
khẽ:
- Tôi thấy rồi. Bọn này cầm
dao, cầm búa. Xứ này của tôi, chẳng lẽ họ dám ăn thua với tôi. Võ nghệ thì thua
họ, nhưng tôi lựa con trâu cồ mạnh khỏe nhứt để đuổi họ. Con trâu này thường nổi
cơn điên, chỉ một mình tôi khiển nó nổi thôi. Ai phá, tôi cho trâu chém đổ ruột.
Dao búa không ăn nhằm gì ráo...
Tin vào tài trí của thằng Đống,
ông Năm Tự chạy nhanh theo, đến phía giữa gò, nơi có một cây to, cành lá thưa
thớt mọc nhô lên. Thằng Đống vạch lau sậy thật gọn, ít gây tiếng động, nhờ vậy
mà ông Năm Tự bước dễ dàng. Nó dừng lại, ngồi xuống rồi nói:
- Tụi nó không hơn tôi đâu.
Tôi biết là tụi nó tới chân núi, hỏi thăm mấy ông thầy địa lý, mấy ông thầy
bùa, thầy ngải rồi lò mò tới. Tụi nó vác búa, vác dao là để...
Phía trước, lau sậy ngã xuống
nghe rôm rốp. Thằng Đống nằm mọp sát đất để che khuất thân hình, ông Năm Tự
cũng bắt chước thằng Đống, cố ý xem bọn người nọ bày trò gì? Theo sự suy luận của
ông thì chuyện kho vàng chưa đến nỗi hoang đường, gò đất cao ráo này rất có thể
là nền của một ngôi chùa xưa, bằng cớ là còn một cây thị cao lớn mọc giữa gò đất,
quả là cây thị do người xưa trồng để lại, cây thị ít khi mọc hoang, trơ trọi giữa
nơi đồng không mông quạnh. Cây mọc không sung sức cho lắm vì đất quá xấu, có
khi là mọc trên đá cũng không biết chừng.
Hai người nọ đến gần gốc cây
thị. Chưa chi ông Năm Tự đã lo sợ, rủi gặp họ, làm sao ông trả lời! Đành rằng
“người đời muôn sự của chung” nhưng rình rập là hành động tiểu nhân, hèn hạ.
Ông nắm tay thằng Đống, nhưng nó day lại với nụ cười, tay làm dấu hiệu như
khuyên ông Năm Tự nên nằm mọp sát mặt đất.
Người thứ nhứt nói:
- Gặp rồi. Đây là đền xưa,
còn mấy cây cột rành rành.
Người thứ nhì chửi đổng vài
tiếng:
- Hay là tụi nó đào đất lấy
vàng hết rồi? Cái thằng cha ở xóm Sóc Xoài coi vậy mà nguy hiểm lắm. Mình mướn
người đào thử, khi tụi con nít chăn trâu dời qua xứ khác.
- Mặc kệ. Tôi nghe chắc chắn
rằng cái mão bằng vàng xuất hiện ngay tại gốc thị.
Người kia trả lời:
- Nói láo vừa vừa nó! Tại
sao người ở trên núi không xuống đây mà đào? Họ ngu dại gì để cho người xứ xa tới
chia của!
- Tới đây để cãi sao chớ?
Người núi Ba Thê quá mê tín dị đoan, họ không dám lục lạo vì sợ kiếp sau đầu
thai không được. Đào vàng là ăn cắp của Trời Phật. Mình thử chặt một khúc cây nầy
xem sao? Lạ quá, cây gì thịt đen thui mà lại cứng như sắt. Nếu thần thánh không
quở phạt, ngày mai mình trở lại.
Hai người nọ bèn hươi búa,
hươi dao mà chém vô gốc cây nghe bôm bốp. Nằm trong lùm sậy, ông Năm Tự thích
chí vô cùng vì chuyến đi nầy thật hữu ích. Hai người này đúng là bọn người đậu
ghe ở dưới bến, đêm rồi. Họ nói chuyện thật tình? Hay là họ cố công đóng kịch để
gài bẫy? Biết đâu họ muốn thử thách oai lực của thần thánh trước khi họ mướn
nhân công, đào đất lúc ban đêm. Có thể là họ biết ông Năm đang rình. Nhưng họ
đã mang theo nào dao, nào búa, trước khi đến đây. Khi ông tới, gặp thằng Đống
thì họ ở trên núi chẳng lẽ thằng Đống ăn tiền của họ rồi ra lịnh cho thằng bé
nào đó lên núi, báo tin cho họ tới đây để giả vờ cho ông lạc hướng?
Độ nửa giờ sau, hai người nọ
trở về. Thằng Đống đứng dậy trước, nắm tay ông Năm mà kéo mạnh. Ông Năm thấy họ
đang vác trên vai hai khúc cây đen đúa, đúng là hai khúc cột nhà xưa trên gò.
Thằng Đống nói:
- Mấy thằng đó làm chuyện
khùng điên. Già rồi mà còn ngu dại.
Ông Năm hỏi:
- Sao vậy?
- Thì hồi xưa ở đây có chùa,
có miễu, điều đó thiên hạ đều biết. Chặt hai khúc cột đó làm gì cho thiên hạ
ghét! Tôi nói xứ này là xứ của tôi, ai làm gì thì cho tôi biết. Con nít chăn
trâu là con cháu vua Thần Nông mà. Phải không có ông thì tôi đã cho trâu rượt tụi
nó một phen, trâu chém cho lòi ruột.
Bỗng nhiên mà ông Năm Tự nảy
ra một quyết định táo bạo: thay vì trở về Sóc Xoài, ông muốn ở lại đây một đêm
để theo dõi hành động của hai tên nầy. Đúng là bọn chúng bố trí sẵn sàng để
khiêu khích, làm hại ông. Dầu sao đi nữa, bọn chúng cũng biết ông đang có mặt tại
gò đất này rồi. Chạy trốn là hèn nhát. Ông thở dài, bóp trán để nhớ kỹ mặt hai
tên nọ. Bốn năm trôi qua, từ khi ông tới chợ Sóc Xoài để làm nghề buôn bán. Ông
chưa lường gạt ai số tiền nào quá lớn, chưa phá hại gia cang của ai cả.
Tư Hí và Lục Che là hai người
đã ôm ấp giấc mộng trở thành bá hộ, nếu may ra tìm được kho vàng. Quê quán ở
Châu Đốc, trước đây hai năm, họ đã đi tận Tà Keo bên Cao Miên để mua bò, chuyến
đi chuyến về họ đều ghé núi Ba Thê, nghe nhiều ông lão bàn chuyện tìm vàng. Họ
đã làm quen với bọn trẻ chăn trâu, ngắm nghía mấy cái gò đất khá cao chung
quanh núi. Họ bàn cãi với nhau đi đến kết luận rằng đó là những gò nhân tạo. Gò
đất thiên nhiên luôn luôn có cát, có đá trái lại, nơi đây chỉ là đất bùn, là gạch.
Lũ trẻ chăn trâu thì bình thản vui đùa, bảo rằng không thấy có món gì quý giá
khác thường, trừ mấy cây cột đen đúa, cứng như sắt, gần bên cây thị còi cọc.
Chuyến nầy, họ muốn làm ăn,
với số vốn rất ít. Nghe đồn rằng ở chợ Sóc Xoài có ông Năm Tự là người siêng
năng, tham lam và nhiều vốn, họ cố ý ghé xuồng tại bến, nói chuyện với dụng ý để
cho ông Năm nghe, để rồi khi kho tàng bị phát giác là họ sẽ dùng vũ lực để loại
ông, hưởng một mình. Trong năm ba đêm chắc chắn là đào xong.
Lục Che nói huyên thiên:
- Năm Tự mắc mưu bọn mình rồi,
thấy chưa? Hồi tụi mình đốn cột ở gần cây thị, ông ta theo rình với thằng bé
chăn trâu.
Tư Hí là người trầm lặng nên
cằn nhằn:
- Mình nên làm cách nào cho
ông ta tới rình ở trong chòi, mình nói chuyện cho ổng nghe lén. Sau đó, ổng sẽ
hăng chí, mướn tụi con nít đào xới xung quanh cây thị, hoặc là tất cả cái gò đất
đó không chừng. Phải chi dư tiền thì mình đâu cần tới ông ta.
Lục Che nói:
- Cái gò đó lớn chớ đâu phải
nhỏ. Liệu ông Năm Tự dám xuất vốn ra để làm ăn theo lối cờ bạc không?
Tư Hí nói:
- Tới đây rồi, đừng bàn tới
bàn lui. Hễ thắng thì mình ăn trọn, còn như trên gò không có gì ráo thì mình
đâu mất mát đồng xu nào.
Lục Che hỏi:
- Không bàn bạc thì tôi làm
gì bây giờ? Buồn ngủ quá.
Bên ngoài, trời đã tối. Tư
Hí ngồi trong căn chòi, nôn nóng vô cùng. Hồi lâu anh ta mới trả lời Luc Che:
- Mình phải làm cách nào cho
Năm Tự tới rình, như hồi trưa ổng rình tụi mình ở gốc cây thị.
Lục Che nói:
- Trời tối như vầy mà anh rủ
tôi tới gò cây thị cho muỗi ăn thịt tôi sao chớ? Làm sao ra đó gặp lão ta được?
Tôi đoán chừng lão ta đã về hoặc đã tìm nhà quen nào trên núi để ngủ đêm nay.
Tư Hí nói:
- Nãy giờ mới nghe chú mầy
nói một câu nghe được. Cứ ra quán, dưới chân núi, ngồi uống rượu, nói dóc một hồi
về chuyện đốn khúc cột hồi trưa thì thế nào thiên hạ cũng đồn đãi, rồi thì lão
ta tới. Nhớ nói cho khéo để cho lão ta tới đây rình nghe... Rồi thì mình tiếp tục
nói láo.
Lục Che hiểu ý, cười giòn:
- Cái gì chớ nói láo thì tôi
ăn đứt thiên hạ. Anh nói có lý.
- Nhưng mà về cho mau, đừng
để quá khuya.
Mười phút sau, Lục Che có mặt
tại quán hủ tiếu ở chân núi. Đây là cái quán duy nhứt, bày trí đơn sơ, trong
quán, đăng cháy sáng, hai ba người ngồi uống rượu. Chưa chi Lục Che đã nhận ra
bóng ông Năm Tự. Ông ta ngồi một mình một bàn, mặt mày đã đỏ khé, chắc là nghe
ngóng tin tức từ hồi chiều tới giờ nầy, uống rượu nhiều.
Lục Che vào quán. Chưa chi
anh ta thấy đôi mắt anh chủ quán sáng ngời lên. Đúng là họ đang làm dấu hiệu với
nhau. Hồi trưa nầy, khi ôm khúc cột về, Lục Che cố ý khoe khoang với chủ quán về
thái độ liều lĩnh của mình.
Lục Che lên tiếng trước:
- Anh chủ quán ơi! Biết chỗ
bán thuốc ói mửa không?
Chủ quán trả lời, sau khi liếc
qua ông Năm Tự:
- Gần đây, cách hai ba căn.
Ai đau vậy?
Lục Che tỉnh táo vô cùng,
nói cố ý cho ông Năm Tự nghe:
- Bạn tôi. Ngày thường, ảnh
mạnh khỏe như con trâu cui, hồi chiều, ăn cơm với cá kho chớ có ăn thứ gì khó
tiêu đâu?
Chủ quán nói:
- Mấy người không nghe lời tôi,
xúc phạm tới thần thánh thì có ngày mang họa. Bộ hết chuyện chơi rồi sao mà dám
phá nhà của người khuất mặt? Mai chiều, nếu cả xóm nầy đều ói mửa thì chắc là
anh bạn nát thây.
- Sao vậy? Tội ai làm nấy chịu
chớ! Mai chiều, khi tôi làm giàu, bà con mới thấy tôi là thằng khôn ngoan. Làm
ơn chỉ giùm tiệm nào bán thuốc Bắc. Ban đêm, họ đóng cửa sớm quá.
Vậy thì nên rước thầy pháp,
hoặc là tới miễu bà Chúa Xứ để xin tạ tội. Uống thuốc không ích lợi gì hết.
Lục Che thấy rằng nếu cãi vã
quá lâu thì lộ bí mật. Bao nhiêu đó cũng đủ làm cho ông Năm Tự tò mò rồi. Đôi mắt
ông Năm sáng rực lên, ly rượu cầm sẵn trong tay mà ông quên uống.
Trước khi ra đi, Lục Che nói
vu vơ:
- Cây gì tốt quá, cứng như sắt.
Tôi muốn đốn một khúc đem về xứ, đẽo cái bắp cày, làm kỷ niệm cho bà con coi
chơi. Thứ cây đó chịu đựng cả ngàn năm rồi mà chưa mục. Chắc là hồi xưa, ông
vua nào đó dựng nhà cho cung phi, mỹ nữ ở. Cung phi, mỹ nữ thì đeo vàng đỏ tay.
Nếu chết thì cung phi, mỹ nữ chôn đâu đó.
Lục Che ra khỏi quán. Ông
Năm Tự mừng quýnh, trả tiền rượu rồi đứng dậy thật nhanh. Từ hồi chiều tới giờ,
ông chờ đợi, đã làm quen với chủ quán và đã gặp hai tên săn vàng nọ. Đúng là bọn
nó. Ông Năm nhìn quanh quẩn. Chủ quán hỏi:
- Ông muốn rình tụi nó phải
không? Nên cẩn thận một chút. Đó là quân trật rìu, trật búa. Tụi nó mà biết được
thì khó cho ông đó.
Để làm lạc hướng chủ quán,
ông Năm Tự nói:
- Tôi về nhà anh em bạn mà
ngủ. Nếu xứ nầy mà có vàng thì bà con trên núi làm giàu lâu rồi, đâu có dư cho
người lạ tới hưởng. Đúng là thằng nầy vì tham lam mà hóa điên.
Theo chân tên nọ đâu phải là
chuyện khó. Ông Năm đã từng leo núi, huống gì núi nầy không có dốc cao, đa số
dân chúng chỉ cất nhà chung quanh chân núi. Thỉnh thoảng, ông Năm Tự thấy tên nọ
day lại. Ông dọ kỹ từng nước bước, hễ thấy hắn dừng lại là ông đứng yên, nép
mình sát gốc cây. Căn chòi hiện ra. Tên nọ vào trong. Ông Năm Tự tìm dễ dàng một
con đường, vòng quanh sau nhà. Đến sát vách, ông rình nghe thử.
Trong nhà, ông không thấy ai
đau ốm gì cả. Chỉ có hai người nằm gần nhau, bên bếp un. Tên mà ông gặp lúc nãy
ở ngoài quán cho rằng quán buồn hiu, dân trong xóm thì tin dị đoan mê tín. Ông
Năm Tự ngồi dựa lưng vào một cục đá to. Đại khái, hai kẻ trong chòi cho rằng
dân trên núi nầy bày chuyện thần thánh trừng phạt để dân xứ khác không dám tới
săn vàng. Tên kia cho rằng theo lời thuật lại của một ông kỳ lão trong xóm thì
cây thị còi cọc nọ sống hơn ngàn năm rồi, gốc to nhưng không bao giờ sanh trái.
Đó là vì lý do dưới gốc cây có vàng: theo thuyết ngũ hành thì vàng thuộc loại
kim, cây thị là mộc. Xưa nay, Kim luôn luôn xung khắc với Mộc. Cây thị đó trồng
trước sân, trong chùa, nhứt định có tượng Phật bằng vàng bên dưới.
Đến khuya, không nghe gì lạ
hơn, ông Năm Tự rút lui về xóm, ngủ tại nhà người bà con, và sáng hôm sau, ông
ta về Sóc Xoài với nụ cười chua chát. Ông nghĩ thầm:
- Mình lớn rồi mà còn ngu dại,
nghe theo lời đồn đãi hoang đường của bọn người ăn không ngồi rồi.
Ba ngày sau, lúc hừng sáng,
tại chợ Sóc Xoài ông Năm Tự thấy hàng chục chiếc xuồng bơi về phía núi Ba Thê.
Hỏi thì bọn người ấy trả lời đi núi Ba Thê để săn vàng. Tại gò cây thị, lũ trẻ
chăn trâu gặp nhiều hột chuỗi bằng vàng, đem lên núi bán lén. Dân trên núi xúm
nhau đi đào, gặp nào là cà rá, bông tai, tượng Phật bằng vàng ròng, chôn sâu cỡ
năm sáu tấc tây. Lại gặp nhiều vách tường xây khéo léo, ngang dọc, không riêng
gì ở gò Cây Thị mà ngay trên mấy gò lân cận. Tại núi Ba Thê, có hai người cầm
dao chạy tới tranh chấp, cho rằng đó là công trình của họ tìm kiếm, nhưng họ bị
dân làng đánh nhừ tử.
Ông Năm Tự thở dài, nhớ tới
thằng Đống chăn trâu. Ông hỏi thì không một ai biết nó. Ông bơi xuồng lên sát
núi Ba Thê. Đúng là một cái chợ nhỏ, hàng ngàn người chen chúc. Vài người cho rằng
bòn từ sáng đến chiều chẳng gặp món gì ráo, trong khi có người vừa nhảy xuống
ruộng là gặp tượng Phật bằng vàng, nặng năm bảy lượng. Có lẽ bầy trâu đã tản
mác lên núi vì gò Cây Thị không còn một cọng cỏ.
Nơi săn vàng nầy, về sau các
nhà khảo cứu gọi là Óc Eo, theo tên có sẵn ở địa phương, được phỏng đoán là một
thương cảng tấp nập, cách đây hơn ngàn năm, có thuyền ngoại quốc tới mua bán, từ
Ấn Độ, Ba Tư. Các nhà khảo cổ hai ba năm sau mới hay biết. Thật ra, đó là công
trình phát giác của lũ trẻ chăn trâu. Trâu đạp xuống bùn, sâu năm sáu tấc. Mưa
tuôn xuống làm trôi bùn, đưa ánh vàng ra dưới mặt trời, phát hiện báu vật ngủ
yên trong lòng đất từ bao đời.
Miễu Bà Chúa Xứ
Miễu Bà Chúa Xứ, Đìa Gừa, Gò
Mả Lạn... phải qua một chòm cây cổ thụ, những vùng lau sậy hoang vu ấy rồi mới
đến nhà ông Tư Đạt.
Trời đã quá chạng vạng. Ánh
nắng thoi thóp, đỏ khè, trong giây phút trở sang màu tím bầm. Muỗi dậy ổ, kêu
vo ve khắp gần xa. Loài ếch nhái, côn trùng bắt đầu lên tiếng, chào mừng bóng tối
đang tràn ngập qua nhanh chóng.
Cô đơn làm sao, căn nhà giữa
đồng này! Gió thổi lành lạnh. Tôi rùng mình:
- Thưa ông, cháu về.
Ông Tư Đạt cười ngất:
- A ha! Đứa cháu này sợ ma.
Nãy giờ tôi quên. Vô đây, đốt thêm ngọn đèn nữa. Phải rồi, đèn lu quá! Sợ ma
sao? Ở đây chơi mà!
Tôi trả lời, ấp úng:
- Dạ, cũng hơi sợ. Thiên hạ
nói ở Đìa Gừa, ở Gò Mả Lạn này...
Ông Tư nói nhanh:
- Có ma hả? Hơi đâu mà tin.
Họ nói ma buông xuống lòng thòng từ cánh tay, từ bàn chưn, cái đầu rồi ráp lại.
Họ nói ma ở truồng bỏ tóc xõa, đứng trên ngọn cỏ mà múa. Mình hú, nó hú trả lời.
Mình chạy, nó rượt theo. Nhưng tôi nhứt quyết xứ này không có loại đó. Xứ này,
cháu biết không, là xứ của ma...
Tôi trầm ngâm suy nghĩ: Tại
sao ông Tư Đạt nhìn nhận có ma rồi bảo rằng không có? Chớ ma ở gò mả này thuộc
về loại nào? Dầu sao vẻ mặt trầm tĩnh, can đảm của ông cũng làm cho tôi được
yên tâm chút ít:
- Thiên hạ đồn đãi nhiều.
Cháu phải sợ theo.
Ông Tư khều ngọn đèn rồi vào
trong đem ra một chai rượu đế:
- Uống đi cháu. Thủng thỉnh
tôi nói qua chuyện khác vui hơn... Đồn đãi là một chuyện. Nhưng sự thật lại
khác. Cái gì được người ta lập đi lập lại nhiều lần bằng câu hát đưa em? Vậy mà
có người không hiểu rõ. Thí dụ như:
Một mai thiếp có xa chàng
Đôi bông thiếp trả, đôi vàng
thiếp xin.
Tại sao đôi bông thiếp trả,
đôi vàng lại xin? Không lẽ người đàn bà nước mình mang thói tham lam? Sự thiệt
nó có tích như vầy: đôi bông là vật cha mẹ chồng cho nàng dâu hồi đám nói; đôi
vàng là của riêng mà hai vợ chồng trẻ nhờ dành dụm sắm được lúc sau. Nàng dâu
than vãn bà mẹ chồng khắc nghiệt, sẵn sàng “trả đôi bông” lại cho mẹ chồng.
Nhưng nàng vẫn thương chồng - “xin giữ đôi vàng” - nài nỉ chồng cất nhà ở riêng
để thoát ách. Câu hát đó cao siêu lắm! Hồi xưa, khách qua đường hễ nghe câu hát
đó thì hiểu được tánh tình của bà mẹ chồng trong nhà như thế nào. Bởi vậy người
hát phải biết hát, người nghe phải biết nghe. Cái chuyện ma ở Gò Mả Lạn này
cũng như câu hát đó. Lâu ngày, thiên hạ không hiểu, họ nói xàm, làm mất phẩm
giá người đời xưa rồi đâm ra sợ sệt vô lý. Chung quanh này có ma thiệt...
- Ghê quá vậy ông!
- Phải! Đó là hồn oan. Mình
phải thấy rõ họ, mình phải thương họ. Thường bữa, họ tới lui, muốn làm quen với
mình nữa. “Sự tử như sự sanh, sự vong như sự tồn” mà...
Non 80 năm về trước, hồi đó ở
tại Gò Mả Lạn này xóm nhà đông đúc hơn bây giờ. Họ sống về nghề ruộng rẫy,
giăng câu, bắt rắn. Giặc Tây đến, chúng đóng binh ở ngoài huyện Kiên Giang.
Binh sĩ của ông Nguyễn Trung Trực lén kéo về Châu Thành để công kích. Dân chúng
nghe tiếng súng, nửa mừng nửa sợ. Tới một đêm đó, nhiều loạt súng nổ chát chúa
ngay đầu xóm, tại Đìa Gừa.
Không ai dám bước khỏi nhà.
Họ đoán rằng có người bị giết và tiếng súng sát nhơn nọ là của Tây. Sáng hôm
sau, vài người bạo dạn ra dò xét. Họ kéo mấy cái thây người dưới đìa lên, chôn
cất kỹ lưỡng gần bờ thềm.
Từ đó, đêm nào đêm nấy giống
nhau. Cứ quá nửa đêm dân chúng phải cắn răng, nuốt lệ mà nghe súng nổ. Khi thì
nghe tiếng rên rú, khi thì nghe tiếng chim bay.
Nước dưới đìa lần lần đen ngầu,
hôi tanh. Cỏ bên bờ ngày một cao vì dân làng không còn ai lui tới để gánh nước
như trước. Trong khi đó, con đường từ thềm đìa ra lộ cái trở nên mòn lẵn vì dấu
chân của bọn đao phủ Tây tà và của những nghĩa quân, dân lương vô tội từ nơi xa
lạ dẫn tới.
Dân làng quá đỗi hiền lương,
hằng đêm, họ thức để chờ nghe tiếng súng đầu tiên nổ ngoài bờ giếng. Rồi họ cúi
đầu lầm thầm đọc kinh vãng sanh, cầu nguyện cho người quá cố.
Trưa đó ngày mùng bảy tháng
Chạp, bất thường giặc kéo nhau đến bờ Đìa Gừa. Chúng dừng lại nhìn xuống Đìa Gừa,
đếm mấy gò mả xung quanh. Nào ai dám hó hé! Chập sau, chúng rút lui. Một thằng
bé chăn trâu được may mắn núp ở gần bờ đìa khi nãy. Nó về xóm thuật lại:
- Tui thấy ông Tây này cười,
ông kia la hét, ông Tây nọ gật đầu. Mấy ổng dòm vô xóm mình...
Điềm lành, điềm dữ hay là
không có điềm gì hết? Không ai đoán trúng cả. Vì đó là điềm dữ, nhưng dữ quá mức
tưởng tượng của họ.
Đêm ấy cả xóm đều bị bao
vây.
Nhờ ngủ ngoài chuồng trâu, đứa
bé chạy thoát được. Nó qua xóm kế bên cầu cứu trong khi súng nổ liên hồi, lửa bốc
cháy.
Đầu canh năm, tiếng súng vẫn
còn thưa thớt. Mặt trời gần mọc, chừng đó dân làng kế bên mới dám đi qua cứu
giúp.
Người chết quá nhiều. Người
còn sống quá ít. Làm sao mà chôn? Ban đầu còn bó thây bằng chiếu, mỗi hầm chôn
một người. Sau cùng, cứ chôn chung một hầm, đủ già trẻ bé lớn. Khiêng nhiều
chuyến quá sanh ra mệt mỏi! Họ không đặt xác chết lên tấm ván để khiêng. Họ
khiêng bằng võng, đặt hai xác chết trên một võng, người trở đầu phía trước, người
trở đầu phía sau.
- Đúng vậy! Hồi đó hai người
nằm một võng, theo kiểu con nít ngủ trưa như bây giờ thiên hạ đưa con.
Đêm về khuya, chai rượu cạn
dần. Đứa bé chăn trâu thuở trước là ông Tư Đạt ở Gò Mả Lạn buổi này, nói tiếp:
- Lâu quá rồi! Thiên hạ chết
oan! Cả xóm chết giống nhau. Không một người khóc, không một miếng khăn tang. Cả
tháng sau, quạ còn bay đen trời như tàn nhà cháy... Tôi không sợ ma, nhờ đó mà
ít gặp ma. Vậy mà không hiểu can cớ gì buổi trưa đó tôi gặp họ.
- Ban ngày hả ông?
Ông Tư Đạt nói:
- Chánh hiệu là... ban ngày.
Đi gặt về, dọc đường tôi ghé lại bờ Đìa Gừa. Thấy nước trong quá, tôi nhảy xuống
tắm rồi ngắt một cọng bông súng, nhai vô miệng cho mát. Tôi nhớ rõ: cọng bông
súng dài lắm. Nhai một hồi, bỗng nhiên thấy một ông già hiện ra, đâu mặt với
tôi, miệng ổng thì nhai đầu kia của cọng bông súng. Sợ quá, tôi nhả ra nhưng
không được. Hàm răng của tôi cứng lại rồi... đánh bùa cạp. Sau rốt, ông già nọ
nhai lần cọng bông súng đến gần mặt tôi, hai mặt đụng nhau, sát rạt, lạnh ngắt.
Ông già nọ hỏi tôi:
- Cái thằng Đạt chăn trâu!
Nhớ ta đây không?
- Ông là ai?
- Bà con mà! Mấy chục năm
nay, mày làm ăn thế nào?
- Dạ nghèo quá!
- Vậy thì thằng Đạt mày còn
sống tới bây giờ cũng không sung sướng gì hơn mấy người chết yểu cả xóm hồi đó.
Nhớ không Đạt? Bà con chết đêm mùng bảy tháng Chạp. Phải cúng kiến chớ! Có thịt
ăn thịt. Có muối ăn muối. Rồi cất nhà cho bà con mày ở. Nhớ thắp nhang.
Ông Tư Đạt nói tiếp câu chuyện:
- Đêm đó, về nhà tôi ngủ
không yên. Sau rốt, tôi kêu gọi bà con lối xóm cất một cái miễu. Hương chức hội
tề hỏi tại sao cất miễu mà không xin phép; tôi trả lời đó là miễu thờ Bà Chúa Xứ,
nào dám nói sự thật, sợ mình bị buộc vô tội làm quốc sự. Bởi vậy cháu hiểu vì
đâu mà tôi giữ nhang khói ở miễu này, vì sao ở sát Gò Mả Lạn mà tôi không sợ
ma. Ba bốn mươi năm nay, ruộng nương thất bát, có một lần bỏ xứ mà đi nhưng buồn
bực quá, tôi trở về nền nhà cũ. Tôi nghĩ: mình ở đây nghèo, nhưng mà vui. Nhiều
đêm, tôi nằm nói thơ Vân Tiên một mình mà không đỡ buồn. Tôi đứng nhìn trời đất
đồng ruộng đỡ buồn. Tối thui vậy mà vui quá! Cháu ra đây coi thử...
Ông Tư Đạt bước ra cửa, đưa
tay làm dấu hiệu bảo tôi đi theo. Đồng ruộng mơ hồ. Trăng non chưa hé. Đám lau
sậy mịt mùng chạy dài như bước tường thành, nối liền Gò Mả Lạn qua Đìa Gừa, tiếp
đến miễu Bà Chúa Xứ ở đằng xa.
Ông lẩm bẩm:
- Không riêng gì ở Gò Mả, ở
Đìa Gừa... Rải rác đầy ruộng nương, hồi đó ở đâu cũng có mả, có xương người. Kìa!
Cháu nhìn thấy không? Sao trên trời xẹt xuống một đốm... hai đốm. Rồi đất ruộng
rung rinh, lúa mới cấy đều như sóng dậy ngoài biển. Cháu thấy không?
Tôi lạnh người. Gió thổi hiu
hiu. Phải chăng oan hồn thuở trước đang về đây? Họ trở thành cát bụi, đang thu
mình vào rễ lúa để vươn lên mặt đất, đòi đơm bông kết trái.
Hay là họ buồn rầu khi nhìn
cậu bé chăn trâu còn sống sót thuở trước giờ đây sống hẩm hiu. Từng vệt sao
rơi, phải chăng đó là niềm tin tưởng soi sáng quyển sử trường cửu của đất nước,
một quyển sử không có số trương mà mỗi luống cày là một tờ giấy bao la, mỗi bụi
lúa là một nét chữ không nhòa, muôn năm linh động?
Ông Tư Đạt vỗ vai, bảo với
tôi:
- Bây giờ cháu thấy ma chưa?
Không thấy thì ráng đứng hoài cho tới chừng nào thấy rõ. Ông ở đây mấy chục năm
rồi mà chưa biết đủ mặt người. Bởi vậy đêm nào ông cũng thức, cũng nhìn...
Mối tình..Đầm lai
Tôi đang uống rượu trong
quán. Đêm khuya, ghe xuồng qua lại đã vắng bóng. Vài tiếng chó sủa, mỗi lúc một
gần. Bà chủ quán cằn nhằn:
- Nó tới nữa. Đồ ma quái. Bữa
nào tôi rước thầy bùa thầy pháp về đây tống ôn tống quái cho xả xui.
Tôi hỏi:
- Thời buổi này, làm gì có
ma.
Bà chủ quán im lặng, đưa tay
làm dấu hiệu như ngầm bảo với tôi “Nó kìa”.
Dưới ánh trăng lờ mờ, có chiếc
xuồng vừa cập bến. Trong xuồng, một bóng đen lù lù... Cái bóng ấy vụt đứng dậy
như có gắn lò xo, bật lên. Chưa hết. Sau khi bật lên, cái bóng lại văng lên chiếc
cầu ván rồi nhịp đều đều:
- Cộp... cộp... cộp...
À! Con ma ấy chính là một
người què, mang cái nạng bằng cây. Hắn đi xăm xăm vào quán. Bà chủ nói khẽ với
tôi:
- Đêm nào nó cũng tới đây
báo hại. Chú đừng chào hỏi cho mệt. Nó ưa làm quen với bất cứ người xa lạ nào để
nói dóc rồi uống rượu...
Lời căn dặn của bà chủ quán
gẫm ra cũng tàn nhẫn vô nhân đạo. “Thương người như thể thương thân”, nghĩ vậy,
tôi ngước mặt, mỉm cười với con người “thiếu chân đứng” ấy. Đôi mắt hắn sáng rực,
nụ cười hắn khá tươi tắn. Hắn tự tiện kéo chiếc ghế ở bàn kế bên, ngồi xuống rồi
day qua làm quen:
- Chào anh!
Tôi gật đầu:
- Chào anh. Anh qua ngồi
chung một bàn với tôi chớ. Uống rượu với tôi mà...
Hắn nói gắt, cố ý trách mắng
bà chủ quán:
- Lát nữa hãy uống! Tôi đến
đây để tìm bạn tri âm tri kỷ chứ đâu phải tìm rượu thịt. Người mù thường thính
tai, tôi què nhưng... thính tai hơn người mù.
Để gây bầu không khí vui
tươi, tôi mời hắn uống rượu. Hắn nhận lời tôi với điều kiện:
- Anh bạn hãy nghe hết câu
chuyện sau đây. Kể xong câu chuyện, tôi sẽ uống. Uống như vậy, đậm đà thấm thía
hơn.
Bà chủ quán nguýt dài, rút
lui xuống bếp. Hắn cười nhếch mép:
- Con mẹ này nhiều rượu nhiều
thịt nhưng thiếu tình yêu... Hai ba đời chồng rồi mà chẳng một ai ở bền với con
mẻ hoặc sanh con với con mẻ. Tôi đây thiếu rượu nhưng giàu tình. Vì giàu tình
nên mang cái chân cây... Bây giờ, tôi phải mang tên là thằng què...
Xưa kia hắn tên là Hai Tâm.
Sau khi rời khỏi ghế trường
quận, tuy thi rớt bằng Sơ học nhưng hắn vẫn bình tĩnh. Ở chốn khỉ ho cò gáy, kẻ
thi rớt Sơ học nghiễm nhiên là nhà thông thái. Cũng như giữa đám người đui, thằng
chột làm vua (nguyên văn lời hắn).
Hai Tâm cưới người con gái
ông hương cả trong làng. Cô này chăm lo cấy lúa, giã gạo, nuôi heo nên ít khi
bàn chuyện tâm tình. Hai Tâm chán nản, đi ngao du ra chợ Gò Quao. Bấy giờ tại
chợ có đồn kiểm lâm do một ông “xếp” Tây lai điều khiển.
Ông này có người con gái...
đẹp như đầm lai, gọi nôm na là cô Rít.
Kể chuyện đến đây. Hai Tâm
muốn chứng minh rằng mình là kẻ biết chút ít tiếng Pháp:
- Rít tức là Mạc-Gơ-Rít, tên
một loại hoa cúc, như người mình đặt tên là cô... Kim Cúc, Bạch Cúc...
Tôi đáp:
- Hiểu rồi. Nhưng cô Rít
dính dáng làm sao với cái chân cây của anh? Phải chăng ông xếp có cây súng lục?...
Súng lục, súng “mút cơ tông”
ai mà sợ! Miệt Gò Quao ven rừng U Minh qui tụ anh hùng tứ chiếng, xem cái chết
bằng chơi. Bọn anh hùng ngán chuyện khác.
Vì cô Rít khó tánh, kén nơi
môn đăng hộ đối.
Hai Tâm nheo mắt... Tôi mời
hắn uống rượu. Hắn chép miệng:
- Anh bạn đoán thử xem.
- Tôi chịu thua... Đầm lai
thì thích... Tây lai.
- Hơi đúng nhưng chưa đúng hẳn.
Cô Rít chỉ thích những người biết “o mèo” theo kiểu bên Tây. Cô ta chưa về Tây
lần nào nhưng đọc rất nhiều sách ái tình... bên Tây. Bao nhiêu anh hùng tới lui
ve vãn, họ có tiền, có địa vị, có vẻ đẹp hùng mạnh nhưng tất cả đều thất vọng
vì họ “o mèo” theo kiểu nhà quê. Cô Rít muốn lên đài đánh “bốc Ăng-lê”, thanh
niên Gò Quao thì lại múa bộ Tứ trụ, Xí mứng...
- Rồi anh múa võ kiểu nào mà
đến nỗi phải mang chân cây?
- Chuyện dài lắm... Cho tôi
hớp miếng rượu gợi cảm hứng... Không phải tôi viện cớ để uống “cọp”. Câu chuyện
này cần có cảm hứng mới nhớ đầy đủ.
Rồi Hai Tâm thuật lại cách
thức giao duyên giữa hắn và cô Rít. Cô ngủ trong gian phòng riêng biệt, có bao
lơn trông xuống con rạch nhỏ, ngày hai buổi nước lớn nước ròng.
Hai Tâm xuất hiện đôi ba lần
bên kia bờ rạch khiến cô ta chú ý. Hôm nọ, hắn vào chùa, hái trộm bông cúc, gợi
ý bông cúc là “mạc-gơ-rít” theo chữ Pháp.
Từ trên bao lơn, cô Rít nhận
ra chàng trai trẻ. Chàng trai đem bó hoa đến gốc cây gừa, giấu kín trong bộng
cây, chung quanh là mớ rễ gừa buông xuống lòng thòng che khuất.
Tôi hỏi nhanh:
- Hôm sau, cô ta đến bộng
cây để nhận bó hoa?
Hai Tâm đáp:
- Chưa đâu. Ái tình Tây
phương mà! Những nàng công chúa Tây phương mang thứ tâm lý rắc rối lắm. Họ giàu
tự ái. Liên tiếp bốn năm ngày sau, mỗi ngày tôi đều ra lệnh cho một thằng bạn mang
đến bộng cây gừa một bó hoa, mang hoài, mang mãi...
- Rồi chừng nào cô Rít mới
nhận hoa? Để lâu ngày, hoa héo hết, mất vẻ đẹp.
Hai Tâm bèn đặt mình vào...
tâm trạng cô Rít, kể tiếp... kiểu tiểu thuyết ái tình. Ba bốn đêm, cô Rít suy
nghĩ miên man, đêm đêm chợt tỉnh, cô ta ôm gối cười với bóng trăng chênh chếch
rọi vào cửa sổ. Cô bắt đầu bạo dạn, lén ra khỏi đồn Kiểm lâm, thừa lúc cha đi vắng.
Đến bộng cây gừa cổ thụ, cô
ta hồi hộp.
Tôi nói xen vào:
- Lạ thật. Cha làm Kiểm lâm,
con gái thì sợ cây cối.
Hai Tâm gật đầu:
- Cô ta ngờ rằng trong bộng
cây có chuyện nguy hiểm, phiêu lưu là... cạm bẫy ái tình! Tôi ngồi rình, thấy
cô bước tới nhè nhẹ, một tay vén cái “củn” để khỏi vướng cỏ gai, một tay sờ vào
bó hoa. Cô ta rơm rớm lệ, vừa mừng, vừa tủi. Mừng vì kẻ si tình tặng hoa liên
tiếp bốn năm ngày, tủi vì mình trót dày vò quả tim của kẻ đáng yêu! Lập tức, cô
giấu mấy đóa hoa tươi nhứt trong... áo lót rồi chạy về.
- Lẽ dĩ nhiên, đêm ấy cô ta
lại thức miên man.
Hai Tâm gật đầu lia lịa:
- Thức hoài, thức mãi. Điều
đó mới nguy hại vì lần hồi cô ta ốm o gầy mòn khiến ông xếp kiểm lâm sanh nghi.
Nhưng đó là chuyện về sau.
Rồi thì mỗi ngày Hai Tâm cứ
tiếp tục tặng một bó hoa, hết hoa nở thì đến lượt tặng hoa nụ. Đến ngày thứ 14,
hắn kèm miếng giấy nhỏ viết vài hàng yêu đương bằng chữ Pháp.
Cô Rít lại ra bộng cây, nhận
bức thơ, đọc tại chỗ. Đọc xong, cô xếp lại, bỏ vào túi. Hai Tâm mừng thầm vì bức
thơ thuộc vào loại nặc danh, nếu ông xếp gặp cũng khó bề truy nã thủ phạm.
Cô mang thơ vô nhà tức là chấp
nhận cuộc yêu đương vậy!
Liên tiếp năm bảy ngày sau nữa,
Hai Tâm không tặng hoa. Lý do rất dễ hiểu: mấy đóa hoa cúc ở chùa đều bị hái trộm
ráo trọi, phải đợi khi mấy nụ nhỏ lớn dần. Vả lại, nếu tặng liên tiếp, cô Rít sẽ
khinh khi, cho rằng kẻ si tình kia là đứa thiếu nghị lực, thiếu thông minh.
Dường như lương tâm cắn rứt,
cô giả bộ đi dạo cảnh rồi đến gốc cây gừa cổ thụ, nhìn dáo dác, trở về với nỗi
trống trải vô biên.
Bấy giờ, Hai Tâm mới tung ra
thứ bùa phép mới. Hắn hái trộm vài đóa hoa, đặt vào bộng cây, kèm theo bức thơ
than vãn mối tình tuyệt vọng của mình. Cô Rít nhận được bức thơ rồi đứng thơ thẩn
như kẻ mất hồn, soi mặt xuống dòng rạch.
Vào những ngày sau, Hai Tâm
tặng nàng những nhánh cúc khô khan, có lá xanh nhưng thiếu bông, thiếu nụ, kèm
theo bức thơ hò hẹn: “Sáng mai kẻ si tình này sẽ cho cô thấy mặt, “tại đầu cầu
khi cô đi chợ”.
Tôi nghe câu chuyện, tức thầm
cho Hai Tâm:
- Anh dại quá.
Hắn đáp:
- Tôi khôn chớ. Dại nỗi gì?
- Bộ anh quên mất cây súng của
ông kiểm lâm à? Vả lại, cô Rít sẽ thất vọng khi gặp một người không phải là...
Tây lai.
- Tôi khôn lắm chớ. Tôi muốn
đến giai đoạn rất cụ thể. Chẳng lẽ... cám treo để heo nhịn đói. Một khi người
con gái yêu tha thiết thì tam tứ núi họ cũng trèo. Tôi muốn mời nàng trèo qua
ngọn núi thứ nhất. Hôm sau, cô Rít xách giỏ, bước chậm chậm đến đầu cầu. Người
qua kẻ lại quá đông đảo. Cô ta trông trước trông sau... Bấy giờ Hai Tâm đứng
cách xa đầu cầu hàng chục thước và cố ý để cho cô không thấy rõ mặt. So với cô
Rít, Hai Tâm già hơn những... 20 tuổi... Giây lâu, Hai Tâm quay lưng, mình để lộ
nửa bên mặt.
Cái giỏ trong tay người đẹp
vụt rơi xuống... Giấc mơ yêu đương khiến nàng quên lẩn tất cả sự đời!
Sau cuộc gặp mặt ấy. Hai Tâm
đâm ra hồi hộp, sợ cô Rít thay đổi ý kiến vì hắn nào phải là cậu Tây lai trong
ý tưởng. Hắn thao thức, ăn ngủ không yên. Quả thật nàng là cơn giông tố mà
khách si tình chỉ là con thuyền bé bỏng...
Vì tình yêu hành hạ, Hai Tâm
đánh bạo, mượn người đến đồn kiểm lâm, trao cho cô Rít một bức thơ.
Tôi góp ý:
- Anh liều lĩnh quá! Phải
chăng vì... leo quả núi thứ nhì nầy mà anh... hư hết một chân?
- Chưa đâu! Hai chân tôi còn
nguyên vẹn, mạnh khỏe lắm...
Từ phía sau lưng chúng tôi,
tiếng bà chủ quán nói gắt:
- Tôi lạy cha! Nói dóc hoài.
Tới giờ dẹp quán rồi! Nãy giờ cha nội hái... bông hoa cúc quá nhiều! Cóc mà bày
đặt trèo thang. Hái trộm bông trong nhà chùa, hèn gì... bị quả báo, gãy một
chân là may. Đúng ra, cha phải gãy luôn hai chân mới đáng tội...
Rồi bà chủ quán hùng hổ bước
tới cửa, chụp cây gài cửa dựng lên như đe dọa. Hai Tâm cũng chụp cây nạng, nói
với tôi:
- Họ đuổi thì mình ra mé rạch,
ngồi dưới bến nói chuyện cho vui.
Tôi móc bóp trả tiền rượu.
Bà chủ quán lắc đầu:
- Chú uống chưa hết, cứ đem
ly rượu xuống bến. Tôi nói chuyện với “nó”. Tôi muốn gỡ nợ cho chú.
- Anh bạn tri kỷ cứ ra ngoài
nầy. Con mẻ đó chưa biết ái tình là gì. Nãy giờ, nghe tôi kể chuyện mùi, con mẻ
tức. Bởi vậy trời trả báo, con mẻ đủ hai chân mà sống thua một thằng... ủa,
thua một con mẹ què!
Cánh cửa đóng lại rầm rầm
như lời nguyền rủa.
Đến bến sông, Hai Tâm ngồi
xuống bãi cỏ, xin một điếu thuốc. Tôi ngáp dài muốn viện cớ từ giã hắn nhưng
chưa đành. Dù sao đi nữa, tôi cũng đã và đang làm việc nhân đạo: an ủi kẻ tàn tật.
Ít ra, sau khi trút hết tâm sự, đêm ấy hắn được thoải mái, ngủ yên giấc.
Hắn hút hơi dài làm tôi cụt
hứng. Nhưng tôi còn yêu đời mà.
Tôi hỏi:
- Tại sao anh liều lĩnh? Cô
Rít có thể nổi giận vì mối tình âm thầm bị tiết lộ cho người thứ ba?
- Đã bảo rằng thử thách mà!
Trong bức thơ, tôi viết vắn tắt mấy lời: “Nếu em thương anh thì sáng mai, em tặng
cho anh một cái khăn tay làm kỷ niệm...”. Tôi không lầm. Lần nầy, tôi đánh bạo,
ngồi khuất trong bóng cây gừa... Nàng trao cái khăn, tôi nắm tay nàng... dè
đâu, nàng rú lên, vụt chạy.
- Phải chăng nàng run rẩy, sợ
đụng chạm xác thịt?
Hai Tâm cười giòn như ma
quái. Phía trên, ánh đèn soi ra ngoài sân theo khe cửa mở hé. Dường như bà chủ
quán đã bước ra ngoài nghe ngóng. Trong phút giây, tôi ngỡ Hai Tâm muốn kể chuyện
để trêu chọc, làm tình với bà ta.
Giọng Hai Tâm lại đều đều:
- Nàng hoảng hốt vì lá khô rụng
xuống, rớt đụng mái tóc. Tuy vậy, khi nàng khuất dạng, tôi lủi thủi về nhà, chợt
nhìn lên chiếc bao lơn. Ông xếp kiểm lâm đứng trên đó từ bao giờ. Thế là cuộc gặp
gỡ đã bị tiết lộ.
Ông xếp trách mắng cô Rít; mặt
khác ông nhờ hương chức làng điều tra lý lịch. Họ vẫn chưa hiểu Hai Tâm này là
ai. Tôi phải trả lời cho họ hiểu. May thay thời cơ lại xảy đến.
“Như mọi năm, ông xếp kiểm
lâm bày ăn lễ sanh nhựt ông ta tại đồn. Hương chức làng, quan chủ quận được
tham dự. Vì là ngày vui đặc biệt, dân chúng được phép cờ bạc suốt đêm tại chợ.
Tôi ăn mặc bảnh bao, đến sân đồn, gởi cho cô Rít miếng giấy nhỏ báo tin: “Anh gặp
em đêm nay, tại phòng em”. Chẳng hiểu nàng quyết định ra sao cả! Sau khi nhận
miếng giấy, nàng chạy vào nhà lo trang điểm để ra mắt các quan khách.
Vào khoảng 11 giờ đêm, tôi lẻn
vào phòng nàng, đứng nép sau cánh cửa. Bên ngoài, rượu sâm-banh nổ, thiên hạ vỗ
tay, ông chủ quận, ông xếp kiểm lâm thay phiên nhau ca hát bản Tây. Đứng trong
phòng, tôi cảm thấy mỏi chân nên ngồi xuống, bò lết, lú đầu ra ngoài, dò xét sắc
mặt cô Rít. Mặt mày cô tái mét mặc dầu điểm trang lộng lẫy...
Buổi tiệc tàn lần lần. Cô
Rít cứ chần chừ, không chịu vô phòng. Tôi đưa tay làm dấu hiệu. Cô chỉ về phía
ông xếp.
Trống ngực tôi đập thình thịch.
Kìa, cô Rít bước vô, khép nhè nhẹ cánh cửa. Cô nói khẽ:
- Anh liều quá! Day mặt ra
ngoài bao lơn để em thay quần áo.
Tôi tuân lời. Thời khắc trôi
qua chậm chạp.
Bỗng nhiên có tiếng thét:
- Đưa tay lên!
Trời ơi! Ông xếp kiểm lâm bước
vào phòng, đứng sau lưng tôi tự hồi nào. Ông ta đánh cô Rít một tát tai rồi
chĩa họng súng ngay ngực tôi. Tôi giựt cây súng... Súng nổ vang, viên đạn bay bổng...
trúng nóc nhà. Thế rồi tôi và ông xếp dùng sức mà đấm đá nhau. Bọn gia nhân
nghe tiếng động, chạy vào phòng. Tôi bèn giựt cây súng chạy ra bao lơn, nhảy xuống.
Tuy bị thương nặng, gãy ống chân nhưng tôi vẫn trầm tĩnh quát to:
- Tụi bây phải để tao về
nhà. Bằng không, tao tri hô, bắn tụi bây nát óc.
Câu chuyện lại một phen bị
ngắt ngang vì bà chủ quán lại chạy xuống bến, tay bà xách cây gài cửa, to lớn như
cây thước bảng của Tề Thiên Đại Thánh. Bà đưa cây lên, hăm dọa Hai Tâm:
- Xuống xuồng mau!
Hai Tâm ríu rít, nhảy xuống
xuồng suýt té, nói với lại:
- Chào anh bạn. Mình gặp
nhau dịp khác.
Bấy giờ, tôi nhìn bà chủ:
- Bà tàn nhẫn quá. Anh ta tật
nguyền.
Bà chủ mời tôi trở vào quán,
đốt đèn rồi nói cho hả cơn giận:
- Tật nguyền mà nói dóc
hoài. Chú biết không? Mọi khi anh ta khoe mình bị cụt chân vì tham dự trận Âu
Châu đại chiến, đánh A-Lơ-Măn trong đạo quân của thống chế Bê Te, Bê Tét gì đó.
Thiên hạ cười ầm lên vì năm đó anh ta mới có 12 tuổi! Rốt cuộc, anh ta bày chuyện
“o mèo” đầm lai, giựt súng Tây... cho oai vệ. Ghét quá! Anh ta ưa khoe ba mớ tiếng
Tây. Ôi thôi! Mỗi ngày một chuyện dóc.
- Nhưng anh ta gãy chân
trong trường hợp nào?
- Chưa ai biết rõ. Chắc chắn
không phải tại phát cỏ hoặc đốn củi rồi... bị thương. Chắc chắn không phải anh
ta ăn trộm, ăn cướp rồi bị đâm bị chém. Anh ta chưa đủ gan mật làm mấy chuyện
đó đâu. Năm ngoái, cũng vì cái tật nói dóc đó mà bà con bên xóm Xẻo Cui đuổi
anh ta qua đây. Anh ta hăm he sẽ lên quan trên để nộp đơn xin làm chức cai tổng!
- Quan trên chấp nhận không?
- Nếu chấp nhận thì anh ta
đâu ngồi nói dóc nãy giờ. Ghét quá. Có một chân khập khiểng, đèo thêm một cái
chân giả, bất tài, thất đức mà đòi làm ông làm cha thiên hạ... rồi đòi chọc ghẹo
luôn tới tôi. Bữa hổm, hồi mới quen biết, anh ta tặng cho tôi... mấy cái bông
cúc ăn cắp ở nhà ai đó. Thà là tôi ở vậy tới già!.














Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét