Đọc “Nguồn gốc người Việt
Cuốn “Nguồn gốc người Việt - người Mường” của Tạ Đức ngay sau khi
ra đời đã tạo nên những dư luận trái chiều. Người thì cực lực phản đối, cho đó
là “phản dân tộc” hay “ngụy khoa học”; người thì hết lời khen ngợi bởi sức đọc
bao quát của tác giả và vấn đề rộng rãi và mới mẻ của cuốn sách.
Nhưng có thể thấy rằng: từ bối cảnh học thuật hiện tại, cuốn sách
này là một phát ngôn lạc dòng. Nói lạc dòng, bởi lẽ, trong nhiều chục năm qua,
chúng ta chỉ quen nghe một kiểu giọng, nghiên cứu khoa học theo những kiểu quy
hoạch được chỉ định sẵn, và nhiều khi, thống nhất kết quả khoa học bằng tinh thần
biểu quyết, lấy phiếu tín nhiệm từ số đông. Trong khi ấy, Tạ Đức hiện ra với thân
phận của một người đứng bên rìa tất cả những hoạt động đó. Đam mê nghiên cứu
nhưng lại bị gạt ra ngoài cơ chế cũng như các hoạt động khoa học của nhà nước.
Được đào tạo cơ bản nhưng bị coi là nghiệp dư. Nhưng “tái ông thất mã”, trong rủi
có may, sự lạc lõng của thân phận đã tạo nên sự tự do tuyệt đối để ông được làm
tất cả những gì mình nghĩ và mình thích. Viết chẳng phải để giải ngân, sống chẳng
phải để làm nhiệm vụ, làm khoa học không vì một mục đích gì khác, ngoài việc thỏa
mãn nhu cầu học thuật của bản thân. Vì thế, những kết luận mà ông đưa ra trong
cuốn sách dày hơn 800 trang, có thể nói, là những kết luận lạc dòng, như chính
cuộc đời ông vậy!
Trong khi, cả giới khoa học đã xác quyết, người Việt - người Mường
là những cư dân bản địa, thì ông cho rằng tổ tiên trực tiếp của người Việt -
người Mường là người Lạc Việt - người Phùng Nguyên, là dân di cư từ phương Bắc
xuống.
Trong khi, ai cũng tin rằng văn hóa Phùng Nguyên, Đông Sơn là văn
hóa gốc thì ông lại cho rằng tổ tiên của họ là người Đản (Mon) cổ vốn sống ở
vùng hạ lưu sông Mân (Phúc Kiến) hay có nguồn gốc từ văn hóa Dạ Lang (Thục),
văn hóa Điền, Nam Việt (Nam Trung Hoa).
Trong khi, giới ngữ học (Nguyễn Tài Cẩn, Ferlus) xác định quê
hương của tiếng Tiền Việt Mường là vùng miền núi từ Hà Tĩnh - Quảng Bình - Quảng
Trị tới Trung Lào rồi sau đó mở rộng, di cư ra Bắc Bộ thì ông lại cho rằng tiếng
Việt và tiếng Mường đã hình thành, phát triển và tiếp xúc với nhau ở Bắc Bộ. Và
còn nhiều kết luận lạc dòng khác nữa…
Nhưng thiết nghĩ, phải tư duy lạc dòng mới có những kết quả ngược
dòng, hay nói như nhà nghiên cứu Đỗ Lai Thúy, nền học thuật ở Việt Nam trong thời
điểm hiện tại đang rất cần “một cái nhìn KHÁC”, cái nhìn khác ấy sẽ làm bớt đi
cách suy nghĩ bầy đàn theo tâm lý đám đông hiện nay.
Để đưa ra được những kết luận như vậy, tác giả cuốn “Nguồn gốc Người
Việt- Người Mường” đã sử dụng các hệ thống cứ liệu:
(1) cứ liệu khảo cổ học;
(2) cứ liệu dân tộc học, dân tục học;
(3) sử liệu thành văn;
(4) cứ liệu ngôn ngữ học;
(5) cứ liệu văn học/ văn hóa dân gian (huyền thoại, truyền thuyết…).
(2) cứ liệu dân tộc học, dân tục học;
(3) sử liệu thành văn;
(4) cứ liệu ngôn ngữ học;
(5) cứ liệu văn học/ văn hóa dân gian (huyền thoại, truyền thuyết…).
Để phản biện một kết luận khoa học, chỉ có một cách duy nhất là kiểm
chứng các nguồn tư liệu gốc, thao tác trích dẫn, phương pháp nghiên cứu và lý
thuyết nền tảng của công trình đó, chứ không thể chụp mũ, hay quy về phạm trù đạo
đức - chính trị như trước nay một số người vẫn làm. Tuy nhiên, việc kiểm chứng
toàn bộ cuốn sách, đối với tôi, cũng như nhiều người khác, là điều bất khả, bởi
việc lần lại từng trích dẫn, đọc lại từng ấy sách (đủ loại Tây, Ta, Tàu) ở mọi
lĩnh vực cũng sẽ mất quãng chục năm trời. Vì thế, bài viết này chỉ mang tính điểm
xuyết với mức độ hiểu biết rất hạn chế của người viết.
1. Về thao tác trích dẫn
Đọc toàn bộ cuốn sách, ai cũng có thể nhận thấy, tác giả Tạ Đức đã
tham bác một nguồn tư liệu rộng lớn, chủ yếu của các học giả nổi tiếng và có uy
tín cả trong lẫn ngoài nước ở các lĩnh vực: sử học, khảo cổ học, dân tộc học,
ngôn ngữ học,… Nhưng, điều đáng tiếc, như chính tác giả tự công nhận, là 50%
nguồn tư liệu tham khảo, tác giả lại khai thác từ internet (Lời cảm ơn, trang
15).
Ví dụ: ở các trang 121, 136, trích baike.baidu.com, tác giả ghi là
“Bách Độc” thực ra nên là “bách độ” (nếu đọc theo âm Hán Việt), đây là một
trang kiểu google + wikipedia, cũng như hàng loạt các trang mạng khác ở các
trang 25, 56, 57, 59, 62, 64, 67, 70, 71, 77, 79, 83, 85, 103, 108, 113, 117,
118, 121, 124, 127, 132, 136, 140, 141, 142, 143, 146, 148,… Dĩ nhiên trong đó
có một số trang cơ sở dữ liệu khá tốt, như địa chỉ http://starling.rinet.ru của
nhà Hán học, ngôn ngữ học người Nga Starostin.
Trong một công trình khoa học, việc trích dẫn những nguồn thông
tin được lấy từ mạng là nên hạn chế. Tình trạng này không chỉ tồn tại ở cuốn
sách của Tạ Đức mà khá phổ biến hiện nay trong giới Khoa học xã hội và nhân văn
ở Việt Nam. Bởi lẽ, thông tin trên mạng (như wikipedia) là kiểu thông tin
không nguồn gốc, có thể do bất kỳ ai đưa lên mà không phải chịu trách nhiệm
khoa học về những thông tin đó.
Tất nhiên, với tư cách một nhà dân tộc học (hoặc nhân học), với tư
cách một người làm nghiên cứu, tác giả vẫn có thể dùng các thông tin đó như những
tư liệu khảo sát dưới sự kiểm soát bằng tri thức của chính tác giả. Và dĩ
nhiên, tác giả phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về những trích dẫn đó. Ví dụ, để
chứng minh rằng Xích Quỷ là Quỷ Phương, tác giả đã trích dẫn một nguồn thông
tin như trang 148 dưới đây:
Việc trích dẫn những nguồn thông tin từ một trang mạng du lịch sẽ
làm phương hại đến hệ thống luận cứ và lập luận của tác giả.
Hay ở một đoạn khác, tác giả viết: “Các tác giả cuốn Trống Đông
Sơn ở Việt Nam (1990: 51) gọi con vật ở vành trong mặt trống Yên Tập và ‘chim đứng’,
nhưng thực ra đó cũng là rái cá. Nguyễn Việt (2010: 393) gọi con rái cá trên thạp
Đào Thịnh là “thú mặt hổ đuôi cá sấu”. Giờ đây, nhờ Google, chúng ta có thể xác
định được chính xác các loài thú lạ đó.” (tr.125).
Tác giả đã so sánh hình dáng con rái cá trên internet với con vật
lạ trên thạp Đào Thịnh. Và các cứ liệu này được dùng để chứng minh rằng “rái
cá” là vật tổ của người Đản kéo dài từ thời cổ cho đến tận thời Đinh Bộ Lĩnh.
Và dưới đây, chúng ta sẽ thấy dù trích dẫn thông tin từ mạng, hay
trích dẫn nguồn hàn lâm thì việc kiểm định thông tin (giá trị hay không có giá
trị) là quan trọng như thế nào.
2. Tư liệu khảo cổ-sử liệu-ý kiến học thuật và cách trích dẫn
Để đi đến kết luận rằng người Việt có nguồn gốc từ người Đản (Quảng
Đông), tác giả đã tiến hành so sánh các nguồn tư liệu với các bước lập luận như
sau:
(1) So sánh hình “thú lạ” trên trống Đông Sơn Phú Xuyên, thạp Đào
Xá, trống Yên Tập (Hà Nam) với hình rái cá trên internet để kết luận đó là RÁI
CÁ thời Đông Sơn.
(2) Rái cá (giống như chim Cốc = chim Lạc) ở Phúc Kiến được thuần
hóa để trở thành “trợ thủ giúp săn bắt cá” (dẫn Brandt 2005: 33, 34).
(3) Suy ra, “địa bàn chính của cả hai tục trên [tục dùng rái cá và
chim cốc để săn cá – TTD] là vùng ven biển Giang Tô, Chiết Giang, từ đó
lan tỏa tới Nhật, Triều Tiên, Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây và Việt Nam”.
(4) “Cũng như chim Lạc, rái cá được coi là vật tổ, đặc biệt của
các cư dân sống bằng săn bắt thủy hải hải sản như người Đản” (tr.126).
(5) "Đinh Bộ Lĩnh, một người gốc Đản Quảng Đông, theo truyền
thuyết Việt, có bố là một con rái cá” (tr.126) (chứng cứ được nêu ở trang 521:
người Đản coi “đàn bà và trẻ con người Đản là rái cá”)1. Tác giả trích K.
Taylor (1983: 291-292): "Là con của Rái cá, Đinh Bộ Lĩnh có sứ mệnh làm
vua, điều phù hợp với tín ngưỡng truyền thống của người Việt Nam…” (tr.127)
(6) Kết luận: “chính ý nghĩa tâm linh của biểu tượng rái cá-cầy-chồn-chó
trong tâm thức người Lạc Việc từ thời Đông Sơn đến thời Đinh-Lê-Lý, thời kỳ người
Việt giành độc lập và phục hưng nước Đại Việt đã dẫn đến việc các nhà Nho Việt
Nam, muộn nhất từ thời Lý, dùng chữ Lạc bộ Trãi để chỉ tổ tiên mình” (tr.128).
Tất cả các bước lập luận và cứ liệu vừa nêu ra nhằm để bắc cầu kết
nối những khoảng siêu không gian, siêu thời gian, nối liền Lạc Việt với Đại Cồ
Việt cuối thế kỷ X đầu thế kỷ XI, và nối Lạc Việt với văn hóa người Đản (Giang
Tô). Tác giả có thể trích ý kiến của K. Taylor - một học giả lớn và có ảnh hưởng
sâu rộng đến giới học giả quốc tế về lịch sử Việt Nam. Nhưng thực tế, nhận định
trên của Taylor cũng hầu như không có giá trị học thuật ở lĩnh vực sử học. Với
hiểu biết của học sinh cấp một hiện nay, chẳng ai có thể chấp nhận một sự thực
rằng: Đinh Bộ Lĩnh lại là con của rái cá, điều hoàn toàn trái với kiến thức về
sinh vật học.
Vấn đề ở đây là từ nguồn tư liệu nào mà Taylor tin rằng bố của
Đinh Bộ Lĩnh là rái cá? Truyền thuyết mà Taylor sử dụng được chép trong sách
Công dư tiệp ký của Vũ Phương Đề (1697- ?) biên soạn vào năm 17552. Nếu tính nhẩm,
ta thấy thời gian cách nhau quãng 800 năm. Vậy thì, ai có thể dám chắc đó là
huyền thoại của thế kỷ X nhưng đã được bảo lưu nguyên trong dân gian rồi được
ghi chép lại vào thế kỷ XVIII? Và càng không thể đoan chắc tô tem rái cá nhà
Đinh là bảo lưu từ tô tem rái cá của Đông Sơn, xa hơn là của người Đản!
Theo chúng tôi, câu chuyện “nguồn gốc rái cá của Đinh Bộ Lĩnh” chỉ
là chuyện sáng tác văn học của người đời sau! Trong bài viết Đinh Bộ Lĩnh: huyền
thoại và lịch sử3, dựa trên các sử liệu trong Tục tư trị thông giám trường biên
của Lý Đảo (1115- 1184)4, Văn hiến Thông khảo của Mã Đoan Lâm (1254 - 1324)5,
An Nam chí lược của Lê Trắc6, Tống sử7, và Đại Việt sử ký toàn thư, chúng tôi
đã nhận định: cha của Đinh Bộ Lĩnh là Đinh Công Trứ (Quyền Thứ sử Hoan châu
kiêm Ngự Phiên Đô Đốc). Theo cách tính của Nguyễn Danh Phiệt, Đinh Công Trứ mất
khi Đinh Bộ Lĩnh quãng từ 15 đến 20 tuổi8 và khi cha mất thì Đinh Bộ Lĩnh
“nối cha giữ chức Thứ sử Hoan Châu và Ngự phiên Đô đốc” vào quãng năm 940 đến
9449.
Đây là một ví dụ điển hình cho thấy, việc sử dụng huyền thoại (một
thể loại của văn học) để nghiên cứu lịch sử không phải lúc nào cũng có kết quả
thực sự chắc chắn. Công thức {huyền thoại + hiện vật khảo cổ} trước nay vẫn là
công thức ưa thích ở Việt Nam, trong khi công thức nghiêm cẩn hơn {sử liệu + hiện
vật khảo cổ} đến nay vẫn còn đầy rẫy những chông gai thử thách. Việc coi huyền
thoại có tính sử liệu, hoặc ít nhiều phản ánh một phần sự thực lịch sử nào đó
khiến mọi giả thuyết khoa học luôn đứng chông chênh trên ranh giới giữa thực và
hư, giữa sử học và văn học!
Trở lại với cuốn sách “Nguồn gốc người Việt - người Mường”, tác giả
sử dụng công thức liên ngành: {huyền thoại + hiện vật khảo cổ + cứ liệu dân tộc
học + sử liệu + cứ liệu ngôn ngữ học} để nghiên cứu hàng loạt đối tượng cụ thể
khác. Ví dụ, chúng ta có thể thấy đẳng thức như sau: bông lau (biểu tượng thiên
mệnh) + người cầm bông lau trên thạp Đào Thịnh, trống đồng Đông Sơn + các cô
gái Swaziland cầm bông lau + nước Bông Lau (= nước Ư Việt) + Thánh Gióng giắt
bông lau, suy ra bông lau = lông chim = biểu tượng tổ tiên mà lau/ lô (芦) là đồng với
chim Lạc/ lộ (tr.297).
Một ví dụ khác, để chứng minh thế kỷ X có sự kết nối với thời Lạc
Việt, tác giả cho rằng “chữ “cù/ cồ 瞿” trong tên nước Đại Cồ Việt có hai chữ
Mục trên bộ Chuy trỏ loài chim lớn. Mà “Bộ Chuy cũng được dùng trong chữ Lạc chỉ
Lạc Việt và chữ Hùng chỉ Vua Hùng. Điều đó cho thấy, từ Cồ và chữ Cồ đã được
dùng có chủ ý và gắn với tín ngưỡng thờ chim tổ truyền thống của người Lạc Việt”
(tr.296) giống như con chim thần vật tổ trong tên Đại Việt La Bình của Lưu
Nham. Có thể thấy, tác giả đang quá say với thuyết totem để bắc những chiếc cầu
siêu thời gian và siêu không gian như trên đã đề cập. Điều đáng nói ở đây, tác
giả đã trích dẫn và phản biện lại ý kiến của bài “Khảo về Đại Cồ Việt: nước Việt-
nước Phật giáo”10 nhưng chính ở điểm này, tôi thấy cách giải thích của ông
nên được cân nhắc lại, bởi ông đã chọn một giả thuyết đã bị bác bỏ. Phương pháp
văn tự học văn hóa (dùng việc phân tích văn tự để nghiên cứu văn hóa) là đáng
quý, nhưng cũng nên cẩn trọng hơn.
3. Hiện tượng đồng quy
Trong nghiên cứu so sánh, việc đồng quy các hiện tượng văn hóa, hay
đồng quy ngôn ngữ là việc hết sức mạo hiểm. Thế nhưng, trong công trình này,
tác giả Tạ Đức đã tiến hành công thức truy nguyên đồng quy hàng loạt các hiện
tượng về một chỉ số gốc.
Ví dụ, tên nước Xích Quỷ của Kinh Dương Vương (huyền thoại được
ghi chép trong Đại Việt sử ký toàn thư) được tác giả coi là một biệt danh
của Xuy Vưu (bề tôi thân cận của Đế Lai) tương ứng với Xuy Vưu là thủ lĩnh của
người Cửu Lê trong thần thoại Trung Hoa11, tương ứng với Xi Vưu là ông tổ của
người Mông, hay Xuy Vưu là ông tổ của người Hàn Quốc, và Xy Vưu là Thiên vương
- vị thần hộ mệnh cho bóng đá Hàn Quốc (nguồn dẫn: http://vi.wikipedia.org/
Chi You) [trang 162]. Mặt khác, Xuy Vưu được đồng nhất với Viêm Đế, Xích Đế, Thần
Nông, Xích Quỷ ông tổ huyền thoại của người Bách Việt xưa và của người Trung Quốc
ngày nay. Tác giả cho rằng, “Có lẽ, đó là một tên gọi đã được dịch từ một tên gọi
có nghĩa tương tự trong tiếng Bách Việt cổ.” (tr.163). Các đồng quy biểu tượng
- danh xưng (trong các huyền thoại lập quốc, huyền thoại của các dân tộc đồng
văn trên) lại được chứng minh bằng tài liệu khảo cổ học, đó là các hình tượng
trên “trống đồng và mặt nạ đồng của người Bách Việt thuộc nước Xích Quỷ”
(tr.163). Và cuối cùng, tác giả đi đến nhận định: “Đặc biệt, Thánh Gióng trong
truyền thuyết Việt Nam chính là một hóa thân của Xuy Vưu - Thần chiến tranh -
Thần bảo hộ của nước Xích Quỷ... Tóm lại, Xích Quỷ là tên gọi cho ông tổ, vị
vua-thần của người Bách Việt xưa, từ đó trở thành tên nước cổ nhất của người Việt
Nam trong truyền thuyết.” (TTD nhấn mạnh) (trang 163). Trong khi đó, từ những cứ
liệu văn bản trong Thiền Uyển tập anh và nhiều tư liệu văn hiến khác, Nguyễn
Thanh Tùng đã chứng minh rằng Thánh Gióng là một biểu tượng diễn hóa/ Việt hóa
khá muộn (từ thế kỷ XIV-XV về sau) từ Xung thiên Thần Vương - Phù Đổng Thiên
Vương - Sóc Thiên Vương - mà biểu tượng gốc của vị thần này chính là Tỳ Sa Môn
Thiên Vương - một vị thần hộ pháp - vị thần chiến tranh của Phật giáo được gây
dựng trong chiến tranh chống Tống của Lê Hoàn12. Ở đây, một lần nữa, ta thấy
ranh giới giữa nghiên cứu lịch sử và nghiên cứu lịch sử tín ngưỡng là một việc
cần phải được phân biệt rạch ròi, như Tạ Chí Đại Trường đã từng làm trong “Thần-người
và đất Việt”.
Không những vậy, trong nhiều trang của cuốn chuyên luận, tác giả
cũng đã tiến hành đồng quy nhiều hiện tượng ngôn ngữ, mà sự đồng quy nhiều khi
lại dựa trên bề mặt ngữ âm.
Ví dụ 1: đẳng thức Việt = Di, cứ liệu ngữ âm đưa ra: “trong
tiếng Bắc Kinh, rõ ràng Yi (Di) rất gần gũi với Yue (Việt)” (trang 137). Đó là
một kiểu so sánh phi đoạn đại, và phi lịch đại. Làm sao có thể lấy sự cận âm của
tiếng Trung thế kỷ XX-XXI để chứng minh hai ngữ tố ấy giống nhau/ là một ở thời
điểm cách nay mấy nghìn năm?
Ví dụ 2: Việt = Lạc, cứ liệu đưa ra là Việt=Ya>La>Lạc
và Ya>Va>Vat>Việt, Lava = Lạc Việt (trang 137).
Ví dụ 3: Việt = Lạc = Lý = Liêu = Lão = Lộ = Lái = Lai = Lôi
= Lê = Thái(tr.137- 138).
Ví dụ 4: Việt = Giao = Dao = Keo = Táo = Đáo (trang 138)
Cộng tất cả các đẳng thức từ năm ví dụ trên, ta sẽ có một chuỗi dấu
bằng, điều đó khiến không ít người cảm thấy hơi bất thường. Bởi cái gì đẹp quá
nhiều khi chưa chắc đã phải là chân lý. Tất cả các đẳng thức trên được tác giả
dẫn dụng cứ liệu từ các thư tịch cổ như Hán thư, Hậu Hán thư, Sử ký, Thượng
thư, Thuyết văn giải tự,… nhưng tất cả các thông tin này đều không có chỉ số
trích dẫn tư liệu! Còn những trích dẫn từ các học giả khác thì lại là trích
theo kiểu đồng quy về dân tộc học, ví dụ: «người Đông Di cùng nguồn gốc với người
Việt», «người Việt cũng gọi là người Di» [dẫn Lưu Nham (1998 : 150)], «tên Việt
thường đi đôi với tên Di» [dẫn Đào Duy Anh (1957/2010 : 214)]… Vậy, tác giả
đã dùng những cứ liệu dân tộc học để đưa ra những đẳng thức ngữ âm khá chông
chênh. Và để chứng minh/ hay phản biện được những kết luận này thì cần phải có
những thao tác phục nguyên (tái lập âm đọc cổ: reconstruction)13 một cách
chuyên nghiệp, chứ chưa thể dựa trên những nét hao hao trên ký hiệu văn tự của
âm Hán Việt hay phiên âm Latin ở thời điểm hiện tại.
Để viết cụ thể hơn về cuốn sách này có lẽ còn tốn thêm nhiều giấy
mực nữa. Nhưng, việc duy danh vào những cái tên như Bách Việt (một
cách gọi ôm đồm của người Hán cho rất nhiều dân tộc phi Hán ở phía Nam) để rồi
nhập cái yếu tố Việt ngày nay vào một cộng đồng dao viễn tưởng tượng trong quá
khứ là một trò chơi chữ nghĩa bất tận không bao giờ đi đến đích. Dầu sao, trong
cuốn sách «Nguồn gốc người Việt - người Mường», tác giả Tạ Đức cũng đã làm hết
sức mình với một tinh thần thuần túy vị khoa học, đó là điều rất đáng trân trọng
trong bối cảnh hiện nay!
---
1 Tam đoạn luận mà tác giả đưa ra: (1) Đinh Bộ Lĩnh là con của
rái cá + (2) người Đản coi rái cá là vật tổ, suy ra (3) Đinh Bộ Lĩnh là người gốc
Đản.
2 Thuần Phủ Vũ Phương Đề. 1755. Công dư tiệp ký 公餘捷記. Trần
Quý Nha tục biên. VHv.1324/1-2: 294 tr., 28 x 16. (Viện Nghiên cứu Hán Nôm)
3 Trần Trọng Dương. Đinh Bộ Lĩnh: huyền thoại và lịch sử. Tia
sáng số 16- 20.8.2013. tr.36-38. Trần Trọng Dương. Đinh Bộ Lĩnh- loạn sứ quân:
từ sử liệu đến sử thực. Tạp chí Nghiên Cứu và Phát triển. Huế. Số 01/2012.
4 (Tống) Lý Đảo. Tục tư trị thông giám trường biên. Đài Loan
thương vụ. Đài Bắc Thị. Dân quốc 72. q.314-322
5 (Nguyên) Mã Đoan Lâm. Văn hiến thông khảo. Đài Loan thương
vụ. Đài Bắc thị. Dân quốc 72. q.610-616.
6 Lê Trắc.( 1335). An Nam chí lược. Mạnh Nghị Trần Kinh Hòa dịch
(1960, tb 2002). Nxb Thuận Hóa- Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây. Huế.
Tr.227.
7 (Nguyên) Thoát Thoát (soạn), Dương Gia Lạc (chủ biên). Tống
sử. “Trung Quốc học thuật loại biên”. Đỉnh Văn Thư cục. Đài Bắc thị. Dân Quốc
69 (1980). Phần Liệt truyện. Q.488. p.14058.
8 Nguyễn Danh Phiệt. 1990. Nhà Đinh dẹp loạn và dựng nước.
Nxb KHXH. H. tr.55.
9 Trần Trọng Dương. Đinh Bộ Lĩnh: huyền thoại và lịch sử.
Tia sáng số 16- 20.8.2013. tr.36-38.
10 Trần Trọng Dương. Khảo về Đại Cồ Việt- nước Việt- nước
Phật giáo. Tạp chí Hán Nôm số 02/2009.tr.53-75, 22.
11 Xem thêm kiến giải của học giả Trung Quốc về vấn đề này:
Vương Minh Hà. (2009) Anh hùng tổ tiên dữ huynh đệ dân tộc (căn cơ lịch sử
đích văn bản dữ tình cảnh). Trung Hoa thư cục. Bắc Kinh. P.169- 170.
12 Nguyễn Thanh Tùng. 2012. Giấc mơ Khuông Việt - nhìn từ
giác độ lịch sử văn hóa. Tạp chí Nghiên Cứu và Phát triển. 11/2012.
13 Ví dụ, xin xem Shimizu Masaaki. (2010). A Phonological
Reconstruction of 15th Century Vietnamese Using Chữ Nôm 字喃Materials.
2010 International Conference and Taiwanese Studies, National Cheng Kung
University, Taiwan. Trần Trọng Dương. Từ nguyên của từ “Rái cá”. Tạp chí Từ điển
học và Bách khoa thư. 08/2013.
Trần Trọng Dương
Nguồn: Tia Sáng







Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét