Hương rừng Cà Mau 3
Con Trích ré
Đêm ấy, ngôi nhà lầu của cai
tổng Báu rộn rịp khác thường. Hàng chục cây đèn măng xông cháy sáng rực ở ngoài
sân và trong phòng khách.
Từ bốn hôm trước, bọn gia
nhân phải thức khuya dậy sớm để treo bông kết tuội, chuẩn bị ngày lễ gắn huy
chương Nông nghiệp (Mérite agricole) do quan phó tham biện chủ tịch cử hành.
Các thân hào, hương chức hội
tề đã tề tựu từ hồi bốn giờ chiều.
Ông tổng Báu mặc áo dài,
khăn đóng đứng ngoài cửa bắt tay từng người. Mặt trời xuống dần, cảnh vật trở
nên âm u. Ông tổng chạy tới lui, quát tháo từng chập:
- Xong chưa! Nhớ un muỗi bốn
phía sân. Quan phó tham biện là người Lang Sa. Ổng sợ muỗi lắm. Muỗi cắn... tức
là chích nọc vi trùng sốt rét. Hôm trước, ông căn dặn làm thế nào đừng cho muỗi
cắn ổng!
Rồi ông tổng nói với tên tổng
khậu (đầu bếp):
- Sửa soạn cho xong đi! Chừng
một giờ nữa...
Tên tổng khậu đáp:
- Dạ, đâu đó xong xuôi rồi.
Bữa nay, nhứt định quan phó tham biện hài lòng. Món này đặc biệt... ngon hơn đồ
Tây.
Rồi anh tổng khậu chạy vào
phòng khách. Anh ta trở ra, mặt mày hơ hãi:
- Chết cha! Ông cho phép tôi
sửa soạn ngay giữa sân này... Phải đốt lửa trước để có than...
Ông tổng Báu gật đầu:
- Cứ dọn ngay giữa sân. Nãy
giờ, tao nói trừ hao... Còn sớm mà.
Dưới ánh đèn măng xông sáng
trưng còn hơn ban ngày, bọn gia nhân hì hục làm việc dưới sự điều khiển của anh
tổng khậu. Họ chất hàng bảy - tám chục khúc củi, đốt cháy rực trời, theo kiểu...
hướng đạo đốt lửa trại, có điều khác là đống lửa ấy dài như hình chữ nhựt. Hồi
lâu lửa ngọn hạ xuống, họ đem tới năm ba cần xé đựng đầy vỏ dừa - loại vỏ dừa
tươi, phơi khô.
Mấy ông hương chức hội tề
khen nức nở:
- Than vỏ dừa đượm lắm.
Mớ vỏ vừa được tung vào đống
lửa. Một mùi thơm thơm bay ra... Trong khi ấy anh tổng khậu đến phía sau nhà,
truyền lịnh:
- Đập đầu con bò con cho
mau. Rồi cạo lông sơ sơ. Nhớ mổ bụng, đem bộ đồ lòng ra cho sạch. Phải giữ
nguyên hình dạng con bò: đuôi, móng, lưỡi, lỗ tai... Mất một món là bọn mình...
mất danh dự.
Bọn gia nhân đốt đuốc, đập đầu
con bò con. Anh tổng khậu vào nhà bếp thúc hối:
- Nhớ chưa! Bàn thứ nhứt đầy
chuối chát; bàn thứ nhì, khế chua; bàn thứ ba, bánh hỏi; bàn thứ tư, bánh
tráng; bàn thứ năm, mắm nêm; bàn thứ sáu, muối tiêu.
Mấy chị ở nhà bếp cười giòn!
- Đầy đủ hết rồi. Còn bàn thứ
bảy?
Anh tổng khậu nói:
- Bàn thứ bảy dành riêng để
uống rượu. Cứ khiêng lên sau, khi tôi ra lịnh...
Đống lửa than đã ngún đỏ rực
giữa sân.
Hai tên gia nhân cắm sẵn bốn
cây nọc, mỗi đầu hai cây tréo lại. Ông tổng Báu cười hì hì:
- Món này đặc biệt lắm, bò
gác tréo! Bên Tây, họ chưa ăn uống sang trọng như ở xứ mình.
Một ông hương chức hội tề
nói phụ họa:
- Hồi nào tới bây giờ, tôi
nghe nói thịt bò gác tréo nhưng chưa nếm lần nào. Đêm nay, dịp may hiếm có...
Bỗng dưng mọi người đều nhảy
nhổm. Từ phòng khách có tiếng con chim gì kêu to:
- Ré... ré... ké... ké...
Ông tổng Báu đứng dậy, giận
xanh mặt:
- Bà Hai đâu? Tôi căn dặn mấy
bữa rày mà cứ để như vầy. Con trích phá đám đó. Đêm nay, coi chừng...
Cử tọa cười vang lên. Con
trích vừa nhảy vừa bay sập sận ra sân. Nó to bằng con gà tre, lông xanh mướt
như lông chim sa sả (chim chả). Cái mồng con trích cứ đưa qua đưa lại, đỏ
hói... Đôi chân đỏ đậm nhảy tới, quơ móng nhọn lễu, bén như dao cạo. Ông tổng
Báu la tiếp:
- Bà Hai! Tôi căn dặn mấy chục
lần rồi.
Bà Hai chính là người vú già
nuôi bé Kiều, đứa con gái út của ông tổng. Bà cố sức chạy theo... Con trích cứ
“ré” lên, bay vòng quanh đống lửa. May quá, bà Hai chận đầu con trích, ôm vào
lòng, nói khẽ với ông tổng như để giải thích, xin lỗi:
- Dạ, cô bé Kiều mở cửa
thình lình.
Vừa dứt lời, bé Kiều chạy tới,
khóc thút thít:
- Ba ơi! Con trích đâu rồi?
Ba rầy con hả?
Ông tổng Báu vuốt tóc con:
- Thôi nín đi. Ba rầy bà Hai
chớ đâu có rầy con. Con lên lầu mà ngủ đi.
Bé Kiều nũng nịu:
- Con không ngủ đâu. Tại sao
ba nhốt con trích trong lồng. Nó kêu hoài, tội nghiệp nó lắm.
Từ ngoài sân, đứa gia nhân
chạy vào, nói giọng nghiêm trang:
- Thưa ông! Ca nô ông phó
tham biện tới rồi!
Ông tổng Báu giựt mình, nói
với bà Hai:
- Được rồi! Bà thả con trích
ra khỏi lồng. Cho con trích vô ở trong phòng với bé Kiều nghe không.
Rồi ông nài nỉ:
- Bé Kiều! Đêm nay, ba mắc
công chuyện. Con ở trong phòng mà chơi với con trích. Kẹo bánh thiếu gì ở trong
đó.
Bà Hai ôm con trích, vào
phòng khách rồi lên lầu, bé Kiều chạy theo bà. Nó mừng rỡ vì đã... tranh đấu thắng
lợi. Ông tổng không nhốt con trích nữa. Nó tha hồ đùa giỡn, bẻ bánh bích qui
cho con trích ăn...
Con trích, gọi nôm na là con
“trích ré” thuộc vào loại chim rừng đẹp nhứt. Nói đúng hơn, nó là loại chim sống
ở nơi đồng cỏ hoang dại. Trích bay rất thấp, lủi trong cỏ rất khéo một khi lâm
nguy, bay không kịp. Thịt trích ăn khá ngon, nào kém thịt gà.
Qua lúc sa mưa, nếu lội bộ
qua vùng cỏ mênh mông, ta có thể gặp hàng chục ổ trích, trong mỗi ổ có năm sáu
trứng. Như trên đã nói, bắt được con trích là chuyện khó. Vừa thấy dạng người,
trích cất cánh bay bổng hoặc chui xuống cỏ, đứng im như chết.
Trích lại có tài đá lộn như
gà. Nhiều người nuôi trích để giữ nhà. Mỗi khi gặp người lạ, trích “ré” lên inh
ỏi để báo động rồi chạy tới, vừa cắn, vừa đá, vừa bay... Bị tấn công thình
lình, khách lạ khó bề xoay trở, thường chịu rách quần áo, trầy da hoặc đui mắt.
Bé Kiều là con gái út của
ông tổng Báu. Ông tổng có đứa con trai lớn, chết vì bịnh ban đen hồi năm ngoái.
Bé Kiều là đứa con gái duy nhất còn lại trong gia đình. Mẹ bé Kiều mất khi bé
Kiều được đầy tháng. Vì vậy, bé Kiều là hòn ngọc trong gia đình.
Một hôm, lúc dạo xóm với ông
tổng, bé Kiều gặp con trích nuôi trong nhà người tá điền. bé Kiều khóc lóc, đòi
đem con trích ấy về nhà nuôi cho bằng được. Ông tổng chiều con, sắm chiếc lồng
sơn son để nuôi trích. Nhưng bé Kiều giận lẫy, không muốn nhốt con trích vào lồng.
Con trích trở thành con búp
bê được bé Kiều nâng niu... Hễ bé Kiều đi đâu là con trích chạy theo đó như
hình với bóng.
Thỉnh thoảng, con trích
phóng uế nơi phòng khách. Bà Hai đành làm công việc lau chùi... và lau chùi
không hở tay nếu con trích ăn uống không tiêu. Những lúc ấy, bé Kiều khóc lóc,
đòi kiếm thuốc cho con trích uống... Ông tổng Báu đành xuống nước, nài nỉ con,
hứa mai hứa mốt. Ban đêm bé Kiều để con trích ngủ bên giường, sợ kẻ trộm lẻn
vào nhà bắt con trích cưng.
Ông tổng lắm lúc bực mình và
tỏ ra thông cảm với nỗi khổ nhọc của bà Hai:
- Bà đừng phiền, bé Kiều thiếu
tình thương của mẹ. Nó gắt gỏng khó tánh, tội nghiệp nó. Vái trời cho con trích
sống hoài. Rủi con trích chết, chắc nó mang bịnh theo.
Buổi gắn huy chương Nông
nghiệp đã cử hành xong. Ông tổng Báu đứng im như một người lính, ưỡn ngực, nín
thở. Sau đó, ông xin phép với quan phó tham biện:
- Mang huy chương lúc ăn uống
là điều thất lễ với... chánh phủ Lang Sa. Tôi muốn đem cái huy chương này cất
trong tủ thờ...
Quan phó tham biện cười nhếch
mép rồi gật đầu, vỗ tay... Tất cả cử tọa đứng dậy, vỗ tay phụ họa hồi lâu mới dứt.
Cai tổng Báu bước ra sân,
nói khẽ với anh tổng khậu:
- Đem món ăn ra giữa sân!
Quan phó tham biện hơi ngạc
nhiên. Ban nãy ông tổng Báu giới thiệu món ăn duy nhất: thịt bò con. Bây giờ, bốn
đứa gia nhân đặt con bò lên kiệu, khiêng ra sân, gác lên mấy cây tréo, trên đống
lửa than đỏ rực.
Trông con bò ngộ nghĩnh,
ngây thơ và nên thơ quá! Nhờ tài khéo léo của anh tổng khậu, con bò như sống lại,
nhăn răng cười trên đống lửa hồng! Ban nãy, anh ta đã dùng hai khúc cây nhỏ, chỏi
mí mắt khiến con bò vẫn thức tỉnh trong cái chết, đôi mắt tròn xoe, trao tráo!
Anh tổng khậu khoát tay làm
dấu hiệu với mấy người nhà bếp.
Họ xúm nhau khiêng bàn, mấy
cái bàn riêng biệt đầy chuối chát, khế chua, mắm nêm. Đâu đó xong xuôi, ông tổng
Báu trịnh trọng đứng dậy:
- Thưa quan phó chủ tỉnh,
thưa quí anh... hương chức hội tề. Hôm nay là ngày vui, chúng tôi xin đãi tiệc
mọn. Muốn ăn món thịt bò gác tréo này, xin quí vị chịu phiền dời gót ngọc dạo
chung quanh con bò. Lời tục thường nói: ngồi một chỗ ăn ít, trái lại, nếu vừa đứng
vừa ăn thì ta ăn nhiều hơn...
Quan phó chủ tỉnh nhờ hiểu
chút ít tiếng Việt nên gật đầu, vỗ tay.
Chờ khi tràng pháo tay chấm
dứt, quan phó chủ tỉnh nói to:
- Ông cai tổng là chủ nhà,
chủ tiệc. Vậy thì mời ông ăn trước cho mọi người bắt chước theo...
Ông tổng Báu cúi đầu:
- Cám ơn quan lớn.
Quan phó chủ tỉnh rót ly rượu
chát để tán thưởng:
- Ông cai tổng uống, uống cạn
ly...
Uống xong ly rượu, ông tổng
Báu càng cao hứng, nói thao thao bất tuyệt:
- Món này ăn bằng cây dao và
đôi đũa. Trước tiên, mình cầm dao, đâm lụn vào da con bò....
Quả đúng như lời, mũi dao vừa
xắn vào da bò là một thỏi thịt đỏ tươi từ từ vọt ra. Ông tổng Báu cắt khúc thịt
nửa sống nửa chín ấy, gắp trong đũa.
Đến bàn thứ nhứt, ông lượm một
miếng chuối chát, rồi đến bàn thứ nhì, ông lượm một miếng khế chua, kế đến, miếng
rau sống, miếng bánh tráng rồi ông gói lại, đem chấm tại bàn có mắm nêm. Tràng
pháo tay nổi lên... Ông tổng đưa miếng thịt bò vào miệng. Rồi ông đến bàn rượu,
nâng lên chén rượu đế!
Cử tọa lần lượt vào tiệc.
Họ sắp hàng một, lụi mũi dao
vào hông con bò, cắt thịt rồi đi dạo vòng quanh con bò, từ bàn chuối chát đến
bàn rượu... theo cái vòng lẩn quẩn thú vị. Đêm càng khuya, bao tử của đám thực
khách càng đầy thịt rượu... Lần đầu tiên, được thưởng thức món ăn đầy đủ hương
vị “bản xứ thuộc địa miền nhiệt đới”. Quan phó chủ tỉnh uống rượu say mèm...
Ông ta nói:
- Uổng quá! Phải chi ở chợ...
mình mở ra dạ hội khiêu vũ.
Ông tổng Báu chắp tay, kiếu
lỗi:
- Dạ, chốn này quê mùa, thiếu
gái đẹp...
Đâu được. Đàn ông có thể
khiêu vũ với đàn ông... Nãy giờ, ăn thịt bò hơi nhiều, ăn chỉ có một thứ.
Cử tọa giựt mình và ông tổng
Báu như sống trong cơn ác mộng! Trời ơi! Con trích ré của bé Kiều lại chạy xuống,
vừa chạy vừa vỗ cánh, vừa vỗ cánh vừa há mỏ, hươi móng.
Tất cả quan khách đều là kẻ
lạ! Bản năng con chim rừng ấy thúc dục nó phải liều mạng để báo động, hành hung
đánh đuổi... quân thù! Và trong đám quan khách ấy, người xa lạ và khó thương nhất
chính là kẻ lớn con, ăn mặc lạ lùng mà hồi nào đến giờ nó chưa từng thấy.
Ông tổng Báu la lên:
- Bà Hai! Tôi giết bà bây giờ.
Bộ bà ngủ gục ở trển hả?
Cử tọa xô ghế, đứng dậy...
ông phó tham biện cứ ngồi lì một chỗ. Ông ta khòm xuống thấp, dang hai tay ra để
chào đón con chim quá đẹp.
Con trích nhảy tới, đá túi bụi...
Ông phó tham biện chủ tỉnh cố gắng chụp nó vào lòng để vuốt ve...
Ông tổng Báu la hoảng:
- Quan lớn coi chừng!
Ông tổng vừa dứt lời, quan
phó tham biện cau mày, rút khăn mù soa chùi mấy vết máu tươm ra trên làn da tay
vừa bị đâm, bị mổ.
Con trích thối lui, thủ thế.
Từ phía sau, bé Kiều la lên:
- Trích! Trích! Mày chạy đi
đâu vậy? Nãy giờ tao thức dậy kiếm mày gần chết! Lạ lắm hả?
Con trích lại phóng tới, mổ
vào mặt quan phó tham biện. Tức giận, quan phó tham biện đứng dậy, đá mạnh.
Trúng mũi giày da, con trích đau điếng, té nhào vì mất thế quân bình.
Ông tổng Báu đổ mồ hôi hột
vì linh tính như báo trước điềm không may. Ông chạy tới, chụp con trích rồi xin
lỗi:
- Quan lớn đừng phiền. Nãy
giờ tôi nhốt con trích này ở trên lầu. Chẳng qua là sự sơ sót. Để tôi lấy thuốc
thoa cho quan lớn.
Nhưng... đường đường một đấng
thượng quan, lẽ nào quan phó tham biện lại chịu thua một con chim nhỏ bé... Ông
ta nói:
- Đưa cho tôi coi!
Tổng Báu run rẩy, nghĩ đến
phản ứng của bé Kiều. Con trích ré lên thật to, mổ vào mắt ông phó tham biện.
Lần này ông đề phòng trước,
chụp mỏ nó rồi vặn cổ.
Bé Kiều khóc thét lên:
- Trả cho tôi! Trả lại cho
tôi!
Ông phó tham biện đắc thắng,
mặt mày vênh váo như vừa giết được kẻ thù. Bé Kiều là đứa con nít quèn, đâu xứng
mặt đối thoại với ông ta. Ông ta tiếp tục làm công việc của kẻ chiến thắng.
- Để tôi “rô ti” con trích
này, thịt nó ngon lắm.
Vừa dứt lời, ông ta quăng
xác con trích vào đống than đỏ rực. Bé Kiều từ nãy giờ theo dõi mọi hành động của
ông Tây tàn ác. Nó chạy tới cấu xé ông Tây lạ mặt. May thay, bà Hai chận lại,
nài nỉ:
- Tội nghiệp tôi, cô ơi!
Mùi lông trích bay lên khét
lẹt, bé Kiều cắn tay bà Hai để giải vây rồi chỉ ngón tay vào mặt quan phó tham
biện:
- Chết mẹ mày! Mày nướng...
Nhanh như chớp, ông tổng Báu
tới bên cạnh bé Kiều, bụm miệng con rồi giả vờ đóng kịch:
- Bà con xem... Thấy con
trích cắn quan lớn, bé Kiều nổi giận, đòi nướng con trích, đòi giết con trích
cho hả giận... À! Thôi lên phòng nằm, sáng mai ba kiếm cho con một con trích
khác.
Rồi ông nói với bà Hai:
- Đem bé Kiều lên tầng lầu
trên. Còn bà thì đứng lẩn quẩn gần đây, coi chừng nó chạy trở xuống, nói bậy, ở
tù cả đám.
Bé Kiều nổi điên lên. Hai
bàn tay bà Hai nhấc nó khỏi mặt đất, bồng nó lên tầng lầu. Rồi bà Hai trở xuống
ngồi chận ngay thang lầu.
Bé Kiều nhớ tới con trích
khôn ngoan hằng đêm ngủ với nó, hằng ngày ăn uống đùa giỡn với nó. Trời! Con
trích này chết rồi! Giận quá. Thủ phạm lại là cha nó. Nếu cha nó không trao cho
ông Tây thì con trích vẫn sống nhăn. Bé Kiều quyết trả thù. Phải làm một việc
gì mà cha nó khi hay tin sẽ khóc... như nó đã khóc. Nó sực nhớ đến cái hồ nước ở
gần nhà bếp. Mọi khi cha nó căn dặn, ngăn cấm không cho nó lại gần. Đêm nay,
lát nữa, nó sẽ bắc ghế, rình lúc người ở nhà bếp sơ ý... Nó nhảy vô hồ nước để
trốn... Hồ nước mát lắm. Nhảy vào đó như nhảy xuống sông. Tại sao cha nó ngăn cấm
không cho nó tắm dưới sông....
Tàn bữa tiệc, sau khi quan
khách ra về, ông tổng Báu đến tủ thờ, đem cái huy chương Canh nông ra gắn trước
ngực. Rồi ông ta chạy lên lầu để an ủi bé Kiều, khoe khoang với bé Kiều rằng
cái huy chương quí hơn con trích. Nếu cần, ông sẵn sàng cho bé Kiều mang cái
huy chương để ngủ đêm nay.
Ông trố mắt:
- Bé Kiều đâu? Bà Hai.
Bà Hai đáp:
- Dạ, cô bé ở đâu đó mà!
Bọn gia nhân đốt đuốc, chạy
lăng xăng. Hồi lâu, công việc tìm kiếm được chấm dứt vì một đứa gia nhân đã sực
nhớ tới cái hồ nước. Anh ta cầm đuốc, dựa bên thành hồ, trố mắt... bàn tay rụng
rời buông ngọn đuốc...
Cô Út về rừng
Má ơi! đừng gả
con xa.
Chim kêu vượn
hú biết nhà má đâu...
Câu chuyện xảy ra tạ Rạch
Bình Thủy, làng Long Tuyền, tỉnh Cần Thơ, đâu cũng vào khoảng năm 1939 hoặc
1940 gì đó.
Trời sáng trăng. Thường lệ cứ
đến chín giờ tối là nhà ông hương Cả Ba đóng cửa ngủ sớm. Đêm ấy, có khác. Cây
đèn “măng sông” cất lâu trong tủ được đem ra lau chùi, đốt sáng lên, ông Cả
nheo mắt, nhìn đăm đăm ra sân tìm một góc tối om nào đó mà định thần hòng gỡ mối
tơ vò rối rắm của gia đình. Ngoài sân, trăng sáng yên lành; lớp thủy ngân xao động,
nhảy nhót, vờn vờn trên lá trên cành của vườn cam, trên ngọn tre mềm dịu đang
chuyển động từng cơn.
Ông lẩm bẩm:
- Kìa... mà gió trở ngọn.
Gió chướng qua gió nồm. Hết nắng sang mưa.
Bà Cả lắc đầu:
- Ông này vớ vẩn. Gả con út
hay là không? Sáng mai mình phải trả lời cho cậu Quỳnh biết. Ở đó mà lo gió chướng,
gió nồm! Hai đứa nó đâu rồi?
- Tụi nó ở ngoài sân nói
chuyện rù rì, bà không nghe sao? Thế nào tôi với bà cũng tính cho xong xuôi nội
trong đêm nay.
“Tính” đây là cả một bài
toán. Làm thế nào có lợi cho gia đình mình? Gả con Út cho cậu Quỳnh, ông bà rất
đỗi vui mừng vì gặp nơi môn đăng hộ đối. Nhưng về mặt tình cảm thì thiệt thòi
quá. Gả con gái về chốn Cạnh Đền xa xăm! Tháng trước, ông xuống đó để dò xét
thân thế gia đình của đàng trai: căn nhà ngói vách ván, xung quanh có vườn tược
lai rai, xa xa nhô lên vài nhà của người Miên. Và rừng xanh một dãy che phủ tứ
phía chân trời!
Ông đáp:
- Tôi nhứt định gả. Hai đứa
nó thương nhau từ hồi còn đi học ở Sài Gòn. Bên đàng trai khá giả. Mình đòi bắt
rể, ai mà chịu. Thôi đành vậy...
Bà Cả thở dài:
- Tôi ngại quá. Mình có mụn
con gái. Gả đi xa xôi không nói làm chi. Ngặt xứ đó kỳ quái, hiểm nguy. Nội cái
tên Cạnh Đền nghe cũng dị hợm...
- Tưởng bà ngại điều gì chớ
chuyện đó thì dễ. Dân ở dưới hiền lành lắm. Bộ thiên hạ ăn thịt con gái mình
sao mà nguy hiểm?
- Tức chết đi! Nói vậy mà
không hiểu! Ông không nghe người ta hát sao?
Xứ đâu như xứ Cạnh Đền,
Muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội
lềnh như bánh canh.
Ông Cả nghe qua, cười ngất hồi
lâu. Bà Cả càng sôi gan:
- Ông cười tôi nói bậy à? Ở
xứ đó chạng vạng là ai nấy phải vô mùng để... ăn cơm.
- Nhưng sự thật là họ ăn cơm
sớm, hồi cỡ bốn giờ chiều để khỏi cần vô mùng. Bà nghe ai nói lại vậy?
- Ông có tài binh vực cho xứ
Cạnh Đền. Dẹp chuyện muỗi một bên, tôi bàn qua chuyện đỉa để ông có giỏi thì
cãi. Nè, tôi nghe nói... phen đó cô dâu nọ ở chợ Cần Thơ gả xuống. Cổ xuống bến
làm cá, xong xuôi đem trút vô chảo, nấu canh chua. Dè đâu chừng dọn cơm ra, cha
mẹ chồng gắp lên thấy quả tang một con đỉa đeo trong khứa cá. Cô dâu nọ bị đuổi
vì tội... nấu canh chua bằng đỉa. Oan ức quá. Xứ đỉa nhiều, ai đâu dè trước! Tôi
sợ con Út nhà mình phải bị đuổi trở về mà mang nhục với xóm giềng.
Ông Cả cười giòn:
- Thiên hạ đồn nhưng có thiệt
lần nào chưa? Tôi nói cho bà nghe: chuyện đó dóc. Hồi xuống Cạnh Đền, tôi nhắc
chuyện... “đỉa lềnh như bánh canh”. Thiên hạ ở dưới đó cắt nghĩa: Cạnh Đền là
nơi nước mặn gần mãn năm. Hơn nữa, ruộng ít khi có cày trâu. Làm sao có đỉa ở
vùng nước mặn? Chẳng qua là mấy người đặt bài hát đưa em, thêm nhưn thêm nhụy để
bắt vần. Đỉa nhiều ở là xứ nước ngọt như Bình Thủy, Ô Môn đây nè! Bà biết chưa.
Ở đây, từ hồi nào tới giờ, có ai lỡ nấu canh chua đỉa không? Bà chỉ cho tôi coi
thử.
Bà Cả đuối lý, cố suy nghĩ,
tìm cách bảo thủ ý kiến mình.
Sau rốt, bà nói:
- Gả con về rừng khổ lắm.
Xưa nay, người ta hát:
Mẹ mong gả thiếp về vườn,
Ăn bông bí rợ dưa hường nấu
canh.
Đằng này mình gả con về rừng...
Bao nhiêu người chịu tai nạn rồi đó.
Ông Cả hút điếu thuốc, chập
sau mỉm cười, đắc thắng. Bà day lại:
- Ông gả thì gả đi. Đường xá
xa xôi làm sao nó về thăm mình được. Nãy giờ tôi quên nói chuyện đó.
- Dễ ợt. Miễn con gái của
mình có hiếu... Gả con... ở trong nước Việt Nam chớ qua bên Tây bên Tàu gì sao!
Một khi quên cha quên mẹ thì dầu nó ở kế bên nhà nó cũng không thèm về thăm.
Tôi thì tôi tin con Út lắm. Công cha mẹ nuôi dưỡng, cho đi ăn học lẽ nào nó
quên.
Bà Cả bỏ đi chỗ khác, nói lại
một câu:
- Để coi nó nhớ hay quên! Xuống
miệt Cạnh Đền, muỗi ăn thịt nó. Nó bỏ thây ở dưới, hai ba năm chưa chắc về thăm
mình một lần. Lần hồi mất gốc rễ, no nhè lấy tên mình, đặt trúng lại cho con
cháu của nó mà không hay.
- Tại sao vậy? Bà này vô lý
quá...
Tuy cãi lời bà, trong thâm
tâm ông cũng cảm thấy chút gì buồn bực vô lý. “Ông có lý luận đúng, nhưng bà...
không lẽ nói sai”. Nghĩ vậy, ông lại nằm nơi trường kỷ, lẩm bẩm:
- Ông tơ xếp đặt rồi. Phận
con Út vậy, đành vậy.
Thế là tháng Chạp năm đó,
nhà ông Cả treo bông kết nuột để gả con, giữa tiếng dị nghị của bao chàng trai
tơ của rạch Bình Thủy.
Cô Út về làm dâu đất Cạnh Đền.
Hai năm qua.
Ba năm qua...
Chuyến đầu, đôi vợ chồng về
thăm ông Cả bà Cả, đèo theo một đứa con gái nhỏ... sổ sữa dễ thương.
Chuyến sau họ lại về, lại
thêm một đứa gái. Và một đứa thứ ba nữa đang nằm trong bụng mẹ.
Hai ông bà quá đỗi vui mừng.
Nhưng liên tiếp mấy năm sau
họ bặt tin, ngày Tết ngày giỗ cũng chẳng về. Lo ngại quá! Có chuyện gì xảy ra bất
lành không?
Hai ông bà muốn xuống Cạnh Đền
thăm con nhưng ngại mình già sức yếu, đường xa xôi, phải vượt qua sông Cái Lớn.
Nằm đêm, lắm khi bà khóc lóc mà trách ông:
- Tôi nói muỗi rừng ăn thịt
hai đứa nó rồi. Xứ gì mà muỗi kêu như sáo thổi. Không đau bịnh rét thì cũng
chói nước lớn bụng mà chết... Hồi đó ông cãi tôi, nhớ không?
Ông Cả vô cùng buồn bực. Nhứt
là khi nghe con nít chòm xóm hát đưa em:
- Má ơi đừng gả con xa,
Chim kêu vượn hú, biết nhà
má đâu?
Hoặc:
- Thương chồng phải lụy nhà
chồng.
Mỗi khi tiết trời lập đông
là cơ thể rêm nhức, tuổi già của ông càng đè nặng hai vai. Não nuột quá những
câu hát:
Một mai ai đứng bên kinh,
Ai phò giá triệu, ai rinh
quan tài?
Bên kinh đã có con trai,
Gái triệu con gái, quan tài
nàng dâu.
Hỏi nào chàng rể ở đâu?
Chàng rể uống rượu đi sau
nói xàm...
Ông nhìn trời. Ngày nào đó
ông chết, con gái không về kịp để phò giá triệu, càng không có chàng rể. Nhưng
ông tin tưởng rằng đứa rể của ông ở vùng Cạnh Đền xa xôi kia, giờ phút này đang
cặm cụi làm ăn nhớ cha mẹ vợ, không bao giờ uống rượu nói xàm vì chàng là kẻ có
ăn học. Suốt tháng ngày, ông chống gậy đi quanh quẩn bên gốc tre già ở mé sông,
mắt mòn mỏi nhìn bóng dáng các ghe thương hồ qua lại.
Trời đất nào phụ kẻ có lòng
như ông!
Mãi đến buổi trưa đó, có chiếc
ghe chèo chậm chậm ngang bến. Chồng trước mũi hỏi vợ sau lái:
- Phải chỗ cây mù u
này không? Cậu Quỳnh nói bên nhà vợ ở đâu đây.
Chị vợ đáp:
- Không chừng... Đúng quá,
cách ngã ba, qua hai cây cầu khỉ, nhà ngói có vườn quít.
Anh chồng ngó tới ngó lui,
cãi lại:
- Mình mới qua một cây cầu.
Chèo tới trước chỗ cây cầu khỉ, đàng kia kìa, họa may...
Ông Cả cố gom tất cả sức
già, la lớn:
- Ở đây nè, bà con ơi! Nhà vợ
thằng Quỳnh ở đây nè...
Ghe đậu lại. Hai vợ chồng nọ
được mời lên ăn cơm với thịt gà tại bộ ván gõ giữa nhà ông hương Cả. Trong đời,
họ chưa bao giờ được hân hạnh lớn như vậy! Ông Cả, bà Cả, người lối xóm xúm lại
hỏi nhiều câu quá. Họ bối rối, trả lời vắn tắt:
- Dạ, vợ chồng cậu Quỳnh mạnh
khỏe. Nhờ trời sanh được sáu đứa con. Bốn đứa sau đều là con trai.
Bà Cả mừng quýnh:
- Úy! Bộ con Út đẻ năm
một sao? Con nhỏ đó giỏi thiệt.
Khách trả lời:
- Dạ, đẻ năm một. Đứa ăn
thôi nôi, đứa lôi đầy tháng. Mẹ tròn con vuông. Hồi tôi đi đây, cô Út gần nằm
chỗ một lần nữa. Thưa ông bà, miệt dưới ai cũng vậy. Như vợ chồng cháu đây có
tám đứa con.
- Sao vậy cà? Sao vậy cà? Ở
dưới cỡ này ra sao mà thiên hạ đẻ nhiều quá vậy?
Khách ngượng nghịu, chập sau
mới nói:
- Dạ, ở miệt dưới muỗi dữ lắm.
Chạng vạng là cả nhà, vợ chồng con cái rúc vô mùng... nói chuyện. Ít ai đi đâu.
Ai nấy phá lên cười to. Đến
lúc bấy giờ, ông Cả bà Cả mới hiểu thêm một sự bí mật quan trọng của tiếng “muỗi
kêu như sáo thổi” ở Cạnh Đền. Nó làm hại sức khỏe con người. Nhưng nó gắn bó mối
tình chồng vợ hơn ở xứ không có muỗi.
Để tránh trống lảng, ông
nói:
- Ừ! Phải vậy mới được. Xứ
mình cần có dân đông để tạo lập thêm ruộng vườn, khai phá đất hoang.
Bà Cả nóng ruột:
- Anh chị đây có nghe vợ chồng
nó nhắn chừng nào đem mấy đứa cháu ngoại của tôi về cho biết mặt?
Khách trả lời:
- Dạ không nghe. Con cái lũ
khũ cả bầy, chắc vợ chồng cậu Quỳnh khó đi xa. Năm rồi mùa màng thất bát, ai
cũng lo tay làm hàm nhai để nuôi con. Sông Cái Lớn mấy năm nay lại thêm sóng
gió bất thường.
Bà thở dài, nói như rên xiết:
- Nhớ mấy đứa nhỏ quá. Ông
ơi! Hồi đó ông cãi tôi...
Ông Cả im lặng, nghĩ đến cái
ngày gần đất xa trời của mình. Nó không còn bao xa nữa. Ngày đó, ai phò giá triệu,
ai rinh quan tài? Nhìn bụi tre già dưới bến mà ông tủi thân: măng non mọc kề
bên gốc. Phận ông có khác: con gái, con rể và đám cháu ngoại ở chốn xa xôi kia
làm sao được gần gũi để ông thấy mặt lần đầu - và cũng là lần chót - khi ông
tàn hơi. Nước mắt muốn tươm ra, ông cố dằn lại. Ông hiểu đời ông chưa tới mức
đen tối, còn chút ánh sáng lập lòe trong tương lai vô biên vô tận:
- Ờ... ở dưới nó có lập vườn
chưa? Lát nữa, anh chị chịu khó chở về giùm cho vợ chồng con Út một gốc tre Mạnh
Tông để làm giống. Chừng thấy măng non cận gốc già, mấy đứa cháu của tôi luôn
luôn nhớ ông ngoại bà ngoại nó trên Bình Thủy.
Phật Trời thiêng liêng xin
phò hộ, chứng giám! Từ bao nhiêu thế kỷ rồi, trên đất nước mình lắm người luống
tuổi chịu cảnh sanh ly như ông Cả, như cô Út. Để cho nước mạnh, dân còn.
Đại chiến với thầy Chà
Vào một buổi chiều ảm đạm
tháng sáu năm 1942, gió Nam thổi ròng bốn năm ngày liên tiếp, mang bao nhiêu
huyền bí, lạnh lẽo từ ngoài khơi vịnh Xiêm La đổ dồn vào lô rừng tràm số 323 của
làng Đông Thái. Giọng biển gào thét như hăm dọa. Tiếng cây rừng rít lên như
kháng cự, như căm tức. Bao nhiêu âm thanh hòa hợp lại.
Mới nghe thì rất trầm hùng
nhưng nghe mãi sanh nhàm tai, vô vị, không bằng những giọt nước mưa kia... đang
kiêu hãnh chui qua lỗ trống mái nhà của ông Chòi Mui, rớt xuống bộ ván nghe lát
chát!
Ông Chòi Mui nhìn giọt nước
mà cười một mình. Nụ cười hiền hòa không mảy may chút gì là hờn oán, nao núng:
- Mày dột vô nhà tao thì tao
ra sau bếp lấy cái tô hứng mày, để dành uống chơi! Khỏi mắc công ra sau hè múc.
Lộp độp! Lộp độp!
Giựt mình, ông quay lại. Mưa
dột ngay nóc mùng từ nãy giờ, thấm vải mùng rớt xuống chiếu. Cuốn mùng ư? Không
dám, vì mùng đã quá tuổi, đụng chạm mạnh sợ rách. Dời giường ngủ qua chỗ khác
ư? Nhà chật. Dột lâm râm khắp nơi như mặt rỗ. Ông Chòi Mui ra sau bếp tìm một
miếng lốp tràm (vỏ tràm) nhét sơ sịa vào mái nhà để mong hạn chế phần nào cái lỗ
dột quá lớn rồi. Ông hát lên:
Chiều chiều bắt nhái giăng
câu,
Nhái kêu éo ẹo, cái phận tui
nghèo,
Chọc ghẹo tui chỉ?
Thích chí, ông lập lại đoạn
chót:
- Chớ phận tui nghèo, chọc
ghẹo tui chi?
Có người ghé xuồng ngay bến.
Không cần dòm ra, ông dư biết là Năm Pho, người láng giềng gần nhứt, cách một
con kinh nhỏ chừng năm trăm thước.
Chưa kịp phủi mấy giọt mưa đọng
trên mặt, trên vai áo, Năm Pho đã vội lên tiếng:
- Ông già nãy giờ nói chuyện
với ai vậy? Bộ có giấu bà nào trong mùng hả? Hèn chi tôi nghe ông hát, thiệt hết
sức “mùi”!
Ông cười:
- Có thuốc rê cho tao một điếu.
Buồn, hát một mình. Mấy bữa rày túng quá. Sao? Có chuyện gì lạ không?
Năm Pho nhăn trán lại, suy
nghĩ giây lâu, chập sau, chéo miệng;
- Có vụ này hơi lạ. Nhưng mà
khó thi hành quá! Tôi hỏi ý ông. Không đồng ý thì đừng rầy tôi nghe!
- Cứ nói.
- Số là có một thầy Chà mới
tới xóm Đình.
Ông Chòi Mui lườm Năm Pho:
- Bộ mầy muốn xúi tao đánh
nó giựt thuốc rê hả? Nghèo, phải ráng chịu. Không bao giờ tao chịu làm chuyện
sái với lương tâm.
- Ông đừng nóng. Để thủng thẳng
tôi nói. Thầy Chà này không bán thuốc rê. Nó bán vải.
- Bộ nó khùng sao? Nhè tháng
mưa này không có gạo nấu, ai lại mua vải.
- Nó nói sẽ ở xóm mình sáu,
bảy tháng. Nghĩa là tới tháng Chạp bán vải thì vừa. Trong lúc chờ đợi, nó dạy
nghề võ, bùa phép. Đặc biệt có thứ bùa để làm mê các cô gái. Đưa cho nó một đồng
bạc, nó bán bùa đó. Ông thấy chưa? Rõ ràng nó làm bại hoại luân thường, muốn đục
khoét xóm nầy. Làm sao trị được nó?
Nghe qua, ông Chòi Mui tức
giận, muốn biết rõ đầu đuôi, hư thực thế nào, ông bảo Năm Pho:
- Vậy thì thằng Năm mày chịu
khó lại xóm Đình, mời thầy Chà nọ vô đây lập tức. Nói tao mời nó vô đây cho biết
mặt, để làm quen. Nhắc cho nó biết rằng: Theo tục lệ, ai muốn làm ăn ở lô rừng
323 nầy, phải cho tao biết trước.
Nghèo thì nghèo chớ tối hôm
đó ông Chòi Mui dám chống xuồng lại tiệm mua chịu nửa lít rượu đãi khách. Về
nhà, ông bắt hai con cá lóc đốt lửa nướng trui. Và châm ngọn đèn dầu mù u để chờ
đợi.
Chập sau khách đến. Có Năm
Pho theo dẫn đường.
Bắt đầu vào tiệc. Rượu vào,
lời ra. Khách nói thao thao bất tuyệt, cướp cả quyền ăn nói của chủ nhà. Rằng:
“Tôi là thầy Chà, lừng danh một cõi. Người như tôi là giống người thông minh,
khác hẳn người Ấn Độ, người Miên, người Lèo. Bà con đừng hiểu lầm”.
Rằng: “Tôi chèo ghe giỏi hơn
người Việt. Cây chèo bằng cây thao lao rất dẻo. Bên này, chèo ghe chạy buồm.
Bên kia, tàu của Tây “đoan” rượt bắt. Tàu của Tây không bao giờ thắng. Tụi tôi
bán thuốc rê không đóng thuế, Tây tức lắm”.
Rằng: “Về môn thể thao, tôi
có tài đá cầu. Đứng trên mui ba chiếc ghe khác nhau, đá chuyền trái cầu qua lại
không bao giờ rớt, trong lúc ghe chạy buồm lướt như bay”.
Rằng: “Lên trên bờ, người
chúng tôi đánh võ không bao giờ thua người Việt Nam. Một mình tôi đã hạ trên mười
võ sĩ Việt Nam, trong số đó có Sáu Cường, Lê Hữu Vĩnh... Tôi đánh bằng bùa, bằng
phép, bằng hơi gió... Thấy người Việt Nam nghề võ dở quá, tôi tội nghiệp nên mới
tới đây dạy giùm”.
Nãy giờ ngồi nghe mà Năm Pho
nổi giận. Thầy này xạo quá, phách lối, láo khoét, khác hẳn người Chà đến xóm
này bán vải hồi năm kia, năm ngoái. Quả thật, hắn là một tên lưu manh, bịp bợm,
lợi dụng danh nghĩa người đồng hương. Gây sự với hắn thì khó quá. Vật bất ly
thân, đi ăn nhậu như vậy mà hắn không quên đem theo gói vải và cây thước tây để
đo. Cây thước ấy là một thứ võ khí trá hình: thước vuông mỗi cạnh năm phân, làm
bằng thứ cây đen huyền, hai đầu có bịt sắt. Năm Pho nói một câu cho hả giận:
- Thầy giỏi thiệt... Nhưng
thuốc rê của thầy làm ra không được sạch sẽ. Nghe đồn trong đó có tẩm nước đái
con nít để cho mùi thuốc thêm gắt. Có thiệt vậy không?
Ông Chòi Mui nhìn Năm Pho ra
vẻ không bằng lòng, có ý bảo Năm Pho đừng nói nữa, không có lợi. Ông cởi áo ra,
chỉ cho thầy Chà thấy những hình, những chữ xăm khắp ngực của ông:
- Bùa phép là vô ích. Tôi học
nhiều thứ quá nên không thèm xài. Mấy hình Ông Phật, hình nóc chùa này tôi xăm
hồi còn lưu lạc ở Tà Keo (Cao Miên), ở U Đông (Xiêm). Anh hãy nhìn cho kỹ: Con
số 1932 xăm ở cánh tay trái đây là kỷ niệm hồi tôi còn ở tù, Tây nghi tôi theo
đảng Nguyễn An Ninh. Cái thẹo sau lưng đây là hồi tôi chém lộn với cặp rằng ở
điền Tây “La Bách”. Đó là kỷ niệm ngày xưa, tôi không muốn nhắc lại. Bây giờ chỉ
cần xài mấy hàng chữ nho xăm chung quanh ngực. Coi cho kỹ nè!
- Tôi không đọc được.
- Đó là câu cách ngôn “Tứ hải
giai huynh đệ”. Người bốn biển đều là anh em, không phân biệt màu da, giòng giống.
Ăn ở công bằng, đừng ỷ thế mà ngang tàng. Đời mà, nước nào cũng như nước nào.
Đó là nói bao đồng, chứ nói hẹp, câu này có nghĩa khác hay hơn.
Thầy Chà lắc đầu ngơ ngác:
- Tôi không biết.
Ông Chòi Mui cả cười:
- Thôi, được. Để tôi hỏi
anh: Anh đi nhiều xứ, nhiều nơi, vậy chớ gà ở đâu nhiều nhứt?
Thầy Chà cố bóp trán suy
nghĩ, nhìn đăm đăm ngọn đèn mù u sắp tàn. Năm Pho vào trong, đem bếp un ra quạt
khói. Muỗi vẫn còn bu lại cắn. Hồi lâu, hắn mới trả lời:
- Gà ở chợ nhiều hơn chỗ
khác. Tôi nói ở chợ chó gà nhiều đó!
Ông Chòi Mùi lập tức rót
thêm rượu, nâng lên:
- Hay! Thưởng anh chén rượu
này. Rồi nghe tôi hỏi tiếp: Gà ở đâu bán rẻ nhứt?
Thầy Chà đành chịu bí.
Ông Chòi Mui nói:
- Gà ở lối xóm, bà con mình
bán cho nhau rẻ nhứt. Ở chợ, gà nhiều nhưng bán mắc. Vì thiếu cái nhân tình. Lối
xóm, gà lưa thưa nhưng bán rẻ. Vì nghĩ tình bà con quen thuộc, sớm tối có nhau,
lúc hoạn nạn sung sướng. Ở đời, anh với tôi đây, đều phải có nhân tình... Tứ hải
giải huynh đệ là vậy đó.
Biết ông Chòi Mui công kích
mình, thầy Chà đòi về lập tức, không muốn ở thêm một giây lát nào. Hắn viện cớ
quá say, về nhà tìm nước uống. Trước khi xuống xuồng, hắn hỏi vặn một câu:
- Xin lỗi, ông chủ nhà tên
gì?
- Tôi tên Chòi Mui. Vì hồi mới
lại rừng này, tôi nghèo quá không có nhà, xin một cái mui ghe cũ của người ta về
để tạm trú ẩn. Chòi Mui nghĩa là cái Chòi làm bằng Mui ghe. Lối xóm kêu như vậy
riết rồi thành quen. Tôi là kẻ vô danh mà, thầy...
Mười hôm sau, Năm Pho trở lại
nhà ông Chòi Mui tường thuật cho ông nghe cái cảnh đau lòng xảy ra liên tiếp ba
bốn chiều rồi tại sân đình. Thầy Chà đã đánh đến chết giấc năm sáu thanh niên
trong làng vì các cậu này dám “thử nghề” với hắn. Do đó, có phong trào tôn hắn
làm “sư tổ”, ai muốn học võ phải nạp cho hắn 5 đồng và một con gà mái. Chiều
chiều hắn ra sân dạy võ, thắt lưng xanh, vận “xà rông”, múa men la hét. Thiên hạ
xúm lại rất đông và vỗ tay hoan nghênh. Thảm hại nhứt là một cô gái nọ còn trẻ
măng có lẽ vì mê bùa, mê ngải của hắn nên đi theo xin được làm vợ mặc dầu cha mẹ
đánh chửi.
Ông Chòi Mui vô cùng tức giận:
- Dân xóm mình sao kỳ cục
quá, như vậy là nối giáo cho giặc. Nó khinh khi dân mình. Tao có cách nầy để trị
nó và luôn thể để làm bà con sáng mắt.
Làm đơn tố cáo hắn ư? Vô hiệu
quả, vì thời xưa luật lệ của thực dân dung túng bọn đầu cơ, bọn “cao bồi lô
canh” này.
Đấu võ với hắn ư? Khó mà thắng
thầy Chà vì xóm nầy còn ai chuyên môn “đánh đấm” như hắn? Những kẻ võ sĩ chuyên
nghiệp đã giải nghệ từ lâu. Không lẽ họ để ra nhiều thời giờ tập dượt lại, bỏ cả
công ăn việc làm.
Hút tàn điếu thuốc, ông Chòi
Mui hỏi:
- Năm Pho! Ở nhà mày có ai
có cái thùng còn nguyên không?
- Có một cái, nhưng khoét mặt
rồi, để xách nước.
- Không được, mày phải mượn
người đi tiệm nài cho được cái thùng thiếc còn nguyên trên mặt. Lủng một hai lỗ
nhỏ cũng không sao. Kiếm cho tao một cây kéo cắt thiếc luôn nữa.
Rồi ông nói nhỏ:
- Nè, tao khoét một cái lỗ vừa
bằng cái đầu của nó. Thiếc quanh lỗ bén nhọn đập trở vô trong, thành ra giống
như cái hom lờ... Mày kiếm một người lạ mặt, rình khi nào nó đi giữa đồng vắng
thì đi theo, úp đại lên đầu nó như vầy...
Tiệm chú Xồi. Rượu múc không
kịp mà bán. Thiên hạ xúm lại tiệm, đong rượu uống tại chỗ. Họ cười nói huyên
thuyên. Không ai thấy được tận mắt tấn bi kịch nọ, nhưng ai cũng đưa ra nhiều
tin tức, tỏ rằng mình là kẻ thạo tin...
- Chắc nó trở về trả thù
quá! Coi chừng!
- Mấy người biết không! Con
tôi gặp thằng chả bị tròng đầu giữa ruộng. Thiếc chói lên sáng trưng. Tiếng la
bài hãi trong thùng thiếc nghe hù hù như tiếng ong bầu. Không có tôi ra cứu, chắc
nó chết luôn ở ngoải. Làm sao nó thấy đường về? Về nhà, hương ấp biểu tôi gỡ
thùng ra. Tôi phải đè nó xuống, mượn cây kéo cắt thiếc khoét một lỗ lớn mới rút
đầu nó ra được. Mặt mày nó đầy máu, hai lỗ tai muốn sứt. Gỡ con cá ra khỏi lưới
câu mà hèn gì? Chưa nói là nó ngột thở...
Thích chí quá, Năm Pho lên
tiếng:
- Tôi đố mấy người: Vậy chớ
ai bày ra mưu đó? Hay thiệt! Mạnh dùng sức, yếu dùng chước. - Thiên hạ nhốn
nháo lên:
- Chắc chú mày quá! Gà đẻ,
gà cục tác. - Năm Pho cãi:
- Đừng nói bậy mà tôi ở tù
oan, tội nghiệp vợ con ở nhà...
Tàn buổi nhậu, ai về nhà nấy
nhưng câu chuyện vẫn còn. Từ đấy những đêm khuya, bà con thỉnh thoảng tụm năm tụm
ba. Họ suy luận, đặt bao nhiêu giả thuyết để thử tìm tánh danh của người mà họ
coi là ân nhân, có công bày mưu đánh đuổi thầy Chà ra khỏi xóm. Có kẻ nghi cho
ông Chòi Mui. Đến hỏi, ông mỉm cười, trả lời vắn tắt:
- Phải có nhiều người! Sao lại
hỏi một mình tôi?
Rồi ông gật gù, nhịp tay xuống
ván mà hát. Không nghe câu đầu. Chỉ nghe mấy tiếng khàn khàn “cái phận tôi
nghèo, chọc ghẹo tôi chi”. Đoạn chót ấy ông hát lập đi lập lại ba bốn lần, nhại
theo giọng “ti tì tí tị tì ti” của đờn độc huyền.
Đảng "Cánh buồn đen"
Từ thuở nhỏ, sáu bộ theo một
người bạn lên núi Cô Tô để học đạo, nhưng không có đạo nào quyến rủ anh được
lâu dài. Hết đạo Ớt qua tới đạo Đất; từ giã ông đạo Đất, anh đến thọ giới tại cốc
của ông đạo Nằm. Chán ông đạo Nằm, anh đi lang thang qua núi Dài với ý nghĩa cuốc
đất làm rẫy.
Buổi chiều hôm đó, anh ngồi
trên phiến đá, mắt đăm đăm nhìn cảnh núi rừng, chợt thấy một ông lão râu tóc bạc
phơ, tay chống gậy trầm hương từ từ đi lại. Đoán chừng đó là một trong số trăm
ngàn đạo sĩ ở vùng Thất Sơn này, anh không để ý cho lắm. Nhưng ông lão nọ bỗng
dừng bước trước mặt anh, nhịp gậy xuống đất ba lần, cười lên ba tiếng lớn mà rằng:
Chim bay về núi tối rồi,
Sao không lo liệu còn ngồi
chi đây?
Anh đứng dậy, chấp tay chào.
Đạo sĩ ung dung nói:
- Chưa nghe lời ta ư? Thời kỳ
này là thời kỳ mạt pháp... Chim đã bay về núi, trời đã tối.
Anh đáp:
- Con chưa hiểu rõ. Bạch đạo
sĩ, mạt pháp nghĩa là thế nào? Phải chăng mạt pháp là người Pháp tàn mạt?
Đạo sĩ gật đầu:
- Khá khen cho con. Hiềm vì
con có chí mà thiếu tài. Nghe con nói, bần đạo vui vẻ biết mấy như giữa trưa nắng
mà uống được nước Cam lồ. Mạt pháp có nghĩa là thời kỳ giáo pháp suy đồi, đạo đức
của tiền nhân không còn được thịnh. Tại vì nhân tâm rối loạn ư? Cũng phải. Tại
vì bọn Phú Lang Sa ư? Thậm phải... Con hiểu sai nhưng mà nói đúng.
- Bạch đạo sĩ, đó là chuyện
quốc sự của kẻ còn nặng lòng trần tục.
- Nhưng ở đây chúng ta chưa
phải là tiên - Đạo sĩ nói.
Đuối lý. Anh cố suy nghĩ để
trả lời. Đạo sĩ nói tiếp:
- Thời buổi mạt pháp này
chưa có ai thành tiên hoặc gặp tiên được. Ai nói ngược lại tức là dối mình, dối
người, dối với non cao, dối với bể rộng... Muốn thành tiên thì phải dày công tu
luyện để ngày kia giữ được chức vị cao.
- Bạch đạo sĩ, công tu luyện
ấy như thế nào... chức vị ấy gọi là chi?
Đạo sĩ nói lớn:
- Gọi là chức vị “chặt đầu
Tây”. Con nghe chưa? Con nghe chưa? Xưa kia đức Nguyễn Trung Trực phá Kiên
Giang. Lúc sa cơ, Người không mảy may úy tử. Trước pháp trường, giặc khuyến dụ
trăm điều, hứa hẹn cho... ôi thôi bao nhiêu là vàng bạc, chức vị! Người cả cười,
chỉ xin thọ lãnh một chức vị: Chức nào mà Người có quyền chặt đầu tất cả bọn
Tây.
Giọng đạo sĩ như nghẹn ngào:
- Hỡi ơi! Dũng tướng đã rơi
đầu mà lời vàng ngọc nọ mãi rền vang trong lòng người, khắp non cao biển rộng...
Chặt đầu Tây! Chặt đầu Tây!
Dứt lời, đạo sĩ quay mình.
Gió thổi mạnh. Lá rừng cát núi bốc lên xoay tròn mờ mịt như khỏa dấu chân, che
dáng hình đạo sĩ. Anh Sáu Bộ tất tả chạy theo, đôi mắt chói lòa như vừa sống
trong một giấc chiêm bao mầu nhiệm:
- Sư phụ! Cúi xin sư phụ
thương con!
Giữa muôn trùng cỏ cây, anh
chỉ nghe đá núi vọng lại:
- Chặt đầu Tây! Lời ấy không
phải của ta nói. Con nghe không? Lời ấy của đất nói.
Thế là năm năm sau, chàng
trai trẻ ấy xuống núi. Tên Sáu Bộ được sửa lại là Tư Hiền, Tư Hiền chỉ mang
theo cây roi dài một thước tám, bằng cây trắc. Với cây roi ấy và đường quờn Lưu
Thủy, anh nghiễm nhiên trở thành chúa đảng Cánh Buồm Đen, hùng cứ từ mũi Cà Mau
đến hải phận Hà Tiên.
Sáng tinh sương. Như thường
lệ, Tư Hiền định cho ghe chạy dài theo mé biển. Vừa tách khỏi hòn Tre, gió nam
thổi xuôi đưa anh đi về phía hòn Sơn Rái.
Kìa, một chiếc ghe trôi lềnh
bềnh trên sóng, lá buồm sụ xuống, cột buồm đứt hết dây chằng. Lập tức, anh cập
lại đoán có người bị nạn. Trong ghe nọ chỉ có một ông lão nằm mê man bất tỉnh.
Sau khi được cạy miệng uống hớp nước lạnh, ông tỉnh lại nhìn dáo dác:
- Ông đây là ai?
Tư Hiền đáp:
- Tôi là người đi mò ngọc điệp
ở hòn Nhạn.
Ông lão nức nở:
- Ăn cướp đánh tôi. Cha con
tôi đi Rạch Giá bán tôm khô, về ngang đây bị nó chận lại giựt hết tiền, bắt
luôn con gái; hẹn ba ngày sau đem trả lại.
Tư Hiền nói:
- Nó đi hướng nào? Lâu mau rồi?
Tôi bắt tụi bất lương này đem về lập tức cho ông coi.
Tức thời buồm mũi và buồm
lái xổ ra. Tay anh xiết dây lèo thượng. Ghe phóng nhanh tới. Không mấy chút, đã
thấy một đốm đen trước mặt.
Anh thét to:
- Tụi bây coi tao!
Chiếc ghe trước vẫn giương
cánh buồm màu đen chạy ngạo nghễ, khinh thường. Anh cho ghe sát lại, nhảy qua
quơ roi đánh mạnh khiến sợi dây chằng ghe nọ phải đứt.
Buồm sụ xuống. Ghe chạy đảo
nghiêng gần chìm.
Nghe vù một tiếng. Tư Hiền vội
né mình. Biết rằng gặp tay đối thủ lợi hại, anh bình tĩnh chống đỡ. Chợt liếc
phía sau, thấy ngọn lao phóng tới, anh lách qua. Ngọn lao đâm trúng bẹ ghe,
ghim sâu vào, tên nọ lỡ trớn té xuống biển.
- Biết ta là ai chưa?
Chưa dứt lời, Tư Hiền đã gài
ngọn roi của tên còn lại xuống sạp. Hắn cố sức gỡ lên nhưng không xuể, rốt cuộc
đành quỳ xuống:
- Nói thiệt với ông, tôi là
ăn cướp biển. Lâu nay tôi từng gặp nhiều người tài giỏi nhưng chưa ai bằng ông.
Tên thiệt tôi là Năm Bùn.
Tư Hiền đáp:
- Tại sao đánh một người già
cả, nghèo hơn mình? Con gái của người ta mày giấu ở đâu? Mau trả lại. Đồ du
côn!
Năm Bùn năn nỉ:
- Trăm sự chỉ vì tôi chưa hiểu.
Cô đó tôi giấu dưới khoang hầm.
Tư Hiền rất đỗi ngạc nhiên
khi thấy nhan sắc khá lộng lẫy của cô nọ. Cô quỳ xuống lạy tạ ơn. Lập tức, anh
bèn đưa cô sang ghe mình. Sau khi nhận lời hứa tái ngộ với Năm Bùn tại hòn Đá Bạc,
anh cho thuyền trở về gặp ông lão nọ.
Đêm ấy anh ăn cơm ở rạch
Cóc, tại nhà ông lão. Nhơn bữa ăn, anh nhận thấy ông lão có ý tạ ơn mình bằng
cách gả con gái cho, nếu anh muốn. Anh viện nhiều lẽ để từ chối. Trước lòng
chân thành của gia đình, anh hứa sẽ trở về cưới, sau một thời gian hai năm.
- Kim Thoa! Đừng buồn nghe
em. Anh thề chết sống gì cũng trở lại cưới em làm vợ. Bây giờ anh phải ra đi.
Anh đi sao thì về vậy...
Từ giã xong, Tư Hiền cho ghe
tách bến, nhắm hướng hòn Đá Bạc đúng theo lời hứa với Năm Bùn.
Thấy ghe của Tư Hiền đúng hẹn,
Năm Bùn vô cùng mừng rỡ, khâm phục và ra lịnh cho bộ hạ phải nghiêm chỉnh đón
chào.
Để tỏ lòng thành thật của
mình, Tư Hiền đi hai tay không, để cây roi dưới ghe. Chào hỏi xong xuôi, anh nhờ
Năm Bùn cho bộ hạ lấy roi lên giùm mình. Lúc ăn uống, Tư Hiền ao ước được thưởng
thức võ nghệ của đảng Cánh Buồm Đen. Để đáp tạ, anh biểu diễn cho ai nấy xem một
đường roi Lưu Thủy đã học được trên núi. Lúc biểu diễn, người ở ngoài tự do ném
đá hoặc phóng dao vào thử. Ngọn roi xoay chung quanh mình anh như nước chảy
không dứt, không rời, chớp nhoáng như gió...
Kết quả là Năm Bùn sẵn sàng
giao đảng Cánh Buồm Đen lại cho Tư Hiền làm đảng trưởng. Nhờ vậy đảng được chỉnh
đốn lại.
Hằng ngày, các bộ hạ phải
luyện tập võ nghệ cho tinh thông, cấm tuyệt không được xâm phạm tài sản của người
chài lưới ở ven biển. Hai kẻ thù chánh cần đánh đổ không nương tay là đoàn tàu
“đoan” của Tây và ghe buôn lậu Hải Nam.
Từ đó về sau, nhiều tin tức
mới lạ được làm đầu để bàn tán cho dân chúng miền duyên hải Rạch Giá, Cà Mau:
- Trời ơi! Hai thằng con
trai của ông X bị ghe Hải Nam bắt, tưởng biệt tích... Ai dè mấy hôm ông Buồm
Đen giựt lại được.
- Sáng hôm qua, có cái chưn
vịt tàu của tụi “tàu cáo” để sẵn trên sân chợ. Tây hoảng hồn nhìn ra đó là cái
chưn vịt của chiếc ca nô tuần biển đi mấy bữa rày chưa về.
- Mấy ông Buồm Đen đốt ghe Hải
Nam ở hòn Nhạn. Bên này chết ba, bên kia chết trọn tàu...
Ba năm sau, có tin đảng Cánh
Buồm Đen đã rã.
Người đồn rằng: chúa đảng vì
quá giàu có nên trốn qua Xiêm. Không tán thành ý đó, kẻ khác quả quyết rằng
chính mắt mình đã thấy xác chúa đảng trôi tấp vào bãi. Tự sáu tháng nay, đảng
Cánh Buồm Đen là đảng giả mạo.
Gia đình của cô Kim Thoa khổ
tâm hơn hết. Một đêm lạnh lẽo nọ, có tiếng gõ cửa. Tư Hiền bước vào, ôm ghì lấy
người hôn thê:
- Anh phải về. Không bao giờ
anh làm nghề này nữa.
- Tây tầm nã anh phải không?
- Số là anh vừa giết oan một
người. Tụi ghe Hải Nam lên hòn để mua heo, chừng kéo neo chúng không chịu trả tiền;
anh đánh chết năm đứa. Nhưng rủi thay gặp một đứa biết võ nghệ khá cao. Anh
đánh roi xuống. Nó đứng trên bãi, đưa roi lên đỡ trúng. Ngặt anh xuống tay mạnh
quá, nó lún xuống bùn, ngã lăn trào máu miệng. Lúc hấp hối, nó ngoắc anh lại mà
nói “Tôi không phải chủ ghe. Tôi ở mướn mãn đời, giết tôi mà chi!”. Cảm động
quá, anh cúi xuống xin lỗi nó, nó khoát tay anh ra, nói tiếp: “Tôi tha lỗi thì
được. Còn vợ tôi ở Hải Nam cũng đương làm mướn. Làm sao anh xin lỗi được...”
Kim Thoa! Em nghe lời anh
nói lại chưa? Đây là lần đầu tiên trong đời mà anh đau đớn nhứt. Anh giết oan
người ta. Ngọn roi này, anh xuống tay mạnh quá, ô uế rồi. Tội nghiệp. Chết
không nhắm mắt mà ngón tay hắn còn chỉ về phía biển khơi, nơi quê vợ con. Thấy
phận người mà nhớ phận mình, anh vội về đây.
Tháng Hai năm 1946. Có tin:
Tây trở lại chiếm gần tới Rạch Giá, chúng đã nhảy dù xuống biên giới Việt Miên
gần núi Sam, Châu Đốc. Dân chúng sục sôi căm hờn tập trung lại ngọn Cái Bác để
bày mưu kế. Có đến trên ba mươi thanh niên tình nguyện đi bắt sống bọn Tây nhảy
dù ở xa cách quê nhà hằng hai trăm cây số. Họ thiết lập một bàn thờ Tổ quốc giữa
rừng, lấy củi tràm đốt thế cho trầm hương và mượn mặt bất để làm đỉnh đồng. Y
phục của họ khác nhau, nhưng giống nhau ở chất vải màu luốc luốc, chứa chấp bao
nhiêu rận. Giữa quang cảnh mộc mạc, thiêng liêng đó, người ta thấy một ông lão
râu tóc bạc phơ chống cây gậy cao khỏi đầu bước ra.
Ai nấy thầm thì:
- Ông Năm Lập thợ câu của
xóm mình!
Ông lão nọ bỗng rưng rưng nước
mắt:
- Không! Tôi không phải Năm
Lập. Tên thiệt của tôi là Sáu Bộ. Có mấy năm đó, tôi lấy danh hiệu Tư Hiền, cầm
đầu đảng Cánh Buồm Đen.
- Trời! Chúa đảng là đây
sao?
- Nói thiệt với bà con, tôi
mai danh ẩn tích. Hôm nay tôi phải ra mặt. Nếu ngồi ì ở nhà, không ai làm gì
tôi, nhưng tôi cảm thấy nhục nhã như thiếu món nợ gì đối với trời đất, núi non.
Nếu xét tôi có tội, anh em cứ giết tôi để tế cờ. Bằng không cho phép tôi truyền
lại bí quyết nhiệm màu của đường Lưu Thủy mà thầy tôi dạy tôi hồi năm mươi năm
trước. Đường quờn này ít ai biết lắm. Lúc tôi diễn, bà con cứ ném cây, phóng
dao vô mà không bao giờ trúng tôi.
Ông đứng thẳng người, hai
tay chắp cây roi lên, bái tổ rất kính cẩn. Rồi thì vút một tiếng, ngọn roi xoay
tròn che lấp thân ông như dải lụa, như nước từ trên thác tuôn xuống chấp chóa.
Đến kẻ ngỗ nghịch nhất cũng không dám ném cây vào để thí nghiệm như ông cho
phép.
Lại một cuộc bàn tán náo nhiệt,
vô trật tự:
- Học được đường quờn của ổng,
chắc Tây về nước rồi. Thời giờ cấp bách lắm!
- Đi bắt “Tây nhảy dù” chỉ cần
thanh niên lanh lẹ. Ông đi không được đâu. Để tụi tôi đốn tầm vông vạt nhọn, lẹ
hơn...
Giọng ông lão nói ngậm ngùi:
- Không lẽ tôi tự vận. Bà
con thương tôi. Nó là cây roi có chức vị “chặt đầu Tây” của sư tổ tôi truyền lại
ở núi Dài, năm đó.
- Thôi, lộn xộn quá. Ông cho
tôi cây roi này để làm cán mác thì hợp thời hơn, chặt ngắn lại vài tấc, đầu kia
tra lưỡi mác thông. Có chất sắc thêm vô, ngọn roi của ông mới xài được. Tôi biết
là hư cây roi, uổng lắm, nhưng ông chịu phiền.
- Ừ. Làm gì thì làm, miễn
dùng nó được thì thôi. Thiếu củi nấu cơm, chặt khúc nó mà chụm, lão đây cũng
không tiếc. Mấy cháu biết không? Đây là thời kỳ mạt pháp.
Đoàn quân ra đi gấp. Làm sao
họ có thì giờ để hỏi han ông về một đôi danh từ xa lạ đó? Họ tản ra bốn hướng
trời, ít người được trở về xóm cũ. Sau đó vài tháng, giặc vào đốt xóm. Ông lão
nọ chết vì không chịu tản cư, lưu lại một tình cảm lạ lùng, khó dứt khoát đối với
những ai chưa hiểu rõ hoàn cảnh đặc biệt của phần đất Cà Mau tận cùng này.
Đảng Xăm mình
Ông tây lơ pheo vừa được
"Nhà nước thuôc địa Nam kỳ" cấp cho một phần đất hoang vu, sình lầy ở
rạch Xẻo Quao, làng Đông Hưng, sát mé biển vịnh Xiêm La.
Sau khi hay tin ấy, mấy ông
điền chủ Việt Nam ở gần không ngớt bàn tán:
- Bộ thằng Tây đó muốn tán
gia bại sản sao chớ? Thứ đất khô không ra khô, ướt không ra ướt, tràm mọc vài cụm
xơ rơ... Biết chừng nào mới làm ruộng được. Cỏ mọc cao hơn đầu người.
Có người đáp lại:
- Ông Lơ Pheo không ngu dại
gì đâu, ông làm tới chức “bác vật”, ông có vốn liếng nhiều. Vài chục năm nữa, đất
hết phèn, mùa màng thạnh mậu nhờ ổng mướn người xẻ kinh, đào mương cho rút bớt
chất phèn.
- Vô lý. Vài chục năm sau,
ông Lơ Pheo chết ngắt. Biết đâu Tây rút lui về chánh quốc trước khi đất này trở
thành “đất thuộc” có huê lợi. Ông Trạng Trình tiên đoán rằng... thầy tăng trở về...
gì đó, bà con mình quên rồi sao?
Nhưng sấm Trạng Trình, năm ấy,
chưa ứng nghiệm. Coi bộ còn hơi lâu Tây mới rút về nước họ. Nhà nước Tây còn mạnh
lắm. Quan chủ quận vừa gởi trát xuống cho thầy hương quản “tuân cứ” là hôm sau
cả ban hội tề Đông Hưng mặc chỉnh tề, khăn đóng áo dài đen chầu chực đón rước vị
điền chủ mới.
Ông Lơ Pheo nói sành sỏi tiếng
Việt Nam, không cần ai làm thông ngôn. Ông không mang theo khí giới nhưng cần
gì khí giới, súng đạn, khi người ta là một tay lịch lãm, dám bỏ quê xứ để qua
thuộc địa miền nhiệt đới, khi người ta có bộ óc khá to, có cái trán sói sọi vì
quá suy tư.
Nghe trình bày những khó khăn
trong công việc làm ăn, ông Lơ Pheo mỉm cười:
- Hèn gì... ngành canh nông ở
đây kém phát triển, thua Nhựt Bổn, Miến Điện, Nam Dương. Đất nào mà không sanh
ra huê lợi. Vậy chớ mấy ông điền chủ “An Nam” ở gần đất của tôi sanh sống bằng
nghề gì?
Thầy hương quản nói:
- Dạ, họ không làm ruộng.
Ông Lơ Pheo trố mắt:
- Tại sao họ xưng là người
trồng tỉa lúa gạo. Họ khai trong giấy tờ là Ri-di-cun-tưa (Riziculteur).
Thầy hương quản gãi đầu:
- Họ sống bằng nghề nuôi cá.
- Ồ! Phọt-mi-đáp. Nuôi cá là
chuyện khác với làm ruộng. Bây giờ, thầy hương quản cứ cho tôi biết. Mỗi mùa
nuôi bao nhiêu... con cá? Loại cá gì? Cho cá ăn mồi gì? Làm sao có đủ thức ăn
cho cá lớn? Lúc cá đẻ, phải săn sóc cá mẹ cá con ra sao? Mỗi ngày, cá ăn mấy lần?
Mỗi năm, bán được bao nhiêu tiền?...
Thầy hương quản nói tóm tắt:
- Dạ, theo chỗ tôi biết thì
mỗi người chủ đều bán ra vài chục ngàn kí lô cá. Đó là cá lóc, cá trê, cá rô do
trời sanh, trời dưỡng. Từ hồi... tạo thiên lập địa, cá kiếm ăn một mình. Mình cứ
ở không, uống rượu mà chờ mùa nắng để bắt cá một lần. Gọi tắt là mấy ông điền
chủ “An Nam” đắp vuông nuôi cá. Nuôi cá trong cái “vuông”.
- Vuông là cái gì? Sao tôi
chưa nghe sách vở nói tới. Cái hình bốn góc bằng nhau. Làm sao cá ở trong đó?
Thật vô cùng bối rối cho thầy
hương quản. Làm sao giải thích rõ ràng cho ông Tây thuộc địa nghe được. Thầy ngỏ
ý muốn đưa ông Lơ Pheo ra ngoài vuông để ông ta quan sát tận nơi. Trời nắng
chang chang, đổ sao. Ông Lơ Pheo lắc đầu, nghĩ đến những vụ ám sát, bắt cóc.
Phía chân trời, dường như có một dãy rừng chạy dài.
Rốt cuộc, thầy hương quản
nói:
- Dạ, đó là một khoảng đất rộng
từ bảy chục - tám chục hoặc hai ba trăm mẫu. Trong khoảng đất hoang vu, người
ta đào nhiều đường mương nhỏ, như bàn cờ, cho cá ở. Bên ngoài, có bờ bao ngạn
như vòng thành khá cao. Cao hơn một thước tây. Vì vậy cá lội quanh quẩn trong
vùng đất bao la bên trong. Làm sao cá nhảy ra khỏi bờ bao ngạn được. Cái vuông ấy
không nhứt thiết theo hình vuông. Nó méo mó, hoặc theo hình chữ nhựt.
Ông Lơ Pheo thích chí:
- Tôi hiểu rồi. Giỏi quá!
Nhưng mà... làm sao gom cá lại một chỗ, bắt cá đem lên. Chẳng lẽ dùng máy bơm để
hút nước ra ngoài. Muốn bắt cá, phải tốn bao nhiêu nhân công?
- Dạ bẩm, quan lớn... Qua
mùa hạn bao nhiêu cá đều rút xuống mương, tự nhiên. Chừng mương cạn thì cá rút
lui từ từ, dẫn vào một cái đìa khá to, ở sát bờ bao ngạn. Mình cất nhà ở bên
cái đìa đó, để coi chừng kẻ trộm. Cứ tát đìa. Cá lớn thì bán. Cá nhỏ thì để
dành làm giống cho mùa tới.
Ông Lơ Pheo gật đầu lia lịa,
khoát tay ra dấu nhận lời thầy hương quản. Chẳng lẽ người Pháp lại thua trí người
nông phu “An Nam”? Ông ta nói nhanh:
- Tôi hiểu rồi. Mấy người
nuôi cá theo kiểu... cái Biển Hồ trên xứ Cao Miên. Mùa mưa cá lên rừng, lên ruộng,
sanh đẻ trong đồng cỏ. Mùa nắng, cá gom xuống ao hồ. Tôi làm bài toán rồi. Mỗi
năm, một con cá mẹ sanh ra chừng mười ngàn cá con, hay quá.
- Như vậy nghĩa là quan lớn
thấy xa hiểu rộng hơn tôi nhiều. Sáng mai, tôi dẫn quan lớn đi thăm mấy cái ruộng
của điền chủ “bổn xứ”, gần đây...
- Cám ơn. Tôi đắp một cái ruộng,
lớn bằng hai, bằng ba... cho điền chủ An Nam noi theo. Ờ, tại sao mấy người điền
chủ ở đây không làm giàu. Cá nuôi không cần mồi. Tiền bạc ở đâu? Tại sao không
ai cất nhà lầu, mua tàu bè, lập nhà máy xay lúa. Tại sao ông chủ ruộng nào cũng
nghèo xơ xác?
Thầy hương quản mỉm cười, bí
mật. Thầy ta cũng là một người chủ vuông, luôn cả những người trong ban hương
chức hội tề:
- Thưa ông, khó nói quá.
- Sao vậy? Tại vì mấy người
chủ vuông hút á phiện, mê cờ bạc?
- Dạ, khó nói quá.
Ông Lơ Pheo lấy làm hài lòng
khi ông đích thân đến quan sát vùng đất, ông phác họa kế hoạch tương lai.
Này, cái bản đồ với bốn góc
A,B,C,D có thể chứa hàng triệu con cá.
Này, cái trại vuông, lợp bằng
thiếc, nền lát gạch, vách ván, có cửa sổ che lưới sắt mịn để ngừa loại muỗi đòn
xóc gây bịnh rét rừng.
Này, cái phòng khách. Bên
góc, có bình lọc nước, thư viện nghiên cứu. Và trước sân là một cái hồ nhỏ, cẩn
xi măng để nuôi thử vài loại cá lóc, cá trê. Mấy loại này sẽ lai giống, gây ra
vài thứ cá mau lớn, dễ nuôi hơn, ăn ngon hơn.
Ngày đắp xong cái vuông, ông
khen thưởng bọn “cu li” một con heo quay.
Rồi suốt ngày, ông nằm trong
trại, theo dõi tình hình nuôi cá.
Vài người đàn ông đen đúa, ở
trần, tóc dài tới ót đi qua đi lại gần trại nuôi cá của ông Lơ Pheo.
Họ chào ông, ông chào họ. Họ
tự xưng là người “làm ăn lương thiện” ở ngoài mé biển. Họ hút điếu thuốc của
ông Lơ Pheo thân tặng rồi họ nheo mắt, khều nhau.
Họ nói nói cười cười như âm
mưu chuyện gì.
Ông Lơ Pheo cau mày, linh
tính như báo trước chuyện bất an. Ngực của mấy kẻ “làm ăn lương thiện” ấy xăm đầy
chữ Tàu, chữ quốc ngữ, luôn cả chữ Pháp. Bí mật quá.
Chờ khi họ khuất dạng, ông
Lơ Pheo đến nhà hương quản:
- Mấy người ở đâu vậy? Tên họ
gì? Có đóng giấy thuế thân không? Hay là dân... bất lương?
Thầy hương quản nói
- Họ ở ngoài mé biển, làm
nghề câu cua, đốn củi, gài bẫy chim. Mấy nghề đó, nhà nước Lang Sa đâu cấm
đoán. Còn về giấy thuế thân thì... khó quá. Tôi chưa dám hỏi thử vì làm vậy sợ
mất cảm tình. Để tôi hỏi thầy xã trưởng xem thử họ có ghi tên trong bộ sổ
không.
Ông Lơ Pheo lắc đầu:
- Họ còn làm gì khác không?
Coi bộ họ rảnh rang hơn tôi. À, họ biết chữ Tây không?
- Dạ, làm sao biết được. Ở
làng này, chẳng ai biết chữ Tây hết!
- Nè, thầy hương quản. Họ
xăm mấy chữ Pháp quá vô phép: “Plutôt la mort que la honte” (Thà chết hơn chịu
nhục). Họ lại ở trần cho tôi đọc.
Thầy hương quản hơi bối rối:
- Họ xăm mình từ hồi nào lận
kìa! Vả lại, chữ nho cũng vậy “Ninh thọ tử bất ninh thọ nhục”. Đã xăm vào da
vào thịt rồi thì làm sao bôi xóa được. Chữ Tây mà. Chữ Tây ngụ nhiều ý nghĩa
quá.
Ông Lơ Pheo lẩm bẩm:
- Câu đó để dành cho người
Pháp bên chánh quốc. Hoặc cho tôi. Ở xứ Nam Kỳ này, không nên nhắc lại câu đó,
sợ dân tình bắt chước. Ngoài mé biển, còn chừng bao nhiêu người sống lang thang
rảnh rỗi như vậy?
- Dạ, để tôi hỏi thầy phó
hương quản. Phó hương quản lo trị dân ngoài đó.
- Phó hương quản là người
nào? Mặt mày ra sao? Kêu lại cho tôi biết mặt.
Thầy hương quản im lặng. Người
xăm mình, xăm mấy chữ ngạo nghễ khi nãy chính là phó hương quản chớ còn ai đâu
xa lạ. Thầy che giấu:
- Dạ, phó hương quản giờ này
đi câu cua ngoài biển.
- Dân ngoài mé biển hiền hậu
không? Uống rượu nhiều không? Họ uống rượu với... thịt chó hả? Ở vùng đồng bằng
sông Hồng...
Thầy hương quản gật đầu để
chấm dứt câu chuyện rắc rối:
- Dạ, uống rượu với thịt
chó.
Rồi thầy ra về với nụ cười
bí mật. Sự thật là dân miền biển ưa nhậu rượu với cá, loại cá nước ngọt, nuôi
trong vuông. Cá đồng ngon hơn loại cá biển. Nay mai, đến mùa nước cạn, họ sẽ nhậu
với cá trong vuông của ông Lơ Pheo và ăn trộm cá để mua rượu. Họ ăn cá, thay
cho cơm.
Ông Lơ Pheo vào trại, tỏ
thái độ cương quyết. Ông vừa thắng một trận giặc lòng. Lương tâm ông chẳng còn
cắn rứt nữa. Ông quyết tâm vượt những khó khăn đầu tiên mà cuộc kinh doanh nào
cũng vấp phải. Kế hoạch đối phó của ông như thế này: Về chợ Rạch Giá, tìm một
tay võ sĩ, đánh lộn hay, chém lộn giỏi, rồi phong cho hắn làm chức quản lý
vuông cá. Ấy là lấy độc trị độc. Mỗi tháng, cứ tăng lương đều đều cho hắn.
Mấy tháng qua, Tư Liệt lấy
làm vui thích. Với trách nhiệm to tát, chú Tư còn được nhiều quyền hạn khá rộng
do ông Lơ Pheo giao cho.
Sáng sớm, vừa thức giấc là
chú Tư Liệt dạo vòng quanh bờ ruộng, đi hơn một tiếng đồng hồ mới giáp bốn phía
bờ bao ngạn.
Chẳng có kẻ bất lương nào ẩn
náu trong vùng cấm địa cả! Ông Lơ Pheo đã la hoảng, vậy thôi.
Trong vuông, chú Tư Liệt thấy
nào chim, cò, trích, cúm núm. Hàng trăm con le le bay lên từng chặp, từ mấy cái
lung đầy sen bạch, nở muộn. Gió chướng thổi hiu hiu. Mấy giề rong đuôi chồn tan
rã, chìm xuống. Mặt nước lềnh bềnh, đầy bông súng.
Mấy tấm bảng “Vuông này là của
riêng của ông Lơ Pheo”. “Cá có chủ! Coi chừng! Nếu trộm cắp sẽ bị nghiêm trị” đứng
trơ trẽn, lạnh lùng trước cơn gió biển. Thỉnh thoảng, vài con cò quắm đáp xuống,
đậu thử trên đầu bảng. Nhưng chặp sau, vì tấm bảng quá mỏng, nên cò quắm đau
chân. Cò vỗ cánh, phóng uế, bay về phía rừng mắm xanh rì để đậu. Cành mắm tròn,
đậu êm ngón chân hơn.
Tư Liệt ngáp dài, trở về trại,
uống viên ký ninh, đúng theo lời căn dặn của ông Lơ Pheo, và uống với nước lọc,
những giọt nước mát lạnh nhểu xuống từ cái “phít” bằng đất sét trắng. Buổi cơm
chiều, chú ăn chậm rãi. Nhà đóng kín, muỗi không lọt vào được. Ông Lơ Pheo đã về
Sài Gòn từ tháng trước. Tư Liệt nghiễm nhiên trở thành chủ nhà, chủ vuông cá.
Còn năm ngày nữa, ông Lơ Pheo mới trở lại Xẻo Quao này.
Chú nằm trên giường lắng
tai.
Bên ngoài có những tiếng động
lạ thường.
Trong cái đìa sau trại, cá
quậy nước nghe ầm ầm. Hàng ngàn con cá to đã gom vào đó. Im một chặp, lại nghe
tiếng “chép chép”, “lụp bụp”, “lào xào”... cứ như thế, mỗi lúc một náo nhiệt.
Chú xách cây đèn “pin”, chạy
ra ngoài, rọi xuống đìa. Nước đục ngầu pha trộn với bùn đen. Hằng hà sa số cá
lóc, cá trê cố vùng vẫy, toan lội trở ngược. Chú dạo một vòng, chung quanh bờ
vuông. Cá gom xuống mương rồi. Cá muốn lội trở ngược lên đất khô. Rốt cuộc, cá
rớt xuống mương, lội dài theo dòng nước đục, gom vào cái đìa lớn.
Chú rọi đèn “pin”... Vài con
cá chóa mắt, nhảy dựng đứng để trốn ra ngoài bờ bao ngạn khá cao. “Cá ở đâu mà
nhiều quá vậy?” Tư Liệt hỏi thầm.
Sau cuộc tuần tra ấy, Tư Liệt
vào nhà mừng thầm vì nay mai ông Lơ Pheo sẽ hài lòng.
Hừng sáng, chú thức dậy sớm,
dạo một vòng trên bờ vuông. Đàng kia, đôi ba người lực lưỡng đưa tay ngoắt chú.
Bên cạnh họ, đống lửa cháy vàng lườm. Khói bay cuồn cuộn, đưa mùi cá nướng thơm
phức. Thấy họ đông đảo và mạnh khỏe hơn mình, Tư Liệt dừng lại. Có tiếng kêu
réo:
- Lại đây nhậu chơi nè. Chẳng
lẽ ba người ráp đánh một người. Anh hùng một thứ với nhau mà.
Tư Liệt cười gượng, đến gần.
Ô hô! Nãy giờ, và có lẽ từ mấy ngày trước, họ ăn hằng hai ba chục con cá lóc,
cá trê, bỏ xương bỏ thịt một đống to. Dường như chưa thỏa mãn, họ đang chuẩn bị
cặp vào gắp tre chừng mười con cá trê mà nướng tiếp theo.
- Lại đây đại ca. Uống một hớp
cho tỉnh táo để thính lỗ tai, nghe tụi tôi hạch tội.
Tư Liệt ngạc nhiên:
- Hổm rày, tôi đã làm gì khiến
bà con hờn giận?
Một người trong bọn nói:
- Hồi tối, đại ca đi đâu. Rọi
đèn “pin” để rình bắt tụi tôi hả? Rình ban ngày chưa đủ sao? Lại đây ăn no rồi
kéo tay sơ sơ coi ai mạnh, ai yếu? Nè! Cá lóc Xẻo Quao ngon lắm, ngốn một miếng
cho biết mùi. Ăn lớn miếng mới biết ngon.
Cực chẳng đã, Tư Liệt phải
ăn và uống. Bọn người cười vang:
- Cha nội này tiếc của giùm
cho ông Lơ Pheo. Cá này là cá của mình mà. Tại sao đại ca lại trung thành “bất
tử” với ổng?
Tư Liệt hỏi nhanh:
- Cá ở đâu vậy?
- Ở trong vuông trốn ra chớ ở
đâu?
- Nó đào hang, đào ngách. Đất
mềm lắm. Kìa! Thí dụ như mấy bụi sen bạch này. Nó mọc phía ngoài nhưng nó trổ
ngó, mọc thêm vài bụi phía trong vuông của ông Lơ Pheo. Hai bụi sen dính liền với
nhau. Thử đào đất lên thì biết. Lời tục thường ví: “Đất có con mắt”.
Hôm sau, ông Lơ Pheo từ Sài
Gòn về Xẻo Quao để... bán cá. Ông hơi buồn phiền vì Tư Liệt cứ vắng mặt. Chỉ
còn người bạn tâm giao của ông ta là thầy hương quản.
Thầy hương quản nói:
- Xứ này, khó làm giàu lắm.
Bởi vậy, mấy ông điền chủ Xẻo Quao chỉ lo nhậu rượu rồi làm hương chức hội tề
cho vui. Làm sao phân biệt cái hang tự nhiên với cái hang của tụi nó đào. Tôi
biết. Gây gổ với tụi nó vô ích.
Ông Lơ Pheo nói, giọng chán
ngán:
- Chắc thằng Tư Liệt theo đảng
xăm mình rồi. Còn thầy có xăm mình không?
Thầy hương quản mỉm cười:
- Ôi thôi. Cá nước chim trời
mà.
Đóng gông ồng thầy quít
Ở đâu
động dao, động thớt là có ông thầy Quít tới. Rượu uống ngà ngà, ông vỗ ngực,
xăn tay áo mà nói trong buổi tiệc:
- Bà con ở đây không
ai biết phát cỏ cho ra hồn, tôi chắc như vậy.
Có người bực tức, hỏi:
- Ra hồn nghĩa là sao?
Anh em tụi tôi đây cứ phát đều đều mỗi ngày một công. Sao Mai mọc, đâm mây
ngang là ra ruộng. Mặt trời lên hai sào, tụi tôi xong việc vô nhà nằm nghỉ.
Thầy Quít nhướng mắt:
- Tôi phát ba công
trong khoảng thời gian đó. Phát lẹ bằng ba lần. Đó là buổi tôi làm biếng. Nếu
siêng thì mỗi ngày tôi phát sáu công liên tiếp, không cần ăn cơm trưa.
- Thiệt hay chơi đó? -
Có người hỏi.
Ông đáp:
- Nói dóc làm gì? Tôi
còn ở xóm này chơi vài tháng nữa. Anh em hồ nghi, tội nghiệp tôi. Không lẽ già
rồi mà tôi còn mang tật nói dóc, để tiếng xấu cho đời sau.
- Chúng tôi nào dám.
Chỉ e đó là chuyện hồi ông còn trẻ. Bây giờ sức ông yếu nhiều rồi.
Thầy Quít dịu giọng:
- Hồi trai trẻ, trái
lại tôi phát cỏ chậm hơn lúc về già như bây giờ. Hồi đó là tay ngang, bây giờ
tôi là kẻ đắc đạo. Phát cỏ là một thứ đạo ích lợi cho sanh linh, nòi giống. Đạo
là phép mầu nhiệm. Chẳng hay bà con mình muốn học không?
Ai nấy trố mắt, nhìn
nhau. Hồi nào tới giờ nghe nói đạo Phật, đạo Lão, Khổng, Mạnh... chớ nào ai
nghe “đạo phát cỏ”. Bấy lâu, xóm này và các xóm kề cận đều phát cỏ theo cách
của ông bà truyền lại. Nghĩa là chém cho cây phảng chạy dài dưới nước; phảng
chạy tới đâu, cỏ đứt tới đó. Cùng lúc ấy, tay trái quơ cù nèo, gạt mớ cỏ bị hạ
qua một bên cho trống trải mặt nước. Rồi thì bước tới, giở ngọn phảng lên, chém
xuống phát phảng thứ hai... Cứ như vậy đến lúc không còn cụm cỏ nào trong công
đất... Nghĩ cũng nặng nhọc, phí sức; đàn bà ít ai phát cỏ nổi. Mặc dầu phát
rồi, về trước giờ Ngọ nhưng ai nấy mệt nhoài, mình mẩy rêm nhức, có người uống
rượu thuốc để lấy sức ngày mai... Hôm nay nghe thầy Quít bàn tới đạo phát cỏ,
xem phát cỏ như một phép mầu nhiệm, ai lại không mừng? Họ mừng nhưng còn nghi
ngờ, e nãy giờ thầy nói quá lời, vì quá chén.
Nhưng càng uống
rượu, thầy Quít càng tỉnh táo. Thầy nói:
- Ai muốn thọ giáo?
Tôi sẵn sàng làm công việc lợi ích đó giúp bà con. Tôi nào thọ tiền bạc nhiều.
Chỉ cần một con gà giò để cúng tổ. Vậy thôi.
Một con gà đáng giá là
bao, nhà nào mà không nuôi sẵn! Ai nấy mừng rỡ, thấy trước mặt một viễn cảnh vô
cùng tốt đẹp: bao nhiêu đất hoang của rạch Thuồng Luồng sẽ biến thành biển lúa
vàng trong ngày rất gần. Mỗi mùa, thay vì dành ba chục ngày để phát cỏ, giờ đây
nhờ phép mầu của thầy Quít, họ chỉ cần ra sức bốn năm ngày là xong chuyện. Mấy
mươi ngày còn lại, họ tha hồ đờn ca vọng cổ, hoặc đá cá lia thia. Ai siêng thì
cứ phát thêm, phát mau lẹ hằng trăm công. Chị em phụ nữ tha hồ mà cấy, mà hò
hát huê tình, đối đáp. Chốn thần tiên âu cũng là chốn này!
Nhìn vẻ mặt vui tươi
của mọi người, thầy Quít cũng vui lây. Vốn từng ngao du, giao thiệp nhiều nơi,
thầy khá rành về tâm lý để thu phục nhân tâm.
- Ngày mai này, tôi
đích thân ra ruộng phát cỏ cho anh em coi thử. Anh em cứ chọn người nào phát
giỏi nhứt ở đây để thi tài với tôi. Tôi chấp họ phát trước tôi nửa công; tôi
phát sau nhưng nhứt định rồi trước.
Thầy Quít làm đúng
điều đã nói. Xóm giềng không ngớt tán tụng:
- Giỏi quá. Hôm qua,
ổng phát một công đất không đầy một giờ đồng hồ.
- Rõ ràng thầy Quít có
phép mầu “chém hai dao tầm rưỡi có dư” như lời tục thường nói. Thầy hạ ngọn
phảng xuống một cái, tức thì một vùng đất trên hai thước rưỡi bề dài phải sạch
sành sanh, cỏ ngã liệt.
Xóm Thuồng Luồng vốn
hâm mộ nhân tài. Họ mời thầy Quít về nhà ngủ trên ván gõ, trải chiếu bông đàng
hoàng. Nội một buổi chiều, hơn một chục người đến kính cẩn xin thọ giáo.
Thầy nói:
- Tôi có tội lớn đối
với tổ, tôi phụ lòng anh em nhiều quá. Số là xưa kia, thầy tôi lúc lâm chung
trối lại: con đừng truyền nghề mà làm sanh kế. Như vậy lần hồi con trở thành
người lười biếng khác chi lũ người xôi thịt. Con thương thầy thì ra sức phát cỏ
mướn như mọi người. Ngồi không... sanh bất thiện.
Người nghe bèn thở
dài:
- Như vậy làm sao
chúng tôi học được? Anh em muốn ông nán lại chơi vài tháng. Khoảng thời gian
đó, tiền bạc đâu để ông hút thuốc ăn trầu? Làm thế nào giúp ông được bây giờ?
Sau giây phút trầm
ngâm, thầy Quít đáp:
- Nhờ anh em cho tôi
lãnh trước chút ít tiền, mai mốt tôi phát cỏ trừ lại. Như vậy tôi ở đây mãn
mùa, sớm chiều ra ruộng làm lụng với anh em cho vui; luôn tiện giúp anh em vài
bí mật trong... Đạo. Còn việc truyền phép, tôi hứa chọn một đệ tử trong đám
thanh niên trai tráng trong xóm này. Cần nhất là cậu trai đó phải thành tâm,
trì chí để chịu đựng một cuộc thử thách lâu dài. Thánh nhơn gọi như vậy là “tử
công phu”, thứ công phu khó nhọc khiến cho con người bạc tóc, nhăn trán...
Bà con cho thầy Quít
lãnh trước tiền phát cỏ. Người này nhờ thầy phát giùm bốn công, người kia ba
công, người nọ năm công... Nhờ vậy, thầy thủ được món tiền ăn xài dư dả.
Thằng Liệu lấy làm hân
hạnh được thầy chọn làm đệ tử. Nó thức suốt đêm, mừng không ngủ được. Hôm sau
thầy Quít gọi nó ra trại ruộng giữa đồng, ở chung với thầy. Đoán trước nỗi ngạc
nhiên của nó. Thầy nói:
- Mình phải xa lánh
mới được. Ở chốn đông người. Đạo bị hoen ố vì lắm kẻ tò mò.
Cứ buổi sáng, thằng
Liệu nấu nước pha trà. Trưa lại, nấu cơm mua rượu về cho thầy. Nó làm tất cả
những công việc đó với tấm lòng thành kính, còn hơn đối với cha mẹ ruột. Suốt
ngày ngoài việc ăn uống, thầy Quít nằm lim dim đôi mắt, nửa thức, nửa ngủ... Ban
đêm, thầy bảo nó đốt nhang cắm bốn phía trại. Thỉnh thoảng, thầy trở vào xóm.
Ấy là lúc ai cũng mừng rỡ đặt thêm tiền để thầy phát cỏ cho. Về trại ruộng,
thầy mang theo nào gà, nào rượu và một túi tiền khá đầy.
Trong xóm, vài người
tò mò. Ban đêm, họ lội bì bõm ra trại nhưng không dám lại gần, e thầy biết mà
có tội. Họ thấy... bốn ngọn đèn cầy xanh lè. Trong bóng tối, ghê rợn làm sao!
Thấp thoáng, bóng dáng thầy Quít và thằng Liệu đi qua đi lại, co chân co tay,
quơ tới quơ lui, nhảy nhót bên tả bên hữu. Dường như cả hai đều ở trần. Gió
thổi từng cơn hù hù qua đồng cỏ. Lưng thằng Liệu ướt loang loáng, phải chăng vì
quá tập dượt mà tháo mồ hôi? Lâu lâu thầy Quít ngồi xuống. Người đi xem ngoài
này lắm khi thấy lạnh xương sống vì mấy ngọn đèn xanh lè bên trong kia vụt tắt
hết... Rồi cháy lại hai ngọn, ba ngọn, bốn ngọn... Rồi tắt bớt một ngọn. Đột
nhiên, cánh liếp che kín lại. Bên trong nổi lên tiếng sắt đá chạm nhau rổn
rảng, khi thưa khi nhặt, rít lên trầm xuống. Như tiếng thợ rèn đập sắt, như
tiếng mài dao của anh đồ tể sửa soạn thọc huyết heo.
Đèn trong trại ruộng
lần lần tắt hết. Ngoài này, họ lủi thủi bước về, chân không dám lội mạnh, e
thầy Quít nghe được. Họ rủ nhau đi rình như vậy một ngày, hai ngày, ba ngày...
Riết rồi sanh chán, nhứt là khi mưa dầm, đường về trơn như thoa mỡ, gió lạnh
buốt xương.
Cỡ này, rằm tháng Sáu
rồi! Lệ thường, mọi năm khi thầy Quít chưa đến truyền phép... phát cỏ mầu
nhiệm, họ đã dọn cỏ xong xuôi, có đâu như năm nay khắp đó đây cỏ dại còn tha hồ
vươn lên dài bịt khỏi đầu người, phải dùng tay mà rẽ để tìm lối đi vất vả.
- Chừng nào mới dọn
đất để cấy?
Mỗi người đều tự hỏi
như thế và mỗi người đều tự trả lời:
- Phải nhờ thầy Quít.
Thầy ra tay một vài buổi là xong. Mình đã đặt cọc tiền cho thầy rồi mà.
Nhưng họ cảm thấy
không được yên tâm! Thầy Quít đâu phải lãnh tiền trước của một đôi người. Khắp
xóm Thuồng Luồng, lai rai đâu cũng có thân chủ của thầy. Từ bây giờ đến cuối
tháng, hơn mười ngày nữa, liệu thầy có phát xong... trên trăm công đất! Họ ra
tận trại ruộng, xin yết kiến thầy để tỏ bày nỗi thắc mắc đó. Thầy vươn vai, đáp
một cách tỉnh táo:
- Ôi! Bà con hơi đâu
mà lo xa! Bà con nhắc nhở tôi như vậy thậy là chí lý. Ngặt hổm rày tôi cầu tổ
chưa được. Một khi tổ về nhập vào xác tôi, bà con phải biết: tôi phát cỏ như
người lên đồng, lên bóng, phát tối ngày không mỏi. Hai ba đêm rồi, tôi “đi
thiếp” xin tổ về gấp. Tổ chưa về, chỉ có vậy thôi!
Chủ tọa tối cao là
thầy phó hương quản. Nhà ông hương ấp bỗng trở thành nơi nhóm họp, xử một vụ án
quan trọng.
Tiên cáo là hầu hết
dân chúng rạch Thuồng Luồng.
Chánh phạm là thầy
Quít. Nhưng khiếm diện, vì đã bôn tẩu trong đêm tối.
Thằng Liệu - đồ đệ của
thầy - bị khép vào tội đồng lõa. Nó quỳ xuống lạy, khóc sướt mướt, kêu oan. Nhờ
sự can thiệp của mấy ông kỳ lão nên nó khỏi bị tát tai, đấm đá. Chập sau, thầy
phó hương quản mở trói cho nó. Nó khai đại khái như sau:
- Ổng cuốn gói hồi
nào, tôi không hay. Chừng sáng ra thức dậy mới biết.
Thầy phó hương quản
cười:
- Phải hay trước thì
mày đã cuốn gói theo ổng luôn rồi. Ổng có chia tiền cho mày xài không?
- Dạ không. Mấy lần
mua gà vịt về, ổng với tui ăn chung, nhưng mà gan, mề, đùi, ổng hưởng hết...
Còn bụng gà, xương cẳng... về phần tui.
- Ổng dạy mày phép gì?
- Dạ thì ban đầu cắt
cổ gà để cúng tổ. Ổng nói: “coi máu gà phun ra kìa! Mai chiều, nếu mày đem sự
bí mật trong nghề mà nói lại với người khác thì ngọn phảng ăn vô chưn mày, máu
phun ra như vậy đó”. Năm ba bữa sau, ổng lấy thước tây đo dưới đất, vuông vức
mỗi cạnh là một thước. Bốn góc hình vuông đó, ổng thắp bốn ngọn đèn cầy. Ban
đêm, đốt đèn lên, ông đưa cho tôi một cây sậy dài chừng chín tấc mà nói: mày
cầm cây sậy mà quơ mạnh, như cầm phảng cắt cỏ. Phải làm sao khi quơ một cái thì
hơi gió khiến bốn cây đèn tắt một lượt.
Thằng Liệu nói tiếp:
- Thầy nói mỗi công
ruộng là một ngàn thước vuông, mình tập mỗi lát dao chém trọn một thước vuông.
Vài bữa sau, thầy khen tôi rồi dạy mấy câu thiệu sau đây: Tấn bộ chữ đinh. Tay
vươn cánh ó. Chưn trái đá gió. Linh kiếm hạ liền... Còn dài lắm, phần sau chưa
dạy là thầy trốn.
Thầy phó hương quản vỗ
bàn:
- Cây phảng mà kêu
bằng linh kiếm. Thằng này gan thiệt. Nó muốn làm giặc sao chớ? Ngoài chuyện
phát cỏ nó còn nói chuyện khác không? Mày khai gian tao đóng gông mày bây giờ.
Đủ bằng chứng rồi! Bắt được ổng tao cũng đóng gông luôn.
Thằng Liệu ấp úng:
- Cách đây vài
ngày, thẩy khoe với tôi rằng “Sư tổ” hồi xưa phát cỏ giỏi lắm, truyền tới thầy
đây là bốn đời. Đạo lần lần bị ố. Thầy phát chơi một buổi chớ không bao giờ
phát từ ngày này qua ngày kia, nhiều và lẹ như vậy được. Sự tích hồi xưa, người
Mông Cổ xâm chiếm nước Tàu...
- Lập nhà Nguyên.
Phải! Thầy Quít nói gì mà người Mông Cổ? Lạ quá!
- Thầy nói người Mông
Cổ hồi còn nghèo, lang thang trên yên ngựa thì siêng năng, mạnh khỏe. Đến chừng
chiếm được cung điện nước Tàu, họ ăn no ngồi một chỗ, mặc áo gấm. Việc cầm cung
lên ngựa, họ xao lãng nên trở thành bạc nhược, gân cốt không còn dẻo dai. Tới
sau, họ bị Châu Hồng Võ đánh bại. Phép phát cỏ như vậy đó. Khi xưa người dân
phá rừng mở nước, họ làm lụng suốt ngày quên ăn cơm, cứ mỗi cây phảng nặng một
yến. Bây giờ chỉ phát một buổi mà cây phảng sụt xuống còn năm cân mà lắm người
than mệt?! Người dạy đạo phát cỏ thì lo tiền bạc rượu thịt. Nghề làm ruộng lần
lần bị cạnh tranh: nhiều người nông phu tay cầm phảng nhưng trong bụng nghĩ tới
việc ra chốn thiềng thị, tìm phương kế khác làm ăn có lợi hơn.
Thằng Liệu nhìn mọi
người, thở dài rồi nói tiếp:
- Tối hôm qua thầy
Quít nhắc chuyện Mông Cổ thêm một lần nữa rồi thẩy khóc thút thít với tôi:
“Liệu à, mày đừng bắt chước tao! Tao là đứa làm biếng sau chót hết, mày phải
ráng sức giữ lấy nghề nông”.
Phiên nhóm trở nên yên
lặng. Phải chăng là cơn oán hận đối với thầy Quít đã lần lần dịu xuống? Ai nấy
nhìn nhau, hút thuốc rồi cười lạt, đành tha thứ, rút lui về nhà.
Nhưng ngày qua tháng
lại! Những năm sau - năm 1930, lúa sụt giá còn một cắc một giạ - người nông phu
phải trì chí lắm mới cầm nổi cây phảng mà ra ruộng phát cỏ. Họ đâm ra thương
nhớ bao nhiêu lời nói và tội lỗi của thầy Quít, hồi năm trước. Thương nhớ,
thương nhớ một cách lạ lùng!
Đồng thanh tương ứng
Xóm Tà Lốc nằm trơ vơ gần
khu rừng tràm, trên khoảnh đất hoang dài gần năm mươi cây số ngàn, giữa chợ Rạch
Giá và Hà Tiên, theo vịnh Xiêm La.
Thời Pháp thuộc, dân chúng
xóm ấy sống biệt lập: bắt cá, đốn củi đủ ăn ngày nào hay ngày ấy. Nếu cần mua sắm
vài vật dụng cần thiết, họ ngồi tại nhà mà chờ đợi một chú Huê kiều. Chú ta quảy
gánh gióng, bán nào kim chỉ, lưỡi búa, đường thẻ, thuốc rê. Đặc biệt nhứt là loại
kéo tàu, rèn tại chợ Rạch Giá. Ai không tin thì cứ mua thử một cây kéo đó, để
dành trong rổ may. Kéo sống dai hơn kiếp người, và từ thuở cô gái mới về nhà chồng,
đến khi có con có cháu, chết vô hòm mà kéo vẫn chưa lụt - nếu cây kéo không bị
đánh mất.
Cách vài ngày, chú Huê kiều
đi qua xóm một lần. Tuy chú ta bán hàng với giá đập đổ, dân trong xóm Tà Lốc chẳng
ai than phiền. Thuở ấy, đường giao thông dường như không có. Chú ta đi bộ suốt
hai mươi cây số, qua vùng đất phèn đầy muỗi mòng rắn rít và đầy kẻ lương thiện
- những kẻ lương thiện nhưng nổi máu bất lương từng chập. Lắm khi, chú Huê kiều
bị “gãy gánh” giữa đường thương mãi: hàng hóa và tài sản bị tịch thâu, thân xác
chú ta còn chịu thêm trận đòn nhừ tử, kêu trời thì không thấu, kêu làng lính ở
tận đâu đâu. Thà là nhịn nhục để ngày mai tiếp tục hành nghề. Dân trong xóm lần
hồi thương mến chú Huê kiều. Khi đi qua xóm, chú ta rao hàng nghe lơ lớ, não ruột:
- Kéo tàu! Ké...éo tàu!
Trẻ con bu lại, cười giỡn.
Chú Huê kiều sẵn sàng cho mỗi đứa một cục kẹo nhỏ rồi rảo bước, để lại giọng
rao:
- Kéo tàu! Ké...éo tàu!
Nhưng ánh sáng văn minh lần
lần soi rọi bên hè xóm Tà Lốc. Vào những năm kinh tế khủng hoảng, chính phủ thuộc
địa đã cố gắng biểu dương uy thế bằng cách cho xáng múc, đào con kinh thẳng tắp
dọc theo duyên hải vịnh Xiêm La, nối liền chợ Rạch Giá lên chợ Hà Tiên, phía bắc.
Lần hồi, khi đào xong xuôi.
Lịnh của quan chánh tham biện chủ tỉnh truyền ra, quan chủ quận liền “chạy thơ”
về làng, làng “chạy trát” xuống ấp Tà Lốc.
Đại ý như sau:
“Trát cho hương ấp Tà Lốc
tuân cứ: Tới ngày... tháng... năm... nhà nước làm lễ ăn khánh thành con kinh quản
hạt Rạch Giá - Hà Tiên. Quan Toàn quyền Đông Pháp đích thân đi trên tàu, theo
con kinh này.
“Lần đầu tiên, con dân ấp Tà
Lốc được đón rước trọng thể quan Toàn quyền Đông Pháp đại thần. Vậy đúng hừng
đông nói trên, dân đinh trong ấp phải tề tựu ngay bờ kinh xáng, tại chợ, gần chỗ
bàn hương án của hương chức hội tề đặt ra.
“Hương ấp phải truyền rao
cho dân trong xóm được rõ rồi phúc bẩm cho làng biết. Nếu bất tuân thì bị khiển
trách”.
Nhận được trát nọ, hương ấp
Thum đi tới lui thăm viếng từng nhà để vừa uống rượu, vừa làm công tác. Chú ta
mở đầu câu chuyện:
- Ngày mốt, mình nên đón rước
quan Toàn quyền đại thần. Bà con thấy làm sao?
Ai nấy nhao nhao phản đối,
trình ra nhiều bằng cớ xác đáng:
- Tụi tôi quần áo lem luốc,
tay lấm chơn bùn. Vả lại, chưa đóng giấy thuế thân. Rủi có bề gì thì... phải
làm sao?
Hương ấp Thum cười khì:
- Hỏi thử cho biết vậy thôi.
Một mình tôi thay mặt tất cả bà con, đủ rồi. Nói chí tình, nếu bà con kéo nhau
ra bờ kinh xáng, đứng khoanh tay gần bàn hương án để đón rước thì chắc thiên hạ
cũng đuổi bà con trở về xóm, trước khi quan đại thần đến.
Nhưng dường như bà con trong
xóm Tà Lốc hơi buồn phiền điều gì mơ hồ:
- Tụi tôi chưa được thấy mặt
“Tây u” và tàu bè tối tân của nước Pháp. Ai cũng muốn đi lễ cho vui, ngặt còn
món nợ... quần áo và thuế thân. Chẳng hay quan Toàn quyền đại thần có ghé lại
xóm mình để uống nước trà... lấy thảo hay không?
Hương ấp Thum đáp:
- Ghé làm gì?
- Bộ thầy rảnh lắm sao? Mục
đích của ổng là tới chợ Hà Tiên cho mau. Nếu mỗi xóm mỗi ghé thì chừng nào mới
tới nơi tới chốn.
Thế là đêm đó xong xuôi, ai
về nhà nấy. Dân chúng nói một câu thòng:
- Thầy hương ấp cứ vui đi. Tụi
tôi leo lên nóc nhà, hoặc trèo lên ngọn cây để coi tàu của Tây chơi, cho biết...
Hương ấp Thum quày quả trở lại:
- Tôi không dám bảo đảm à. Đừng
thậm thò thậm thụt như vậy. Ở dưới tàu, có ống dòm. Họ thấy xa lắm.
Một người trả lời:
- Thầy đừng lo. Từ đây ra tới
kinh xáng, xa hơn hai chục công đất. Vả lại, tụi tôi núp sát mái nhà, hoặc đeo
dính trên ngọn cây. Ở dưới tàu dòm lên quan Toàn quyền đại thần cho rằng tụi
tôi là rùa bò trên mồ mả, hay là con dơi, con quạ đeo nhánh cây.
Đến nhà việc làng Sóc Sơn,
hương ấp Thum nhờ chú biện thảo tờ phúc bẩm. Đại ý, hương ấp cho rằng dân xóm
Tà Lốc bận việc đốn cây, mò cua, v.v... hương chức làng chẳng mảy may phiền hà.
Trong thâm tâm, họ chẳng bao
giờ muốn cho dân trong xóm Tà Lốc đi nghinh đón quan trên. Đó là hạng người
không kỷ luật trật tự gì ráo. Dân chúng xóm chợ gần công sở cũng khá đông rồi.
Thêm vào đó, mỗi tiệm phố đều sẽ treo cờ tam sắc.
Ai cần gì mời số người ở xóm
Tà Lốc, không mợ chợ cũng đông.
Trời vừa rực sáng.
Dân chúng xóm Tà Lốc đã kêu
réo nhau inh ỏi;
- Thức dậy, anh em ơi!
- Tàu chưa tới mà. Thức thì
thức.
- Tụi mình là “phó thường
dân” xứ Nam Kỳ, lâu lâu chào mừng quan trên. Chắc còn lâu lắm. Chừng này mặt trời
mới ló dạng. Chắc quan Toàn quyền đại thần đang ăn uống tại chợ Rạch Giá. Cỡ bốn
giờ, mới tới.
Một ông lão khôi hài:
- Thiệt là dị hợm, kinh xáng
đào rồi thì... là rồi. Còn bày đặt ăn khánh thành giống như nhà vua làm lễ hạ
điền. Làm như không có ông Toàn quyền đi thử thì nước không chảy.
Có người hô to:
- Phía chợ vui quá hé?
- Nóc nhà của tôi mới lợp, cột
kèo bằng cây danh mộc... lậu thuế. Ai muốn dưỡng già thì trèo qua nóc nhà tôi
cho vui.
- Bậy nè! Lớn đầu mà còn dại.
Ngồi trên nóc nhà, rồi hút thuốc. Nguy hiểm lắm. Tại sao mình không ngồi trên
cháng ba của cây xoài, cao hơn nóc nhà!
Chờ lâu quá nhiều người đâm
ra nản chí. Họ tuột xuống đất, vô nhà uống nước cho thấm giọng rồi lại trèo
lên. Đám trẻ càng xông xáo hơn. Chúng ở truồng, lén ra ruộng, cỡi trâu, đánh thẳng
tay cho trâu sải tới sải lui. Rồi mòn mỏi, chúng nó nằm ngửa, phơi nắng trên
lưng trâu để chờ đợi, sát kinh xáng trở về xóm.
Chuyện gì đến là đến!
Vào khoảng tám giờ rưỡi
sáng, đoàn tàu ăn lễ từ từ tiến tới. Dân xóm Tà Lốc hò reo, chỉ trỏ. Họ hối tiếc
vì đã ngồi nhà. Tàu quá nhiều, chạy giăng hàng dài treo bông treo tụi đủ màu sắc.
Đếm kỹ thì thấy hơn mười cái ống khói đen ngòm, tức là mười chiếc tàu.
Pháo đại, pháo tre, pháo tống...
nổ vang rền tại chợ. Nổ suốt năm mười phút mà chưa dứt.... Sau một hồi lẹt đẹt
thì pháo lại rộ lên như con thú sắp đứt hơi cố gắng rống lên những tiếng cuối
cùng vừa to, vừa dài...
Một người nghĩ ra sáng kiến:
- Mấy đứa chăn trâu ơi! Tụi
bây thử cỡi trâu, cho trâu sải thật lẹ, coi họ làm gì ở ngoài chợ.
Vài đứa trẻ le lưỡi:
- Ngán lắm. Họ bắt tụi tôi
không?
- Tụi bây là... con chó gì
mà bắt. Thứ con nít ở truồng mà tưởng mình như người lớn.
Bọn trẻ bàn bạc:
- Mấy ông Tây ưa bận quần áo
trắng, đội nón trắng. Tụi mình sợ trâu nó ghét màu trắng. Nhè trâu chém ông
Chánh soái thì nguy.
Một người lớn quát to:
- Nói tầm phào hoài. Làm như
tụi bây quan trọng lắm. Chưa ra tới đó là thiên hạ đuổi tụi bây rồi. Cứ ở gần lấp
ló, coi lén vậy mà. Hơn nữa, chưa chắc ông Toàn quyền Chánh soái chịu lên bờ uống
rượu đế với ông đại hương cả. Tàu chạy qua rồi chạy luôn... Không lẽ tàu chạy
ngả khác.
Thế là bọn trẻ mục đồng được
yên tâm: “Tụi tôi ham lắm”. Mấy người lớn nhìn theo, căn dặn:
- Về cho gấp, nói đầu đuôi
cuộc lễ cho mấy thằng già này nghe chơi.
Hơn năm bảy con trâu xóm Tà
Lốc sải nhanh ra công sở, mang trên lưng những cậu sứ giả bé bỏng.
Đột nhiên, tiếng “súp lê” nổi
lên inh ỏi:
- Tu... tu... Tu!... u u....
Dân xóm Tà Lốc khoái chí, vỗ
tay:
- Đó là quan Toàn quyền
Chánh soái chào mừng bà con xóm Tà Lốc? Hay quá! Trời ơi! Khói lên từng cuộn
đen thui... Coi mê quá.
Tiếng tu tu... cứ vọng rền.
Một anh chàng tỏ vẻ thông thạo:
- Luật quốc tế mà! Họ chào
mình theo luật quốc tế là cứ súp lê hoài...
Chiếc tàu dẫn đầu ngừng lại.
Mấy chiếc sau cũng ngừng, dường như chẳng dám qua mặt.
- Đúng rồi! Tàu của quan
Toàn quyền Chánh soái. Ổng ghé lại chợ...
Một ông lão thở dài:
- Các cha ơi. Quan Chánh
soái chào mấy ông hương chức hội tề chớ nào chú ý tới bọn mình. Đừng hí hởn mà
buông tay, té gãy giò nghe các cha. Con nít quá vậy.
Nhưng bọn người háo thắng vẫn
bàn bạc. Họ nghĩ mơ màng đến mấy ông hương chức hội tề. Nào ông cả Bon, ông chủ
Xía, ông xã Mực, ông thầy giáo Kiết, ông bang trưởng Huê kiều - ông bang Xinh.
Tất cả đang cúi đầu, lưng hơi khom, một tay đưa ra để đón bàn tay ông Tây. Còn
tay kia thì sờ lên ngực, ngay quả tim già, như để tỏ tình... Pháp - Việt đề huề!
Vài phút sau, tàu “súp lê”
vang dội như để tạm biệt. Từng chiếc một từ từ di chuyển. Mặt kinh xáng lấp
lánh... Mỗi chiếc tàu là một cái ống khói đen, phun làn khói mỗi lúc một mỏng mịn.
Khói vướng vít, bay chập chờn trên nền mây trắng, che khuất từng chập vài bóng
diều quạ.
Bỗng nhiên một người quát
to:
- Thấy mẹ rồi! Còn một chiếc
ở lại. Neo luôn tại chợ. Hay là mấy ổng dòm thấy tụi mình trong này làm điều vô
lễ! Vô lý quá. Kìa...
Từ phía chợ, bầy trâu phóng
nước sải, trở về xóm Tà Lốc... Ai nấy phập phồng chờ đợi. Tin mừng hay tin buồn!
Chẳng lẽ quan Toàn quyền nghe ngóng được tiếng nói xa xôi của bọn người vô danh
núp trên nóc nhà, trên ngọn cây, như rùa bò, như quạ đậu.
Lạ thật. Trên con trâu dẫn đầu,
có tới hai người. Một thằng bé và một người lớn.
Đúng rồi! Hương ấp Thum. Thầy
ta trở về xóm để làm gì mà hấp tấp như vậy. Giống như mấy ông tướng Tây cỡi ngựa
phi báo, cấp báo!
Mồ hôi tuôn ra nhễ nhại đầy
mặt thầy hương ấp. Vừa nhảy xuống lưng trâu, thầy ta la lớn:
- Đánh mõ lên cho dân trong
xóm tụ họp. Chuyện sanh tử lắm. Đợi cho đủ mặt, tôi mới nói, đâu phải chuyện giỡn.
Tài sản của nhà nước
Ai nấy đều ngơ ngác, tuột xuống
đất, ngồi chồm hổm, sắp hàng hai để chờ lệnh. Gương mặt hương ấp Thum trông vừa
đáng ghét vừa đáng tội nghiệp. Bỗng dưng mà thầy ta lên giọng đàn anh.
Có người hỏi:
- Có gì vậy?...
Hương ấp Thum im lặng, thở hồn
hển. Một ông kỳ lão với giọng đàn anh kẻ cả:
- Cái gì vậy mầy Thum?
- Dạ... Dân xóm Tà Lốc chưa
làm phận sự.
Ông kỳ lão quát:
- Phận sự gì? Hay là ông
Chánh soái giận tụi tao, chỉ tụi tao vô lễ, ngồi trên ngọn cây...
Hương ấp Thum nói:
- Dạ, dân xóm Tà Lốc phải ra
sức.... kéo tàu.
- Tàu gì mà kéo? - Ai nấy
giương mắt tròn xoe.
- Để người ta nói hết cho mà
nghe. Số là đoàn tàu của quan Toàn quyền đại thần bị trục trặc. Một chiếc tắt
máy dọc đường, nhờ chiếc khác quăng đỏi dòng tới đây rồi bỏ lại. Chẳng lẽ họ
dòng chiếc tàu bịnh hoạn đó lên tới Hà Tiên thì mất thể diện cho “máy móc” của
quan lớn quá, thiên hạ sẽ dòm hành chê bai. Bởi vậy, chiếc tàu hoạn nạn đó nằm
tại chợ. Thầy hương quản giao cho tôi nhiệm vụ kéo chiếc tàu đó...
- Ủa! Sao lại dân xóm Tà Lốc!
Hương ấp Thum đáp:
- Dân xóm chợ đã góp tiền, đốt
pháo và đóng thuế đầy đủ. Mấy chục năm nay dân xóm Tà Lốc chưa làm gì ích lợi
cho nhà nước. Vậy thì...
- Kéo lên bờ hay kéo đi đâu?
Chiếc tàu đó bao lớn?
- Dạ... Kéo về chợ Rạch Giá.
Bà con nghĩ giùm. Sức một mình tôi làm sao kéo nổi chiếc tàu sắt về chợ Rạch
Giá, xa hơn mười lăm cây số.
- Bậy nè! Ai hơi đâu làm
chuyện bá láp. Tại sao mình không kéo chiếc tàu đó vô bờ mời mấy ông bác vật tới
sửa máy. Hoặc chuyến về, mấy ổng dòng tàu về...
- Dạ, nghe đâu quan Toàn quyền
đại thần đi tuốt lên Nam Vang, về theo nẻo khác. Bà con nghĩ giùm.
Ai nấy suy nghĩ: Kéo thì cứ
kéo, ngại gì! Nhưng còn cái tội trốn thuế thân, từ nhiều năm. Nhiều tay tiều đốn
củi quá lâu, nhiều chàng thanh niên một vợ ba con... chưa được hân hạnh ghi tên
vô bộ sổ của nhà làng.
- Dễ quá. Tôi bảo lãnh giùm!
- Hương ấp Thum nói.
Thế là bọn trai tráng sắp
hàng, ra bờ kinh xáng để kéo tàu, trước là xem tàu của quan trên cho biết nó nặng
nề đến mức nào, sau là để làm phận sự con dân thuộc địa.
Chiếc tàu quá nặng. Mấy sợi
dây đỏi sắt cũng không nhẹ. Nước chảy ngược. Gió thổi ngược.
Hơn năm chục người nai lưng
“hố hụi”, đưa chiếc tàu liệt máy nọ về chợ Rạch Giá. Mệt và đói quá chừng. Kéo
tàu sắt khác hẳn chèo ghe. Làm sao thảnh thơi mà ca vọng cổ. Đến canh một, canh
hai đêm ấy, chiếc tàu mới xê dịch được hai phần ba lộ trình. Cũng may, hương chức
hội tề đã chú ý... ban cho dân ấp Tà Lốc năm đồng bạc để mua bánh tét, bánh lá
dừa. Ăn tạm no. Nhưng làm sao tìm nước uống? Nước dưới kinh xáng mặn đắng, chua
chát quá chừng. Hễ ghé vô là chủ nhà hoảng sợ. Năm chục người uống hết nửa lu
nước!
Nhứt là chuyến đi bộ trở về.
Dưới ánh trăng thanh, họ ca
hát lai rai. Ai đủ sức thì cứ đi cho nhanh, về nhà cho vợ con mừng. Ai yếu đuối
thì ngủ bờ ngủ bụi. Vài người mang bịnh cảm mạo, bắt gió vần công. Khổ thay! Mười
lăm cây số bận về là cả một điều khổ nhục. Muỗi cắn quá chừng. Hồi ra đi, họ
quên mang theo cái nóp.
Rốt cuộc, chẳng ai ngủ mê hoặc
chết dọc đường. Suốt đêm, họ đi lang thang nhắm hướng Tà Lốc. Chốn quê hương đẹp
hơn cả! Đúng vậy. Vài người chửi rủa hương ấp Thum, cho rằng thầy ta muốn lập
công đầu với nhà nước Pháp. Khi tàu tới chợ Rạch Giá, hương ấp Thum cút mất, vô
quán ăn hủ tiếu một mình. Và lúc kéo tàu, thầy ta ngồi trên tàu, hò hét, ngồi
bên cạnh người coi lái. Khỏe quá.
Đêm ấy, vì mình mẩy rêm nhức,
dân kéo tàu đánh một giấc ngon lành trên giường thê nhi.
Nhưng lúc bình minh vừa ló dạng,
từ đầu xóm vang lên tiếng mơ hồ:
- Kéo tàu! Kéo tà... àu!
Ai nấy nhẩy nhồm, mở cửa sau
mà chạy, sau khi... trăn trối với vợ con:
- Trời! Mới kéo một chuyến
mà mệt đuối. Kéo thêm chuyến nữa chắc chết luôn. Má bầy trẻ nhớ nói rằng tôi đi
đốn củi rồi nghe. Tổ cha... thằng hương ấp Thum!
Tiếng gọi mơ hồ cứ lan xa,
rõ rệt trong sương sớm:
- Kéo tàu... Kéo tà... àu!
Ngồi sau khe cửa, các bà hiền
phụ nín thở, quan sát, chờ bóng dáng của hương ấp Thum. Tại sao hắn không đánh
mõ?
Nhưng hỡi ơi! Các bà cười
vang. Tiếng “kéo tàu” nọ xuất phát từ cổ họng của anh Huê kiều quen thuộc, bán
kéo tàu, kim chỉ và tặng kẹo ngọt cho trẻ con. Hắn ngơ ngác, thấy các thân chủ
đều đóng cửa, ngủ trưa. Tại sao các thân chủ “tẩy chay” đột ngột như vậy? Nhứt
là các thân chủ ấy còn thiếu chịu của hắn một số tiền càng ngày càng to. Hắn bực
dọc khi nghe tiếng cười, tiếng chửi thề. Nhưng trung thành với nghề tổ, hắn cứ
rao to, rao cho hả giận để đánh thức lương tâm dân chúng xóm Tà Lốc:
- Kéo tàu! Kéo tàu... àu!...
Thời Pháp thuộc, đồng bào ở
miền Tiền Giang, Hậu Giang đều nghe danh... Đơn Hùng Tín. Anh ta thuộc vào hàng
“đại ca”, điều khiển một số tay em giết người cướp của không gớm tay.
Lời nói và việc làm của Đơn
Hùng Tín luôn luôn đi đôi. Trước khi đánh cướp, Đơn Hùng Tín báo trước ngày giờ
để cho gia chủ đề phòng. Khi quân cướp rút lui, chẳng ai dám hó hé, tố cáo hoặc
truy nã. Du đãng Đơn Hùng Tín thường vượt ngục phá khám hoặc được quan trên...
tha bổng. Vì vậy, có dư luận cho rằng nhiều ông hương chức hội tề hoặc ông cò
Tây đã bí mật làm tay chân cho Đơn Hùng Tín vì sợ anh ta, vì tham của hoạnh
tài.
Xưa kia, Đơn Hùng Tín chưa lấy
biệt danh ấy. Anh ta còn là kẻ vô danh, đọc truyện Đường, nuôi chí lớn và chờ
thời...
Vùng núi Tà Lơn nổi danh là
nơi trú ẩn của lắm tay siêu phàm. Lúc phiêu bạt đến đó Đơn Hùng Tín chỉ là một
hột cát bé bỏng. Anh ta thường dạo khắp mấy hang đá cheo leo, hôm ấy gặp một
thanh niên ốm o gầy mòn. Thanh niên hỏi:
- Anh là ai?
Đơn Hùng Tín hỏi ngược lại:
- Còn anh... anh là ai?
Chàng thanh niên bèn mời Đơn
Hùng Tín vào hang đá mà nói:
- Ở đây, người nào cũng như
người nấy. Đứng về võ nghệ mà phê phán thì có hơn chục người sành sỏi, bóp viên
đá nát ra như cám hoặc nhảy như bay qua miệng hố. Chẳng hay anh bạn giỏi về môn
nào?
Để che giấu cái tài hèn đức
kém của mình, Đơn Hùng Tín lại dùng thủ đoạn cũ, nghĩa là hỏi vặn:
- Còn anh bạn?
Thanh niên mỉm cười:
- Tôi mới biết sơ qua vài “ấn”.
Nè, anh bạn tới thăm tôi trễ, gặp dịp, tôi “triệt” bà cố cho bạn xem mãn nhãn.
Đơn Hùng Tín đâm ra nghĩ ngợi:
“bà cố” là vị nữ thần mạnh nhứt, huyền diệu nhứt so với các cô, các cậu đang
bay bổng, phiêu du khắp cõi càn khôn. Người biết bắt ấn, triệt được bà cố hẳn
phải là tay dày công luyện. Thanh niên nọ cứ day mặt vào vách đá, miệng đọc bùa
chú lâm râm. Để tỏ rằng mình đầy đủ bản lĩnh. Đơn Hùng Tín có ý khuấy rối sự
yên tĩnh:
- Anh bạn hơi đâu mà luyện tập
thứ ấn thấp kém đó. Tôi đây biết bùa phép và thường triệt bà cố. Chẳng hay anh
bạn triệt kiểu nào?
Theo danh từ nhà nghề, “triệt”
tức là kéo níu. Bà cố hay phiêu diêu như chiếc xe mạnh hàng chục mã lực. Triệt
bà cố, chẳng khác nào kẻ vận dụng sức lực để níu lại một chiếc xe đang mở máy
phóng tới. Thanh niên nọ vẫn mỉm cười đưa chân mặt ra phía trước rồi cong lưng,
dùng tay trái mà nắm lấy một ngón chân:
- Đại để... tôi làm như vậy.
Bà cố thường vân du, như bánh xe xoay tròn, muôn màu muôn sắc. Lúc tôi bắt ấn,
tức khắc bánh xe ấy ngừng lại. Nhưng sau mỗi lần bắt ấn, mình mẩy tôi rêm nhức,
đầu óc nóng bừng bừng... Gần đây, còn một lão tổ sư khác thường tới lui thăm
tôi, lão chê tôi làm trò chơi kiểu con nít.
Đơn Hùng Tín bắt đầu e ngại.
Trên dãy núi Tà Lơn này, anh ta rõ ràng là bất tài, chưa xứng đáng làm đệ tử của
chàng thanh niên, nói chi đến lão tổ sư. Chàng thanh niên hiểu rõ nhược điểm của
người bạn đang ngồi trước mặt.
Đơn Hùng Tín trố mắt như lao
vào một thế giới vô hình. Từ đây tới điện Cán Dù, mỗi khi trời mưa lắc rắc,
ngoài dấu chân heo rừng hoặc hươu nai, đôi khi thiên hạ gặp những dấu chân nho
nhỏ của một người con gái. Nàng là ai? Càng khó hiểu hơn là những bước chân ấy
được in trên cát xa cách nhau. Dấu chân mặt và dấu chân trái nàng giống hệt của
kẻ đi với đôi hài... bảy dặm.
Mưa bắt đầu rơi, Đơn Hùng
Tín rùng mình, hỏi kỹ:
- Thật vậy không?
Chàng thanh niên đáp:
- Nhiều tay sư tổ lập đàn để
“triệt” vong hồn kẻ khuất mặt nhưng nàng vẫn chưa chịu về. Anh bạn mà triệt được
nàng, ắt nổi danh.
- Tôi chưa học tới thứ ấn
đó... - Đơn Hùng Tín đáp.
Chàng thanh niên đắc ý, hiểu
rằng người khách lạ có thân hình to lớn ấy đã lọt vào cạm bẫy tâm lý của mình.
Chàng nói tiếp:
- Ở đàng kia, còn một ông
lão tài ba lỗi lạc. Lão ta đang nắm giữ bộ sách “Thiên thư bí quyết”. Anh bạn đọc
qua bộ đó chưa?
Đơn Hùng Tín đáp:
- Tôi nghe sơ qua cái tựa chớ
chưa đọc.
Chàng thanh niên cố ý giữ thể
diện giùm cho người khách lạ. Theo lời thuật của anh ta thì ông lão kia học được
vài phép màu nhiệm trong bộ “Thiên thư bí quyết”. Lão nuôi một con khỉ, mỗi
ngày cho khỉ uống một lá bùa. Uống đến lá bùa thứ bảy thì con khỉ nọ tự nhiên
ngã lăn ra chết. Lão đem xác con khỉ bỏ trong cái hộp bằng cây trầm hương. Đúng
trăm ngày, lão mở hộp ra, cho con khỉ uống lá bùa thứ tám. Khỉ mở mắt, bắt đầu
chạy nhảy lanh lẹ như xưa. Và mỗi ngày khỉ chạy đến chân núi, ăn cắp đúng hai đồng
xu đem về nạp cho ông lão.
Động lòng tham, Đơn Hùng Tín
nói:
- Mưu kế đó màu nhiệm nhưng
mỗi ngày có hai xu, ít quá. Con khỉ tuy khôn lanh ngặt nó hành động theo thói
tiểu nhơn, trộm cắp lén lút. Tôi đây muốn làm cách nào... lấy của giữa ban
ngày.
- Nghĩa là... ăn cướp?
Đơn Hùng Tín gật đầu:
- Nhưng ăn cướp đâu có nghĩa
là làm chuyện bất nhơn thất đức. Mình ăn cướp đường đường, bắn súng cho chủ nhà
bị cướp hay tin trước. Mình ăn cướp tiền bạc của Tây tà, đem phân phát cho kẻ bần
hàn...
Luận điểm dối trá, giả nhân
giả nghĩa ấy bỗng nhiên được chàng thanh niên tán đồng. Thật ra, từ bốn năm trường
nay, chàng thanh niên lên núi với hy vọng lập nghiệp. Hồi ở Châu Đốc, chàng ta
làm nghề dạy học rồi bị sa thải vì tội cờ bạc và hút thuốc phiện.
Lên ở ẩn trên núi, chàng ta
không đủ can đảm để luyện phép, tu tiên nhưng vẫn nuôi mộng được làm quân sư
cho một kẻ anh hùng. Hôm nay, gặp kẻ anh hùng “vai năm tấc rộng, thân mười thước
cao” như kẻ đang viếng động, chàng mừng khấp khởi.
Năm sáu ngày ròng rã, Đơn
Hùng Tín ăn ngủ tại nhà chàng thanh niên. Chàng ta giới thiệu:
- Tôi là Giáo Phép, “đại ca”
cứ gọi tôi bằng em.
Đơn Hùng Tín đáp:
- Gặp được chú Giáo, tôi mừng
như cá gặp nước, như rồng gặp mây. Xem qua truyện Tống, truyện Đường, tôi thích
có một người.... Đó là Đơn Hùng Tín, người tận trung với chúa. Mai chiều mình
làm giàu, cùng nhau chia cơm xẻ áo.
Giáo Phép nói rỉ vào tai Đơn
Hùng Tín, mặc dầu chung quanh hang đá chẳng có người thứ ba rình nghe trộm:
- Mấy ông già tiên ở trên
núi... nhứt định họ đâu thèm làm đệ tử cho anh em mình. Muốn lập đảng cướp,
mình nên qui tụ bọn người đốn củi dưới chân núi.
Đơn Hùng Tín cau mày:
- Làm sao thu phục họ được?
Mình không biết “triệt” bà cố, ngồi đàn bắt buộc cô gái ma xuất hiện hoặc...
nuôi khỉ?
- Dễ quá. Đời vật chất văn
minh, Tây cai trị nước mình được là vì Tây có súng. Mình nên dùng súng để trị
súng!
Đơn Hùng Tín lắc đầu:
- Làm sao lập đạo binh chống
với Tây tà được? Thú thiệt với chú Giáo, tôi có mang lên đây một khẩu súng “mút
cơ tông” với ba viên đạn mà thôi.
Giáo Phép mừng quýnh, nói rỉ
vào tai Đơn Hùng Tín ba điều bốn chuyện rồi xin phép “đại ca” xuống núi vài
ngày để mua sắm vài thứ “bùa phép” cần thiết, chờ khi phất cờ gióng trống,
chiêu quân mãi mã. Nghe qua, Đơn Hùng Tín cười giòn, vỗ đùi bôm bốp...
Giáo Phép từ Châu Đốc trở về
núi Tà Lơn.
Đơn Hùng Tín mừng rỡ sau khi
nghe giải thích vài chi tiết trong quyển sách khá dày, đóng bìa da:
- Thiệt vậy hả, chú Giáo?
Ngày mai chú xuống chợ Cần Giọt truyền rao, ngày mốt tôi xưng vương, chánh thức
ra mắt. Mười ngày sau nữa, tôi... làm giàu, công ơn của chú, chẳng bao giờ tôi
quên.
Giáo Phép đắc ý, lật qua lật
lại mấy trang sách:
- Đúng là bộ “Thiên thư bí
quyết”, viết bằng chữ Tây. Bên Tây họ thí nghiệm nhiều lần rồi, ở hội chợ
phiên... thiên hạ kéo tới đông nghẹt, nhiều người ngất xỉu vì ngột hơi thở, vì
quá sợ sệt. Huống gì ở xứ Tà Lơn khỉ ho cò gáy này.
Từ đó đến chiều, Đơn Hùng
Tín uống rượu khá nhiều. Anh ta đem khẩu súng ra chùi cho bóng láng và đếm tới
đếm lui mấy viên đạn. Với chiếc kềm sắt, anh ta tháo đầu đạn, ráp vào rồi lại
tháo ra... Hồi lâu, như chưa vừa ý, anh ta đốt đèn sáp để lấy chất khói đèn...
Giáo Phép xuống núi, truyền
rao với các anh hùng tứ chiếng:
- Sáng mai, mời anh em tới
điện Cán Dù xem Đơn Hùng Tín... thổi bùa.
Ai nấy tỏ vẻ lạnh lùng:
- Chán bùa phép quá rồi. Tụi
tôi muốn tìm thứ bùa phép nào... đem lại cơm gạo tiền bạc để nuôi vợ nuôi con.
Chẳng lẽ tụi tôi lưu lạc tới xứ này để học bay nhảy trên gành đá, tranh tài với
loài khỉ, loài vượn.
Giáo Phép đáp:
- Bùa phép của Đơn Hùng Tín
nhứt định đem cơm gạo vàng bạc cho tất cả các đệ tử.
- Làm bạc giả à? Liệu Đơn
Hùng Tín ăn thua với lính mã tà được không? Đơn Hùng Tín là ai? Ở xứ núi non, tụi
tôi nghe nhiều cái danh hiệu điếc con ráy, rốt cuộc gặp toàn những “đại ca” thuộc
vào hàng “khôn nhà dại chợ”.
Để chứng tỏ mình là kẻ khiêm
tốn, Giáo Phép ngồi xuống, nghe đám anh hùng tứ chiếng thuật lại những trận “hô
phong hoán võ” thất bại, lỡ cười lỡ khóc. Nào là Tiết Đinh San... chạy bò càn
khi đánh cướp, bị chủ nhà vây bắt. Chủ nhà nào có tài ba gì đâu cho cam? Đám
gia nhân chỉ hò hét, đốt pháo tre, liệng chai đựng đầy nước mắm. Miếng ve chai
bể, dính nước mắm, mà ghim vào da thịt thì phải biết! Nó gây thương tích, nhức
nhối vô kể.
Lại còn chuyện Tiết Nhơn Quí
tự xưng biết “thăng thiên độn thổ” nhưng khi biểu diễn thì “thăng” lập tức! Một
người trong đám cử tọa đưa ra “cây dao con chó”, yêu cầu Tiết Nhơn Quí ghim vào
da thịt. Tiết Nhơn Quí bèn ngáp rồi ụa mửa, đôi mắt ngơ ngác, hẹn sẽ lóc từng
miếng thịt của mình cho cử tọa xem... vào dịp khác thuộc ngày lành hơn, tháng tốt
hơn và giờ khác linh thiêng hơn.
Giáo Phép lắc đầu:
- Xưa nay, người giả thì nhiều
mà người thiệt thì ít. Tôi là người có ăn học, anh em dư biết... Tôi chẳng bao
giờ sùng bái ai vậy mà tôi đành thọ giáo với Đơn Hùng Tín. Ông này ghê lắm...
Bọn anh hùng tứ chiếng đáp:
- Ghê tới mức nào? Ông thuộc
vào hạng người siêu phàm, súng bắn vào không nổ chớ gì?
- Ông giỏi hơn một bậc. Súng
bắn nổ rầm rầm không chết!
- Súng gì?
- Súng “mút cơ tông” của
Tây!
- Tại sao ổng không chết?
- Nhờ đọc bộ “Thiên thư bí
quyết”, ổng luyện tập... mười mấy năm trường ròng rã. Sau khi súng nổ, ổng cười
“hề hề”. Ngày mai đúng vào giờ Ngọ, tại điện Cán Dù... Bà con nhớ tới xem cho
biết.
Nguồn tin Đơn Hùng Tín sắp hạ
san khiến bọn anh hùng tứ chiếng xôn xao. Họ nói chuyền miệng, kéo tới điện Cán
Dù. Đã từng lưu lạc giang hồ, sống ngoài vòng pháp luật, họ dư hiểu: nếu phò tá
cho một kẻ súng bắn không chết dĩ nhiên họ sẽ làm giàu. Đơn Hùng Tín sẽ kéo...
toàn đảng dạo khắp đó đây, từ thôn quê tới thị thành, tha hồ bao vây nhà mấy
ông cai tổng, chận xe đò... hoặc bắt cóc, thủ tiêu vài ông Tây cho biết mặt.
Đơn Hùng Tín mặc quần cụt ở
trần, mình mẩy xăm toàn... rồng và chim phụng hoàng. Ngay giữa ngực anh ta, còn
có hàng chữ Pháp, nói lên ý nghĩa cao cả của cuộc phá khám Bách Ti 1789 ở mẫu
quốc xa xôi... Tự Do - Bình Đẳng - Bác Ái.
Anh ta đứng sẵn trên miệng hố:
- Nếu chết thì tôi bỏ xương
dưới cái hố oan nghiệt này để đền tội nói láo với bà con. Tôi biết bà con chưa
tin.
Rồi anh ta khoát tay:
- Chú Giáo! Đem cây súng với
viên đạn cho bà con coi trước. Xưa nay, bà con thường gặp nhiều vụ bắn súng giả,
nào họ dũa “con cò” súng hoặc xài súng giả, đạn giả.
Giáo Phép trao cây súng “mút
cơ tông” bóng láng cho từng người xem. Và điều này rất quan trọng, chàng ta đưa
ra một viên đạn bằng đồng. Đầu đạn sáng choang nhọn lễu. Bọn anh hùng tứ chiếng
rất kiêng oai loại súng “mút cơ tông”. Nghe đâu hồi giặc Âu Châu đại chiến
1914-1918, Pháp quốc thắng Đức quốc nhờ loại súng thần tốc này. Và anh hùng
Phan Xích Long đòi phá khám Sài Gòn cũng đã bó tay chịu phép khi nhà cầm quyền
Pháp cho nổ chỉ thiên vài phát.
Giáo Phép xin lại cây súng rồi
nói
- Súng thứ thiệt, đạn thứ
thiệt. Bà con còn thắc mắc gì không? Và đằng kia là Đơn Hùng Tín đang ở trần.
Đơn Hùng Tín quát to:
- Cứ bắn cho mau. Tôi đứng
cách họng súng chừng năm thước. Bà con cứ xáp lại gần, cách tôi chừng một thước.
Giáo Phép nạp đạn vào lòng
súng trong khi hàng chục cặp mắt đổ dồn về mấy chữ Tự Do - Bình Đẳng - Bác
Ái... Lồng ngực của Đơn Hùng Tín phồng lên, xẹp xuống...
Đơn Hùng Tín nhép nhép miệng
như đọc thần chú....
- Đùng!
Mùi khói thuốc bay nồng nặc.
Cử tọa rú lên?
Đơn Hùng Tín vẫn đứng sững,
sống nhăn. Và anh ta đang nhe răng cắn viên đạn đồng!
Ai nấy im lặng...
Đơn Hùng Tín nhả ra, viên đạn
đồng rớt xuống đá nghe tiếng “bốc” lăn tròn...
Giáo Phép chạy tới lượm viên
đạn, trao cho cử tọa:
- Thấy chưa! Đơn Hùng Tín...
đớp viên đạn. Viên đạn còn nguyên không móp!
Trong đám cử tọa, có kẻ...
như đang hồ nghi điều gì. Kẻ ấy cầm viên đạn, đưa qua đưa lại để quan sát.
Nhanh như chớp Giáo Phép nạp
viên đạn thứ nhì, nhắm ngay đầu kẻ ấy mà bắn:
- Chát!
Máu tuôn ra từng giọt trên
vách đá. Kẻ ngạo mạn ấy nghiêng đầu, từ từ ngã gục. Giáo Phép chỉ tay vào mặt hắn:
- Tao bắn... cái vong hồn của
mày cho mày thấy! Kìa! Trên vách... mấy giọt máu tươi của mày. Mày chưa chết
đâu! Day mặt mà xem...
Từ đây, oai danh Đơn Hùng
Tín nổi như cồn. Bọn đệ tử vững bụng rằng “đại ca” của mình thuộc vào hàng
“súng bắn không chết”. Đơn Hùng Tín trở thành vị hung thần của đất Nam Kỳ thuộc
địa, gây nhiều sự bận rộn cho nhà cầm quyền Pháp.
Là kẻ sanh sau đẻ muộn, người
viết bài này chỉ nghe thuật giai thoại kể trên. Bộ “Thiên thư bí quyết” là loại
sách gì? Tại sao anh ta cắn được viên đạn vào miệng?
Lão quân sư Giáo Phép bây giờ
ở đâu để giải đáp?
Tình cờ, chúng tôi đọc được
quyển sách ảo thuật của Yvon Yva, một người Pháp. Sách ấy giải đáp toàn vẹn kỹ
thuật súng bắn không chết của các tay gian đạo sĩ Âu Châu đang áp dụng.
Đại khái, họ nạp vào nòng
súng một viên đạn có cái đầu “ban” giả, đúc bằng sáp. Đầu đạn sáp ấy nhuộm khói
đèn nên giống màu đồng đen. Súng nổ, đầu đạn sáp chảy ra. Và Đơn Hùng Tín đã ngậm
sẵn trong miệng một đầu đạn thứ thiệt, trưng ra sau khi súng nổ. Phát súng thứ
nhì... đổ máu. Đó cũng là viên đạn có đầu “ban” bằng sáp, trong lòng đầu “ban”
chứa son tàu, giống hệt máu.
Có điều chắc chắn là Đơn
Hùng Tín và quân sư Giáo Phép chẳng bao giờ đọc sách của Yvon Yva, sách này mới
xuất bản từ vài ba năm nay. Có thể là Giáo Phép đọc một quyển sách khác rồi
nghiệm thêm, đem ra thực hành với sự góp ý của Đơn Hùng Tín.
Quả thật những người sống
“nhàn cư” ở núi Tà Lơn là những kẻ lợi hại, thông minh hơn... người Pháp.
Giấc mơ ngoài bãi tha ma
Năm Kiểu đi lang thang đến
cuối xóm. Đêm đã quá khuya. Anh ta đói bụng, thèm rượu, thèm tình yêu và thèm
nơi nghỉ lưng. Làm cách nào giải quyết bây giờ?
Từ ba năm qua, vợ chết vì bạo
bịnh, anh bán tất cả nhà cửa, ghe xuồng, sống cuộc đời lang bạt kỳ hồ. Lâu
ngày, bạn bè hàng xóm đều chạy mặt, xem anh ta như “ôn dịch” phá hại làng xóm.
Cuối xóm là bãi tha ma hoang
vắng, chỉ có đôi căn chòi giữ dưa. Hai con chó mực chạy tới chận đầu Năm Kiểu,
sủa cẳng cẳng. Anh ta nói gắt:
- Bộ hết thời rồi sao tụi
bây nhè tao mà sủa?
Từ trong căn chòi giữ dưa, một
thiếu nữ xinh đẹp chạy ra can gián:
- Thôi! Anh Năm hơi đâu mà
phiền hà. Vô đây chơi.
Năm Kiểu hỏi:
- Cô là ai?
Thiếu nữ che mặt đáp:
- Em giữ dưa cho người ta.
Còn chút rượu đây, mời anh uống cạn.
Thiếu nữ đưa chai rượu. Năm
Kiểu uống một hơi, chẳng cần rót ra chén. Anh ta say ngà ngà, ngồi dựa lưng vào
vách chòi. Thiếu nữ đẹp thật, dường như anh ta đã gặp nàng hồi năm ngoái, năm
kia nhơn dịp cúng đình. Lúc cao hứng, anh ta van nài:
- Em ở đây với ai? Em tên
gì?
Thiếu nữ đáp gọn lỏn:
- Em có chồng rồi. Đừng hỏi
bậy bạ. Anh cần... món gì nữa không?
- Cần... ngủ cho êm ấm.
Thiếu nữ đội nón, bước ra
ngoài cửa chòi, nói với lại:
- Chừng nửa giờ nữa, anh Năm
tới miễu Thổ Địa, em nói cho anh nghe. Vui lắm.
Nói xong thiếu nữ mất dạng
trong cơn mưa lất phất. Trên nền trời u ám chỉ còn vài vì sao chiếu sáng yếu ớt,
như sắp tắt.
“Rõ là chuyện bí mật, nàng
đã yêu ta”. Nghĩ vậy, Năm Kiểu ngồi dậy, đứng lóng nhóng rồi trở ra mé sông để
đến miễu Thổ Địa trước giờ ước hẹn. Thà rằng người đẹp thất hẹn còn hơn mình đến
quá trễ.
Hàng cây dương như nói chuyện
rì rào bằng thứ ngôn ngữ khó hiểu. Năm Kiểu cằn nhằn:
- Ta đây là người sa cơ thất
thế. Ta nào sợ ai, một khi ta say rượu.
Từ gốc cây dương, một ông
lão mặc áo tơi bước ra, tay chống gậy, bước khập khiễng. Ông lão nói khàn khàn:
- Năm Kiểu! Quên rồi à?
Năm Kiểu vì hơi say nên trả
lời cho có lệ:
- Nhớ chớ... Mọi khi ông ở
xóm nầy.
Ông lão cười giòn:
- Tao biết mày từ hồi vợ mầy
còn sống.
Rồi ông lão bước chậm rãi.
Chân ông ta bên ngắn bên dài. Cây gậy nhịp lên mặt đất bùn nghe lẹp bẹp. Năm Kiểu
lẳng lặng theo sau. Miễu Thổ Địa hiện ra lù lù. Ông lão dừng lại rồi vào miễu,
quơ gậy khiến bầy dơi bay tung ra, kêu chí chóe. Bực bội biết chừng nào? Năm Kiểu
toan lựa lời để đuổi khéo lão ta ra khỏi nơi hẹn hò.
- Ông vô đây làm gì?
- Có chút chuyện. Mầy ở đây
với tao...
Tại sao lão ta ngang ngạnh đến
mức ấy? Hay là lão ta đã biết trước về cuộc gặp gỡ bất chánh giữa Năm Kiểu và
người đẹp.
Lão ta đứng nép vào vách,
quơ cây gậy ra ngoài làm dấu hiệu. Người đẹp đã đến, chạy phơn phớt trên mặt đất.
Ngạc nhiên biết bao nhiêu khi Năm Kiểu nghe lão ta gọi người đẹp:
- Mình mệt không?
Nàng cúi đầu chào Năm Kiểu rồi
như ngỏ riêng:
- Vui lắm, làm sao mệt được.
Quả tim khô héo của Năm Kiểu
rộn sôi yêu đương. Đẹp như nàng mà đành làm vợ một lão già, thật giống lời ví
“như bông hoa lài cặm bãi cứt trâu”.
Nàng đốt ngọn nến, cắm lên
bàn thờ Thổ Thần rồi mời Năm Kiểu:
- Anh ngồi xuống đất cho khỏe
chân. Hôm nay, mình nghèo túng nhưng ngày mai mình giàu sang.
Năm Kiểu vừa sung sướng, vừa
giựt mình vì thái độ thân mật của nàng. Nàng đưa tay... nắm tay anh ta. Đôi mắt
Năm Kiểu liếc qua cây gậy khá to, e lão già nổi ghen, dùng khúc cây ấy làm võ
khí. Nhưng anh ta lầm to. Lão già ngồi dựa lưng vào vách, ngáy pho pho.
Gặp cơ hội thuận tiện, Năm
Kiểu dại gì mà chẳng đùa cợt với người đẹp. Anh ta đang thèm khát rượu và yêu
đương từ ban chiều kia mà:
- Em... em nói sao? Chừng
nào chúng ta giàu sang? Em nói thật hay nói đùa?
- Nói thật chớ.
Vừa nói, nàng vừa siết bàn
tay Năm Kiểu rồi thò bàn tay kia ra. Thế là hai tay đã nắm hai tay... Anh ta hỏi
khẽ, trong hơi thở, trong ánh nến chiếu sáng mơ hồ:
- Lão kia?
- Là chồng em...
Nàng siết tay Năm Kiểu,
buông ra, ra lịnh cho anh ta mở lòng bàn tay. Nàng cúi mặt xuống rồi mỉm cười:
- Tốt quá! Bàn tay anh tốt
quá!
Năm Kiểu chưa kịp hỏi lý do
sự khen ngợi ấy thì nàng đã day mặt gọi lão già:
- Mình ơi! Gặp rồi.
Lão già lết đến bên cạnh Năm
Kiểu:
- Vậy hả?
Đến lượt lão nắm tay Năm Kiểu.
Bấy giờ, Năm Kiểu bắt đầu hồ nghi, sợ sệt. Giọng lão khàn khàn:
- Anh bạn sẽ làm giàu nếu
thi hành đúng con đường do định mạng vạch ra. Thú thật với anh bạn, vợ chồng
tôi đang làm ăn lớn, cần một phần hùn.
Năm Kiểu lắc đầu:
- Tôi nghèo lắm.
- Không. Số là vợ tôi được
hưởng phần gia tài to tát của bà phủ Ngọc. Anh bạn nghe danh bà ta chớ? Bà ta
hà tiện, vàng bạc đầy gối nhưng... còn sống quá dai. Theo quẻ tử vi, anh bạn giỏi
về nghề sát nhơn.
Nghe tới đó, Năm Kiểu... tỉnh
táo lạ thường, bao nhiêu men rượu, men tình trong huyết quản đều biến mất...
Người đẹp tiếp lời ông lão:
- Anh mà chịu giết người thì
chẳng bao giờ ai tìm ra thủ phạm. Này...
Vừa nói, nàng vừa mân mê mấy
ngón tay thô kệch của Năm Kiểu:
- Bàn tay dày, vuông vức, mấy
khớp xương lóng tay đều to như mắt tre. Đúng là bàn tay của kẻ biết sát nhơn.
Đôi mắt Năm Kiểu nhìn đăm
đăm ra ngoài cửa, chờ cơ hội tẩu thoát nhưng người đẹp đã đoán ra ý định ấy:
- Mình đem tài sản ấy chia
làm ba phần đều nhau, rồi... ai đi đường nấy. Mỗi phần ít lắm là mười lượng
vàng.
Lời người đẹp ắt đúng sự thật.
Nàng vuốt ve Năm Kiểu, liếc mắt như ngầm xúi giục anh ta mau nhận lời kẻo muộn.
Giết người! Ý định ấy táo bạo thật! Với mười lượng vàng, Năm Kiểu sẽ trở thành
một vị thân hào trong thôn xóm, chẳng còn sống lê lết theo kiểu ăn xin ăn mày.
Nhưng hành động bất chánh ấy nghĩ cũng khó thực hiện vì nếu mình chậm trễ thì đối
phương sẽ giết trở ngược lại mình. Hơn nữa, từ bé đến từng tuổi nầy, Năm Kiểu
chưa có kinh nghiệm giết người lần nào cả.
Anh ta mới than thở:
- Giết bằng loại khí giới
nào? Chia ra ba phần đồng đều, nghĩ cùng hẹp cho tôi quá. Nhà bà phủ Ngọc nào
chó săn, nào cửa sắt, làm sao tôi chui vào được. Không... Không... Tôi muốn chịu
nghèo, tôi muốn sống yên ổn với người mà tôi yêu.
Người đẹp đưa tay che miệng
Năm Kiểu rồi nắm tay anh ta, dắt ra sân. Ông lão đáng ghét nọ lại ngủ khò với
cây gậy trong tay. Năm Kiểu tức quá. Giết bà phủ Ngọc làm gì? Giết lão ta thì
đúng hơn. Một khi lão ta chết, người đẹp quí giá hơn tất cả bao nhiêu ngọc ngà
châu báu trên trần gian sẽ thuộc về quyền sở hữu của anh ta.
Ra đến giữa sân, nàng
nghiêng mái tóc vào vai Năm Kiểu:
- Chúng ta sẽ yêu nhau và
xây dựng hạnh phúc với hai phần ba số tiền khổng lồ đó. Bà phủ Ngọc là dì ruột
của em. Em đang giữ cái chìa khóa mở cửa cái và cửa buồng nhà bà ta. Mỗi khi,
em ngủ gần bà, nếu nghe động tịnh, bà chẳng bao giờ la hoảng. Hơn nữa, với bàn
tay vuông vức, với ngón tay... mắt tre, anh siết cổ bà ta rất dễ dàng, bà ta chết
êm ái, chẳng giãy giụa như khi bị đâm chém.
Mùi da thịt của người đẹp đã
thúc giục. Năm Kiểu nhận lời. Khi trở vào miễu, gà bắt đầu gáy sáng. Nàng trao
xâu chìa khóa cho anh ta, chỉ dẫn rành mạch địa thế rồi hẹn ngày tái ngộ, cũng tại
miễu Thổ Địa này.
Anh ta giựt mình:
- Em về đâu?
- Em về nhà bà phủ Ngọc, kẻo
bà ta sanh nghi. Còn anh thì nên ở lẩn quẩn suốt ngày mai tại vùng này, tránh
xuất đầu lộ diện trước khi mặt trời lặn.
Bà phủ Ngọc đang ngủ say sưa
chợt nghe tiếng người đi chậm chạp bên giường. Bà nhướng mắt. Gian phòng tối
om, cái hộp quẹt đã lạc đâu mất.
Bà nói nhừa nhựa:
- Mỹ Huê hả?
Năm Kiểu điếng hồn, toan rút
lui chạy về cho rảnh. Nhưng Mỹ Huê là ai? Phải đợi chừng nửa phút sau, anh ta mới
nghe bà phủ Ngọc xác nhận thêm:
- Mỹ Huê... mày là đứa hư
thân! Còn nhỏ tuổi mà tội tình gì mày nghe lời dụ dỗ của thằng già thọt chân.
Đúng ra theo kinh nghiệm của
nghề đạo tặc, khi trót gây tiếng động thì Năm Kiểu phải im lặng. Trái lại, anh
ta tằng hắng lên giọng:
- Thưa bà! Tôi.
Bà phủ ngồi dậy, lẹ như chớp,
khoát mùng, chứng tỏ rằng mình đâu kém bản lĩnh.
- Tôi... là ai?
Năm Kiểu rờ cây dao trong
túi rồi buông tay ra:
- Xin bà đừng thức giấc.
Bà phủ Ngọc cười khanh
khách:
- Trời ơi! Té ra mi là kẻ trộm
đạo. Vô đây làm gì? Vàng bạc, ngọc ngà đã khiến mi trở thành kẻ lười biếng hả?
Lời tục thường chê bai kẻ “ngồi mát ăn bát vàng”, mi muốn bị chê bai như ta hả?
Được lắm. Đây là xâu chìa khóa riêng của ta.
Bà phủ mò xuống dưới mí nệm,
xâu chìa khóa khua động.
Năm Kiểu mở mắt, nhìn trừng
trừng vào hai bàn tay vuông vức trên đó đã ghi... con đường định mạng. Bà nói
tiếp:
- À! Ta quên đốt đèn lên cho
sáng. Mi tha hồ lục soát. Chẳng lẽ giữ của để chịu chết lảng nhách như vầy sao?
Tiền bạc vòng vàng là gì? Một đời ta, ba đời nó.
Năm Kiểu bước lại đầu giường:
- Khỏi cần đốt đèn. Nếu bà đốt
lên, tôi giết bà.
Giọng bà phủ lộ vẻ sợ hãi:
- Té ra cậu vào đây để tư
tình với cháu tôi. Cậu tìm lầm phòng ngủ chăng? Con Mỹ Huê nằm bên kia, phía
bên trái phòng tôi. Đêm nay, nó đi vắng.
- Nhưng, thưa bà, tôi là kẻ
sát nhơn.
Bà phủ vẫn chưa hiểu:
- Cậu vừa giết người rồi chạy
vào đây trốn à? Cơ khổ. Làm sao trả lời với phép nước? Lưới trời lồng lộng, cậu
ơi! Muốn ăn uống gì không? Tôi giúp cậu một số tiền. Cậu nên đi nhanh kẻo trời
sáng.
Năm Kiểu xoa tay, nói lẩm bẩm:
- Tôi muốn ở đây... Bà xem
hai bàn tay này...
Như bị thúc đẩy bởi một mãnh
lực vô hình ma quái nào, Năm Kiểu đưa tay lên... Mười ngón tay anh ta, nở ra,
kéo dài gấp đôi... Bà phủ nói:
- Ghê quá. Hay là cậu muốn
tá túc ở phòng nầy để lát nữa... giết kẻ khác?
Ngoài sân, có tiếng chó sủa.
Biết rằng không thể kéo dài thời giờ đấu khẩu được nữa, Năm Kiểu nhảy chồm tới,
siết cổ bà phủ Ngọc. Bà ta giãy đành đạch như con gà yếu đuối.
Thi hành xong thủ đoạn, Năm
Kiểu tìm hộp diêm, đốt đèn bên đầu giường. Hai dòng máu đen đúa tuôn ra ngoài
mũi bà ta. Nhưng vàng bạc đâu? Anh ta nhớ đến lời tâm sự của người đẹp: “Vàng bạc
giấu trong gối”. Thật vậy, cái gối nằm của bà phủ quá nặng. Hèn gì khi nãy bà
ta làm tỉnh, khoe xâu chìa khóa để anh ta ngỡ rằng vàng bạc cất ở trong tủ hoặc
ở phòng khác! Mụ nầy xảo quyệt đến mức. Năm Kiểu từ từ bước ra, ôm chiếc gối
vào lòng. Trong phút giây, anh mỉm cười:
- Người giàu sang chưa ắt ngủ
yên vì vàng bạc trong gối cộm lên; trong giấc ngủ, họ nhăn mặt, nói nhảm là phải!
Gà gáy văng vẳng. Dưới sông,
từng giề lục bình trôi theo ngọn nước ròng. Hàng cây dương rì rào... Năm Kiểu
ôm cái gối, bước nhanh về phía miễu Thổ Địa.
Đúng lời giao hẹn, người đẹp
đứng chờ chàng. Nàng vuốt ve, mơn trớn, sờ nhẹ vào chiếc gối rồi nói:
- Chúng ta ra ngoài kia, vui
hơn. Ở đây là chỗ thờ thần mà nói chuyện yêu đương nhảm nhí, e quỉ thần phiền
hà.
Hai người ra sân, dạo theo
hàng cây dương rồi lần ra ngoài ruộng, ngồi nghiêng mình vào nhau. Năm Kiểu hỏi:
- Thằng cha già đâu rồi?
- Nó đi mua rượu. Nó đang giỡn
hớt với mấy cô ả bán nem. Em ghét hắn quá! Sao? Anh vô nhà bà phủ, giết bà ta
xong chưa?
Năm Kiểu đưa hai tay ra,
nhìn từng ngón:
- Anh chưa giết...
Nàng đẹp kêu rú:
- Anh nói sao?
- Anh giết rồi. Nhưng mà rồi...
cũng như chưa. Em à! Anh muốn hỏi em điều này. Phải chăng định mạng, tài hoa
con người đều ghi rõ trong vóc dáng bàn tay?
- Đúng vậy. Anh đưa tay cho
em nắm thử.
Năm Kiểu đưa tay ra... nghĩa
là anh ta phải buông chiếc gối đầy vàng bạc vô chủ. Người đẹp chụp chiếc gối ấy.
Trong phút giây, Năm Kiểu ngỡ nàng muốn chiếm đoạt một mình. Nhưng không! Nàng
kê chiếc gối xuống bờ đất ven ruộng rồi nằm lên. Năm Kiểu đến nằm sát nàng.
Nàng đưa hai bàn tay Năm Kiểu lên cổ... Tay Năm Kiểu siết cổ người đẹp hồn
nhiên.
Rồi anh ta nhìn lên trời.
Sương xuống nhiều lắm. Anh ta chờ đợi lão già chống gậy. Hồi lâu, một người chạy
tới... giống như bà phủ Ngọc. Bà ta nằm bên người đẹp.
Từ đó cho tới sáng. Năm Kiểu
chẳng còn nghe, chẳng còn thấy gì nữa.
Đến 9 giờ sáng. Năm Kiểu tỉnh
dậy. Lũ trẻ chăn trâu, các người trong xóm, thì thầm “ma bắt”. Chúng nó đứng
bao vây. Bấy giờ anh ta mới hiểu rằng mình đã bị “ma bắt” từ hai ngày rày, rồi
ma đem giấu tại bãi tha ma này. Quả thật vậy! Chung quanh anh toàn là những gò
mả, mới có, cũ có. Miệng anh bị nhét đầy nào cỏ, nào đất sét. Tay anh cầm một
khúc mía lau. Trong túi anh, nào đá sỏi, nào vỏ chai dầu gió, nào vỏ chuối. Về
nhà, anh ăn cháo, uống thuốc ngừa cảm mạo rồi thuật câu chuyện trên.
Người trong xóm bấy giờ mới
giựt mình, phải chăng Năm Kiểu đã phát giác đầu đuôi về cái chết của bà phủ Ngọc!
Bà phủ ấy ở làng bên cạnh chết vào năm 1946, với đứa cháu gái, lúc tản cư. Thân
nhân ra công tìm kiếm nhưng chẳng ai biết mồ mả ở đâu, vàng bạc ở đâu? Chuyện
tưởng đâu đã lãng quên nhưng tình cờ Năm Kiểu gợi lại:
- Đúng rồi! Bà phủ với đứa
cháu gái nằm chung một gối, kế bên tôi. Bà con nhớ chỗ đó không? Còn thủ phạm
chính là một lão già “thọt chân”.
May thay, trong xóm chẳng có
lão nào “thọt” cả. Năm Kiểu gật gù, mặt mày như còn khờ khạo, chưa trở lại bình
thường.
Hai con cá
Ngoài biển, mặt trời khuất dạng
rất chậm chạp, những tia nắng cuối cùng còn rơi rớt khá lâu, mây nhuộm màu
đỏ sậm rồi chuyển sang màu tím.
Khi chìm xuống đáy nước, dường
như ánh nắng vẫn lưu luyến cõi trần gian, từ dưới thủy cung chiếu ngược lên, điểm
từng bệt son trên mấy cánh buồm về bến quá muộn.
Tôi nằm lim dim trên chiếc
ghe câu của lão Từ Thông. Thằng Tặc - đứa cháu của lão - chèo với dáng điệu uể
oải, đưa chiếc ghe vào gần bãi. Lão Từ Thông nói với tôi:
- Xui xẻo quá! Tôi thất hứa.
Mọi khi tệ lắm cũng gặp vài con cá chét (tên loại cá ngon). Chiều nay, trời xui
đất khiến...
Tôi đáp:
- Không có cá thì thôi.
Lão cau mày:
- Thế nào cũng gặp vài con. Ở
miền biển mà thiếu cá ăn, dở quá. Nếu không làm cách nầy thì mình làm cách
khác. Ráng mà chờ. Tối nay, mình ăn cháo cá trên bãi cho vui.
Gió thổi hiu hiu... Tôi dỗ
giấc ngủ, chẳng cần chú ý đến việc làm của thầy trò lão Từ Thông. Họ mời tôi ra
Hòn Tre, dạo bãi biển rồi câu cá, uống rượu dưới bóng trăng. Hồi nhận lời, tôi
hy vọng rằng mình sẽ được dịp thoát trần, sống xa vòng danh lợi như tám ông “hiền”
ở rừng trúc. Nào dè đâu, chiều nay, tôi nằm ôm bụng đói.
Có lẽ tôi ngủ không lâu cho
lắm. Vừa giựt mình thức dậy, tôi thấy một người con gái khá đẹp, mặc áo lụa bạch
nhảy vào khoang nghe. Tôi dụi mắt, hỏi:
- Cái gì vậy?
Lão Từ Thông cười giòn:
- Chú em ngủ gục hả? Một con
cá chét vừa mắc câu! Ngon quá, nhưng một con ăn không đủ. Ráng kiếm thêm một
con nữa...
Thằng Tặc nắm guốc chèo, nói
nhanh:
- Tối rồi! Câu ở chỗ nầy,
không nên.
Lão Từ Thông nói gắt:
- Chim trời cá nước... Tao
vái hồi nãy rồi. Tao chịu trách nhiệm mà.
Mặt biển bỗng xao động, sát
mũi ghe. Ánh trăng sáng lóng lánh như tấm gương bể ra hàng trăm mảnh vụn nát.
Tôi thấy rõ ràng một kép hát bội đang nhô đầu khỏi mặt biển, đầu đội mão dắt
lông trĩ, râu hùm mày én, tay hươi gươm. Lão Từ Thông thò tay xuống. Anh kép nọ
xuôi mình, nằm lơ lửng.
Tôi hỏi nhanh:
- Ai vậy ông?
Lão Từ Thông đáp, giọng tỉnh
táo:
- Con cá... chớ cái gì?
Từ phía sau lái ghe, thằng Tặc
nói lập vập:
- Về, ông ơi! Tôi lội xuống
biển, bỏ ghe cho ông à!
Lão Từ Thông nói:
- Thằng này thiệt! Tao nghe
lời mầy một phen. Đủ rồi. Chèo vô bãi để nấu cháo cá. Một con nấu cháo, một con
nướng.
Tôi suy nghĩ bâng quơ, mắc cỡ
thầm. Tại sao đã hai lần tôi thấy một người con gái rồi một anh kép hát bội? Bảo
rằng tôi ngủ mê thì vô lý quá. Thật ra, lần ấy tôi dở tỉnh dở mê. Trong vài quyển
sách khoa học, tôi đã từng đọc những đoạn tả lại tâm trạng của kẻ đi lạc giữa
sa mạc. Lúc khát nước, họ thấy nào suối ngọt, nào cây chà là rợp bóng. Phải
chăng vì thèm ăn, thèm gái đẹp mà bỗng nhiên tự tiềm thức, những hành động ấy nảy
ra? Vô lý quá.
Chiếc ghe đã cặp vào bãi
cát.
Bấy giờ, trời tối đen mịt,
dường như sắp chuyển mưa giông. Thằng Tặc đốt ngọn đèn bão, nhảy xuống, tay nắm
đỏi ghe, nói nhanh:
- Mình quăng neo chờ qua cơn
giông.
Lão Từ Thông lắc đầu:
- Tối nay, mình nấu cháo, nướng
cá trong hang Cây Gừa. Trời chuyển mưa là cố ý cầm chân bọn mình. Nếu về nhà, tức
là mình làm chuyện trái ý Trời Phật.
Nghe nói ba tiếng “hang Cây
Gừa”, tôi bắt đầu lo sợ, đảo này tuy thiếu cọp beo nhưng thừa rắn rít và ma
quái. Dưới ánh đèn vàng vọt, gương mặt thằng Tặc trông thiểu não vô cùng. Nó ngồi
quị xuống như phản đối. Lão Từ Thông nhìn thẳng vào mặt tôi:
- Chú em ngủ trong hang cho ấm.
Ăn no rồi ngủ, chờ sáng hãy về xóm. Hang Cây Gừa hiền lành lắm, đừng lo.
Rồi lão nạt thằng Tặc:
- Mầy chưa tởn hả? Muốn về
thì lội xuống biển đi. Đừng nhấp nhứ.
Nói xong, lão xách hai con
cá chét đến gần thằng Tặc rồi giựt ngọn đèn bão:
- Tao đi trước nè! Tao xách
hai con cá nè!
Tôi và thằng Tặc lủi thủi
theo sau. Gió thổi ngày càng mạnh. Tôi hỏi:
- Hang Cây Gừa chắc ghê lắm
hả?
Nó im lặng, cúi đầu.
Tôi thúc giục:
- Cứ nói riêng cho anh biết.
Gió thổi mạnh, lão Từ Thông làm sao nghe được câu chuyện riêng giữa hai anh em
mình?
Nó cứ im lặng, một sự im lặng
khó hiểu.
Sườn Hòn Tre dựng lên trước
mặt. Tiếng sóng biển ì ầm dường như tan mất, hòa lẫn trong giọng rì rào của cây
lá. Bàn chân tôi lạnh ngắt khi dẫm lên mấy gành đá ẩm ướt. Giây lâu, lão Từ
Thông day lại:
- Gần tới rồi. Đừng noi chuyện
to nhỏ gì hết.
Tôi chú ý thấy hai con cá
chét vẫy đuôi, vẩy cá sáng ngời, mắt cá vàng vọt, lấp lánh qua ánh đèn. Nghe
đâu loại cá này có lớp mỡ mỏng bọc ngoài tròng mắt, giống như người đeo kiếng.
Lão Từ Thông dừng lại, lách
mình giữa hai tảng đá đen xì, cao hơn đầu. Lão xô cánh liếp, vào hang.
Tôi và thằng Tặc vào hang.
Lão nói với tôi:
- Cây Gừa mọc trên nóc hang
này. Bây giờ thì chú em nằm nghỉ, chờ ăn.
Hang đá giống hệt một căn
phòng. Trong góc hang, vài khúc củi cháy tàn, đen đúa, nằm lăn trên mớ tro lạnh
ngắt. Kế bên đó là năm cái chén, năm đôi đũa, một cái nồi...
Tôi ngồi dựa lưng vào vách.
Hơi đá ẩm ướt xông ra. Vài giọt nước rỉ xuống, tôi vuốt mặt, ngơ ngác:
- Nước ở đâu vậy ông?
Lão Từ Thông nói:
- Đừng hỏi. Chắc là trên nóc
hang nầy có nước mạch. Mình ở đây, cứ lo chuyện ăn, chuyện uống. Đừng bàn qua
chuyện khác. Sáng mai, tôi nói rõ hơn.
Lão đặt hai con cá lên nền
đá rồi gãi đầu:
- Quên chớ! Còn hai chai rượu
dưới ghe. Mầy Tặc! Dám trở lại không?
Thằng Tặc im lặng. Lão cằn
nhằn:
- Cái gì cũng tao... cái gì
cũng tao! Để tao đi. Mầy đốt lửa cho ấm rồi kiếm cây xỏ lụi hai con cá.
Rồi day qua tôi:
- Mình châm chế bớt. Nấu
cháo mắc công lắm. Chú em chờ tôi...
Lão Từ Thông khuất dạng phía
ngoài cửa hang. Trong này, tôi và thằng Tặc nhìn nhau, chẳng biết nói chuyện gì
cho bớt cô đơn lạnh lẽo. Tôi lắng tai, chờ đợi một tiếng chim ụt hoặc một bóng
ma... Nhưng chẳng có gì xảy ra cả! Thằng Tặc đến bếp, mở cái ống khói cây đèn
bão, đưa vài lá khô ngay ngọn lửa. Lá khô cháy bừng lên... Chặp sau, ánh lửa
vàng rực. Bỗng nhiên, sau lưng tôi có tiếng giẫy đành đạch. Hai con cá vẫn còn
sống nhăn với cặp mắt long lanh, ướt át. Để phá tan sự yên tĩnh, tôi nói to:
- Để tao kiếm nhành cây xỏ lụi,
đem nướng... hai đứa nó.
Gương mặt thằng Tặc bỗng mất
thần. Nó với tay, vỗ nhẹ vào vai tôi:
- Đừng... Để cho ổng.
Tôi đáp:
- Nói chơi mà nghe, chớ công
chuyện đó để dành cho mày. Nướng cá là một nghệ thuật.
- Nghệ thuật là... cái gì?
Thôi, đừng nói tới chuyện đó nữa.
Lửa cháy bập bùng, ấm áp làm
sao. Lửa bốc thành ngọn, khói bay vần vũ, quanh quẩn trên nóc hang đá. Một luồng
gió hắt mạnh. Cánh liếp hé ra. Cái đầu của lão Từ Thông lú vào:
- Vậy mà tôi tưởng mấy cậu
trốn rồi chớ.
Lão xách chai rượu vào hang,
ngó dáo dác:
- May quá! Hai chai rượu mà
mất hết một, còn một khó hiểu quá.
Tôi nói:
- Ông ngồi gần bếp lửa cho ấm.
- Mồ hôi tuôn ra nườm nượp
mà ngồi gần lửa củi, làm sao chịu nổi. Để tôi gài chốt cửa.
Đi ngoài mưa gió, tại sao
lão ta than nực nội?
Ngoài cửa hang, tiếng ho sù
sụ nổi lên.
Thằng Tặc rời bếp lửa, chạy
đến góc hang, ngồi che mặt, day lưng ra ngoài. Tôi hỏi lão Từ Thông:
- Ai vậy?
Lão lắc đầu:
- Đừng hỏi. May quá. Ông chủ
hang đá nầy chớ ai. Chú em cứ giả câm giả điếc, ngồi xem cho vui.
Tôi đến vách đối diện, ngồi
sát bên thằng Tặc. Nó run lẩy bẩy, ngồi không yên một chỗ, hai chân cứ nhích tới
nhích lui. Giọng nói bên ngoài vọng vào:
- Đóng cửa rồi hả? Mở cửa
cho chủ nhà vô chớ.
Lão Từ Thông vẫn ngồi im bên
đống lửa. Hai con cá chét giãy giụa, lăn tròn. Cánh liếp tự nhiên hé mở chăng?
Tôi chẳng thấy bàn tay nào mở chốt cả. Một ông lão đội nón lá, mang áo tơi bước
vào, tay xách chai rượu. Chừng lão dở nón ra, tôi nhìn gương mặt và mái tóc hoa
râm mà đoán chừng: tuổi lão hơn 60 nhưng còn mạnh khỏe. Lão quì xuống sờ vào
hai con cá chét:
- Còn sống hả?
Rồi nói với lão Từ Thông:
- Anh em tất cả là 3 người,
phải không? Tôi về bất thình lình, chắc anh em hơi ngạc nhiên. Hồi nãy, tôi ăn
cắp chai rượu nầy. Bây giờ, tôi rót ra, chủ với khách cùng uống cho vui.
Ông lão chủ hang với tay lấy
cái chén, rót rượu vào rồi nói lẩm bẩm:
- Một, hai, ba... với tôi nữa
là bốn người. Ông Từ Thông đưa chén cho tôi, đưa thêm ba cái chén nữa.
Hai con cá chét cứ giãy mạnh
hơn. Tôi chú ý: Miệng cá như há ra, khép lại từng chập. Lão chủ hang nâng chén,
uống trước rồi rót rượu vào chén thứ nhì, mời lão Từ Thông:
- Uống đi.
Lần thứ nhứt, lão Từ Thông
khai khẩu:
- Dạ, không dám.
- Bậy nè! Tiên vi chủ, hậu
vi khách. Uống cho mau, ở đây lâu lắc, mấy ổng chết hết...
Tôi bắt đầu hiểu: mấy ổng
chính là hai con cá chét. Nhưng hơi vô lý! Ban nãy, tôi thấy rõ ràng một người
con gái và một anh kép hát bội. Một cậu, một cô, hoặc “một ông một bà” thì đúng
hơn. Hay là danh từ “mấy ổng” được dùng để ám chỉ thằng Tặc và tôi? Hai đứa tôi
làm gì mà phải chết? Hoặc giả hang đá này sẽ đóng kín lại? Hoặc loại mãng xà sẽ
xông vào ăn thịt?
Lão Từ Thông như sợ sệt,
nâng chén rượu uống một hơi thật nhanh, mặt lão nhăn nhó như người bịnh đang uống
chén thuốc cay đắng.
Lão chủ hang đến bên cạnh
lão Từ Thông, vặn đèn lên, quăng vài nhánh củi khô vào bếp:
- Lần nầy là lần thứ mấy rồi?
Lão Từ Thông cúi đầu:
- Lần thứ tư.
- Giỏi quá vậy? Lão năm nay
bao nhiêu niên kỷ?
- Dạ, năm mươi.
- Tuổi trời còn dài. Sao lão
chưa bỏ thói hư tật xấu?
Lão Từ Thông như tức giận,
nói gằn từng tiếng:
- Bỏ nghề này, tôi lấy gì mà
sống? Vả lại, chừng nào chết cũng được.
Lão chủ hang gật đầu:
- Xin lỗi... Mình còn gặp
nhau, ở chốn khác. Xưa nay, câu cá là điều thú vị của kẻ tu tiên, ẩn sĩ qui điền,
ngư tiều canh mục. Tôi biết. Nhưng lão ác quá. Thử hỏi nếu có người đem lưỡi
câu móc vô miệng lão rồi giựt lên, rồi lụi cây vào bụng mà nướng... lão vui
không?
- Làm sao vui được!
Thế rồi lão chủ hang gật đầu:
- Thằng cha già nầy dám ăn
dám nói. Cũng gọi là đủ bản lĩnh, như quế với gừng, càng già càng cay. Lát nữa
sẽ hay. Bây giờ tới thằng nầy.
Thằng Tặc run lẩy bẩy... Tôi
hồi hộp quá, muốn chạy vụt ra ngoài cửa hang cho mất dạng nhưng thử đánh liều
xem sao! Lão chủ hang có thể là ma quái và cũng có thể là người phàm tục, gàn
bướng nào đó, sống ở đầu gành cuối bãi. Vì khinh thị lão ta là gàn bướng nên
lão Từ Thông dám trả lời gay gắt:
- Thằng này! Sao không lên
tiếng mậy?
Lão chủ hang nói lần nữa:
Tôi lên tiếng:
- Ông nói chuyện với tôi?
Lão chủ hang lắc đầu:
- Chưa tới phiên cậu đâu.
Tôi nói với cái thằng nhỏ day mặt vô vách đó. Nó tên gì vậy?
Lão Từ Thông nói:
- Tên thằng Tặc.
- Trong bộ sổ chưa ghi tên
nó.
Lão Từ Thông nói to:
- Tặc ơi! Nghe ổng hỏi ba điều
bốn chuyện cho xong đi. Đừng sợ. Mạng mày còn vững lắm.
Bấy giờ thằng Tặc kêu rú:
- Tội nghiệp...
Lão chủ hang đứng dậy, xách
lỗ tai thằng Tặc. Tôi rùng mình vì lão ta hôi hám lạ thường, vừa hôi vừa tanh.
Hai chân lão sáng ngời như thoa mỡ. Hai dấu chân lão còn in rành rạnh trên nền
đá. Con mắt lão giống hệch... con mắt cá chét. Lão nhướng chân mày nhưng tròng
mắt vẫn không mở rộng ra thêm tí nào cả. Dường như tròng mắt ấy “đứng” lại! Da
mặt lão hơi sần sùi, lợt lạt. Lão nói nhóp nhép đôi môi, nhưng gò má như chết cứng
không động đậy. Tôi sực nhớ đến gương mặt và đôi mắt của những pho tượng bằng
cây, thờ trên bàn tổ, ở nhà lão sư nào đó.
- Mầy theo chiếc ghe câu nầy
hả?
Thằng Tặc đáp:
- Dạ.
- Hồi nãy mầy chèo lái hả?
- Dạ, ông Từ Thông biểu gì
tôi làm nấy.
- Mầy ở Hòn Tre nầy mấy năm
rồi? Lớn chồng ngồng chớ đâu phải con nít mà ngu dại quá. Từ rày về sau, đừng dại
dột nghe lời thiên hạ nữa, nghe không?
- Dạ.
- Hồi nào tới giờ, mầy thấy
mặt tao lần nào chưa? Đừng sợ, thôi, lần này tao véo lỗ tai cho mầy nhớ.
Hai ngón tay lão ta siết lại.
Thằng Tặc rên hít hà nhưng cố chịu đựng cơn đau đớn.
Lão chủ hang day qua tôi:
- À! Cậu này lạ mặt... Đi học
hả? Sao không chơi giỡn ở chợ búa mà ra ngoài này? Nhập gia tùy tục, nhập giang
tùy khúc... biết câu đó chăng?
Tôi đáp:
- Nghe nói sơ qua vài lần,
thưa ông.
Lão chủ hang gục gật đầu,
chép miệng:
- Đời bây giờ học chữ chớ
không học nghĩa. Nhứt tự lục nghì... Thế gian say mê chữ nghĩa của “tân trào”,
quên hết đạo lý thánh hiền. Thôi, ta tha cho...
Hai con cá chét lại đập đuôi
nhưng lần này quá yếu ớt. Lão chủ hang day lại, nói đổng:
- Nằm đó cho yên. Lát nữa, tới
phiên cậu, tới phiên cô...
Lão đội nón lá, đến gần bếp
lửa, cầm khúc củi quơ qua quơ lại cho ngọn lửa tắt. Rồi lão đưa đầu khúc củi tới
sát bàn chân lão Từ Thông:
- Ta sắp về. Đưa chân ra để
thọ hình.
Lão Từ Thông chép miệng:
- Hôm nay, chỉ vì chú em đó
mà tôi tới đây. Lần sau, tôi chịu phạt. Hôm nay thì xin hoãn lại.
- Lần này là lần thứ năm, nhớ
kỹ nghe không?
Nói xong, lão chủ hang đến gần
hai con cá chét, nói rù rì. Lão ta cầm chai rượu, tạt vào bếp lửa. Hơi rượu phựt
cháy, tỏa ra thứ ánh sáng kỳ diệu, xanh lè.
Chừng ánh sáng xanh lè ấy biến
mất thì lão cũng mất dạng. Tôi dụi mắt, dường như thấy hai con cá chét nọ đứng
dậy, thẳng mình trên cái đuôi mỏng mảnh, hơi cong cong, nhảy ra ngoài cửa.
Hôm sau, lão Từ Thông giải
thích:
- Đêm rồi, tôi rắn mắt đi
câu cá tại mũi Hà Bá, là vùng thiêng liêng của ông hoàng tử Cảnh. Hai con cá đó
là binh tướng, là gia nhân của ông hoàng. Ông lão chủ hang... vốn hiền lành. Đừng
giận ổng làm gì. Ổng làm phận sự của ông hoàng tử Cảnh giao phó. Từ hồi bảy tám
chục năm về trước, mấy người đánh lưới thường gặp ông ta, cũng tại hang Cây Gừa
này! Chú em tin rằng thế gian này có ma không? Hồi đêm rồi, mình bị ma nhát đó!
Tôi hỏi:
- Làm sao ông hoàng tử Cảnh,
con vua Gia Long cai quản tới Hòn Tre, miệt Rạch Giá? Mộ của ổng, dường như ở
ngoài Huế.
Lão Từ Thông quả quyết:
- Mả ông hoàng tử Cảnh hiện
giờ ở ngoài Phú Quốc, di tích hãy còn, gọi là Cây Da Quét Mộ. Trên nền mộ, có
cây da buông nhành xuống. Gió thổi khiến nhánh da quét qua quét lại, tư niên
mãn mùa, trên nấm mộ chẳng thấy lá da nào hết, thiệt là... trời quét mộ cho
hoàng tử... Bao nhiêu cá tôm ở gần Hòn Tre là bấy nhiêu quân sĩ của ổng...
Trước lý luận và bằng cớ “khẩu
truyền” ấy, tôi chịu thua. Mãi đến năm nay, tình cờ đọc quyển Đại Nam Nhứt Thống
Chí tôi bắt gặp đoạn văn sau đây chứng tỏ đó là hoàng tử Nhựt chớ không phải
hoàng tử Cảnh: - Hai ông hoàng này đều là con của Gia Long:
- Hà Tiên Tỉnh (mục Lăng Mộ):
Sơn phần Hoàng tử tiền triều, ở địa phận thôn An Hòa, đảo Phú Quốc. Lăng này của
hoàng tử tên húy là Nhựt, chết yểu táng tại đây. Năm Minh Mạng thứ 6, Hộ bộ
Hoàng Văn Ninh đi sứ qua Xiêm, bị gió tấp vào đấy, có sắm lễ đến cáo yết.
Và tôi bắt đầu tin rằng ở đầu
gánh cuối bãi... có thể có ma nhát! Nhưng loại ma đó hiền hậu, nên thơ lắm. Đồng
bào địa phương giữ mãi dấu ấn xưa, mơ màng vì nó gắn bó với việc mở nước đầy
gian lao.
Hai mẹ con
Từ hồi chồng chết tới giờ,
bà chủ Mẹo bị phá sản nặng nề, mấy chiếc ghe lưới đều bán lần hồi, đất ruộng
thì vào tay của chủ nợ.
Tuy nhiên, hồi năm ngoái, đứa
con trai của bà mua bán khá giả. Hai Tân, tên cậu trai, xài tiền như nước, mướn
thợ hồ về xây cho cha và sẵn dịp xây luôn cho bà chủ một cái kim tĩnh. Bà chủ Mẹo
rất cảm động trước tấm lòng hiếu thảo của đứa con trai độc nhứt:
- Má chưa già, con đừng làm
vậy... xui xẻo lắm.
Hai Tân nói riêng cho mẹ
nghe:
- Việc làm ăn của con khi vầy
khi khác, mẹ dư hiểu.
Bà chủ Mẹo im lặng, không trả
lời. Thật ra, Hai Tân đã hành động hợp lý. Cứ đôi ba tháng cậu ta đi ra Hòn
Tre, đón những ghe buôn á-phiện lậu thuế rồi đóng vai trò kẻ trung gian, mua một
bán mười. Chỉ có hai chuyến mà cậu lời hơn năm ngàn đồng. Nhưng nghề của cậu rất
nguy hiểm, một mặt phải ứng phó với bọn buôn bán ưa lật lọng, trở mặt làm trái.
Mặt khác, Hai Tân phải theo sát bọn “Tây đoan” ở chợ Rạch Giá. “Tây đoan” thường
bố trí nhiều tay chân người Hải Nam. Bọn nầy dùng ghe biển, mang số hiệu ngụy
trang để tìm kiếm Hai Tân, giả như buôn lậu rồi gài bẫy, bắt tại trận. “Thuốc dạy
thầy, cây dạy thợ”, lời tục thường so sánh rất đúng. Lần hồi, Hai Tân học võ
nghệ, đánh quyền, đánh đoản đao, rồi sắm thêm một khẩu súng giả để tùy cơ ứng
biến.
- Biết đâu, vì hoàn cảnh khó
khăn nào đó, công việc làm ăn đổ bể, con đành dẹp nghề, không còn làm ra tiền.
Xây kim tĩnh để phòng khi trăm tuổi già là điều rất tốt. Nhiều người còn sống
nhăn mà họ rinh cái hòm, ủa, cái thọ, đem chưng bên góc nhà. Đâu có gì là xui xẻo.
Nhiều người nói: Nhờ xây kim tĩnh hoặc mua hòm để sẵn mà người sống cứ sống
hoài, chẳng bao giờ chết. Nếu chết thì cũng quá tuổi trời cho.
Luận điệu của Hai Tân nghe
xuôi tai quá. Bà chủ Mẹo vẫn thắc mắc. Bà góa chồng vào năm bốn mươi tuổi. Ba
năm trôi qua, nghĩa là bà mới có bốn mươi ba cái xuân xanh. Nhờ chút “hường
nhan” trời phú cho, dường như bà ngày càng đẹp, càng trẻ. Nội trong số thân hào
ở Xẻo Rô, có ông hương quản Cò thường tới lui tâm sự với bà. Ông nầy góa vợ
nhưng thề chẳng bao giờ tục huyền.
Hơn tuần lễ qua Hai Tân vắng
dạng, sau một chuyến ra Hòn Tre. Bà chủ Mẹo buồn bã ra mặt, cứ đi tới lui, xuống
bến ngó mong. Đến khi mệt mỏi, bà chủ kêu con Hạnh, đứa tớ gái tâm phúc mà căn
dặn:
- Bà nằm cho đỡ mệt. Mày cứ
đóng cửa trước cửa sau. Nếu gặp người nào lạ mặt thì cứ chạy vô cho bà hay. Đừng
nói chuyện dài dòng với họ, nguy lắm.
Con Hạnh hỏi:
- Sao vậy bà? Nếu ông hương
quản Cò tới thăm...
- Cứ nói rằng bà đau, hẹn ổng
mai chiều hãy trở lại.
Đã ba ngày trôi qua não nề,
chủ tớ thay phiên nhau canh chừng. Người hàng xóm bắt đầu dị nghị, hồ nghi rằng
bà chủ Mẹo đã mang thai, “thèm đồ chua” nên lánh mặt cho qua buổi... chờ lúc
phá thai. Con Hạnh báo cáo những lời gièm xiểm ấy. Bà lắc đầu:
- Vàng thiệt đâu sợ lửa. Bà
sợ... thứ khác.
Trưa hôm ấy, bà đang lim dim
chợt nghe thấy con Hạnh mở cửa, gọi khẽ:
- Bà ơi! Ông này tới... kiếm
bà.
Bà chủ lồm cồm ngồi dậy,
khách lạ chính là người hơi quen, đã vào nhà bà nhiều lần để ăn cháo khuya rồi
ra đi với Hai Tân, trước khi gà gáy sáng. Khách nói:
- Bà chủ nhớ tôi không?
- Nhớ mặt sơ sơ, hình như là
chú em quen với con tôi.
Khách dòm dáo dác rồi hỏi
nhanh:
- Con nhỏ này là ai?
- Đứa ở.
Rồi bà chủ ra lệnh:
- Hạnh ơi! Con ra sau nhà bếp
lo nấu cơm cho sớm.
Con Hạnh vừa khuất dạng,
khách mới lần tay áo đem ra một miếng giấy. Rồi vụt quay mình:
- Tôi không dám ở lâu. Tôi
chẳng còn biết điều gì lạ hơn... miếng giấy đó. Bà ở lại bình yên.
Bấy giờ, bà chủ thất sắc, gắng
gượng bước lại cửa, khóa thật chặt. Trống ngực nổi lên thình thịch, bà run tay,
mở tấm giấy ra như thể đón nhận một bản án tử hình. Nhứt định đứa con trai bà
đang gặp tai nạn lớn, bằng không thì nó đã về. Nó là đứa con chí hiếu, chẳng chịu
đi xa nhà quá lâu.
Lời lẽ bức thơ thật vắn tắt:
- “Má ơi, con giết hai thằng
ở dưới ghe buôn lậu. Tụi nó muốn trả thù, hăm he làm đơn thưa với Tây đoan. Con
lánh mặt nhưng nhớ má quá chừng. Vậy ngày 18 âm lịch nầy, cỡ 10 giờ tối, con
lén về thăm má. Chắc tụi nó không dám thưa gởi đâu? Vì làm vậy tụi nó cũng bị bắt
luôn.
Hai Tân”.
Đọc xong, bà chủ Mẹo vừa mừng
vừa sợ. Hai Tân sống nhăn nhưng chưa biết tương lai ra sao! Mười tám, ngày âm lịch,
tức là tối mai. Tội nghiệp cho đứa con thân yêu, chắc hổm rày nó ngủ với rắn độc
và khỉ đột ngoài hải đảo.
Từ phía nhà bếp con Hạnh chạy
lên:
- Thưa bà, ai vậy?
- Đừng chòi mòi chọc mọc. Cậu
Hai mầy nhắn tin về. Nó còn sống.
Rồi nói thêm:
- Lát nữa, mày ra chợ mua một
chai “rượu ông cọp đen”, hai gói thuốc hút hiệu Trái đất. Cậu Hai mày ưa thứ đó
lắm... Mua bốn chai rượu, tám gói thuốc, bà quên! Chắc cậu Hai mày về một chốc
một lát rồi lại đi...
Con Hạnh ra khỏi cổng, gian
nhà trở nên hoang vắng lạ lùng. Bà chủ Mẹo mân mê bức thơ, chưa biết nên đốt bỏ
hay để dành. Giữ bức thơ tức là giữ một bản án, nếu nhà chức trách tới lục xét,
bắt gặp. Còn đốt thì đau xót quá. Rủi Hai Tân chết biệt tích, mảnh giấy đó trở
thành kỷ niệm cuối cùng của đứa con bạc mạng.
Ngoài cổng có tiếng gọi
nhanh:
- Bà chủ ơi!
Bà chủ Mẹo nhận ra giọng nói
quá quen thân của hương quản Cò. Ông hương nầy tuy làm việc cho nhà nước Pháp
nhưng đối xử đẹp và có cảm tình đặc biệt với bà. Hơn nữa, ông ta đã... tham gia
việc buôn á phiện lậu với Hai Tân đôi ba lần gì đó, bà nghe Hai Tân nói lại. Để
đánh tan mọi nghi ngờ, bà lên giọng:
- Anh hương đó hả? Tôi ra mở
cửa đây.
Vừa nói, bà vừa chạy lại góc
giường, giấu bức thư dưới mí chiếu. Ông hương quản Cò đã tới thềm nhà:
- Bà chị hôm nay bận rộn quá
vậy? Nghe nói bà chị đau ốm, tôi tới thăm.
Hồi lâu, bà chủ Mẹo mới cười
tỉnh táo, mở cửa mời khách vào. Ông hương ung dung châm điếu thuốc rồi với tay
khép cửa.
- Gấp lắm. Tôi muốn báo động,
nhắn lại với bà chị vài điều liên quan tới Hai Tân. Chừng nào nó về. Chắc là
đêm nay hoặc đêm mai.
Bà chủ suýt nghẹt thở. Tại
sao ông hương quản biết rành tới mức ấy? Hay là ổng sống nhiều năm, từng điều
tra hằng trăm vụ mờ ám nên nhắm mắt cũng nói đúng sự thật. “Thủ thế là hay nhứt”.
Nghĩ vậy bà chủ chối leo lẻo.
- Thằng Hai Tân làm gì mà...
liên quan? Hổm rày nó ra chợ Rạch Giá. Bộ nó nhắn với anh là đêm mai nó về hả?
Bây giờ hương quản Cò mới
nói rỉ vào tai bà chủ Mẹo đầu đuôi tự sự. Số là ban nãy ông ta gặp con Hạnh ra
xóm tiệm mua rượu con Cọp đen và thuốc hút hiệu Trái đất, hai món mà Hai Tân ưa
dùng nhứt. Rồi ông ta nói thêm:
- Đừng giấu giếm, vô ích.
Tôi đâu nỡ hại bà chị. Nghe đâu Hai Tân giết người ở Hòn Tre. Hồi sáng, quan chủ
quận “chạy tờ” về làng cho tôi hay, bảo tôi điều tra cho biết sự thật. Dạo nầy,
mấy ông Tây đoan ưa tuần tra vùng Xẻo Rô. Bà chị hãy cẩn thận.
Bà chủ Mẹo xám mặt:
- Anh giúp tôi một phen...
Không khéo cả nhà này chẳng còn ai sống...
- Muốn giúp thì tôi phải biết
đầu đuôi tự sự. Tôi mà phản bội... từ rày bà con cứ gọi tôi bằng con chó.
Bà chủ trao cho hương quản
Cò lá thơ của Hai Tân. Xem xong, ông ta trầm ngâm:
- Đêm mai, vào khoảng 10 giờ
nó về. Dễ quá. Nếu Tây Kiểm lâm hay Tây đoan tới Xẻo Rô, tụi nó phải gặp tôi
trước khi tới đây bao vây nhà bà chị.
- Nếu tụi nó bao vây gấp...
- Tôi sẽ dẫn tụi nó tới vào
khoảng 8 giờ tối hoặc 8 giờ sáng. Bà chị cứ rước Hai Tân vô nhà để mẹ con hàn
huyên. Tội nghiệp! Chắc nó thèm rượu, thèm thuốc hút dữ lắm.
- Anh hương thương xót giùm
mẹ con tôi. Tôi như người ngồi trong đống lửa than. Phải chi gặp mặt Hai Tân,
tôi biểu nó đình lại vài ngày...
Chặp sau, con Hạnh mua rượu
về, hương quản Cò khuyên bà chủ Mẹo chuẩn bị thức ăn tiếp đãi Hai Tân. Ngoài
ra, ông ta còn bố trí kế hoạch canh phòng: tối mai, bà chủ Mẹo chẳng nên ngủ tại
nhà, con Hạnh nên đứng sẵn dưới bến để làm dấu hiệu. Bà bắt đầu tươi tỉnh:
- Đúng rồi! Con Hạnh canh chừng
đường thủy. Tôi ra sau vườn dò xét đường bộ. Còn anh thì lo đón rước mấy ông
Tây, dùng kế hưỡn binh. Khổ biết bao nhiêu! Rủi thằng Tân về... đụng đầu chắc
nó dám giết thêm vài thằng Tây. Ráng giùm tôi, nghe anh?
Hương quản Cò đáp:
- Bà chị tin nơi tôi đi. Mọi
việc sẽ xảy ra yên như bàn thạch. Bà chị cứ luộc gà, luộc vịt cho thằng quý tử
đó về nhậu. Vả lại, chưa chắc tụi buôn lậu dám tố cáo.
Đêm sau, từ hồi chạng vạng,
bà chủ Mẹo đã thúc hối:
- Hạnh à! Luộc gà cho mau. Cậu
Hai mầy ưa ăn gà xé phay, thứ còn nóng hổi.
Đích thân bà quét dọn gian
phòng của Hai Tân, trải chiếu bông, châm nước trà thứ thiệt ngon. Luộc gà xong,
con Hạnh nấu một ấm nước sôi để sẵn. “Cậu Hai mầy về khuya mệt mỏi, đói lả; tắm
nước lạnh, rủi nó mang bịnh”. Bà cũng nhớ đến vài chi tiết tuy nhỏ nhưng rất
quan trọng: để sẵn cái khoen khui rượu trong phòng. Và cái hộp quẹt diêm cho
Hai Tân hút thuốc.
Đồng hồ thong thả gõ 9 tiếng.
Hương quản Cò bước vào sân tằng
hắng:
- Bà chị!
Bà chủ Mẹo nhảy nhổm, nói tiếng
được, tiếng mất:
- Cái gì? Êm không?
- Sao không ra ngoài vườn?
Còn con Hạnh, biểu nó xuống bến. Chắc Hai Tân về gần tới rồi. Hồi nãy, ông Tây
đoan tới Xẻo Rô rình bắt mấy nhà đặt rượu lậu và bắt cờ bạc. Đừng sợ. Thôi. Tôi
về nhà để kềm chân ổng. Nhớ lời tôi căn dặn: nếu Hai Tân về ngủ thì phải đánh
thức vào khoảng 5 giờ sáng. Ban đêm, Tây ít dám đi đâu bậy bạ vì nó sợ dân
chúng trả thù. Hơn nữa, dân bổn phổ ở Xẻo Rô đã hay biết. Chắc tối nay nó xuống
ca-nô về chợ hoặc ngủ tại nhà tôi.
Bà chủ Mẹo thở dốc:
- Chết tôi rồi. Nguy quá.
Thôi anh về đẳng kềm chân nó.
- Em đừng sợ. Anh đây đã từng
“chạy” á phiện lậu cho thằng Hai Tân mà. Rủi bị bắt, nó dám khai cả bọn. Anh gởi
lời thăm nó. Lát nữa, nếu êm, anh trở lại hỏi han rồi bày mưu kế cho nó trốn một
thời gian. Thằng Tây đoan này chưa hay biết đầu đuôi. Nó nói ở ngoài Hòn Tre có
mấy thằng buôn lậu chém lộn nhau, hiện giờ nó đã cho lính đoan ra đó điều tra.
Nói xong hương quản Cò tất tả
ra về.
Lão Tây đoan chặn đường ông
hương quản mà reo to:
- Tôi mời ông hương quản uống
rượu chơi.
Hai người xuống chiếc ca-nô,
ăn uống li bì. Đến khoảng 10 giờ khuya, lão Tây đoan vỗ trán, nẩy ra sáng kiến:
- Tối nay, tôi ngủ ở Xẻo Rô.
Ngày mai, tôi cho lính xét bắt mấy sòng cờ bạc, mấy nhà đặt rượu lậu thuế.
Hương quản Cò thúc hối, tìm
cách đuổi lão Tây đoan về tỉnh lỵ Rạch Giá.
- Phiền quan lớn quá. Quan lớn
ở đây thì vui nhưng ở sau chợ Xẻo Rô toàn là rừng rậm. Còn phía dưới sông quá
âm u, ghe xuồng qua lại chẳng biết ai là người thiệt, ai là người gian.
Lão Tây đoan uống thêm cả
lít rượu chát. Lâu lâu, hắn liếc về phía trên bờ. Chiếc ca-nô chạy rề rề. Vài
tên Khuyển, Ưng của lão đi bộ, cầm súng.
Đồng hồ chỉ đúng 10 giờ.
Hương quản Cò phập phồng, ngồi trên sóng nước bềnh bồng nhưng tâm trí còn gởi tại
nhà bà chủ Mẹo. Giờ này, có lẽ Hai Tân đang lầm lủi về nhà thăm mẹ. Ghê thật!
Mới 25 tuổi đầu mà cậu ta biết
buôn lậu, biết giết người! Để đảm bảo cho Hai Tân về thăm nhà được an toàn,
đúng theo lời hứa, hương quản Cò bày vẽ thêm:
- Phải chi quan lớn về chợ Rạch
Giá mà ngủ thì đảm bảo hơn.
Lão Tây đoan cứ lè nhè:
- Say quá rồi! Tụi nó đi lâu
quá. Kìa! Nó dọ thám về tới...
Hương quản Cò chết điếng. Bọn
lính đoan dọ thám chuyện gì? Té ra từ nãy giờ lão Tây đoan uống rượu để chờ đợi
phút ra tay quyết liệt. Tên lính xuống bến rồi co chân nhảy phóc ngay phía sau
lái chiếc ca-nô. Lão Tây đoan đứng dậy, lảo đảo, lần từng bước ra sau lái như
muốn nói chuyện riêng, không cho hương quản Cò nghe.
Trong bóng tối, lão Tây đoan
và tên lính nói qua lại, gật đầu. Lão ta ngó về hương quản Cò mà cười khoái trá
như con thú dữ sắp vồ được miếng mồi ngon.
Gió dưới sông thổi mát rượi.
Hương quản Cò ngồi im ra đó, mồ hôi tươm ra từng giọt trên trán. Lão Tây đoan
trở lại vỗ vai hương quản Cò:
- Biết cái nhà ngói của bà
chủ Mẹo không? Tôi muốn lại đó, liền bây giờ. Hương quản phải đi với tôi.
Hương quản Cò run rẩy:
- Dạ, ở đó có rượu lậu thuế
hả? Dạ bẩm quan lớn, bà chủ Mẹo là người giàu có, sống một mình, chồng bả chết
rồi.
- Tôi muốn tới đó vì chuyện
khác, cần kíp hơn. Hương quản theo tôi, nghe không! Hai người mình đi cho kín
đáo, đừng để ai theo dõi. Mưu kế này hay lắm.
Về khuya, chợ Xẻo Rô càng vắng.
Ai nấy đều ngủ sớm để tránh mặt hung thần Tây đoan. Hương quản Cò dìu lão Tây
say rượu lên bờ. Lão nói:
- Tối nay, tôi ngủ lại nhà
bà chủ Mẹo vừa kín đáo, vừa vui... Tụi nó dọ thám rồi.
Rồi lão ta khoát tay. Bọn
lính đoan mở máy ca-nô, chạy ra ngoài giữa sông Cái rồi từ từ tắt máy, thả trôi
theo dòng nước đang chảy nhanh về phía nhà bà chủ Mẹo.
Đứng ngoài mí vườn, bà chủ lắng
nghe từng tiếng động phía trong nhà và nhướng mắt quan sát từng bóng dáng phía
ngoài ruộng mịt mùng. Sương xuống lạnh lẽo, vài con chim ăn đêm bay lạc lõng...
Đồng hồ trong nhà dường như gõ một tiếng rời rạc. Đã mười giờ rưỡi mà sao đứa
con thân yêu chưa về. Hay nó bị bắt ở dọc đường?
Bỗng nhiên, bà chủ giựt
mình. Từ trong nhà bà, vang ra nhiều tiếng động kỳ quái: tiếng ly chén bể, tiếng
ụa mửa. Bà chạy về nhà bếp, rồi lần theo vách, nhìn vào nhà trên. Qua khe cửa sổ,
bà ghé mắt rồi trợn mắt. Trời ơi! Ông hương quản Cò ngồi trên giường, cái giường
trải chiếu bông dành để đón rước Hai Tân. Hương quản Cò đang đấm lưng cho lão
Tây đoan, lão ta say mèm... Dưới nền gạch, nào là đùi gà, xương gà, mấy cái ve
chai rượu ông Cọp đen. Nơi góc giường, một làn khói bay tỏa lên, nồng nặc. Họ
đã xé mấy gói thuốc hút hiệu Trái đất, gom thành đống, đốt lên... để un muỗi. Từ
nhà bếp, con Hạnh bưng thau nước nghi ngút khói. Nó nhúng chiếc khăn bông vào
thau nước, chùi nhẹ lên trán lão Tây đoan...
Bà chủ Mẹo giận ói mật, đến
cửa sổ, bước qua lại thấp thoáng.
Hương quản Cò chợt nhìn ra,
chạm vào cặp mắt nảy lửa của bà chủ Mẹo. Hương quản nói gọn:
- Hừ! Đừng ai chộn rộn. Để
quan lớn ngủ. Quan lớn ngủ rồi, phải không quan lớn?
Lão Tây đoan vẫn im lìm nhưng
bà chủ Mẹo vụt chạy ra sau vườn, nhảy xuống cái kim tĩnh đầy nước, bên cạnh nấm
mộ của ông chồng quá cố. Cái kim tĩnh ấy do Hai Tân xây sẵn để báo hiếu cho mẹ.
Bà chủ Mẹo rên hừ hừ, úp mặt xuống nước rồi ngửa mặt lên trời... Bà đâu ngờ rằng
vì sự éo le của định mạng, vào giờ phút ấy Hai Tân đang nằm trên tảng đá cheo
leo tận chót đỉnh Hòn Tre giữa biển trời bao la, Hai Tân chờ tuyệt vọng tin
nhà. Từ hồi gởi lá thơ cho mẹ, đến giờ phút cuối cùng nầy, cậu ta chẳng dám xuống
bãi vì đứa tay em thân tín đã “một đi không trở về” sào huyệt cũ. Quá đói khát,
Hai Tân trườn tới, le lưỡi liếm vào lá cây để tìm vài giọt sương... Một con rắn
hổ bò ngang ngực... Cậu với tay nhưng sức người yếu hơn sức rắn.












Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét