Tóm tắt: Cái tên
có giá trị định danh đặc biệt, để tạo thương hiệu và thường có ảnh hưởng sâu sắc
tới người sở hữu tên đó, người sáng tạo ra nhan đề nó. Vì thế khi đặt tên riêng
người, tên nhân vật, tên tác phẩm văn chương hay các tít báo thì cần phải chú ý
tới một số điều kiện và yêu cầu nhất định. Cái tên hay, ấn tượng sẽ khởi đầu
cho một sự giao tiếp tốt đẹp. Tuy nhiên, ấn tượng tốt đẹp ấy có bền lâu hay
không còn phụ thuộc vào tính cách của người đó, nội dung của tác phẩm đó có hài
hòa với cái tên không. Tất cả những điều này đều nằm trong quy luật tương tác
giữa văn hóa, tâm lí và ngôn ngữ.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Tên người, tên nhân vật,
nhan đề tác phẩm, tên công ty… mang giá trị định danh đặc biệt. Nó là một
phương tiện giao tiếp nằm trong quy luật tương tác giữa ngôn ngữ và văn hóa. Nó
có thể khiến chủ thể tiếp nhận cái tên đó cảm tình hay không cảm tình, gợi
liên tưởng tốt hay xấu, có nghĩa hay vô nghĩa, ấn tượng hay không ấn tượng, nhớ
lâu hay chóng quên… Chẳng đã có chuyện ở Trung Quốc xây một khu chung cư cao cấp,
giá cả vừa phải nhưng chẳng mấy người mua, sau khi điều tra xã hội học thì mới
biết rằng tên khu chung cư này là Chung cư Vĩnh Hằng nên đã gây liên tưởng đến
nghĩa trang, nơi ở của người chết. Hoặc một bệnh viện là sản phẩm của Công ty cổ
phần Hà Nội ngàn năm (địa chỉ ở 21 phố Điện Biên Phủ) có tên đăng kí là: Bệnh
viện chuyên khoa phụ sản và u bướu Hà Nội ngàn năm đã khiến nhiều người “sốc”.
Tên như thế dễ gây phản cảm trong sự tiếp nhận của người đọc, bởi lẽ u bướu là
điều chẳng tốt lành, u bướu vài năm đã vô cùng lo sợ, mà giờ lại muốn gán cho
Hà Nội u bướu ngàn năm thì thật khó chấp nhận. Chính vì thế, cái tên cũng quyết
định một phần số phận của người đó, tác phẩm đó, công ty đó… (tất nhiên không
phải theo nghĩa mê tín dị đoan mà dựa trên cơ sở tâm lí ngôn ngữ xã hội).
2. NỘI DUNG
2.1. Tên riêng người
Khi đặt tên riêng, cần lưu ý
một số yêu cầu sau:
- Yêu cầu về văn hóa tín ngưỡng
“Xem mặt đặt tên”, câu tục
ngữ này phần nào đã nói lên mối quan hệ quan trọng giữa cái tên với người sở hữu
cái tên đó. Chính vì thế mà nhiều dân tộc đã bắt buộc phải có những nghi lễ đặt
tên cho đứa trẻ mới ra đời rất trang nghiêm và thành kính.
Chẳng hạn, người Kháng ở Lai
Châu có phong tục độc đáo là “bói chén” để đặt tên. Người được giao trọng
trách “bói chén” sẽ phải nghĩ sẵn một cái tên phù hợp và nói ra cho mọi người
cùng biết rồi sẽ bói xem cái tên ấy có phù hợp không. Nếu mọi người cho ý kiến
đồng ý về tên này thì người bói sẽ dùng ngay chén uống rượu trong mâm và tung
cao khoảng 50 – 60 cm cho rơi xuống mâm. Việc tung chén được tiến hành ba lần,
nếu cả ba lần chiếc chén đều nằm ngửa thì coi như thần linh đã chấp thuận cái
tên này. Trong trường hợp hai trong ba lần tung mà chén nằm sấp thì việc
chọn tên sẽ chuyển cho người khác. Người Kháng cho rằng cái tên đúng có tác dụng
rất lớn đến tính tình và sức khỏe cũng như số phận của đứa trẻ sau này. Nếu đặt
tên đúng thì đứa trẻ sẽ lớn nhanh, khỏe mạnh, hiền lành và tốt tính. Còn nếu
cái tên mà đặt sai thì đứa trẻ sẽ chậm lớn, yếu ớt, độc ác, xấu tính thậm chí
là chết yểu. Tiệc rượu chúc mừng cũng đánh dấu sự kết thúc tốt đẹp của nghi lễ
“bói chén đặt tên”, đứa trẻ đã có tên gọi và chính thức là thành viên của cộng
đồng dân tộc Kháng.
Người Dao lại có nghi lễ “cấp
sắc” để chấm dứt thời thơ ấu của một chàng trai Dao. Sau lễ đặt tên mới này,
người đàn ông dân tộc Dao mới được coi là người trưởng thành cả về thể chất
cũng như tâm linh, bắt đầu thực hiện nghĩa vụ của một người đàn ông thực sự với
cộng đồng dân bản, được làm nghề cúng bái và được giao tiếp với người âm.
Lễ đặt tên - thổi tai là lễ
thức phải có trong nghi lễ vòng đời của dân tộc Êđê. Lễ đặt
tên được làm trước. Bà đỡ đặt những lễ vật trong cái thúng bên cạnh cháu bé và
cầu nguyện: “Nay ta đặt tên cho cháu, nếu cháu ưng tên ta đặt thì cháu hết khóc
và ngủ thật ngon. Nếu không thích tên này, cháu hãy khóc thật to” Sau đó bà đọc
một số tên, khi đọc đến cái tên nào mà cháu bé ngừng khóc thì tên đó sẽ được
dùng để đặt tên cho cháu bé.
- Yêu cầu về tâm lí
Theo Lê Trung Hoa thì việc đặt
tên con phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó yếu tố tâm lí của bậc cha mẹ và những
người thân trong gia đình đóng vai trò quan trọng, không ai có thể can thiệp được.
Tâm lí người Việt thể hiện rất rõ qua việc đặt tên cho con mình. Một số người
hiếm muộn hoặc chỉ có con gái mà chưa có con trai, khi đẻ được con trai đặt tên
là Có. Người đông con quá không muốn đẻ nữa nhưng lỡ đẻ thì đặt tên là Thôi,
Dư, Thừa. Cha mẹ mong ước con có đạo đức thì đặt tên: Lương, Hiền, Thảo, Ngoan,
Nhân, Lễ, Nghĩa. Muốn con cái mình tài giỏi thì đặt tên con là Tài, Tuấn, Kiệt.
Có người đánh dấu sự kiện, kỉ niệm quan trọng vào tên con, chẳng hạn, có người
đặt tên con là Thống Nhất để ghi dấu sự kiện 30 – 4, có người đặt tên con là
Trường Sơn để kỉ niệm những tháng ngày hành quân gian khổ trên đường Trường
Sơn. Có người lấy tên người yêu cũ đặt tên cho con, thậm chí có người lấy tên
người mình oán ghét đặt tên cho con để trả thù. Có những ông bố không trực tiếp
đặt tên cho con nhưng lại là cảm hứng cho những bà mẹ sáng tạo ra những cái tên
độc: Trần Lừa, Nguyễn Thị Bỏ, Lê Bội Phản là những cái tên kí dưới một số lá
thư kể về nỗi bất hạnh không biết mặt bố. Nguyễn Trường Hận là một học sinh lớp
9, bị cha bỏ rơi từ lúc còn nằm trong bụng mẹ. Người mẹ đi làm ăn xa, giao “thằng
cu” cho bà ngoại, chẳng màng tới chuyện đặt tên con. Người cậu đặt cho cháu một
cái tên để nhớ đến cha nó. Hận lớn lên với tuổi thơ không có bạn bè, đã côi cút
lại càng thêm cô độc. Cô gái có tên Nguyễn Thị Ly Tan luôn buồn tủi vì cái tên
gợi ra sự tan vỡ của bố mẹ cô. Cô Lê Thị Nghĩa Trang không xin được việc làm chỉ
vì cái tên “sái”… Anh Nghĩa yêu cô Thu Trang nhưng bố mẹ ngăn cản vì cho rằng
tên hai vợ chồng ghép vào sẽ không may mắn.
Có người thích con giàu có
may mắn thì đặt tên là Phát Tài, Toàn Lợi, Vĩnh Phát… Tuy nhiên, không nên đặt
tên bằng những từ cầu lợi như thế, làm người khác có cảm giác nghèo nàn về học
vấn. …
Có những bố mẹ quá kì vọng vào con cái nên đã đặt những cái tên tuyệt đối, cực đoan dễ làm người khác có những ấn tượng không tốt. Chẳng hạn, có học sinh tên là Lê Xuất Sắc nhưng học lực em này chỉ ở mức bình thường nên hay bị bạn bè trêu chọc. Cậu bé Trương Siêu Thông Minh lại thường kiếm cớ nghỉ học vì cô giáo than: “Thông Minh sao toàn bị điểm kém?”. Cô gái Cao Thị Chót Vót, sinh viên trường Cao đẳng X. rất ngại khi người khác gọi tên, vì cô cao không quá 1,5 m. Chị Võ Trang Kiều Diễm Lệ khi về “ra mắt” bị bà mẹ chồng tương lai nguýt dài: “Tên một đường, người một nẻo”…
Có những bố mẹ quá kì vọng vào con cái nên đã đặt những cái tên tuyệt đối, cực đoan dễ làm người khác có những ấn tượng không tốt. Chẳng hạn, có học sinh tên là Lê Xuất Sắc nhưng học lực em này chỉ ở mức bình thường nên hay bị bạn bè trêu chọc. Cậu bé Trương Siêu Thông Minh lại thường kiếm cớ nghỉ học vì cô giáo than: “Thông Minh sao toàn bị điểm kém?”. Cô gái Cao Thị Chót Vót, sinh viên trường Cao đẳng X. rất ngại khi người khác gọi tên, vì cô cao không quá 1,5 m. Chị Võ Trang Kiều Diễm Lệ khi về “ra mắt” bị bà mẹ chồng tương lai nguýt dài: “Tên một đường, người một nẻo”…
Cũng không nên đặt tên dễ gợi
liên tưởng xấu, chẳng hạn như Hoa Liễu, người ta có thể liên tưởng tới bệnh hoa
liễu chứ không phải hoa của cây liễu.
- Yêu cầu về chức năng giao
tiếp xã hội
Nếu ai đó không có tên thì
chắc chắn sẽ gặp nhiều khó khăn khi sống trong cộng đồng xã hội. Chức năng của
tên nói chung dùng để phân biệt người này với người khác trong xã hội. Vì vậy
khi đặt tên cần chú ý những điểm sau:
+ Yêu cầu ngắn gọn, ít trùng.
Để có thể làm tốt nhiệm vụ giao tế, tên cần được chọn sao cho ít trùng người
khác để có chức năng phân biệt. Hạn chế đặt tên đơn, vì tên đơn dễ bị trùng
tên.
+ Yêu câu phân biệt giới
tính. Tên nên thể hiện được sự khu biệt tự nhiên trong giới hữu sinh, khu
biệt giữa nam và nữ. Không nên đặt tên nam nữ, âm dương trái ngược nhau, nữ
không nên đặt tên nam, nam không nên đặt tên nữ để người khác dễ phân biệt. (Cô
Nguyễn Thị Đực không lấy được chồng vì cái tên nam tính, chàng trai tên là Trần
Minh Gái người ta lại tưởng nghĩ là thuộc giới tính thứ ba). Xã hội ngày càng
thông minh thì nhu cầu thẩm mĩ càng cao.
- Yêu cầu về chức năng thẩm
mỹ:
Tên còn có chức năng thẩm mĩ
nên thường cần phải đặt sao cho hay về ngữ âm và ngữ nghĩa. Chẳng hạn: Phạm Sư
Mạnh thể hiện ý chí ham học theo Mạnh Tử; Trần Thiện Đạo: thể hiện tính hâm mộ
về hành thiện, làm việc lành. Để đảm bảo tính thẩm mĩ, cần chú ý những tiêu chí
sau:
+ Khi đặt tên nên chú
ý đến phát âm vùng, miền.
Những người quê miền Trung
nên tránh những tên có dấu hỏi hoặc dấu ngã vì khi gọi dễ lẫn lộn (ví dụ, chồng
tên Dũng, vợ tên Mĩ thì khi về quê họ hàng có thể chào: “Dủng, Mỉ về rồi à”. Những
vùng hay nói ngọng L - N thì hạn chế đặt tên con bằng phụ âm đầu L hoặc N vì họ
hàng có thể gọi sai (chẳng hạn, Lý thành Ní, Lê thành Nê, Nụ thành Lụ…). Cần
tránh đặt tên có âm thanh hay gây nhầm lẫn trong các viết, ví dụ tên là Sỹ (y
dài) nhưng mọi người thường viết Sĩ (i ngắn) và sẽ phiền phức cho người đó khi
làm các thủ tục hành chính như visa hay passport.
Không nên đặt tên theo cảm
xúc như: Vui, Sướng… bởi lẽ khi chết người ta sẽ hờ: “Sướng ơi là Sướng…” hay
“Vui ơi là Vui…” v.v..
Người Việt Nam nếu đã định
cư ở nước ngoài, thì có thể thay lại tên nếu cái tên cũ của mình khi phát
âm bằng tiếng Anh, bớt dấu thì lại mang những nghĩa xấu. Chẳng hạn, tên
Loan nghĩa Việt rất hay nhưng nghĩa tiếng Anh lại là “món nợ” hoặc những cái
tên Dung hay Dũng (khi viết không dấu) sẽ mang nghĩa phản cảm.
+ Không nên đặt tên quá cầu
kì
Nhà thơ Trần Huiền Ân (không
phải Trần Huyền Ân) viết rằng: “Đời cha lấy tên các con làm niềm vui”. Nhà thơ
đã thực hiện việc đặt tên cho con một cách rất kì công. Những cái tên không còn
đơn thuần là danh xưng mà gửi gắm nhiều niềm vui hi vọng. Tuy nhiên, sự đặt tên
cầu kì quá khiến người cần giao tiếp khá khó khăn trong việc phát âm khi muốn gọi
tên con ông và cần ông giải thích mới hiểu nghĩa. Chẳng hạn như Trần Nguyện Hoằng
Nhuyên (đá chứa ngọc), Trần Hoạch Chuyết Nhuynh (ngọc trong đá), Trần Triêu
Ngõa Huyền (nắng sáng rực rỡ trên mái ngói)... Ngay cái bút danh độc đáo Trần
Huiền Ân này đã khiến không ít những biên tập viên chữa đi chữa lại vì họ
tưởng tôi viết sai chính tả tên nhà thơ này trong giáo trình Ngôn ngữ văn
chương, đến nỗi người viết đã phải chú thích là: chú ý Huiền chứ không phải
Huyền.Hoặc trường hợp khác, ở tỉnh Thái Nguyên có cô gái tên là Đào Thị Long
Lanh Kim Ánh Dương, cái tên dài này đã gây ra không ít phiền phức vì hồi học cấp
2, cấp 3, trong sổ Đảng bộ, sổ điểm lớp và sổ học bạ… các thầy cô giáo đều phải
viết tắt 5 âm tiết trong cái tên của Dương vì không đủ chỗ viết. Năm âm tiết viết
tắt cũng đã chiếm chỗ bằng 1 đến 2 từ so với người bình thường.
+ Không nên đặt tên quá dễ
dãi:
Có những người cha người mẹ
thiếu trách nhiệm, không coi trọng việc đặt tên cho con cái. Họ chợt nghĩ ra
tên gì là đặt ngay tên đó hoặc đặt tên quá xấu (theo quan niệm để đứa bé dễ
nuôi) như: Tỉu, Cu, Hĩm,Vạc, Cò, Phân, Heo Mọi… Chẳng đã có truyện cười kể rằng
ông bố này có hai người con trai, người con út ông đặt tên là Phân (tên xấu để
khỏi chết yểu) và rất yêu quý nó. Một hôm, ông bố gọi: “Phân ơi về ăn cơm”, đứa
con gái cả đang chơi ở gần đấy nói: “Phân không có ở đây! Không có Phân bố
không ăn được hay sao mà cứ phải gọi” (?!). Hoặc chuyện ông Mai Văn Cán ở xã Đại
Cường, Đại Lộc (Quảng Nam) bị phạt tiền vì sinh con thứ 5. Tức mình ông đặt cho
nó cái tên chẳng giống ai: Mai Phạt Sáu Ngàn Rưỡi. Sau này, chắc là ân hận nên
ngày 1.9.2005 ông đã tới UBND tỉnh Quảng Nam để đổi tên Mai Phạt Sáu Ngàn Rưỡi
thành Mai Hoàng Long. Việc thay đổi này có ý nghĩa đối với Long, bởi ngay sau đó
cậu đã xin được việc làm để đỡ đần gánh nặng cho cha mẹ. Những cái tên bất thường
sẽ có ảnh hưởng tiêu cực tới tâm lí của người sở hữu cái tên. Trong tác phẩm
“Kí ức vụn” (Nxb Hội Nhà văn, 2009), Nguyễn Quang Lập đã kể chuyện: “Nó là
bạn nối khố của mình, tên là Nguyễn Hó, ra Hà Nội đổi tên là Nguyễn Hồng Đức,
nó bảo cái tên Hó tối mò, quê một cục, nghe cái tên chó nó muốn làm việc với
tao”. Một số ca sĩ Việt Nam cũng đã thành danh sau khi đổi cái tên quê mùa của
mình thành cái tên hay và có ý nghĩa hơn.
Thạc sĩ Nguyễn Thị Quế,
Giám đốc Trung tâm tư vấn và phát triển tâm lí trẻ em Nguyễn Khắc Viện cho rằng:
lúc lên 5 - 6 tuổi, trẻ có thể nhận biết tên mình đẹp hay không qua lời khen
chê của người lớn, dù chưa hiểu hết ý nghĩa của câu chữ. Nếu cái tên không hay,
kinh dị, bất thường sẽ ám ảnh trẻ và chúng coi đó là sự cảnh báo về một tương
lai u ám. Cái tên thay đổi, số phận có thể thay đổi. Luật pháp ủng hộ và tạo điều
kiện để con người thay đổi “nhãn hiệu” của mình. Điều 27 của bộ Luật Dân sự năm
2005 quy định: “Cá nhân có quyền yêu cầu các cơ quan chức năng thay đổi họ tên
trong các trường hợp họ tên gây nhầm lẫn, phiền toái, phản cảm, ảnh hưởng xấu đến
cuộc sống tinh thần”.
2.2. Tên tác phẩm, tên nhân
vật
- Những yêu cầu khi đặt nhan
đề
Nội dung và hình thức trong
tác phẩm nghệ thuật nên gắn bó hài hòa với nhau. Vì vậy các nhà sáng tác nên để
tâm đến việc đặt tên cho đứa con tinh thần của mình. Bởi lẽ tên tác phẩm có thể
gây ấn tượng khiến người đọc chú ý và ngược lại cũng dễ khiến người ta thờ ơ.
Tên tác phẩm phải đặt vừa đúng nội dung lại vừa phải ấn tượng, hấp dẫn, tinh tế
và phải ít (hoặc không được) trùng với tên của một tác phẩm nào cũng là điều
không hề đơn giản. Nhà văn Xuân Diệu đã có lần phát biểu đại ý rằng, các nhà
văn đặt tên cho tác phẩm cũng trăn trở như cha mẹ đặt tên cho con. Thật vậy,
quá trình sáng tạo cũng mang nặng đẻ đau. Khi đứa con tinh thần ra đời, nhà văn
cũng có niềm vui sướng hạnh phúc như người mẹ người cha có thêm một đứa con rồi
“đứa con tinh thần” ấy còn khiến nhà văn phải bận tâm nhiều, chăm chút sau mỗi
lần tái bản. Và có đứa con tinh thần đem lại cho cha mẹ vinh quang nhưng cũng
có không ít nhà văn lao đao khốn khổ vì nó.
Các nhà văn, nhà thơ nên chú
ý đến nhan đề tác phẩm bởi đó là một cách tiếp thị và tiếp cận đơn giản nhưng
hiệu quả với những giá trị của tác phẩm.
Gần đây, một số tác giả đã đề
cập đến việc đặt nhan đề cho tác phẩm như Nguyễn Đình San, Trần Quang Đại, Tường
Duy…
Khi đặt tên cho tác phẩm người
sáng tác thường theo mấy khuynh hướng sau: Một là khái quát toàn bộ chủ đề
tác phẩm, kiểu này phổ biến hơn cả (“Đất nước đứng lên”, “Vỡ bờ”, “Sóng gầm”,
“Tắt đèn”, “Đôi mắt”; “Mảnh đất lắm người nhiều ma”, “Hậu thiên đường”, “Giàn
thiêu”, …)
Hai là, lấy nhân vật
chính, trung tâm làm tên tác phẩm. Kiểu này cũng rất phổ biến (“Tố Tâm”,
“Chí Phèo”, “Chị Tư Hậu”, “Gia đình má Bảy”, “Vợ chồng A Phủ”, “Vệ sĩ của Quan
Châu”, “Góa phụ đen”…)
Ba là, lấy bối cảnh thời
gian hoặc không gian (“Đảo chìm”, “Phố nhà binh”, “Đêm làng Trọng Nhân”,
“Mùa lá rụng trong vườn”, “Tân cảng”, “Sông”, “Cánh đồng bất tận”…) Dẫu rơi vào
khuynh hướng nào thì tên tác phẩm cũng cần gợi mở, kích thích được tối đa nhất
khả năng tưởng tượng của người thưởng thức. Những tác phẩm nổi tiếng thế giới từ
cổ chí kim đều có những cái tên rất gợi cảm, ấn tượng.
Truyện Chí Phèo lúc đầu đặt
là “Cái lò gạch cũ” và “Đôi lứa xứng đôi”. Đặt tên truyện “Cái lò gạch cũ” phải
chăng tác giả muốn nói đến sự luẩn quẩn, bế tắc, gắn với hình ảnh nhân vật
chính ở đầu truyện, khi nó còn là thằng bé đỏ hỏn được bọc trong cái váy đụp vứt
ở cái lò gạch bỏ không và hình ảnh cuối truyện: Thị Nở, sau khi nghe tin Chí
Phèo đâm chết Bá Kiến đã tự sát một cách khủng khiếp, đã nhớ lại những lúc gần
gũi với hắn và nhìn xuống bụng rồi thoáng thấy hiện ra cái lò gạch cũ bỏ không ở
nơi vắng người qua lại? Có thể có một Chí Phèo con ra đời để nối nghiệp bố. Như
vậy, Cáilò gạch cũ như một biểu tượng về sự xuất hiện tất yếu của hiện
tượng Chí Phèo, gắn với chủ đề chính của tác phẩm. Còn Đôi lứa xứng đôi thì
nhấn mạnh vào tính bản năng trong mối tình có tính người ngợm, ngợm người giữa
Chí Phèo và Thị Nở, giữa một con quỷ dữ của làng Vũ Đại có bộ mặt “vằn dọc vằn
ngang” và một mụ đàn bà xấu “ma chê quỷ hờn”. Như vậy cái tên này phù hợp với
thị hiếu, giật gân, dễ gây tò mò, nhà văn Nguyên Hồng tỏ ra tán thành với cách
hành xử của Lê Văn Trương khi cho rằng, bên cạnh những tên sách “dí vào người đọc
như điện” (kiểu như “Sự động cỡn của đàn bà”, “Khi chiếc yếm rơi xuống”, “Đời
mưa gió”…) thì cái tên truyện “Cái lò gạch cũ” quả là nôm na đến ngớ ngẩn. Tuy
nhiên cái tên “Đôi lứa xứng đôi” lại không phản ánh đúng nội dung chủ đề tác phẩm.
Tiểu thuyết Chết mòn của
Nam Cao, sau này được đổi tên là Sống mòn. Nhiều người cho rằng, tên sách
mới vẫn giữ được tinh thần của tên sách cũ, nhưng gợi hơn. Nếu như Chết
mòn mang nghĩa đen thì Sống mòn mang nghĩa bóng, đó là một sự sống
đi dần về cõi chết.
Nhìn chung, các tác giả rất
chú ý đến việc đặt tên nhan đề và cách trình bày nhan đề.
“Vợ nhặt” của Kim Lân cũng
là một nhan đề độc đáo. “Vợ nhặt” nghĩa là gì? Tại sao tác giả không viết là
“Nhặt vợ”? Cái khác biệt là ở chỗ “Nhặt vợ” là một động từ còn “Vợ nhặt” là một
danh từ chỉ một loại vợ khác như vợ đẹp, vợ trẻ, vợ ở quê…chẳng hạn. Nhan
đề “Vợ nhặt” hiểu theo nghĩa đen là nhặt được vợ. Nhan đề ấy tạo được ấn tượng,
kích thích sự chú ý của người đọc vì cái giá của con người quá rẻ rúng. Qua tác
phẩm này, Kim Lân đã phản ánh được tình cảnh thê thảm và thân phận tủi nhục của
người nông dân nghèo trong một nạn đói. Và đọc xong tác phẩm người đọc mới thấy
hết được tính chất vừa hài hước, vừa xót xa bi thảm trong câu chuyện ấy.
Phạm Tiến Duật lúc đầu đặt
tên cho bài của mình là “Tiểu đội xe không kính” nhưng sau đó ông sửa
thành “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”. Việc thêm từ “bài thơ” có dụng
ý nhất định. Nếu như “Tiểu đội xe không kính” chỉ thể hiện được phần hiện thực
chiến tranh tàn khốc với những chiếc xe không kính quái lạ, không gây được sự
chú ý nơi người đọc thì thêm chữ “bài thơ” sẽ làm cho tác phẩm thêm chất thơ,
nhan đề mới là sự hòa quyện giữa lãng mạn và thực tại, gây được sự chú ý nơi
người đọc. Những chiếc xe không kính tuy kì lạ và gây không ít khó khăn cho người
điều khiển nhưng lại là minh chứng cho niềm lạc quan của những chiến sĩ, minh
chứng cho lòng yêu nước và trái tim luôn hướng về miền Nam của những người
lính lái xe quả cảm. “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” thể hiện một chút tinh
nghịch, trẻ trung trong cuộc sống chiến đấu gian khổ của họ và cũng là của
chính nhà thơ.
Truyện ngắn “Cuộc chia
tay của những con búp bê” của tác giả Khánh Hoài được đưa vào sách giáo
khoa lớp 7, có độc giả thắc mắc là nội dung truyện nói về sự chia li của hai
anh em vì bố mẹ bỏ nhau, vậy tại sao không đặt nhan đề là “Cuộc chia tay của
hai anh em”?... Nếu nhan đề được đặt là “cuộc chia tay của hai anh em” thì đó
là một cái tên thật thà theo nghĩa đen. Còn “Cuộc chia tay của những con
búp bê” lại là hình ảnh ẩn dụ, nó là sự phản chiếu bi kịch của một hiện tượng
đang phổ biến trong xã hội hiện nay: những cuộc ly dị tan vỡ gia đình.
Truyện ngắn Kẻ sát nhân
lương thiện có một nhan đề gây ấn tượng mạnh bởi kết hợp nghịch ngữ, gây
tò mò cho độc giả: đã sát nhân sao còn lương thiện? Và người ta tìm đọc. Đọc
xong người ta cảm thấy thoải mái bởi nhan đề như vậy đã khái quát được chủ đề
tác phẩm, tên truyện như vậy là có lý chứ không phải chỉ thuần gây ấn tượng mạnh
để câu khách. Trong truyện ngắn này có câu mở đầu: Con vua thì lại làm
vua/ Con sãi ở chùa thì quét lá đa. Truyện được kết thúc trong thắng lợi chua
xót của hắn - nhân vật chính - kẻ đã nổ súng tận diệt các thế hệ của một dòng họ
“vua” bằng câu tuyên bố: Tự giải phóng ra khỏi số phận đê hèn là một việc
thiện, ít nhất là cho chính mình. Con tôi (nếu có) sẽ không bao giờ là người cắt
cỏ ngựa thuê cho dòng họ Lâm như ba đời trước nó”. Cái nhan đề này vừa đạt được
tiêu chí hấp dẫn vừa đạt tiêu chí phản ánh đúng nội dung. Vì thế nó là một khởi
đầu tốt đẹp cho việc giành giải Nhất cuộc thi truyện ngắn báo Văn nghệ năm 1990
– 1991.
Nhà thơ Trần Đăng Khoa đã
tôn vinh nhà văn Nguyễn Khải bằng thương hiệu “Nhà văn thông tấn” để khu biệt
ông với các nhà văn khác, bởi lẽ tên nhiều tác phẩm của ông cũng gần giống như
tên các bài Phóng sự, hay Xã luận báo Nhân dân: “Tháng Ba ở Tây Nguyên”,
“Họ sống và chiến đấu”, “Gặp gỡ cuối năm”, “Mùa lạc”, “Chủ tịch Huyện”, “Tầm
nhìn xa”, “Hãy đi xa hơn nữa”. Trên thế giới đã có những nhà văn lớn như
Ernest Hemingway và Garcia Marquez được giới lí luận gọi là “Nhà văn thông tấn”
và tác phẩm của họ đã đạt Giải thưởng Nobel.
Năm 2012, tập thơ đầu tay của
Nguyễn Phong Việt ra đời. Dòng chữ trung tâm trên bìa tập thơ đó là một câu hỏi: “Có
bao nhiêu người đã đi qua thương nhớ mà quên được nhau?” đã gây ấn tượng mạnh
mẽ cho người đọc. Nhiều bài trong tập thơ này, tác giả cũng đặt nhan đề theo kiểu
câu hỏi, mà đã là câu hỏi thì ắt là phải có trả lời, mà có trả lời tức là có sự
tương tác, hội thoại ngầm giữa tác giả và độc giả. Chính sự tương tác này đã
khiến cuốn sách trở thành hiện tượng bestseller, với kỉ lục bán 10.000 bản chỉ
trong 50 ngày. Điều đó chứng tỏ rằng để tác phẩm hấp dẫn, thu hút độc giả thì
điều đầu tiên tác giả phải chú ý đến nghệ thuật đặt tên.
- Những điều nên tránh khi đặt
nhan đề
+ Tránh đặt tên theo kiểu
“lười biếng”
Trên thực tế, không phải người
sáng tác nào cũng dụng công tìm được cái tên phù hợp, giàu biểu cảm cho tác phẩm
của mình.
Một số nhạc sĩ nổi tiếng có
những bài hát giai điệu và lời rất hay nhưng tên bài hát thì lại quá đơn giản
và nhiều khi trùng lặp. Chẳng hạn như ca ngợi một ngành nghề hoặc một mẫu người
nào đó thì tên bài hát sẽ được đặt là: “Bài ca người…”, “Bài ca ngành…”. Cũng
như vậy, không ít người làm thơ do không ý thức được tầm quan trọng của nhan đề
nên đã đặt tên cho tác phẩm của mình là “Không đề”. Có những tập thơ
chưa đến 100 bài mà có tới trên 10 bài mang cái tên như trên. Hoặc, chỉ
trong một tập thơ mỏng mà tác giả lại có đến 10 bài “Không đề”, từ “Không đề 1”
đến “Không đề 10”. Hiện tượng không tên trở nên khá phổ biến. Điều đáng
tiếc là cái tên này nhiều khi được đặt cho những bài thơ hay, có giá trị mà bản
thân chúng hoàn toàn có thể mang cái tên khác hợp lí và hấp dẫn hơn. Có những
bài thơ viết về mẹ, người viết đặt nhan đề “Mẹ” là đúng với nội dung, tuy nhiên
nếu gom các bài thơ viết về mẹ của nhiều tác giả thành một tập thì quả thực có
quá nhiều bài có cái tên trùng nhau. Tôi đã khảo sát tập Thơ về Mẹ (Nxb
Văn học, 2010) và nhận thấy rằng riêng nhan đề “Mẹ” có khoảng 20 bài
của các tác giả Thu Bồn, Văn Cao, Trịnh Minh Châu, Thế Chính, Đặng Anh Dũng, Trần
Thị Mỹ Hạnh, Tô Hoàn, Đặng Thị Thanh Hương, Nguyễn Trung Kiên, Đỗ Trung Lai,
Lan Hoàng Miên, Phan Thị Thanh Nhàn, Viễn Phương, Lê Thái Sơn, Nguyễn Quốc
Thái, Đoàn Ngọc Thu, Bằng Việt… hoặc nhan đề “Mẹ ơi” cũng khá nhiều của
các tác giả: Đồng Đức Bốn, Hà Huệ Chi, Trần Chính, Nguyễn Phan Hách, Trương
Nhân Huyền, Nguyễn Ngọc Hưng, Hồng Thanh Quang, Trần Quốc Thực, Nguyễn Duật Tu…
Ở đời, ai cũng có mẹ nhưng cảm xúc và kỉ niệm về mẹ ở mỗi người là khác nhau, vậy
nên chăng người sáng tác cố gắng đặt tên bài thơ của mình sao cho ít có sự
trùng lặp, tạo được nét riêng về hình ảnh người mẹ của mình, chẳng hạn như: Tìm
mộ mẹ, Dáng mẹ trên đồng, Mẹ và quả, Qua hàng trầu nhớ mẹ, Ngồi buồn nhớ mẹ ta
xưa, Đêm qua mơ thấy mẹ về…
Nhà thơ Vũ Quần Phương là
nhà thơ thông minh và tài hoa nhưng cách đặt tên cho các tập thơ thì theo tác
giả Tường Duy là “không thú lắm”. Chẳng hạn: “Vầng trăng trong xe bò”, “Quên chữ
quên câu”, “Giấy mênh mông trắng”, “Chỗ ấy… sóng”. Vì thế, đã có chuyện vui: Một
nữ tác giả trẻ tò mò hỏi nhà thơ: “Chỗ ấy… là chỗ nào?”. Nhà thơ hóm hỉnh trả lời:
“Chỗ ấy là… chỗ ấy chứ còn chỗ nào nữa”. Hay như với cuốn “Giấy mênh mông trắng”,
vì khi trình bày, người làm bìa cắt đôi hai chữ một dòng, nên hai chữ sau của
tên sách (“mông trắng”) đã là đề tài để một số người đùa trêu tác giả.
Trước đây, nhà thơ Xuân Quỳnh cũng bị đùa trêu khi tên tập thơ “Sân ga chiều em
đi” của chị bị tách thành hai mệnh đề “sân ga” và “chiều em đi”.
+ Tránh đặt tên theo kiểu
“treo đầu dê, bán thịt chó”, câu khách rẻ tiền
Nếu tít bài báo, nhan đề tác
phẩm chỉ nhằm mục đích câu khách mà không phù hợp với nội dung, ở trong tình trạng
“treo đầu dê, bán thịt chó” thì độc giả khi đọc xong tác phẩm sẽ rất khó chịu,
bực mình vì cảm thấy như mình bị lừa, ấn tượng tốt đẹp về tác phẩm cũng vì thế
mà mất đi.
Khi giới thiệu chân dung văn
học, thường thì người ta dùng tên tác phẩm hoặc những câu thơ hay được nhiều
người biết đến để làm tít hoặc thay thế tên tác giả kiểu như:Nhà thơ của “Đường
tới thành phố” (Hữu Thỉnh), Tác giả “Sự mất ngủ của lửa”(Nguyễn Quang
Thiều) nhiều khi đắc địa và trở thành lối chơi chữ đầy hiểu biết của tác
giả bài viết. Thế nhưng nếu lạm dụng thái quá lối chơi chữ để đặt tít có thể sẽ
gây khó hiểu và phản cảm.
Nhiều tít báo đã gây ra sự
hiểu lầm đáng tiếc, ví dụ: “Trầm Hương - Dâm nữ” (Thực tế tác giả Trầm
Hương có truyện ngắn tên là “Dâm nữ”), Dung Thị Vân - Ven đồi đẫm
sương (Thực tế là câu thơ: “Chiều rơi hạt nắng mồ côi/ Bàn tay ai buốt ven
đồi đẫm sương” trong bài thơ “Tìm em gọi giấc mơ vàng” của Dung Thị Vân), Bùi
Chí Vinh - siêu nhân hay quái vật (Thực tế là câu thơ: “Cậu bé siêu nhân
hay quái vật, bệnh nhân?/ Mọi câu hỏi đổ xô về nước Ý” trong bài thơ “Nỗi buồn
của siêu nhân tí hon” của Bùi Chí Vinh), v.v.. Đây là những cách giật
tít hoàn toàn mang cảm tính, chủ quan vì tác phẩm, nhân vật, câu thơ chưa thể đại
diện, thay thế cho tên tác giả, hơn nữa một số tác giả mà độc giả “mới làm
quen” thì thời gian và công chúng chưa có sự kiểm chứng tác phẩm của họ. Nếu cứ
đặt tít kiểu này thì khó mà phân biệt được tác giả và nhân vật được hư cấu, được
đề cập trong tác phẩm, gây ra sự nhầm lẫn tai hại.
Có thể cách đặt tít trên của
tác giả là để câu khách, để độc giả đọc tác phẩm hoặc cũng có thể tăng thêm phần
hài hước. Thế nhưng những cái tít như thế lợi bất cập hại và khiến cho người có
tác phẩm cảm thấy đau khổ vì cái tít như một kiểu đùa ác ý, thiếu văn hóa của
người giật tít, ảnh hưởng xấu đến hình ảnh đẹp của nhà văn.
- Ý nghĩa của tên nhân vật
Tên nhân vật cũng có thể gợi
lên một liên tưởng nào đấy về số phận, về tính cách… của nhân vật đó.
Chẳng hạn, tại sao tác giả
dân gian không đặt tên cô chị là Cám, cô em là Tấm trong truyện
cổ tích “Tấm Cám”? Phải chăng Tấm có giá trị hơn Cám.
Tên truyện là Chí Phèo cho
người đọc biết đây là tên nhân vật trung tâm, nói về nhân vật trung tâm, tên
nhân vật này có thể gợi liên tưởng xấu vì “phèo” là cái ruột lợn, “chí” là cuối,
cuối cái ruột lợn thì chẳng có giá trị gì, là đồ bỏ đi, vì thế Chí Phèo cũng
chính là một người thừa trong xã hội.
Chị Sứ trong tác phẩm Hòn đất
của Anh Đức là người con gái xứ Hòn được mọi người tin yêu quý trọng. Chị rất mực
dịu dàng, nhân hậu với bà con, lối xóm, đồng thời cũng rất vững vàng khi đối mặt
với kẻ thù. Tên Sứ gợi cho ta hình ảnh một loài hoa thanh cao, đẹp,
thường trồng trong chùa. Hoặc cũng có thể hiểu sứ là một loại men bền,
bóng được tôi luyện từ đất.
Và chắc chẳng phải ngẫu
nhiên mà Nguyễn Công Hoan lại đặt tên là Kếu cho cô gái trong truyện
“Cô Kếu – gái tân thời” với hàm ý châm biếm hay Nam Cao đặt tên cho nhân vật là Trạch
Văn Đoành, cái tên đã tạo ấn tượng mạnh “nghe như súng thần công nó bắn
vào lỗ tai”.
Có tác giả đã đặt tên nhân vật
của mình nhằm tạo hiệu quả tu từ rõ rệt. Chẳng hạn, nhân vật Thảm trong “Côi
cút giữa cảnh đời” của Ma Văn Kháng, từ nhỏ phải sống xa mẹ, chịu nhiều nỗi khổ
cực đắng cay. Bà của em nói với cô bác xung quanh: “Tên cháu đặt là Thảm cô
ạ, thảm thiết quá cô ơi”. Về sau, khi bố em trở về, Thảm không còn chịu cảnh bơ
vơ, côi cút nữa, cuộc đời đã khác rồi. Và chính bố em đã nói với bà của em: “Mẹ
ơi, con xin phép mẹ đổi tên cho cháu Thảm, tên cháu bây giờ là Thắm, mẹ
nhé! Nhờ mẹ, cuộc đời nó đã qua đoạn thảm thê”. Thắm tượng trưng cho
cuộc đời thắm tươi của em.
Trong tác phẩm “Khát chữ”,
nhà văn Đào Quang Thép đã đặt tên cho các nhân vật của mình là: thằng Sướng (con
nhà giàu), Đậu Văn Ngay (ông chủ tọa phiên tòa) , Hoàng Thị Thật (bà
kiểm sát viên) - hai cán bộ nghiêm túc của tòa án, Trần Cá Kiếm (tên
cán bộ ngân hàng biến chất), Mị (cô gái thùy mị nết na)… Như vậy, tên
nhân vật đã bộc lộ phần nào tính cách của nhân vật.
Tên các nhân vật trong tác
phẩm của Hồ Anh Thái cũng rất đặc biệt như Cá sấu 1, Cá sấu 2, Nghiên
cứu viên 1, Nghiên Cứu Viên 2, Bà Bạch Cốt Tinh, Họa sĩ Chuối Hột, Bóp, Phũ, Cốc,
Thỏ Lon, Thằng bé người cá hoặc Lâm Nhất Nhất, Khuất Nhị Nhị, Lý Tam
Tam, Đàm Tứ Tứ, Ngũ Nương Nương. Đó là những cái tên vừa gây sự hài hước, vừa
cho thấy sự tha hóa trong đời sống đang là một hiện tượng phổ biến.
Tác giả trẻ Nguyễn Thiên Di
với tiểu thuyết “Những giao diện ẩn” (đạt giải tư trong cuộc thi “Văn học tuổi
20 lần IV”) đã đặt tên nhân vật độc đáo theo biệt danh: Bướng Bỉnh,
Ngổ Ngáo, Cục Đất, Tham Vọng, Bà Mập, Cỏ Hoang, Chị Da Bánh Mật, Thiên Thần
Kính Cận, Mặt Bẹt, Nhóc Không Cười… Cách đặt tên như vậy sẽ khiến người đọc nhận
thấy trong số các nhân vật ít nhiều có hình bóng của mình.
Trong tác phẩm “Cánh đồng bất
tận”, một số tên nhân vật có giá trị như một biêu tượng: Sương (cô
gái điếm ăn sương), Nương (chỉ người con gái: Mị Nương), Điền(nghĩa
Hán Việt là ruộng, liên quan mật thiết với cánh đồng)
Tuy nhiên, không phải
tác phẩm nào cũng chú ý tới việc đặt tên nhân vật, thậm chí đã có những nghi án
văn chương gây ra những hệ lụy phiền toái không đáng có cho đời sống của người
cầm bút như truyện ngắn “Cây táo ông Lành”. Tên nhân vật ông Lành đã bị một
vài nhà phê bình ấu trĩ thời đó xuyên tạc là ám chỉ một nhân vật quan trọng trong
giới văn nghệ.
3. KẾT LUẬN
Tóm lại, cái tên có giá trị
định danh đặc biệt, để tạo thương hiệu và thường có ảnh hưởng sâu sắc tới người
sở hữu tên đó, người sáng tạo ra nó.
Khi đặt tên người cần hay cả
về âm và nghĩa, ngắn gọn, phân biệt giới tính, đừng quá cầu kì nhưng cũng đừng
quá dễ dãi và tuân theo những yêu cầu văn hóa tín ngưỡng của cộng đồng. Những
cái tên kinh dị, phản cảm, gây nhầm lẫn phiền toái có thể ảnh hưởng xấu đến đời
sống tinh thần.
Khi đặt tên tác phẩm cần
đảm bảo yêu cầu đúng nội dung mà lại ấn tượng, hấp dẫn và ít trùng. Hạn chế đặt
tên theo kiểu “lười nhác” hoặc gây hiểu lầm, thiếu tính thẩm mỹ, tối kị đặt tên
theo kiểu “treo đầu dê, bán thịt chó” khiến người đọc có cảm giác như mình bị lừa.
Tên nhân vật cũng có thể chỉ
dẫn sự liên tưởng của người đọc về một đặc điểm của tính cách và vì thế mà gây ấn
tượng nhất định.
Cái tên hay, ấn tượng sẽ khởi
đầu cho một sự giao tiếp tốt đẹp. Tuy nhiên, ấn tượng tốt đẹp về cái tên đó có
lâu dài hay không còn phụ thuộc vào tính cách của người đó, nội dung của tác phẩm
đó có hài hòa với cái tên không. Tất cả đều nằm trong qui luật tương tác giữa
văn hóa, tâm lí và ngôn ngữ.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tường Duy, Đặt tên
sách: Cái khó không của riêng ai, An ninh thế giới giữa tháng 11, 2010
2. Trần Quang Đại, Dạy
học văn hãy bắt đầu từ nhan đề tác phẩm, edu.go.vn
3. Lê Trung Hoa, Họ và
tên người Việt Nam, Nxb KHXH, 2005
3. Hiền Nguyễn, Vẫn
chuyện nhà văn… giật tít, Cand.com
4. Nguyễn Đình San, Đặt
tên cho tác phẩm, xin đừng xem nhẹ, Văn nghệ Công an, số ra ngày 16.6.2010
5. Nguyễn Ngọc Tư, Cánh
đồng bất tận, Nxb. Trẻ , 2005.
PGS. TS. Hoàng
Kim Ngọc








Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét