Ca khúc trữ tình Việt Nam đã
trải qua nhiều năm hình thành và phát triển. Với lịch sử hào hùng của dân tộc,
ca khúc trữ tình là nguồn cổ vũ, động viên tinh thần vô cùng quý giá đối với
quân và dân ta trong suốt hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và
đế quốc Mỹ. Những giá trị lịch sử ấy là không thể phủ nhận, nó thể hiện tâm hồn,
trí tuệ con người Việt Nam, dù trong gian khổ, tăm tối, trong mưa bom bão đạn vẫn
luôn cất cao lời hát lạc quan, tin tưởng vào một ngày mai tươi sáng.
Ngày nay, đất nước ta đang
trên đường đổi mới, nhưng mỗi khi những ca khúc ấy được ngân lên ta lại cảm nhận
được những hình tượng, giá trị nghệ thuật trong mỗi tác phẩm. Đã có biết bao thế
hệ ca sĩ đã cất lên giọng hát với niềm đam mê bằng cả trái tim như Người
Hà Nội (Nguyễn Đình Thi), Trên đỉnh Trường Sơn ta hát (Huy Du), Sông
Lô (Văn Cao), Tình ca (Hoàng Việt), Nơi đảo xa (Thế
Song)...
Ca khúc trữ tình biển hiện
thế giới chủ quan của tác giả trước cuộc đời. Trong các tác phẩm này thì tình cảm,
cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ… được trình bày trực tiếp và làm thành nội dung chủ
yếu của tác phẩm. Vì vậy, ca khúc trữ tình bao giờ cũng mang dấu ấn riêng của
các nhạc sĩ. Đó là những nỗi niềm chủ quan thầm kín, nhưng khi sáng tác các nhạc
sĩ luôn luôn nâng mình lên thành người mang tâm trạng, cảm xúc, suy nghĩ cho một
mẫu người, một thế hệ và cả những chân lý phổ biến…
Nội dung của các ca khúc trữ
tình luôn gắn với các nhân vật trữ tình. Đây chính là đối tượng để các nhạc sĩ
gửi gắm tâm sự, cảm xúc, suy nghĩ của mình, là nguyên nhân trực tiếp khêu gợi
nguồn cảm hứng cho các nhạc sỹ. Nhân vật trữ tình có thể chính là bản thân các
nhạc sĩ hoặc cũng có thể do các nhạc sĩ tưởng tượng, hóa thân vào đối tượng để
xây dựng nhân vật theo quy luật điển hình hóa trong sáng tạo nghệ thuật.
Cấu trúc các ca khúc trữ
tình Việt Nam đa số thường được viết ở dạng 2 đoạn đơn hoặc 3 đoạn đơn, như ca
khúc 2 đoạn đơn: Trên đỉnh Trường Sơn ta hát (Huy Du)... ca khúc 3 đoạn
đơn: Biết ơn chị Võ Thị Sáu (Nguyễn Đức Toàn)...
Điệu thức thông thường các
ca khúc trữ tình Việt Nam được viết theo điệu thức trưởng, thứ 7 âm của phương
Tây và có pha trộn những màu sắc của những điệu thức 5 âm trong âm nhạc truyền
thống, dân ca Việt Nam. Có những ca khúc gắn liền điệu thức, chất liệu dân ca,
điệu hò, điệu ví... niềm tự hào, kiêu hãnh của con người ở vùng, miền đó tạo
cho mảng ca khúc trữ tình rất nhiều sắc thái riêng.
VD: Ca khúc Nhớ về quê
mẹ (Văn Đông, trích).
Có một số ca khúc ở giữa
bài, chuyển giọng trưởng - thứ, hay chuyển sang giọng khác nhằm diễn tả sắc
thái tình cảm của tác giả, hình tượng nội dung của tác phẩm. Từ gian khổ đến thắng
lợi, vui tươi sang u buồn, hay từ u tối sang tươi sáng... như ca khúc Chào
sông Mã anh hùng (Xuân Giao), Bình Trị Thiên khói lửa (Nguyễn
Văn Thương), Tấm áo chiến sỹ mẹ vá năm xưa (Nguyễn Văn Tý), Sông
Lô (Văn Cao)...
Về mặt giai điệu, ca khúc trữ
tình Việt Nam thông thường có giai điệu liền bậc, đa số các ca khúc sử dụng kỹ
thuật hát liền tiếng legato theo lối hát Ben cato của châu Âu, ít có những ca
khúc sử dụng giai điệu staccato. Gần như không có những quãng nhảy lớn.
Trong các ca khúc trữ tình,
giai điệu được xem như nhân tố đầu tiên và quan trọng để tạo nên hình tượng âm
nhạc. Giai điệu trong ca khúc trữ tình của các nhạc sĩ thường tiến hành trong
phạm vi quãng bình ổn (quãng 2, quãng 3). Nhiều chủ đề được xây dựng thành công
bởi các nhạc sĩ đã khéo léo kết hợp các âm hình tiết tấu với đường nét giai điệu.
Một số những ca khúc giai điệu
có những quãng nhảy lớn là để đưa cảm xúc người nghe lên cao trào, nhằm tạo nên
điểm nhấn về sắc thái, tình cảm và thể hiện trình độ kỹ thuật thanh nhạc của
người hát.
Tiết tấu của các bài ca khúc
trữ tình Việt Nam với phần mở đầu thường mênh mang, dàn trải. Tốc độ thường vừa
phải hoặc chậm vừa.
Với những ca khúc có những
đoạn chuyển nhịp để thể hiện tình cảm kiên nghị, anh hùng, tự hào... thì tiết tấu
như dạng hành khúc (sử dụng chấm dật, móc đơn có chấm dôi).
Hay có những đoạn chuyển nhịp
từ nhanh về chậm thể hiện sắc thái trầm hùng, đau thương, u tối...
Ca khúc trữ tình Việt Nam có
lời ca trữ tình, giàu hình tượng. Đa số các bài hát có lời ca đẹp, bay bổng,
lãng mạn, nội dung chủ yếu mang nhiều tính chất ca ngợi. Khi ca ngợi hình tượng
lãnh tụ Hồ Chí Minh với lời hát bày tỏ lòng xúc động, thành kính biết ơn, các
anh hùng, người chiến sỹ đã chiến đấu hy sinh cho tổ quốc, ca ngợi hình tượng
người mẹ, quê hương, địa danh, cảnh đẹp của đất nước gắn với tình người Việt
Nam và phong cảnh. Nói về tình yêu đôi lứa gắn liền với chiến đấu và xây dựng đổi
mới đất nước... Lời ca trong bài hát thường rất đẹp, câu chữ mượt mà tình cảm
như bài thơ và bám sát giai điệu ca khúc. Ngoài chất liệu của ca khúc, thì từ
ngôn ngữ, lời ca, đặc biệt là yếu tố ngữ âm vùng miền cũng như địa danh của từng
địa phương được các tác giả đặc biệt chú trọng khai thác.
Ảnh: Tiết mục “ Trên đỉnh Trường Sơn ta hát”( Nguồn: st)
Lời ca trong các ca khúc trữ
tình đòi hỏi bộc lộ những tình cảm mạnh mẽ, hàm súc, sâu lắng. Do đó, nó phải
có những ca từ phù hợp với yêu cầu gây ấn tượng sâu sắc, không phải chỉ bằng ý
nghĩa của từ mà còn cả âm thanh, nhịp điệu của từ ngữ và giai điệu của bài hát
đó. Chẳng hạn những câu hát ru thể hiện tình cảm yêu của người mẹ dành cho con
trong bài hát Mẹ yêu con của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý mang đầy chất trữ
tình trong ca từ. Giai điệu êm dịu, du dương, trìu mến, tiết tấu nhẹ nhàng, lời
ca giàu hình tượng, dạt dào tình yêu thương tha thiết đối với bé thơ, tất cả những
yếu tố ấy đã như đôi cánh nhẹ nhàng nâng bước chấp cánh cho một tương lai tươi
sáng..
Hay khi viết về tình yêu đôi
lứa, trong tác phẩm Tình ca, nhạc sĩ Hoàng Việt đã có những câu hát thể hiện
tình cảm mãnh liệt, da diết của người trai ra đi vì nhiệm vụ gửi lại người vợ
còn ở lại trong miền tạm chiếm miềm Nam. Đây là một bản tình ca bất hủ, viết
lên với một trái tim rực đỏ, cháy bỏng yêu thương và niềm tin vào hạnh phúc
tương lai.
Ngoài ra, chất trữ tình
trong các ca khúc không chỉ đơn thuần là những tình cảm cá nhân giữa những con
người với nhau mà nó còn mang ý nghĩa to lớn sâu sắc hơn, đó là tình yêu quê
hương đất nước, lòng tự hào dân tộc. Ca khúc Đảng đã cho ta một mùa xuân của
nhạc sĩ Phạm Tuyên, ra đời năm 1957 là ca khúc tiêu biểu thể hiện lòng yêu nước,
tinh thần đấu tranh quật cường của quân và dân hai miền đất nước trong thời kỳ
kháng chiến. Với tính chất trong sáng, nhịp độ vừa phải, lời ca giản dị nhưng
tràn đầy tự hào và niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng. Bao năm dài dưới ách đô hộ,
dân tộc ta lầm than, cực khổ. Từ khi có Đảng, có Bác Hồ cuộc sống của nhân dân
ta ấm no, hạnh phúc.
Ca khúc trữ tình Việt Nam ra
đời trước năm 1945 ở trong dòng ca khúc lãng mạn. Nếu dòng nhạc yêu nước - cách
mạng chủ yếu vận dụng thể loại hành khúc, ca khúc tập thể để thể hiện tình cảm
và ý chí chung của nhiều người, của “cái chúng ta”, thì dòng âm nhạc lãng mạn lại
vận dụng thể loại ca khúc trữ tình làm phương tiện bộc lộ “cái tôi” và nhìn nhận
cuộc sống từ “cái tôi”, cái cá thể, đơn chiếc. Bên cạnh ngôn ngữ âm nhạc được
xây dựng và tiếp thu từ những ca khúc trữ tình châu Âu, ca khúc trữ tình đã biết
vận dụng ở một mức độ nhất định chất liệu từ âm nhạc cổ truyền.
Trong âm nhạc Việt Nam, ca
khúc trữ tình có thể chia thành các khuynh hướng đa dạng như sau: chính luận,
trần thuật, tự sự, dân gian, tình ca, nghệ thuật...
Ca khúc trữ tình chính luận
phản ánh các vấn đề có tính thời sự về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội...
"Đề tài của các ca khúc trữ tình thuộc loại này phải mang yếu tố chính luận
với những cảm xúc cá nhân cụ thể" [6]. Nội dung khái quát cao về truyền thống
lịch sử, thể hiện qua ca từ có sự đan xen giữa màu sắc trữ tình, triết lý và sử
thi. Bên cạnh đó là hơi thở của thời đại.
Ca khúc trữ tình ngợi ca, chủ
yếu bằng lời ca có tính chất giáo dục truyền thống, ngợi ca Đảng, lãnh tụ, ngợi
ca các nhân vật lịch sử dân tộc, những địa danh có những chiến công huyền thoại
của cha ông xưa và trong hai cuộc kháng chiến gần đây dành lại tự do, độc lập,
thống nhất đất nước, ngợi ca về các bà mẹ Việt Nam anh hùng. [7, tr.739]. Như
ca khúc: Tôi hát tên Người, đồng chí Lênin (Phan Thanh Nam), Người
là niềm tin tất thắng, Ta tự hào đi lên, ôi Việt Nam (Chu Minh)...
Ảnh: NSND Quang Thọ và tốp ca trong
đêm nhạc Khúc tráng ca Điện Biên với
ca khúc “Ta tự hào đi lên ôi Việt Nam” ( Nguồn: st)
`Ca khúc trữ tình tự sự
theo nghĩa là một phương thức trình bày một chuỗi các sự việc, sự việc này dẫn
đến sự việc kia, cuối cùng dẫn đến một kết thúc, thể hiện một ý nghĩa. Trong ca
khúc tự sự, các nhạc sỹ phản ánh lại thế giới bên ngoài bằng cách kể chuyện
liên quan đến một sự việc, một tập thể, một địa danh... Vì vậy, ca khúc tự sự
phải có nội dung cụ thể và nhân vật trung tâm. "Đó là sự giãi bày, sự kể lại
những sự việc, những câu chuyện, những con người trong cuộc sống hiện hữu thông
qua nhân vật “tôi”, “em”, “chúng ta” hoặc một người khác trong cuộc”. [7,
tr.213].
Ca khúc dạng tự sự thể hiện
sự đa dạng, phong phú bằng nhiều đề tài.
Đề tài về quê hương, đất nước
thời kỳ kháng chiến chống Pháp, như: Làng tôi, Ngày mùa (Văn Cao), Làng
tôi (Hồ Bắc), Sẽ về thủ đô (Huy Du), Đường lên Tây Bắc (Văn
An), Nhớ về quê em (Tân Huyền), Quê hương anh bộ đội (Xuân
Oanh), Lên ngàn (Hoàng Việt), Quê em (Nguyễn Đức Toàn)...
Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ
chất dân gian được đưa vào nhiều hơn, cách sáng tác của các nhạc sĩ cũng chuyên
nghiệp hơn. Giai đoạn này, đề tài về quê hương đất nước không chỉ một vài địa
danh của vùng Tây Bắc, mà mở rộng ra các vùng, miền khác, tính chất âm nhạc tuy
dàn trải, nhưng có xu hướng đi vào chiều sâu nội tâm. Có thể điểm qua một số
bài như: Quê tôi (Lưu Cầu), Trên đường ta đi (Bửu Huyền), Từ
trên đỉnh núi (Nguyên Nhung), Địu con đi nhà trẻ (Đào Ngọc
Dung), Vàm Cỏ Đông (nhạc: Trương Quang Lục, thơ: Hoài Vũ), Rặng
trâm bầu, Qua bến Đò Quan (Thái Cơ)...
Ca khúc trữ tình trong sáng,
mượt mà là dạng ca khúc trữ tình gặp nhiều nhất trong ca khúc Việt Nam, với điệu
thức thiên về điệu Trưởng, có tiết tấu dàn trải, với lối hành tiến giai điệu ổn
định, ít những quãng nhảy xa. Tính chất tình cảm thường trữ tình lạc quan,
trong sáng, không bi thương, buồn tủi.
Ca khúc dạng này mà mang
tính chất âm nhạc trữ tình, phần ca từ trong sáng, bay bổng nhưng gần gũi mà vẫn
giàu hình tượng, giai điệu không phức tạp, cầu kỳ mà vẫn thể hiện được sự mượt
mà, lãng mạn. Với các ca khúc trữ tình trong sáng, mượt mà cách mạng, thì các
nhạc sĩ đưa ra cách đặt vấn đề tài tình, luôn lồng ghép tư tưởng cách mạng dân
tộc, tinh thần yêu nước mãnh liệt, thấm nhuần tư tưởng của Đảng và Bác Hồ kính
yêu nhưng hết sức nhẹ nhàng cả trong lời ca và giai điệu âm nhạc, phù hợp tất cả
mọi tầng lớp người nghe.
Các ca khúc trữ tình trong
sáng, mượt mà đề tài về Bác Hồ như: Bên lăng Bác Hồ (Dân Huyền)...đề tài về Đảng
như: Đảng cho ta một mùa xuân (Phạm Tuyên), Đảng là cuộc sống của tôi (Nguyễn Đức
Toàn)...
Ca khúc trữ tình trong sáng,
mượt mà về đề tài về người chiến sỹ như: Trên đỉnh Trường Sơn ta hát (Huy Du),
Bài ca bên cách võng (Nguyên Nhung)...
Đề tài quê hương, đất nước với
giai điệu thường liền bậc, nhẹ nhàng, tiết tấu đều đặn, legato, tạo cho người
nghe cảm nhận sự êm ái, trong sáng, bay bổng với sắc thái tình cảm chứa chan, lời
ca đẹp, mượt mà như bài thơ: Việt Nam quê hương tôi (Đỗ Nhuận), Việt Nam trên
đường chúng ta đi (Huy Du), Thành phố hoa phượng đỏ (nhạc: Lương Vĩnh, thơ: Hải
Như)...
Có thể kể thêm đề tài về
tình ca trong dạng này. Nói thật chính xác, ca khúc trữ tình tình ca là một
nhánh của dạng ca khúc trữ tình, những bài hát thuộc dạng này, nội dung đề cập
tới tình yêu đôi lứa nhưng vẫn gắn liền với chiến đấu và xây dựng đổi mới đất
nước, và mở đường cho một xu hướng thể hiện tình cảm cá nhân sâu lắng, lãng mạn.
Những ca khúc như: Tình em (nhạc: Huy Du, thơ: Ngọc Sơn), Tình ca (Hoàng Việt),
Tình ca Tây Bắc (nhạc: Bùi Đức Hạnh, thơ: Cầm Giang), Tiếng hát anh tìm em
(Hoàng Dương)...
Bảo tồn nền âm nhạc dân gian
nói chung và ca khúc trữ tình Việt Nam nói riêng là một việc hết sức quan trọng,
việc tiếp thu có chọn lọc các loại hình văn hóa văn nghệ, các thể loại âm nhạc
trên thế giới là rất cần thiết. Do đó việc áp dụng có chọn lọc kỹ thuật hát Bel
canto vào thể hiện ca khúc trữ tình Việt Nam sẽ góp phần nâng cao tính nghệ thuật,
thẩm mỹ trong mỗi ca khúc. Trên thực tế, đã có nhiều các thế hệ nghệ sỹ, ca sỹ
hát rất thành công những ca khúc trữ tình Việt Nam khi áp dụng kỹ thuật này.
Như thế hệ các nghệ sĩ, giảng viên đi tu nghiệp nước ngoài như Mai Khanh, PGS. NGND Lô Thanh, NSƯT Hồ Mộ La, NSND Quý Dương, NSND Trần Hiếu, NGƯT Vũ Thu Huyền, NSND Quốc Hương, PGS. NSND Trung Kiên, NSND Lê Dung, NSND Quang Thọ... với trình độ chuyên môn cao đã đào tạo ra biết bao thế hệ sinh viên thanh nhạc tiếp bước. Các ca khúc Việt Nam cũng được các nghệ sĩ thể hiện biểu diễn rất thành công và là những chuẩn mực cho các giảng viên thanh nhạc sau này học tập và áp dụng cho sinh viên của mình.
Như thế hệ các nghệ sĩ, giảng viên đi tu nghiệp nước ngoài như Mai Khanh, PGS. NGND Lô Thanh, NSƯT Hồ Mộ La, NSND Quý Dương, NSND Trần Hiếu, NGƯT Vũ Thu Huyền, NSND Quốc Hương, PGS. NSND Trung Kiên, NSND Lê Dung, NSND Quang Thọ... với trình độ chuyên môn cao đã đào tạo ra biết bao thế hệ sinh viên thanh nhạc tiếp bước. Các ca khúc Việt Nam cũng được các nghệ sĩ thể hiện biểu diễn rất thành công và là những chuẩn mực cho các giảng viên thanh nhạc sau này học tập và áp dụng cho sinh viên của mình.
Hiện nay trong các trường
nghệ thuật âm nhạc, được học tập và thể hiện ca khúc trữ tình Việt Nam không
còn xa lạ với sinh viên chuyên ngành Thanh nhạc. Tuy nhiên, về phương pháp dạy
học của giảng viên và học tập của sinh viên còn khá nhiều hạn chế và bất cập. Các
sinh viên thanh nhạc đôi khi còn mơ hồ, không phân biệt được ca khúc nhạc nhẹ
giải trí đơn thuần và ca khúc nghệ thuật chuyên nghiệp. Mảng ca khúc trữ tình
Việt Nam nói riêng sinh viên cũng chưa nắm bắt được đặc điểm và thể loại dẫn đến
khi luyện tập và thể hiện không phát huy được hết nội dung của tác phẩm. Trong
giảng dạy, nhiều giảng viên áp dụng kỹ thuật thanh nhạc và lối hát Bel canto
vào ca khúc trữ tình Việt Nam một cách cứng nhắc khiến cho sinh viên xử lý và
thể hiện sai tác phẩm... dẫn đến sinh viên mất dần đi hứng thú trong học tập biểu
diễn. Có thể thấy rằng việc tìm hiểu và áp dụng kỹ thuật thanh nhạc một cách hợp
lý dạy học ca khúc trữ tình của các nhạc sĩ Việt Nam là quan trọng rất cần thiết,
với mục đích xây dựng nền thanh nhạc ngày càng phát triển nhưng không mất đi bản
sắc dân tộc Việt Nam.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hoàng Dương, Hồ Quang
Bình, Phạm Tuyên, Vũ Tự Lân, Nguyễn Thụy Kha, Nguyễn Minh Châu (2010), Ca khúc
Hà Nội thế kỷ XX và những năm đầu thế kỷ XXI, Nxb Hà Nội, Hà Nội.
2. Nguyễn Thụy Kha (2001), Nắng
Ba Đình, Nxb Thanh niên, Hà Nội.
3. Nguyễn Thụy Kha (2003),
Lá đỏ, Nxb Hà Nội, Hà Nội.
4. Trần Ngọc Lan (2011),
Phương pháp hát tốt tiếng Việt trong nghệ thuật ca hát, Nxb Giáo dục Việt Nam,
Hà Nội.
5. Vũ Tự Lân (2009), Âm nhạc
Việt Nam - Tác giả - Tác phẩm, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội.
6. Nguyễn Đăng Nghị (2012),
Nhìn lại các dạng ca khúc trữ tình giai đoạn 1945 – 1975, Tạp chí Văn hóa Nghệ
thuật, (số 342), Hà Nội.
7. Tú Ngọc, Nguyễn Thị
Nhung, Vũ Tự Lân, Nguyễn Trọng Oánh, Thái Phiên (2000), Âm nhạc mới Việt Nam -
tiến trình và thành tựu, Nxb Viện Âm nhạc, Hà Nội
8. Nguyễn Thị Nhung (2006),
Âm nhạc Việt nam - Tác giả - Tác phẩm, Nxb Viện Âm nhạc, Hà Nội.
9. Đặng Hữu Phúc (2006), Tuyển
chọn 60 bài Romance và ca khúc cho giọng hát và piano, Nxb Hà Nội, Hà Nội.
10. La Thăng (1975), Tiếng
hát Việt Nam, Nxb Văn hóa, Hà Nội.
Nguyễn Vĩnh An
Nguồn: http://www.spnttw.edu.vn




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét