Một vài cảm nhận về giá trị của biểu tượng hoa trong
Thế giới các biểu tượng nói
chung đóng một vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của con người
từ xưa đến nay ở khắp mọi miền, mọi dân tộc. Các biểu tượng góp phần làm nên bộ
mặt của một nền văn hóa ở những đường nét cơ bản nhất. Sự tác động, các mối
quan hệ giữa thế giới biểu tượng và thế giới con người, những ý nghĩa hàm ẩn mà
biểu tượng khơi gợi ra như một quy ước thẩm mỹ của cộng đồng… là những vấn đề
lý thú mà chúng ta hằng mong muốn có thể lý giải được. Lựa chọn áng cổ văn Cung
oán ngâm khúc làm ngữ liệu, mục đích của chúng tôi trong bài viết này
là bước đầu tìm hiểu về cách sử dụng biểu tượng “hoa” trong việc thể hiện
hình ảnh người cung nữ và giá trị của nhóm biểu tượng này trong việc thể hiện
tư tưởng, nội dung tác phẩm .
Trước hết, biểu tượng nghệ thuật là những kí hiệu ngôn ngữ được lặp đi lặp lại
nhiều lần, có khả năng biểu hiện những ý nghĩa sâu xa và được thử thách qua nhiều
năm tháng. Thông thường, biểu tượng luôn gắn với một nét đặc trưng truyền thống
nào đó của con người và thế giới khách quan, đó là những hình ảnh đã được dân
gian chọn lọc và sử dụng trong một thời gian dài. Chẳng hạn, trong ca dao, những
hình ảnh như: con cò, con bống, hạt mưa, ngọn đèn không tắt, thuyền, bến...đã
trở thành những biểu tượng quen thuộc. Cùng với đó, trong ca dao, nhóm biểu tượng hoa cũng
đã được hình thành với rất nhiều biến thể: hoa đào, hoa lan, hoa sen, hoa
lý, hoa phù dung, hoa thơm, hoa đang thì, hoa nhài, hoa tàn, hoa thơm mất nhị... Mỗi
một biến thể trên tất nhiên mang những ý nghĩa không hoàn toàn giống nhau nhưng
cùng dựa trên một nét nghĩa chung phổ biến, đó là được dùng để biểu thị cho người
con gái.
Biểu tượng “hoa” ẩn dụ cho người thiếu nữ cũng không phải là xa lạ trong văn
chương cổ. Trong áng cổ văn Cung oán ngâm khúc- tác phẩm tiêu biểu bậc
nhất cho thể loại ngâm khúc trong nền văn học dân tộc nửa cuối thế kỉ XVIII- đầu
thế kỉ XIX , nhóm biểu tượng này trở đi trở lại nhiều lần. Được dùng để biểu thị
cho người con gái, tức người cung nữ trong câu chuyện, mỗi biểu tượng “hoa” lại
thể hiện những sắc thái ý nghĩa khác biệt nhau, không trùng lặp, phục vụ đắc lực
cho nhu cầu giãi bày tâm tư, tình cảm của nhân vật ở nhiều khía cạnh. Mỗi loài
hoa với những tính chất, đặc điểm không giống nhau, hay cùng một loài hoa nhưng
ở các trạng thái khác nhau … đã gợi cho người đọc những liên tưởng phong phú,
đa đạng về đời sống và tâm tư của nhân vật.
Khi chưa vào cung cấm, người thiếu nữ là “phù dung một đoá khoe tươi”.
Nàng chưa mỉm miệng cười thì nhan sắc của nàng đã làm phai nhạt nhan sắc của
các cô gái đẹp khác:
Nhuỵ
hoa chưa mỉm miệng cười
Gấm nàng Ban đã nhạt mùi thu dung
Người
thiếu nữ này hẳn phải ý thức được rằng mình đẹp, ý thức được phẩm chất và tài
năng của mình. Nàng là “hoa xuân nọ còn phong nộn nhuỵ”, còn đang giữ giá,
chưa nhận lời ướm hỏi của ai dù bao công hầu khanh tướng vẫn hằng mong được kết
hôn với nàng. Trái tim của nàng, tuy cũng biết rung cảm, song người “sắc nước
hương trời” như nàng dễ nào đi sánh với kẻ “phàm phu, tục tử”:
Mặt phàm kia dễ đến thiên thai
Hương
trời sá động trần ai
Dẫu vàng nghìn lạng dễ cười một khi.
Xã hội được phản ánh trong Cung oán ngâm khúc là một xã hội tao loạn,
con người trong xã hội ấy luôn trăn trở tìm đường sống. Trong hoàn cảnh ấy, mọi
nguồn sáng tư tưởng đều có thể được con người vận dụng mong tìm được sự an bài
trong cuộc sống. Người thiếu nữ trong tác phẩm hẳn phải thấy rõ cuộc đời là “bể
khổ”, là “giấc mộng”, là “tiền định”...Một kiếp người rốt cuộc cũng chỉ là:
Trăm
năm còn có gì đâu
Chẳng
qua một nấm cổ khâu xanh rì
Bởi
vậy, người thiếu nữ những mong mình được làm “thân ngoại vật”, làm những vật vô
tri vô giác như cái cây, hòn đá, không cần biết đến việc đời nữa, được như vậy
mới là sung sướng nhất:
Thoát trần một gót thiên nhiên
Cái thân ngoại
vật là tiên trong đời
Thiếu
nữ muốn tránh cảnh làm vợ “Quyết lộn vòng phu phụ cho cam”, song tiếc
thay:
Ai ngờ trời chẳng cho làm
Quyết đem dây thắm
mà giam bông đào
Theo
triết lí nhà Phật, trời đất phải có âm dương thì mới thành, loài điểu thú dẫu
vô tri cũng còn biết cặp đôi huống chi là con người, ai cũng phải có chồng
có vợ. “Bông đào” - người thiếu nữ rốt cuộc vẫn bị số mệnh dun dủi cho bước vào
cảnh vợ chồng, được sánh đôi với Đấng quân vương. Có lẽ, khi mới bước vào mối
nhân duyên trời định này, nàng vẫn còn tự tin và hi vọng nhiều lắm:
Chồi
thược dược mơ mòng thuỵ vũ
Đoá
hải đường thức ngủ xuân tiêu
Cành
xuân hoa chúm chím chào...
Chồi thược dược, đoá hải đường có lẽ là những biểu tượng hoa ít gặp trong
văn chương. Ở đây, chúng biểu hiện cho vẻ đẹp đang thời rực rỡ, tươi thắm nhất
của người cung nữ. Cung nữ được sánh vai với vua, được gần vua để hầu hạ
và được vua trìu mến nâng niu, hẳn điều đó không phải ai cũng làm được. Nàng tự
thấy mình giống như “hạt mưa đã lọt miền đài các”, và những mừng thầm cho
mối lương duyên “cá nước” này. Bởi vậy mà:
Hoa
thơm muôn đội ơn trên
Cam công mang tiếng thuyền quyên với đời
Cung nữ ý thức được vẻ
đẹp của mình, tự coi mình như đoá hoa lê “đoá lê ngon mắt cửu trùng”, được
vua yêu chiều chi chút như viên ngọc trên tay. Nàng tự tin rằng với sắc đẹp
của nàng, tuy không có thuốc nhưng cũng có thể làm say mê lòng người, làm cho “nước
kia muốn đổ thành này muốn long”, dẫu cho các thiếu nữ khác có ngàn vàng cũng
không có diễm phúc được vua yêu như nàng:
Dẫu
mà ai có nghìn vàng
Đố
ai mua được một tràng mộng xuân
Cung
nữ tiếc thầm cho các cô gái đẹp “quê mùa” khác, lấy chồng tầm thường cho uổng
phí cả sắc đẹp, nàng coi họ chỉ như mấy đoá lan lạc loài:
Lan mấy
đoá lạc loài sơn dã
Uổng mùi hương vương giả lắm thay
Người cung nữ lúc này dường như có đôi chút hợm mình, vậy nên rồi sau này mới gặp
cảnh lẻ loi, ruồng bỏ chăng? Có lẽ, sự kì công của Nguyễn Gia Thiều trong việc
miêu tả tài sắc của người thiếu nữ là có dụng ý. Phải chăng, tác giả muốn mượn
thuyết “tài mệnh tương đố” của triết lí đạo Phật để mở đường cho diễn biến câu
chuyện của mình? “Thử xem từ xưa tới nay, những bậc giai nhân tài tử đệ nhất
trên đời, phỏng mấy ai thoát khỏi vòng tai hoạ? Đó chẳng qua là tạo vật ghét sự
hoàn toàn, hơn điều nọ ắt kém điều kia, cho nên có được một chút tài tình, thì
phải gánh mười phần nghiệp chướng”. Những lời này quả không chỉ đúng cho
nàng Tiểu Thanh hay nàng Kiều mà còn đúng cho người thiếu nữ tài sắc trong câu
chuyện này.
Một
mặt tự hào vì được vua yêu, mặt khác người cung nữ cũng nhận ra rằng khi đã bước
chân vào mối nhân duyên này, nàng cũng chỉ như mộtcành mẫu đơn bị giam hãm
trong đình trầm hương mà thôi:
Đình trầm hương khoá một cành mẫu đơn.
Trong
cung, vua chúa có hàng ngàn cung nữ. Có cung phi cả đời may mắn được một vài lần
“chúa dấu vua yêu”, còn phần đông không được biết đến “ơn mưa móc” của vua chúa
mà còn bị ruồng bỏ. Người cung nữ trong Cung oán ngâm khúc xét cho cùng vẫn là
người may mắn hơn những cung nữ cả đời không được vua nhìn đến. Nhưng bi kịch của
nàng lại là ở chỗ, đang được vua yêu chiều chi chút như vậy bỗng chốc ra lòng rẻ
rúng khôn lường. Tình yêu và thời gian được hưởng niềm vui sung sướng trong cuộc
đời người cung nữ thoáng đến thoáng đi như một giấc mộng:
Giấc Nam Kha khéo bất tình
Bừng con mắt dậy
thấy mình tay không
Nguyễn
Gia Thiều đã dành những câu thơ tuyệt hay để thể hiện sâu sắc tâm trạng của
người cung nữ khi bị thất sủng. Đó là sự cô đơn, thất vọng, chán chường đến tột
cùng. Tâm trạng sầu oán của nàng đi từ cảm giác đơn độc trước thời gian tàn tạ,
mênh mang “chiều ủ dột”, “chiều nhạt vẻ thu”, “thức ngủ thu phong”..., đến sự
trống trải trước không gian “cung quế âm thầm chiếc bóng”, “phòng tiêu lạnh ngắt
như đồng”, “thâm khuê vắng ngắt như tờ”...Người cung nữ bỗng chốc không còn tìm
thấy niềm vui trong cuộc sống nữa:
Tranh
biếng ngắm trong đồ tố nữ
Mắt buồn
trông lên cửa Nghiêm lâu
Nàng thương thân, trách giận số phận, thậm chí trách mình đã trót tự cho mình là tài
sắc hơn người hẳn phải gặp duyên may, nào ngờ vua cũng chỉ yêu qua ít lâu rồi bỏ:
Song đã cậy má đào chon chót
Hẳn duyên tươi phận tốt hơn người
Nào hay con tạo trêu ngươi
Hang sâu chút hé mặt trời lại râm
Đến
đây, biểu tượng hoa lại xuất hiện với tần số đậm đặc, nhưng không phải
là hoa với trạng thái rực rỡ tươi tắn và tràn nhựa sống như lúc ban đầu
mà là “hoa rữa nhị”:
Khoảnh làm chi bấy chúa xuân
Chơi
hoa cho rữa nhị dần lại thôi
Nàng
trách giận đấng quân vương sao sớm bội bạc, hưởng xuân sắc của nàng được ít lâu
rồi không màng tới nữa. Nỗi mong đợi được đoái tường trở lại bằng một
chút “ơn mưa móc” của đấng quân vương làm cho người cung nữ trở nên héo mòn,
tàn tạ:
Hoa
này bướm nỡ thờ ơ
Để gầy
bông thắm để xơ nhuỵ vàng
Cặp biểu tượng hoa-bướm ẩn
dụ cho tình nhân thì thường, nhưng ẩn dụ cho cung nữ và vua thì lạ. “Hoa này..”
là người cung nữ tự thấy mình có hương có sắc, vậy mà “bướm kia” - tức nhà vua
“nỡ thờ ơ”, nỡ để cho hoa phải “gầy bông thắm”, phải “xơ nhuỵ vàng”.
Hình ảnh hoa “gầy bông thắm”, “xơ nhuỵ vàng” mang đến cho người đọc cảm
giác tội nghiệp, đau đớn, tiếc thương cho một kiếp hoa. Biểu tượng có
tính chất miêu tả cho sự tàn phai của hoa mà cũng là của một kiếp hồng nhan.
Sự khinh rẻ, ruồng bỏ của
nhà vua với người cung nữ làm cho nàng buồn khổ, tiều tuỵ, tự thấy thân đời như
chẳng còn giá trị gì nữa. Rốt cuộc thì cuộc đời của nàng cũng chỉ là “ cành
hoa tàn nguyệt’’, “ hoa rụng”, “nước chảy hoa trôi”, “cái hoa đã trót gieo
cành”... mà thôi:
Buồn vì nỗi nguyệt tà, ai trọng?
Buồn vì điều hoa rụng, ai nhìn?...
Nghĩ
mình lại ngán cho mình
Cái
hoa đã trót gieo cành biết sao?
Sự hiện hình tâm trạng con người cá nhân chỉ còn biết cô đơn sống với chiếc
bóng của mình đến đây mới thực sự rõ nét. Người cung nữ dần ý thức về “con người
thừa”, sự vô vọng, đánh mất bản ngã và nỗi buồn hàm chứa những nuối tiếc, bực dọc,
day dứt, bất bình. Cuộc sống chốn thâm cung chẳng khác chi với cảnh giam hãm đoạ
đày:
Thù nhau chi, hỡi đông phong?
Góc vườn dãi nắng cầm bông hoa đào.
Thân nàng giờ cũng như cái
hoa đã lìa cành, cuộc đời đã lỡ, biết làm sao mà thay đổi lại cho tốt đẹp. Nàng
chỉ còn biết:
Một
mình đứng tủi ngồi sầu
Đã than với nguyệt lại rầu với hoa
“Than
với nguyệt” là than với chính mình, “rầu với hoa” cũng là rầu với chính mình. Nỗi
cô đơn, sầu muộn, oán trách vì đó mà nhân lên gấp bội.
Có
thể nói, với những biến thể khác nhau của cùng một biểu tượng “hoa”, Nguyễn Gia
Thiều đã đem đến cho người đọc những cảm xúc tươi mới, những liên tưởng đa dạng,
phong phú. Cuộc đời người cung nữ và những diễn biến tâm trạng của nàng được
tái hiện đủ đầy, trọn vẹn với những sắc thái tinh tế một phần nhờ những biến thể
này. Biểu tượng hoa ở đây đã được đặt trong nhiều mối dây liên hệ phức tạp như
chính bản thân chúng khi tồn tại trong đời sống tự nhiên. Điều quan trọng là
tác giả Nguyễn Gia Thiều đã phát hiện ra những nét tương đồng giữa thế giới
các loài hoa và người cung nữ - nhân vật trung tâm của tác phẩm. Biểu tượng hoa
vì thế không bị khô cứng, sáo mòn mà luôn được biến đổi một cách linh hoạt phù
hợp với diễn biến nội tại của tác phẩm.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đỗ
Hữu Châu (2004), Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt, NXB Đại học Sư phạm.
2. Đinh
Trọng Lạc (2002), Phong cách học tiếng Việt, NXB Giáo dục.
3. Nguyễn
Gia Thiều (1997), Cung oán ngâm khúc, NXB Mũi Cà Mau.
Trần Thị Lan Anh






Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét