Thứ Ba, 8 tháng 3, 2016

Vụ án thơ cũ - Thơ mới

Vụ án thơ cũ - Thơ mới
A- Mặt trận bênh thơ mới (1)
Phong Hoá bênh Thơ Mới
Tôi nghĩ gọi phe bênh thơ mới đả kích thơ cũ là một mặt trận cũng không là quá đáng: chính bọn họ khai chiến, ngay cả lúc bên mà họ cho là địch không có ai ra ứng chiến. Thực vậy, lai rai từ lâu trước với Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Trịnh Đình Rư và ngay cả chính Phan Khôi, nhưng đến năm 1932 lại cũng chính cái ông Phan Khôi lai rai lúc đầu đã ra tay làm cách mạng. Bỏ ngoài phần lớn các tài liệu mà Hoài Thanh và Hoài Chân đã trưng ra ở đầu cuốn Thi Nhân Việt Nam của các ông vì chưa tìm ra, tôi xin phép trình bày với các bạn theo tài liệu những sách vở báo chí mà tôi có trong tay. Tôi mong các bạn hợp tác với tôi để bổ túc vào sau. Vậy cũng theo chỗ tôi biết hiện nay thì, tuy báo Phụ Nữ Tân Văn đã là nơi xuất phát trận tuyến do Phan Khôi chỉ huy, nhưng tham gia thật sự vào trận mạc lúc ban đầu này lại không phải Phụ Nữ Tân Văn mà là tuần báo Phong Hoá của Tự Lực Văn Đoàn.
Ngay từ số 14, ra ngày 22-9-1932, Phong Hoá, như các bạn đã thấy ở trên, đã có lời chửi thơ cũ và hô hào theo thơ mới :" Bỏ luật, niêm, đối, bỏ điển tích, sáo ngữ, nghĩa là tóm tắt, đừng bắt chước cổ nhân một cách nô lệ. Thơ ta phải mới, mới văn thể, mới ý tưởng ".
Thực ra, đòi cho thơ phải mới về tinh thần tức mới ý tưởng thì đã có nhiều người nói từ lâu rồi, nhưng mới về văn thể thì chỉ có từ Phan Khôi (Phụ Nữ Tân Văn số 122, 10-3-1932).
Tiếp sang Phong Hoá số 15 ngày 29-9-1932 nối bài " Sầu thảm nhiều rồi ", Việt Sinh chẳng những chửi thơ cũ mà chửi tất cả văn chương theo lối cũ là chỉ biết khóc, khóc một giọng rên ư ử từ ngàn xưa :" Xã hội ta xưa nay vốn là một xã hội tiêu điều nhạt nhẽo. Hơn một nghìn năm chịu đè nén dưới đạo Khổng đứng đắn nghiêm trang, hiểu lầm chăng, nên chỉ khuôn con người ta vào vòng lễ phép chật hẹp vô cùng.
" Nói không dám nói mạnh, cười không dám cười to, cái gì cũng như bó buộc, cằn cỗi già sói...
" Văn thơ của ta gần đây thực như khóc như đầm đìa huyết lệ. Một chữ là một giọt nước mắt để ngậm ngùi cho " Đạm Thuỷ với Tố Tâm ", xót thương cho " Lê Ảnh với Mộng Hà "...Ta hãy nghe ông Trần Tuấn Khải an ủi lòng người " Anh ơi ! anh ngồi xuống đây, anh xơi chén rượu này, anh nằm ngủ, anh ngủ cho say...kiếp trần thong thả ngày là tiên ! ". Ấy thế mà chưa ai ngủ, chỉ riêng Trần Tuấn Khải đó " phận kém duyên hèn " này mới tự mình du ngủ lấy mình đến nay ông thật ngủ yên rồi mà ngọn bút quan hoài hẳn từ nay ráo mực. Ông Đặng Trần Phất cũng đã yên giấc ngàn năm không bao giờ dậy nữa...
" Mà nào đã hết cái " thái sầu muôn kiếp không tan được " của bà Tương Phố, cái " tân sầu " khóc ve kêu hoa soan rụng của ông Nguyễn Tiến Lãng đã làm rơi biết bao nước mắt " (Phong Hoá số 15, 29-9-32).
Rồi cũng trên Phong Hoá số 15 ấy, nơi bài " Quốc văn nó đi như sao ? " với một giọng châm biếm tác giả khi thì nhái văn Tản Đà, khi thì nhái văn Hoàng Tích Chu, đã viết một lối văn bông đùa để chửi khéo tất cả các nhà thơ cũ :" Cho đến ngày nay thì biết bao nhiêu văn nhân thi sĩ toàn loạt trứ danh nào Hiếu Nguyễn Khắc, nào Bi Hoàng Tăng, nào Quỳnh Phạm, nào Dư Lê, nào Việt An họ Nguyễn, nào Tuấn Khải họ Trần kể có vài muôn, nhớ tên sao viết vậy (Phỏng theo lối văn Đức Trần Hưng Đạo)...số văn sĩ nhiêu phong như thế thì đáng lý ra quốc văn được bành trướng một cách cấp tốc lắm mới phải ! hà cố các áng văn tuyệt tác về vận văn, về tản văn vẫn hạn hữu ? Vì cứ tầm quan sát của bỉ nhân thì chỉ về vận văn mấy tập Kim Vân Kiều, Chinh Phụ Ngâm, Cung Oán ngâm khúc,còn dáng đăng lục luận đề, chứ về tản văn thì thực tịnh vô nhất quyển " (Phỏng theo văn Phạm Quỳnh)...
" Thiếu ý sáng kiến, lối văn mới ta không có một. Thành thử không ai có " Xịch tin " riêng. Ta viết bá láp : lăng nhăng. Hoặc ta theo người xưa : lòng thòng. Còn ý tưởng ? Càng tệ càng cũ không mấy khi dám bước ra ngoài lũy tre trí thức nước Lỗ (Khổng Mạnh) và nước Sở (Lão Tử).
" Quốc văn muốn giàu. Phải có nhiều lối, nhiều lối mớiLối cũ nào không hợp thời : ta phích !
" Lại phải có tư tưởng mới !
" Mới lên !
" Nào chúng ta nhúng tay vào làm việc " (Phỏng theo lối văn Hoàng Tích Chu)
Từ đó, hầu như chẳng có số báo nào mà Phong Hoá không dành giăm ba bài để chửi bới, trêu chọc tất cả các nhà văn, nhà thơ cũ. Nhưng mũi dùi hình như chĩa thẳng vào lãnh tụ của thơ cũ là Tản Đà.
Phong Hoá, số 28, 30-12-1932, nơi bài " Hoạ nguyên vận ", đã mô tả Tản Đà là anh say rượu :
" Anh lên giọng rượu khuyên Phong Hoá
Sặc sụa hơi men khó ngửi quá
Đã dạy bao lần tai chẳng nghe
Hẳn còn nhiều phen mồm bị khoá !
Thân mềm chưa chắc đứng ngay đâu !
Lưỡi ngắn thì nên co lại nhá !
Phong Hoá mà không hoá nổi anh,
Tuý nhân quả thực là nan hoá "
Chẳng phải vô tình mà Phong Hoá đánh các nhà thơ cũ : nó nằm trong chính sách văn học của Tự Lực Văn Đoàn mà chính sách của hội nhà văn này là theo mới. Dĩ nhiên, Thơ Mới phải được Tự Lực Văn Đoàn tích cực bênh vực. Như tôi đã nói gián tiếp ở phần trên, nơi bài " Lối Thơ Mớỉ (P.H. số 31, tức số Xuân 1933), trong khi cho đăng bức thư Lưu Trọng Lư ca ngợi thơ mới, Phong Hoá đã nhắc lại lập trường của họ đối với thơ mới, lập trường mà họ đã bày tỏ từ số 14 ra ngày 22-9-1932 :" Trong số 14, Phong Hoá đã bàn về những chỗ không hay, không hay vì bị bó buộc vào trong khuôn sáo của lối thơ Đường luật...Nay bản báo nhận được bức thư của cô Liên Hương để gửi cho ông Phan Khôi, nói về lối thơ điệu mới của ông, " ý tưởng có nhiều chỗ giống với ý tưởng của bản báo. Vậy bản báo vui lòng đăng lên mục văn học và sẽ lục đăng các bài thơ mới của các bạn thi nhân " (Phong Hoá số 31, 25-1-1933).
Thế là từ đây, ngoài việc viết bài chửi thơ cũ, bênh thơ mới, Phong Hoá còn chú trọng nhất đến việc đăng tải " thơ mới của các bạn thi nhân " như họ vừa hứa.
Việt Sinh chê thơ cũ
Thực vậy, cùng ở nơi số 31, tức số Xuân này, Việt Sinh và Nhất Linh đã chế diễu các ông làm thơ cũ :
Việt Sinh chế Nguyễn Tiến Lãng làm thơ sáo, đánh cắp văn mà không biết :" Trong bài nhớ Tết năm ngoái " ở sách " Xem tết ", ông Lãng hồn thơ lai láng, cảm vì xuân nên " vụt nghĩ " ra hai câu thơ :
Bức tranh vân cẩu treo rồi xoá
Gánh nợ tang bồng trả lại vay !
" Vì ông Lãng " Vụt nghĩ " nhanh quá, nên ông quên không nhớ đến hai câu thơ Vịnh nhà hát San nhiên năm xưa :
" Bức tranh vân cẩu treo rồi cuốn
" Một cuộc tang thương xoá lại bầy !
" Nếu chúng ta không nhầm thì hai câu dưới cũng hơi hơi giống hai câu trên. Mà nếu chúng ta không nhầm thì cái " Vụt nghĩ ra " của ông Lãng nó " cũng lâu lâu thì phải ".
Sau Nguyễn Tiến Lãng thì đến Trần Tuấn Khải là một nhà thơ lừng danh ở thế hệ trước, cũng bị Việt Sinh chửi là nhai lại cái cũ rích thành ra đạo văn :
" Trong " Sách chơi xuân " của Nam Ký, ông Á Nam vì Xuân làm bài thơ rất hay, rất mới :
" Một đời được mấy gang tay,
Một năm được mấy mươi ngày là xuân
Gặp xuân ta phải chơi xuân
Kẻo mai hạ tới thì xuân không chờ ! "
" Hay tuyệt ! Câu đầu, cả ý lẫn chữ là câu sáo cũ.
" Câu thứ hai cũng hay như câu thứ nhất.
" Câu thứ ba cũng hay như câu thứ hai.
" Còn câu thứ tư không hay thì là của ông Á Nam ".
Còn Nhất Linh thì chế diễu thơ của Phương Lang : " Vậy tôi chỉ nói đến bài thơ của ông Phương Lang và xin chép lại bài thơ ấy ra đây lần nữa :
Mặt bẩn sao chưa lau ?
Con ra lấy cái thau
Đổ nước mang khăn mặt
Mau !
" Thơ như thế sao gọi là thơ được. Đó chỉ là mấy câu sai con mà có vần. Bài sai đầy tớ của Ôn Như Hầu cũng chỉ là mấy câu sai đầy tớ mà có vần và đúng khuôn phép niêm luật. Nó cũng như thơ con cóc mà thôi...
" Nhất Linh lại xin bắt chước ông Phương Lang  làm bài thơ như thế nữa :
LẠC QUAN
Trông vào nồi, cơm hết.
May còn miếng cháy ròn
Ăn với cá kho mặn,
Ngon !
MỪNG KHỎI BỆNH
Tay tôi mụn ghẻ đầy
May sao gặp thuốc hay
Bôi được một tuần lễ
Khỏi ngay !
" Chắc ông Công Luận phục hai bài thơ này lắm, vì theo ý ông tôi đã tránh được những tiếng cao nhã (mots nobles) mà toàn dùng cái giọng thông thường (langage vulgaire) đi thẳng một hơi trôi chảy vô cùng " (P.H. số 31).
Tứ Ly chế diễu Tản Đà
Sang số 34, 17-2-1933, Tứ Ly lại diễu Tản Đà trở lại : " Ông Hiếu với thầy Nhan Hồi. Trước kia Tứ Ly ví ông Hiếu với anh Tề Ngã. Nhưng nghĩ cho kỹ, có lẽ ông Hiếu giống thầy Nhan Hồi. Thầy Nhan Hồi đeo bầu, ông Hiếu cũng đeo bầu. Bầu Thầy Nhan Hồi đựng nước. Bầu ông Hiếu cũng đựng nước. Nước trong bầu Thầy Nhan Hồi không có men. Nước ông Hiếu lại có men. Cũng vì thế, ông Hiếu giống thầy Nhan ".
Nếu Tứ Ly viết văn xuôi nhạo Tản Đà thì Vân Dương làm thơ, mà là thơ mới chửi xỏ Tản Đà, tuy không có gọi tên tuổi Tản Đà :
" Ngày xuân ngồi ngắm hoa thuỷ tiên
Lòng thơ bỗng thấy sôi nổi lên
Bắt chước thi nhân ngồi bóp trán
Cố vịnh một bài " đứng ngoài hiên ".
Ngoài hiên đứng chờ người bạn quen
Chờ mãi khống thấy dạ ưu phiền
Mây bay, gió thổi, lá bàng rụng
Thi nhân bất nguyện càng buồn thêm
Không thấy bạn quen, ôi ! một thú
Thà vào trong nhà đắp chăn ngủ
Nghĩ vậy vừa toan quay lưng vào
Bỗng thấy một người nắm cái hũ,
Người đó ung dung đi lại gần
Cất giọng lè nhè " Kìa Dương quân,
Ngày tết sao không say tuý luý
Tội gì đứng đấy, rét cực thân ".
Chưa kịp trả lời, khách lại nói :
" Người trần ai cũng có tội lỗi
Nên ngày hăm ba cúng ông Táo
Để ngài lập bô cho ít tội.
Chẳng biết ông có cúng gì không ?
Riêng tôi chẳng dám để ngài giận
Một cái tầu bay, nghìn tờ công,
Gọi chút " vi thiềng " dâng ngài nhận
Thế giới có lắm sự khốn nạn
Tôi đều liệt vào tờ cáo trạng
Đốt, nhờ ông Táo đem lên trời
Để Đức Ngọc Hoàng coi, xét đoán
Này, đứa ngông cuồng, ưa theo mới
Đứa đem quốc tuý, riễu trên báo
Bọn gái đua nhau, mở, lập hội
Tôi đều liệt vào trong tờ cáo
Phải chăng lời tôi nói là đúng
Bác có cùng tôi cùng một bụng
Thôi, nói lâu rồi, tôi xin về,
Về nhà còn phải sửa cỗ cúng... "
Khách khom lưng chào, ung dung đi,
Tôi nhịn không được, bật cười khì
Khách ngoái cổ lại, trợn mắt quát :
-Ô hay Bác này giống người gì ! "
Tứ Ly chế thơ cũ trong vở kịch "Tuồng cổ Tân thời "
Chẳng những viết văn xuôi chửi Tản Đà, làm thơ diễu Tản Đà, Phong Hoá còn soạn kịch bêu xấu thi sĩ Núi Tản Sông Đà. Tứ Ly soạn vở tuồng lấy tên là " Tuồng cổ tân thời " đăng liên tiếp trên năm số Phong Hoá, tức các số 38 (17-3-1933), số 39 (26-3-1933), số 40 (31-3-19363), số 41 (7-4-1933), số 42 (14-4-1933).
Trong vở " Tuồng cổ tân thời " này, các nhà văn nhà thơ cũ được trình bày như là tập họp nhau uống máu ăn thề lập sào huyệt để đánh cướp và thanh toán bọn Phong Hoá Tự Lực Văn Đoàn. Chủ trại là Hoàng Tăng Bí, tham mưu là Nguyễn Khắc Hiếu và Nguyễn Văn Vĩnh, lâu la là các ông Nguyễn Tiến Lãng, Dương Bá Trạc, Nguyễn Công Tiễu, Trịng Đình Rư, Lê Công Đắc vv... Còn bên địch là cả tụi Phong Hoá, nhất là Tứ Ly, Việt Sinh, Nhất Linh, Nhát dao cạo... Cuộc tranh hùng được trình bầy cực gay cấn, sôi nổi, tàn nhẫn nhưng cũng cực là trò hề, buồn cười, tố cáo cái ngây ngô, nhiều khi ngu xuẩn của phe cũ.
Cuộc giao phong của phe cũ tuy nói thì hăng lắm mà vào việc chưa gì đã mỗi anh chạy tháo thân, kết cục bị Phong Hoá đánh tan tành. Sự tan tành của đảng bí mật trong Tuồng cổ tân thời là sự tan tành của lớp văn sĩ, thi sĩ cũ trước sức đi lên của bọn văn sĩ thi sĩ mới vậy. Thực thế, Tứ Ly đã đặt vào miệng của các nhân vật cũ những lời lẽ ngây ngô, và để vào người họ những cử động điên khùng, khiếp nhược. Tôi chỉ trích cho các bạn nghe một vài đoạn Tứ Ly đặt vào miệng Tản Đà, vị tướng soái của làng thơ cũ. Đây Tản Đà hét nhạc :
" Tản Đà thi sĩ, Khắc Hiếu nãi danh, làm tham mưu lạm dự chút quyền, chỉ một việc rượu chàn quí tị, thơ sẵn có khối tình bé tí, văn thời nào mộng lớn, mộng con, rượu càng say ngâm giọng càng ròn, tiếng ngông đã vang trời dậy đất.
" Ngâm :
Say sưa nghĩ cũng hư đời
Hư thời hư vậy, say thời cứ say
Đất say đất cũng lăn quay
Trời say mặt cũng đỏ gay ai cười
" TÁN : Rứa mà chừ, có tin chủ trại triệu đến trướng tiền việc dữ lành chưa rõ căn nguyên, mau tới đó cho tường hắc bạch.
" Cười nói : Kha kha ! hay chủ trại nhớ tên lính cũ, phố hàng Bông bán đủ hạng văn, mà bây giờ cho uống cho ăn, để cho được say lăn lóc (Tham mưu Hiếu cầm hũ ra).
. . . . . . . . . . . .
" Hữu tham mưu Hiếu rót rượu uống.
"TÁN: Say chuyếnh choáng non xanh còn chẳng thấy, thời mưu cao kế diệt biết đâu tìm, hay bây giờ bọn ta hoá ra chim, theo giấc mộng bay về nơi tiên cảnh, hay bây giờ ta đem rượu cúc rủ quân thù đặng chén say sưa, bao giờ cho say đứ say đừ, khi ấy sẽ ra tay trừ khứ!
"(Nói đến đây, hữu tham mưu tuý luý, gục xuống bàn không còn biết gì nữa) (Hồi thứ thứ nhất số 38 17-3-1933).
Sang đến hồi thứ hai (Phong Hoá số 40, 31-3-1933), Tứ Ly cho Tản Đà ra nghênh chiến với bọn Phong Hoá:" Trong thành Phong Hoá vẫn có tiếng cười đáp lại : Ha ha ! (Tả tham mưu Hiếu a bạch :- Thét -) : Bớ a !
"Phong Hoá ! Phong Hoá ! Bọn ngươi thực là láo quá, ta đây còn chẳng xá kể chi, ta say sưa nào có hại cái gì, mà chẳng để tuỳ ta sở thích. Ta đây giống Lưu Linh thủa trước, đích thực là Lý Bạch đời nay, trừ bọn mi, ta quyết ra tay, đem thành quách thu vào trong hũ.
"(Hát khách):
Tự cổ thánh hiền giai tịch mịch
Duy hữu ẩm giả lưu kỳ danh
(Tham mưu Hiếu mở hũ ra say lảo đảo)
"TÁN: Cái thành, cái quách nó ngả, nó...với giềng, hỡi đồ mách qué.
"NGÂM:
Văn minh Đông Á trời thu sạch
Này lúc luân thường đảo ngược ru? " (Hồi thứ hai).
Cũng lại Tứ Ly trong mục "Từ nhỏ đến lớn" (P.H. số 56, 21-7-1933), đã lấy số tử vi cho nhà thơ Tản Đà một cách rất ư là " xỏ lá " nói theo tiếng Phan Khôi:
" Số ông Nguyễn Khắc Hiếu
" Lấy văn chương mà suy xét thì ông ấm Hiếu đáng lẽ cũng được văn khúc, văn xương như ông cử Trạc, nhưng xét đến đường công danh thì không có thể được : hoặc giả văn xương phùng hình cho nên lao lực linh đinh, chịu làm ông ấm suốt đời chăng ? Nếu thế thì di hận biết thủa nào nguôi.
"Nhưng ông được sao tham lang thủ mệnh, nên lòng hận của ông không lâu. Vì có câu rằng :
"Tham lam tính bẩm thung dung,
Say miền gái đẹp rượu nồng mùi ngon.
"Gái đẹp thì không có, hay có cũng không được biết, chứ rượu nồng thì hẳn ông không còn chối vào đâu được !
" Nhưng thế cũng chưa đủ : ông còn là người cả lo, ông lại còn là một nhà thi sĩ. Nếu vậy thì mệnh ông còn phải có các sao bạch hổ, tang môn quan phù điếu kháchhoặc chính vị hoặc phụ chiếu. Vì rằng :
" Hổ tang chẳng việc mà lo.
" Quan phù điếu khách hay phô rộng nhời.
Rồi cũng nơi Phong Hoá số 56, 21-7-1933, Tú Mỡ đã làm bài văn tế viếng báo An Nam tạp chí của Tản Đà vừa chết một cách, theo tiếng nói của Phan Khôi, vừa xỏ lá vừa ba que.
Đây các bạn thử đọc bài văn tế đó. Thật là tàn tệ.
"Ngày 12 tháng năm dư năm Quý dậu:
"Ngu hữu là Phong Hoá tuần báo đứng trước linh vị An Nam tạp chí, hậm hực mà than rằng :
- Đỉnh non Tản mây đen mù mịt, quấn băng tang lặng lẽ âu sầu (1),
- Giải sông Đà nước xám lờ đờ, cuộn giòng lệ rền rĩ buồn bã (2).
- Than như không mà khóc cũng như không,
- Im cũng giở mà nói ra cũng giở.
- Nhớ bạn xưa :
- Giấy trắng mực đen,
- Nhà không tiếng cả,
- Dượng tiểu nghiệp văn chương đất Bắc, kế sinh nhai khen đã cố công thay !
- Lấy đại danh tạp chí nước Nam, tuyên chủ nghĩa thực đà to truyện quá !
- Duy trì đạo đức, dương Đông kích Tây.
- Bồi bổ văn minh, dung Âu, hợp Á.
" Nhồi độc giả năm pho kinh cổ, nhai lại chi, hồ, giả, dã, rõ cơ quan tiến thủ giật lùi,
" Ru quốc dân hay hũ thơ sầu, mơ màng tiên, cuội, trời, răng, khiến niên thiếu liên miên bả lả.
" Ố kim Nệ cổ, đã từng phen nắm đuôi ngựa Phan Khôi. Ghét cợt, chê cười, còn nhớ trận vuốt râu hùm Phong Hoá.
" Dằng dai như đỉa đói, chết đi sống lại bao lần,
" Siêu bạt tựa vịt trời, nay đó mai đây mấy thủa.
" Hơn bẩy, tám năm lăn lóc, khi Hà-thành, khi Nam-định ngoẻm trăm ấy, veo nghìn khác, than ôi, thua vẫn hoàn thua ;
" Non ba mươi tháng vật vờ, hết Hàng lọng đến Hàng khoai, thay dạng nọ, đổi hình kia, ngán nỗi khá không thấy khá.
" Vẻ vang thay nghìn rưởi số in,
" Hân hạnh lắm được một trăm độc giả.
" Cứ tưởng tạm ngơi ít bữa, lấy đà dưỡng sức, cho qua thời kinh tế lung lay.
" Nào hay đánh giấc nghìn thu, bặt tiếng im hơi, chẳng thoát nạn lý tài trắc trở.
" Hay là ngán trần tục, viết văn không kẻ hiểu, luống uổng công phu.
" Cho nên thăng thiên đường, tái bản để Trời xem cho cao phẩm giá.
" Than ôi !
" Cùng làng ngôn luận, tân cựu đôi đường,
Nửa kiếp kinh doanh, âm dương hai ngả,
Bâng khuâng luống xót xa lòng,
Tưởng nhớ thêm ngao ngán dạ,
Vừa độ nào ta đây bạn đó, điều phải chăng còn rũa bút luận bàn,
Mà bây giờ kẻ khuất người còn, thơ chua chát biết cùng ai xướng hoạ.
Thôi ! chẳng may mỏng phận ngắn đời,
Song nay đã yên mồ đẹp mả.
Ngu hữu gọi là lễ mọn vi thiềng :
Rượu lậu một bầu, trứng tươi hai quả ;
Mực nướng vài con, sò huyết một tá,
Bạn có khôn thiêng,
Xin về chứng quả.
      Thượng hưởng.
      TÚ MỠ
Tứ Ly chế thơ cũ trong hài kịch " Hội nghị Văn học "
Trong một hài kịch, một hồi một cảnh, tiêu đề là " Hội Nghị văn học ", diễn viên gồm có các ông Huỳnh Thúc Kháng, Hoàng Tăng Bí, Dương Bá Trạc, Phạm Lê Bổng, Phan Khôi, Nguyễn Công Tiểu, Lê Dư, Tùng Vân, tay hài hước Tứ Ly lại một lần nữa đưa các nhà học giả ra làm trò cười. Mà nhân vật được chọn làm hề số một vẫn là vị nguyên soái của làng thơ cũ, thi sĩ Tản Đà :
" Ông Nguyễn Khắc Hiếu (ngồi một xó, mặt đỏ gay, từ nẫy, chốc lát lại thò tay vào bọc lấy bầu hồ lô ra nốc, loạng choạng đứng dậy) :Thưa các ngài, Viện ta là Hàn lâm viện về...(giọng rượu) văn chương, không phải về khoa học, ông tú Khôi lý luận xằng xì ! (lau trán). Văn chương là...là... (lưỡi líu dần) mâm gỏi...là...rượu. Cổ nhân có câu " hoả nhập thi xuất ", tưởng anh em ta nên uống rượu cho nhiều, rồi làm việc mới có ích cho nước.
" Nhát dao cạo : Cho rượu...
"Ông Hiếu :-..Tôi nói gì rồi nhỉ...(cố nghĩ) À phải...nên nhắm rượu...(rút hũ rượu ra) mời các ngài, văn chương là... thịt chim (say quá ông ngã gục xuống hũ rượu ngủ...) "
Như vậy, các bạn thấy, buổi đầu này, Phong Hoá xem ra chưa bày tỏ lập trường minh bạch về thơ mới, thơ cũ mà thường chỉ làm hai công việc: một là đem ra chế diễu các nhà thơ cũ, nhất là vị lãnh tụ thơ cũ là Tản Đà được mô tả như là anh chàng hề điên điên khùng khùng; hai là trịnh trọng cho đăng vào chỗ đích đáng trên hầu hết các số báo những bài thơ mới của Tú Mỡ, của Thế Lữ, của Nhất Linh, của Tứ Ly, của Huy Thông vv...
Nhưng vào khoảng cuối năm 1933 sang đầu năm 1934, thì Phong Hoá đi hẳn vào con đường bênh vực, biện hộ cho thơ mới, phê bình ca ngợi thơ mới. Nhị Linh trên Phong Hoá số 67 (6-10-1933) đã lên tiếng chống báo Văn Học tạp chí để bênh thơ mới trong bài điểm báo :
"Một cuốn tạp chí văn học ngoài Bắc nơi nổi tiếng là đất văn vật - mà luôn mấy kỳ nay toàn rút bài của báo khác làm xã thuyết, thì cái giá trị của báo ấy cũng đáng ngờ lắm. Dẫu sao Văn Học tạp chí đã lấy những ý tưởng của báo khác làm ý tưởng của mình, chịu những ý tưởng ấy là đúng, là hay mà nêu lên trang đầu thì ta cũng cứ bình phẩm bài xã thuyết kia như là của Văn Học tạp chí.
"Tác giả TR, GI bắt đầu:
"Thường thường các tay thợ thơ ta bây giờ hay có cái khẩu khí: thơ cốt sao tứ cho cao, lời cho mạnh là được rồi, chứ hơi nào mà ngồi đẽo từng chữ."
"Biết bao ý tưởng mâu thuẫn trong một câu nhập đề.
"1. Dù ở Tây phương hay ở Đông phương, trong làng thơ bao giờ cũng có hai hạng: một hạng là thi sĩ (poète), hai là thợ thơ (versificateur). Các thi sĩ thì trước hết cốt tứ cho cao, lời mạnh rồi mới nghĩ tới văn thể. Còn hạng thợ thơ thời chỉ hì hục ngồi gọt đẽo đục, chạm từng câu, từng chữ như người thợ mộc hay người thợ khắc đục chạm gỗ...
"2. Người đẽo từng chữ là công việc một thi gia tầm thường. Đây có lẽ tác giả muốn nói cân nhắc cẩn thận từng chữ. Song muốn có lời mạnh mà không chịu lựa từng chữ đích đáng thì mạnh sao được . Muốn tả một sự hùng vĩ mà không chọn những chữ có ý nghĩa, có âm điệu hùng vĩ thì tả sao nổi.
"Ta coi đó đủ biết tác giả viết chỉ để viết chứ không có nghĩ ngợi gì. "
Nhất Linh công kích thơ cũ
Cũng Nhất Linh, tức Nhị Linh, nơi Phong Hoá số 69, 20-10-1933, đã đi xa hơn bài công kích trên đây mà làm công việc so sánh thơ mới với thơ cũ: thơ cũ chỉ cần chọn tiếng, chọn chữ cho thật đối, đọc cho kêu, còn thơ mới cần chọn chữ cho hợp ý. Nhất Linh cho rằng xét chung, về điểm này, thơ mới hơn hẳn thơ cũ. Ông viết bài " Sự cân nhắc chữ trong thơ cũ và thơ mới ".
" Trong mục " Cuộc điểm báo " số Trung Thu, Nhị Linh có nói đến bài xã thuyết của Văn Học tạp chí, mục đích chỉ để công kích bọn thi sĩ mới, cho bọn này có tứ cao lời mạnh, nhưng không biết cân nhắc chữ dùng.
" Văn Học tạp chí, một tờ báo văn học mà như không muốn khuyến khích các trào lưu mới về văn học, vì chân thành thủ cựu hay vì không có tài theo kịp bọn mới, nên mới tìm cách dìm bọn này đi. Có biết đâu là làm như thế mà tự mình dìm mình.
" Đây tôi không muốn bàn xem thơ cũ hay thơ mới hơn, nên làm thơ cũ hay nên làm thơ mới.
" Tôi chỉ xin nói ngược lại ông TR, GI ở Văn Học : các nhà làm thơ mới cũng chọn chữ như các nhà làm thơ cũ. Nhà làm thơ cũ cân nhắc từng chữ, cốt ý để câu văn được chỉnh, đọc lên nghe cho kêu, có những chữ đối chọi một cách thần tình, khéo léo.
" Nhà làm thơ mới cân nhắc từng chữ để đo đắn xem chữ nào diễn được cái cảm của mình, tả được cái ý của mình đúng hơn hết,xem phải cần đến chữ nào, câu thơ mới có cái điệu khả dĩ diễn được sự rung động của linh hồn mình một cách rõ rệt hơn.
" Đó, hai bên cùng chọn chữ cả : khác nhau chỉ ở mục đích của sự kén chọn ấy.
" Xin lấy mấy câu thơ cũ nổi tiếng là những câu tuyệt tác làm thí dụ :
Hai bàn tay trắng làm nên thế,
Một tấm lòng son ở với đời,. . . 
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc,
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.
" Cái hay của mấy câu thơ cũ này không phải ở ý nghĩa mà ở những chữ : hai một, trắng son, thế đời, nhớ thương, nước nhà, lòng miệng, cái con, quốc gia đối với nhau chan chát, hay ở chữ quốc (là con cuốc) vận lên chữ nước ; chữ gia (con gia gia) vận lên với chữ nhà mà chữ nhà lại đối rất chỉnh với chữ nước. Kể về cách xếp chữ thì thật là một công trình tuyệt sảo. Nhưng tiếc thay vì quá thiên về cách xếp cho tài tình nên quên mất cái hồn của câu thơ.
" Trái lại nếu lấy câu thơ mới như :
" Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối,
Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan... ;
Mau ! bay, trèo mau ! đừng lần nữa !
Phải cao, cao nữa, xa, xa nữa...
Ái ân, bờ cỏ ôm chân trúc...
Rặng lau già xao xác tiếng reo khô...,
...Như khuyên van, như dìu dặt,
Như hắt hiu cùng hơi gió heo may
" Ta sẽ thấy nhà làm thơ mới chọn chữ một cách khác hẳn.
" Chữ vàng không cần phải đối với chữ bạc, mà cốt tả cho thật đúng cái mầu của một đêm trăng trong rừng. Những chữ ái ân, ôm, để tả sự dịu dàng sự âu yếm của cỏ cây, những chữ hắt hiu, hơi gió heo may phần nhiều bắt đầu bằng chữ h để tả đúng được tiếng sáo.
" Vẫn biết rằng trong thơ cũ cũng có chữ dùng đúng chỗ, diễn đúng ý, và trong thơ mới cũng nhiều câu chỉ kêu mà không có hồn, song nói về toàn thể, thì khác nhau như trên.
Một bên chỉ cốt cân nhắc để tìm những chữ nào đối chọi nhau, cho ý là phụ, một bên cố cân nhắc để tìm những chữ nào hợp điệu thơ, diễn đúng ý. "
Nguyễn Tường Bách công kích thơ cũ
Cũng như Nhất Linh, Nguyễn Tường Bách, trong bài " Thơ mới " (P.H. số 97, 11-5-1934) tuy có công kích một ít thơ mới lố lăng, thơ thẩn, nhưng đã cực tán thơ mới, cho thơ mới chẳng những không lo bị tiêu ma, trái lại đã xây dựng được cơ sở rất vững chắc mà còn cho thơ mới về hầu hết các phương diện đã hơn hẳn thơ cũ : thành thực hơn, mạnh mẽ hơn, hợp tình hợp cảnh hơn :
" Thơ mới đã bị nhiều người công kích, cho là chỉ mới ở ngoài vỏ, còn bề trong vẫn cũ rích, và khó đọc khó nhớ vì không có âm điệu âm luật gì cả.
" Lẽ tự nhiên là trong bao nhiêu bài thơ mới thế nào cũng có bài chỉ nhặt nhạnh những ý tưởng sáo nhét vào một hình thể mới. Nhưng đấy chỉ là một số ít. Ta có thể mang nhiều bài ra làm chứng rằng thơ mới bây giờ đã xứng đáng với tên gọi.
" Thơ cũ chưa bao giờ tả được như thơ mới,những cảnh vui buồn, âm thầm hay lộng lẫy, những nỗi yêu thương, nhớ tiếc hay lo sợ, những tính tình trong lòng người, cao hơn nữa, những sự huyền bí nhiệm mầu của đời người và của vũ trụ. Những bài thơ của ông Thế Lữ, đã tỏ ra rằng thơ mới đã vượt qua những khuôn sáo chật hẹp của thi văn cũ mà đi vào một con đường khác rộng rãi, tốt đẹp hơn nhiều.
" Nhưng thơ mới bị công kích nhất là về phần hình thức. Vì nhiều người làm thơ không biết đặt câu cho có điệu, thành ra bài thơ chỉ là những câu nói thường có vần thơ. Như thế, không thể gọi là thơ được. Ta thử nghe mấy câu sau này :
(Trích trong Nhật Tân)
Như những hạt lệ của người bạn lẻ loi,
Khóc chồng trong lúc đêm khuya lòng sôi
(Trong Bạn Trẻ)
...Anh khen cái nhăn mặt của Tây Thi
Anh quên cơn cau mày của gái quê
Anh để ông dật khách là cao phẩm
Anh quên bác thợ cày bùn lấm...
(Trong Phụ Nữ Thời Đàm)
...Vừa rao vừa lạy mãi mới có người mua
Tiền chưa kịp trả xe chạy vù...
" Đọc lên nó lủng củng, chúc chắc, lại có vẻ ngớ ngẩn, tuy rằng ý tưởng cũng mới.
" Thơ mới hay thơ cũ cũng cần phải có điệu, chỉ khác là làm thơ mới phải tìm lấy điệu chứ không theo khuôn mẫu sẵn. Như thế tìm được điệu cũng khó, nhất là khi dùng câu không có hạn chữ.
"Dùng những câu tám hay chín chữ để đặt điệu hơn cả, tuỳ ý mình muốn dùng vần liền (rimes plates) hay vần cách (rimes croisées). Trong một câu lại phải biết đặt những chỗ nghỉ (coupes, césures) cho điệu lên xuống.
Mấy câu thơ của Thế Lữ để làm mẫu:
VẦN LIỀN:
Trời xanh dịu, sợi mây hồng vơ vẩn
Trên bờ sông, cô em đương thơ thẩn
Đứng lặng nhìn, mặt nước chiếc thuyền trôi.
Với ánh chiều thu, bầm tím chân trời.. . . . 
Chính vì, hồn thu vi vút ban chiều
Đã nhắc cho cô, thấy lòng cô yêu
VẦN CÁCH (BÀI HOÀI XUÂN) :
Tiếng ve ran, trong bóng cây râm mát
Giọng chim khuyên, ca ánh sáng mặt trời
Gió nồng reo trên hồ sen rào rạt
Mùa Xuân còn, hết ? Khách đa tình ơi !
Tiếng vi vút như khuyên van như dìu dặt
Như hắt hiu cùng hơi gió heo may.
" Đọc những câu thơ trên đủ biết rằng thơ mới đã có điệu cũng ngâm được, du dương, êm ái không khác gì thơ cũ. Mà âm điệu lại có thể thay đổi theo những cảnh, những tính tình êm đềm hay dữ dội trong bài thơ. Trong bài " Con Hổ " của Thế Lữ có những câu rất mạnh mẽ :
... Ta sống mãi trong tình thương, nỗi nhớ,
Thủa tung hoành hống hách những ngày xưa,
Ta bước chân lên giõng dạc, đường hoàng !. . . 
Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối
Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan,
" Những ý tưởng ấy, nếu diễn ra bằng thể thất ngôn hay là lục bát sẽ thấy yếu ớt ngay.
" Hai bài thơ cũ chỉ khác nhau về ý tưởng, nhưng bài thơ mới vừa khác nhau ở tinh thần lại vừa ở hình thức nữa.
" Người ta đã có thể làm một bài " thơ mới " nhưng ý tưởng cũ hay một bài "thơ cũ", nhưng ý tưởng mới (xem bài: Lời than thở của nàng Mỹ thuật, Tiếng sáo Thiên thai của Thế Lữ ):
"Tuy theo luật thơ cũ, nhưng chỗ nghỉ và chỗ xuống câu khác hẳn trong thơ cũ :
Em thấy chàng yêu mới nhớ ra
Tên em là Đẹp, bạn em là
Bao nhiêu cảnh tượng muôn hình sắc
Ánh sáng, non sông, mây, cỏ, hoa.. . . .
Trời cao xanh ngắt ! Ơ kìa
Hai con hạc trắng bay về Bồng lai .
" Nhưng hay hơn cả là đạt diễn những tư tưởng mới vào một hình thể mới.
" Thơ mới chắc sẽ đưa văn nghệ nước ta trên con đường tương lai rực rỡ, vì hiện nay đã sản xuất được nhiều tác phẩm có giá trị ! "
Tứ Ly tính sổ văn học để ca ngợi thơ mới
Tôn chỉ của Tự Lực Văn Đoàn đã là theo mới, mới trăm phần trăm, thì dĩ nhiên Phong Hoá phải ủng hộ thơ mới triệt để và phải coi đó là một bổn phận nữa là khác. Thực vậy, Phong Hoá đã tranh đấu cho Thơ Mới và sau hơn hai năm tranh đấu cho thơ mới, Phong Hoá đã tự kể công lao mình. Đây lời Tứ Ly tính sổ văn học năm 1934 đã có mấy lời về thơ mới như sau, đăng Phong Hoá số 134, 30-1-1935, nơi bài " Thơ mới và quần áo mới ".
"  Về phương diện văn chương và mỹ thuật, thì trong năm vừa qua, Phong Hoá gây nên hai phong trào mới : phong trào kiểu áo mới và phong trào thơ mới.
" Thơ mới bắt đầu có từ bài " Tình già " của ông Phan Khôi. Nhưng vì thiếu người bênh vực có can đảm, thiếu thi sĩ mới có kiên chí, nên độ ấy không ai ngó tới nó nữa. Đến nay, thơ mới nghiễm nhiên chiếm một địa vị quan trọng trong làng văn : thi sĩ làm thơ mới rất nhiều, tương lai của thơ mới rất là rực rỡ. Tuy vậy, các nhà thi sĩ lối xưa vẫn nhất định rằng chỉ có thơ làm theo lối xưa là thơ, còn mới không phải là thơ, tuy nó vẫn là thơ.
" Phong trào mặt áo tân thời cũng bồng bột lên như phong trào thơ mới. Kẻ công kích, người khuyến khích. Những áo tân thời kể cũng đã làm tốn mực, giấy cho các nhà văn. Dẫu sao, có thay đổi mới có tiến bộ. Mỹ thuật bắt họ phải ăn vận mỗi người mỗi khác, nhưng nền luân lý chặt chẽ của Tống nho lại bắt họ phải ăn vận giống nhau : để lệch một bên ngôi cũng đã là phạm một tội nặng, huống hồ lại đổi cả kiểu một cái quần ! Tội thật đáng đầy chung thân...Đến bây giờ chính những bà những cô lên giọng đạo đức ấy vội vàng đi cạo răng, đi may áo mới...Ý chừng họ lấy làm sung sướng được chung thân...chung thân với áo quần kiểu mới.
" Mong rằng sau hai thứ mới này còn có nhiều thứ khác cần phải mới mà năm trước chưa phải lúc có thể thực hiện được. "
Ngộ Không phê bình Nguyễn Văn Hanh
Đàng khác hình như từ trước tới nay Tự Lực Văn Đoàn có chửi thơ cũ, cũng chửi bâng quơ, chửi trống không vậy, chứ chưa có ra mặt bắt bẻ đích danh ai bằng những bài tranh luận. Nhưng từ đầu năm 1935, thì Tự Lực Văn Đoàn đã tiến thêm một bước. Ngộ Không đã ra mặt bắt bẻ Nguyễn Văn Hanh từng điểm một bài diễn thuyết mà ông này đọc ngày 9 tháng 1 năm 1935 tại hội quán S.A.M.I.P.I.C., Saigon.
Ông Nguyễn Văn Hanh đưa ra năm lý do để bảo thơ cũ hay hơn thơ mới. Trước khi vào việc bác bỏ năm cái lý của ông Hanh và đưa ra năm cái lý là thơ mới hay hơn thơ cũ , Tứ Ly đã dùng cái ngón châm biếm để vẽ ra một Nguyễn Văn hanh dốt đặc mà lại kênh kiệu muốn học làm sang. Các bạn nhận thấy tất cả sự cay cú của Tứ Ly nơi bài " Một cuộc diễn thuyết ở Saigon : Vấn đề Thơ Mới...và Thơ Cũ (P.H. số 135, 8-2-1935).
" Tối thứ tư, 9 janvier vừa rồi, tại hội quán S.A.M.I.P.I.C. đường Galliéni, ông Nguyễn Văn Hanh diễn thuyết về thơ cũ và thơ mới bằng tiếng Nam, người ta tới đông lắm, vì hai năm nay mới lại có diễn thuyết bằng tiếng Nam. Thấy báo " Tân Văn " giới thiệu ông Hanh là một nhà giáo " có học vấn " và đã từng có " thịnh danh trong văn giới " nên Ngộ Không tất tả chạy tới S.A.M.I.P.I.C. thì thấy quả nhiên là ông Hanh " có học vấn " : ông tỏ cho bà con cái học vấn của ông bằng những tiếng Pháp chen luôn luôn vào bài diễn thuyết tiếng Nam, tuy rằng những tiếng Nam ông dùng, bà con đều hiểu cả.
" Nhưng ông không cần, cứ mỗi tiếng Nam ông lại dịch ra bằng một tiếng Pháp, ngộ nhỡ người Nam không ai hiểu tiếng Nam chăng. Chu đáo lắm vậy!
"Ông nói: "Một bài thơ là một cõi thế giới, " univers "... " thơ không nên coi là một món chơi phiếm " bagatelle "... " thuyết nghệ thuật vì nghệ thuật "l'art pour l'art"...trụy lạc; "dégénéré"... những tay thợ " les artistes " (tuy artiste không phải là tay thợ, nhưng có hề gì cái đó)... " những cái hay ở ngoài và những cái hay ở trong, beauté extérieure et beauté intérieure "... " tiếng ta là tiếng độc âm, " monosyllabique " còn tiếng Pháp là tiếng liên âm, " polysyllabique ", chữ tây không có dấu, " accents "... " thơ ta không nên làm " enjambement " ... vân vân.
" Mỗi lúc ông đọc nhầm, ông vội chữa ngay bằng một tiếng " à, bạc đồng ! " rất cứng cỏi. Có lúc ông đọc một câu rất dài bằng tiếng Nam, rồi tiếp ngay một câu rất dài bằng tiếng Pháp :" c'est le langage... " làm cho ai nấy giật mình tưởng ông sẽ tiện mồm diễn phăng ngay bằng tiếng Pháp thời nguy to.
" Nhưng may sao ông hãm phanh kịp, nên ai nấy mới hoàn hồn. Ông bảo đó là câu văn của một thi sĩ người Anh. Nhưng ông đọc bằng tiếng Pháp ? giá ông đọc luôn bằng tiếng Ăng lê có phải càng tỏ cái học vấn của ông một cách hùng hồn không. Ông còn có chỗ hở, tuy rằng ông đã có " thịnh văn trong văn giới " theo lời báo Tân Văn...
" Chưa xét đến nội dung bài diễn văn, cứ nghe ông nói đã thấy vui tai, vì tiếng Pháp, tiếng Nam chen lẫn, thật là :" nghe ra tiếng sắt tiếng vàng chen nhau ". Đến nỗi người ta có thể nói là ông Hanh diễn thuyết bằng tiếng Pháp, chen lẫn tiếng Nam cũng được.
" Người ta chỉ tiếc rằng có một vài chữ (rất hiếm) ông không dịch ra tiếng Pháp như chữ " tôi " chẳng hạn. Giá ông cứ dịch là " moa " có phải lý thú bao nhiêu :" Hôm nay moa nói chuyện về thơ với các toa, moa lấy làm bố cu hân hạnh honoré, vân vân et coetera ".
" ...Nhưng ông vẫn chê thơ mới. Lạ nhất là ông đọc mấy bài thơ cũ, thất ngôn, ông nhất định bảo đó là thơ mới, rồi ông nói :" Tôi không thấy mới ở chỗ nào ". Thế thì còn ai cãi được nữa. Ông lại có cái nhã nhặn đọc mấy câu thơ của cô Nguyễn Thị Kiêm, vừa đọc, vừa nhìn vào tận mặt cô Kiêm ngồi trước mặt ông, rồi ông cười một cách ranh mãnh mà hỏi cô Kiêm :" Thơ của cô như thế thì mới ở chỗ nào, mà hay ở chỗ nào ? ". Ông nghiễm nhiên đóng vai ông giáo " chuy " học trò của mình, ông lấy thế làm khoái trí lắm. Tuy vậy, ông còn chưa cho là nhã nhặn lắm, ông còn muốn nhã nhặn hơn nữa kia, ông nói một cách tinh quái :" Của cô dài lắm, đây là tôi bỏ đầu , bỏ đuôi, chỉ lấy quãng giữa thôi "...và " cô còn cứng đấy, tuy thơ của cô có chữ " xìu dégonflée ". Chắc hẳn tối hôm ấy, ông về ngủ ngon giấc lắm vì đã rất nhã nhặn với thính giả, và tự cho mình là hóm hỉnh hơn người, tuy cô Kiêm có cự cho ông mấy câu làm ông lúng túng một lúc lâu và chối bay chối biến :" Không, không, tôi có công kích cô đâu, tôi, tôi...tôi có mạt sát cô đâu ! "
" CÁI ĐINH VÀ... CÁI ROI "
" Nhưng lúng túng nhất là khi ông đánh rơi một cái đinh ! Vâng, ông đánh rơi một cái đinh, loay hoay mãi không tìm thấy. Thính giả cũng có mấy ông đứng dậy quanh co tìm hộ ông hồi lâu mà không thấy. Ông tìm đinh để đóng hai bức tranh lên bảng đen, hai bức tranh dùng để cắt nghĩa thế nào là loi de symétrie (A) và loi d'alternance (B) :
" Ông nhổ lên, cắm xuống trong nửa giờ đồng hồ không treo xong hai bức tranh, rồi ông lúng túng mãi với cái đinh đánh rơi.
Mất mười phút đồng hồ mới xong cuộc tìm đinh đóng tranh. Xong hai tay nắm chặt một cây gậy tre, ông chỉ lên hình A bảo đó là symétrie, lên hình B bảo đó là alternance. Ông kết luận hình B đẹp hơn hình A, vì ông có một người bạn " học mathématiques supérieures " bảo ông như vậy. Xem chừng thính giả không tin mấy, ông tức mình hỏi phăng ngay ông Hồ Văn Lái họa sĩ, ngồi ngay đó :" Ông Hồ Văn Lái là nhà mỹ thuật hẳn ông đồng ý với tôi rằng hình B đẹp hơn A ? " Ông Lái gật đầu thế là ông Hanh đắc chí lắm, vênh mặt lên nói với thính giả, rồi bỉu môi mà leo lên diễn đàn.
" Thính giả ngơ ngác nhìn nhau có ý hỏi : hai bức tranh đó có liên hệ gì với thơ ? hay có bao hàm ý nghĩa gì sâu xa ? Nhưng chẳng ai hiểu hết.
" Sau mới vỡ lẽ là ông định cắt nghĩa cái hay của luật Bằng Trắc của thơ Đường.
" Nếu bằng bằng bằng bằng bằng ...thì không hay, nếu trắc trắc trắc trắc trắc...cũng không hay phải BBTTTBB thì mới hay. À ra thế ! Chỉ có thế thôi mà ông phải cầm lăm lăm cái gậy tre ở tay gõ mãi lên bảng đen như nhà giáo dạy học, làm cho thính giả cứ tưởng mình là học trò, mà nơm nớp sợ cái roi vô tình của ông. Nhất là cô Kiêm. Biết đâu lúc cáu tiết, ông lại không nện cho vài roi, theo thói quen của nhà nghề.
" Cái roi của ông từ đấy không rời tay ông ra. Khi ông lên ghế ngồi, vẫn để cái roi trên bàn, và luôn tay mân mê đến nó một cách khoái lắm.
" Đồng hồ đánh mười tiếng mà ông không cho học trò ra chơi, à quên, ông không cho thính giả về ngủ !
Ông Hanh bênh thơ cũ một cách rõ rệt, tuy ông nói là " Không nghịch với thơ mới ". Cứ kể ông đã có công trình vất vả chép đầy hai cái bảng đen hai bên, nào những bài thơ cũ của Yên Đổ, nào những TTBBBTTB, BBTTTBB,BBTTBBT, TTBBTTB...
" Trước hết ông đậy kín bằng mấy tờ giấy nhật trình, sau mới long trọng bóc ra để giảng nghĩa cho thính giả, ông thích chí lắm, hình như đã cho chúng ta biết một cái kỳ quan.
" Tóm tắt đại ý của ông, ông cho thơ cũ là hay, vì có những đặt điểm sau này :
"1.- Câu trước câu sau đối chọi nhau, đọc câu trên cố ý đợi chữ đối ở câu dưới, khi đọc đến chữ mình đương đợi thì sướng lắm. Cũng như trông thấy một cái tai, rồi lại trông thấy một cái tai nữa thì sướng lắm. Vả khi trông thấy một cái mũi, có lẽ nếu thấy một cái mũi thứ hai ở sau gáy thì chắc cũng sướng lắm. Chắc ông Hanh này thích cửa sổ giả (fausses fenêtres) như ông Pascal đã nói.
"2.- Thơ cũ có những lối yết hậu, chiết hạ...mà thơ mới không thể có được. Những câu thơ tuyệt cú mà ông thích là:
"Ước gì ta được mà ta để...
" Ta để đem về để nữa ta... "
"Ông thích nhất là những chỗ có chấm lửng (...) hóm lắm!
"3.- Thơ cũ có lề lối, có khuôn khổ. Còn thơ mới chẳng có lề lối, khuôn khổ gì cả thì hay làm sao được. Vậy con chim phải ở trong lồng mới đẹp, nếu bay lượn không trung thì còn có lề lối gì nữa, đẹp sao được.
"4.- Thơ cũ theo luật bằng trắc, nên mới có âm hưởng nhịp nhàng, chứ thơ mới có theo luật nào đâu, ai muốn viết sao thì viết. Nói đến âm hưởng, ông đọc câu thơ của cụ Nguyễn Du :
"Tiếng mau rập rập như trời đổ mưa". Cụ Nguyễn Du có nghe thấy cái âm hưởng của hai chữ "rập rập" cũng phải đến bực tức mà gắt :
"- Đọc láo đến thế thì thôi !
"5.- Lẽ thứ năm ông yêu thơ cũ...vì...vì lẽ gì không biết. Ông liền hỏi thính giả: "Những bài thơ cũ còn sống đến giờ là vì lẽ gì ? Nếu không hay sao còn sống mãi đến tận bây giờ ? Rồi ông đứng dậy, không kịp để thính giả hỏi lại ông :" thế cái búi tóc của đàn ông nếu không hay ho, sao còn lủng lẳng mãi tới bây giờ trên đầu Lý Toét ? Vậy nó hay vì cái gì ?
" ÔNG HANH CŨNG LÀ THI SĨ "
" Không những ông là thi sĩ, mà ông lại là thi sĩ của phái thơ mới nữa mới kỳ. Nói đáng tội, ông có làm hai câu thơ mới thật, song làm để chế riễu thơ mới. Nhân công kích cái lối câu trên rớt xuống câu dưới (enjambement) ông liền đọc hai câu thơ của ông làm và viết sẵn trong bảng đen :
" Tôi đi đầu trần. Vì tôi không
" Biết trên đầu có ai "
" Rồi ông chế nhạo lối rớt chữ của thơ mới. Kỳ thực, ông không hiểu " enjambement " là gì cả. Và hai câu thơ của ông, ngớ ngẩn đã đành là ngớ ngẩn, mà chẳng chế riễu được ai hết. Nhất là ông thích rung đùi lúc ngâm thơ, nên ông lại càng là thi sĩ nữa. Ông có hứa sẽ nói tại sao khi ngâm thơ lại rung đùi, nhưng trước khi kết luận, ông tự hỏi :" Tại sao rung đùi ? " Rồi chính ông cũng không biết tại sao cả, nên ông lại thôi không cắt nghĩa cho ai biết nữa.
" CÁCH LẬP NGÔN CỦA ÔNG HANH "
" Ông chê thơ mới mà ông chỉ đọc những câu ngớ ngẩn của những thi sĩ lơ mơ. Mà ông bênh thơ cũ, ông lại đọc những câu thơ vô nghĩa của Thượng tân Thị, và đôi câu đối viếng ông toàn quyền Pasquier cũng của Thượng tân Thị. Thành thử ông cũng không che chở cho thơ cũ được tí nào.
" Một điều nhầm to của ông là ông tưởng lầm rằng người ta thích làm thơ, là vì không có lề lối bắt buộc, nên dễ làm. Ông khoái chí lắm, kêu lớn lên, làm ai nấy đương lim dim ngủ đều giật mình tỉnh dậy :" À, tôi biết rồi, làm thơ cũ có khuôn khổ, lề lối, nên khó, còn thơ mới không có lề lối dễ làm, nên họ thích làm thơ mới...
" NHƯNG ÔNG HANH LẠI LÀ TRI KỶ CỦA PHONG HOÁ "
" Và nhất là tri kỷ của Tú Mỡ và Lê Ta (Tất nhiên là ông không đội trời chung với Thế Lữ). Ông đọc đến tên báo Phong Hoá luôn, hân hạnh cho báo Phong Hoá lắm thay mà cũng ân hận cho Thế Lữ lắm thay vì ông thích văn của Lê Ta, đọc thơ của Tú Mỡ, chứ không hề nói đến Thế Lữ.
" Ông yêu Tú Mỡ, vì Tú Mỡ làm thơ...lối cũ, như bài " Văn sách bà nghị khuyên ông nghị ". Ông đọc trọn bài cho thính giả. Ông yêu Lê Ta vì...Lê Ta công kích thơ mới của Nguyễn Vỹ, ông đọc từng đoạn văn rất dài của Lê Ta, lấy làm yêu mến lắm. Nhưng ông yêu ông nhất, vì ông đã công kích thơ mới, lối thơ yêu của Phong Hoá.
" Thành thử đối với ông, P.H. không biết nên cám ơn hay nên trách. Cứ kể trong cuộc diễn thuyết này, ông nói đến P.H. rất nhiều và giới thiệu Tú Mỡ với thính giả, cũng là tri kỷ lắm vậy.
"  CÒN CÔ KIÊM ? "
" Cô Nguyễn Thị Kiêm bất bình vì ông Hanh đã mạt sát cô, và đã trái ý cô về vấn đề " mới cũ ", nên cô đứng dậy nói với thính giả sẽ tiếp câu chuyện ấy bằng một bài diễn thuyết tối thứ tư sau (16-1) cũng ở S.A.M.I.P.I.C.
" Chắc hẳn tối hôm đó, ta sẽ được xem cô Kiêm mắng lại ông Hanh như ông Hanh đã mắng cô ngày hôm nay, chắc là kịch liệt lắm.
" Rồi ông Hanh lại diễn thuyết cốt để mắng lại cô Kiêm, rồi cứ như thế mãi cho đến ngày nào cả hai người hoá đá có lẽ cũng vẫn còn mắng nhau. "
Ngộ Không tường thuật cô Kiêm diễn thuyết bênh thơ mới
Sau khi thuật lại cuộc diễn thuyết của Nguyễn Văn Hanh công kích thơ mới và công kích đích danh cô Nguyễn Thị Kiêm, Phong Hoá có loan báo là cô Nguyễn Thị Kiêm sẽ có bài trả lời vào tuần sau. Cô Kiêm đã giữ lời hứa. Ta sẽ nói đến bài diễn thuyết của cô Kiêm khi nói đến Phụ Nữ tân văn với vấn đề thơ mới. Đây ta chỉ thuật lại bầu không khí rất hài hước của buổi nói truyện của cô Kiêm do Ngộ Không, đặc phái viên của Phong Hoá tường thuật. Theo lời Ngộ Không thuật như các bạn sẽ đọc sau dây, thì hôm cô Kiêm nói truyện, Nguyễn Văn Hanh đã huy động lâu la đến để yểm trợ ông ta hầu phá rối cuộc nói chuyện của cô Kiêm. Đây là một tài liệu rất đặc thù, nó tố cáo sự hăng say của hai phe cũ mới, coi như là một cuộc ganh đua canh bạc chứ không phải chỉ là một cuộc thảo luận về thơ là cái gì mông lung mơ mộng. Bài của Ngộ Không thật linh động và hài hước hết chỗ nói, nó cho ta thấy thương cô Kiêm, thương thơ mới và khinh ông Hanh làm trò " mất dậy " và mất cảm tình với thơ cũ.
" Đúng như tối hậu ngôn của cô Kiêm quả nhiên tối thứ tư 16-1, hội quán Samipic biến thành một chiến trường rất náo nhiệt, hay nói cho đúng hơn, diễn đàn ở Samipic hôm đó đã thành ra một lôi đài thí võ. Người đi nghe thì ít, người đi coi rất đông, mà người trợ chiến lại đông hơn hết. Chưa đến 9 giờ, trong gian phòng ẩm thấp dưới nhà hầm của hội Samipic đã đông chặt những người, không còn chỗ nào lách chân, mà những cái mũi của thính giả ngơ ngác không biết đặt đâu để thở được một chút không khí. Không khí trong hầm lúc đó nồng những hơi người và đầy những sát khí.

"Cuộc tranh đấu bắt đầu. Cô Kiêm, sau mấy lời giới thiệu của bác sĩ Trần Văn Đôn, lên diễn đàn. Cô đứng trước bàn trong 10 phút đồng hồ, mà chưa nói gì được.
"Ngay hàng ghế thứ nhất, ông Nguyễn Văn Hanh ngồi lăm le chỉ chực vọt lên diễn đàn tuy không phải là phiên ông diễn thuyết. Tay xách một cái cặp da, đựng những giấy má gì không biết, làm cho mấy người chưa trả xong tiền nhà, tiền điện, cứ giật mình thon thót. Mấy ông bạn ngồi cạnh ông và xun xoe khắp mấy góc phòng đều mắm môi mắm lợi, xắn tay áo, để cố ý trấn tĩnh và cũng để nạt cô Kiêm nữa.
" Cô Kiêm biết mình dại, không sớm đề phòng thuê một ít người...trợ lực... Nhưng đã chót lên đến thì thôi cũng phải nói qua loa cho xong truyện. Thành ra cô bênh vực thơ mới không được hùng hồn lắm, và công kích ông Hanh cũng rất là nhè nhẹ.
" Ngay bên cạnh chỗ tôi ngồi, có một ông to béo, ý chừng là phe đảng ông Hanh. Mỗi lần cô Kiêm đọc một câu thơ mới của Thế Lữ, hay của Tường Bách hay của một thi sĩ nào ở báo Phong Hoá, thì ông rún vai bỉu ra một cái môi rất dài và "ứ ừ" một tiếng dài gần bằng cái môi ấy. Tiếng ứ ừ của ông ta được những cái mồm đồng đảng họa theo làm cho cô Kiêm xịu hẳn nét mặt lại và ông Hanh thì nở phồng hai lỗ mũi vốn nó cũng không nhỏ gì cho lắm. Cái ông to béo, có lúc nóng nảy dạng hai cái đùi u những thịt ra, như người đứng tấn một bài võ tầu làm cho mình suýt nữa bắn xuống đất, vì...thiếu chỗ ngồi, tôi chỉ được ghé một mẩu ghế của ông và một mẩu ghế nữa của ông bạn nhỏ người. Cũng may ông ta chỉ đứng vậy thôi chứ không đi bài võ tầu nào, nên không đến nỗi thành án mạng.
" Cái không khí lúc bấy giờ không phải là không khí một phòng diễn thuyết mà rõ là không khí một đài thí võ. Trong khi cô Kiêm khua môi trên võ đàn, như nàng Sử Cẩm Bình (trong truyện Anh hùng náo) múa võ trên lôi đài, thì ở dưới bọn đi xem, phe đảng ông Hanh cũng xắn áo, xắn quần, mắm môi mắm lợi như chư anh hùng, phe đảng của Lý Quảng.
" Cái không khí ấy đè nén một cách nặng nề, mãi cho đến khi cô Kiêm nói xong. Cô vừa đứng dậy thì ông Hanh lấy hơi vọt lên ...lôi đài.
" Xưa nay ông giáo Hanh trước mặt học trò vẫn phải giữ dè lời nói, thì tội gì hôm đó được dịp nói nhảm lại không nói. Người ta phải tuỳ từng lúc mà lịch sự, chứ lúc nào cũng lịch sự, cũng nhã nhặn thì còn có nghĩa lý gì. Vì thế, nên ông Hanh hôm đó quyết trút hết những cái lịch sự, nhã nhặn để lộ hẳn chân tướng trên diễn đàn một lần nữa, để tỏ cho bà con biết rằng nếu con em ít giáo dục thì về sau ăn nói như vậy.
" Ông Hanh leo lên diễn đàn, hỏi thính giả :
-Anh em chị em có muốn cho tôi nói không ?
" Những tay trợ chiến của ông đều trả lời :
" Có, có
" Tức thì ông Hanh toét một cái miệng rất tình và rất rộng, cười mà trả lời cô Kiêm một cách đắc chí lắm. Ông gọi cô Kiêm là " Nữ thi sĩ " rồi ông quay lại thính giả cười một cách ranh mãnh...Những người trợ chiến lại vỗ tay và cười rất hùng hổ.
" Ông Hanh nói :" Tôi, Nguyễn Văn Hanh, cô, Nguyễn Thị Kiêm, hay là cô, Nguyễn Thị Kiêm, và tôi  Nguyễn Văn Hanh lật lại theo lối tây... "Rồi ông ra hiệu cả hai tay, cười một cách khoái lắm. Trong đám thính giả, có bao nhiêu con nít láu lỉnh, đều cười rộ lên. Những người đang ngáp hay đang cãi nhau cũng giật mình quay lại rồi cười theo và vỗ tay theo.
" Ông Hanh nói tiếp :" Tôi với cô cùng đi trên một con đường tối tăm, mà cô không biết. Ông định nói : Ông không phản đối thơ mới và đồng ý với cô Kiêm. Nhưng ông có một lối nói bóng bẩy mà xuyên tạc làm vui lòng một số đông thính giả.
" Ông lại nói : Cô đẩy một cái cửa đã mở rồi " vous enfoncez une porte ouverte. Một số đông lại cười rộ vì họ tưởng rằng cô Kiêm đến đẩy cửa nhà ông Hanh. Nhưng ông Hanh chỉ định nói là cô Kiêm phản đối ông vô ích, vì ông có công kích thơ mới đâu. Phải, ông không công kích thơ mới ông chỉ chê thơ mới thôi. Nhưng ông không dám nói là :" Tôi, Nguyễn Văn Hanh chê thơ mới " ông chỉ chê thôi, mà ông không nói là chê. Nhưng ông Hanh lại được mãn nguyện quá sức mong, là vì không một mình cô Kiêm " mắc cỡ " mà tất cả bao nhiêu nữ thính giả đều mắc cỡ, vì những lời lẽ, những dáng điệu của ông. Thực là kết quả mỹ mãn không ngờ.
" Ông nói với cô Kiêm :" Cô bảo cô không xìu (dégonflée) thế là cô còn cứng, vậy tôi xin xìu trước ". Rồi ông lại toét miệng ra cười và lom khom bước xuống ghế ngồi.
" Thế là ông lại được hoan hô một lần nữa.
" Có mấy bà ngồi hàng ghế đầu nhấp nhỏm đứng dậy mắng cho ông mấy câu, nhưng thấy vây cánh ông lớn quá, và nhất là cái quả đấm của ông nắm chặt quá, nên lại ngậm ngùi mà ngồi im. Có một bà, trái hẳn lại, vỗ tay dữ hơn mọi người để khen ông Hanh ; mọi người trông lại thì bà...bà Nguyễn Văn Hanh.
" Bỗng một ông nữa vọt lên diễn đàn. Thôi nguy to rồi, cô Kiêm lại phải một phen run sợ. Nhưng may sao, ông này tuy đem một cái mũi rất lớn lên diễn đàn cũng không đáng sợ bằng ông Hanh. Ông ôn tồn nói một hồi, không ai hiểu ông nói gì, chỉ thấy ông quanh quẩn mắng hết ông Hanh, lại cự đến cô Kiêm cho là hai bên đều vô lý hết, rồi ông lại cự cả ông, vì ông cũng vô lý nốt.
" Ông Hanh ngứa tiết lại nhẩy lên lôi đài. Hai ông giở tài ngọn lưỡi trước mặt cô Kiêm, làm cho cô Kiêm hậm hực muốn khóc ; cô muốn chui xuống đất, nhưng hiềm đất rắn quá, cô lại muốn bay lên trời, thì cái hầm lại thấp quá. Cô Kiêm cầu cứu ông huyện Tri, nhưng ông huyện Tri không động đậy ; cô cầu cứu ông Phan Văn Hùm, nhưng vẫn thấy ông Phan Văn Hùm nét mặt thản nhiên, lạnh lùng làm cho cô cuống quít ở giữa cái mồm rộng của ông Hanh và cái mũi lớn của ông nọ.
  "Ông đốc tờ Đôn lúc bấy giờ vẻ mặt hớn hở lắm. Ông chắc lẩm: thế nào chẳng có anh vỡ đầu, sát trán, dập sọ, gẫy xương. Nếu không cũng có một vài ba thính giả hoảng sợ mà ngất đi chăng.
"Nhưng bà con thấy quang cảnh nguy ngập, xô nhau mà chạy trốn làm cho người ngao ngán nhất là ông đốc tờ Đôn. "
Thạch Lam tường thuật cô Kiêm diễn thuyết bênh thơ mới
Cùng một buổi diễn thuyết của cô Nguyễn Thị Kiêm mà Phong Hoá có tới bốn bài tường thuật. Sau bài tường thuật của Ngộ Không tôi còn kể thêm ba bài tường thuật của Thạch Lam, của Lê Ta và của Ngym. Tất cả chúng đều cho ta thấy thính giả say mê tới vấn đề, đến chen chúc nhau thừa sống thiếu chết. Đây mấy lời mở đầu bài tường thuật của Thạch Lam :
" Đến cuộc diễn thuyết của cô Nguyễn Thị Kiêm ở quán hội K.T.T.Đ.
" Người đến nghe và đến xem chắc hẳn là đông lắm. Vì một cái lẽ rất giản dị, diễn giả là một người con gái. Một cô con gái diễn thuyết tất có nhiều cô con gái đến nghe, những cô tân thiếu nữ ở Hà thành, áo tha thướt và nhiều màu tóc mượt và đen nhánh.
" Người ta đến đây cũng như một cuộc vui chơi. Trong một sự hỗn độn, bao giờ cũng lắm cái bất ngờ, lắm cái may rủi.
" Buổi tối hôm ấy không một ai nghe rõ được câu gì. Người ta chỉ thấy cô Kiêm chốc chốc lại đưa khăn tay lên lau mồ hôi trên trán, thấy đôi môi mấp máy. Thành thử không phải như bà Lê Dư diễn thuyết cho bà ấy nghe ở hội Trí Tri. Cô Kiêm dẫu có muốn nghe lời mình nói cũng không nghe thấy gì ".
Lê Ta tường thuật cô Kiêm diễn thuyết bênh thơ mới
Và đây đến lượt Lê Ta tuờng thuật :
" Công chúng mỗi lúc một đông thêm. Tiếng ồn ào mỗi lúc một lớn. Trên kia cô Kiêm vẫn nói . Dưới này họ lục đục chen nhau, cãi nhau về chỗ ngồi. Một ông to béo luôn tay run người này ấn người kia để bênh vực cái đồng hồ đeo tay của ông.
" Giữa lúc mồ hôi dang đua nhau làm ướt áo mọi người, thì bỗng cái quạt điện bừng chạy.
" Một ông dẫm lên chân một cô ngồi cạnh để tỏ ý bất mãn, rồi đứng lên diễn thuyết với hai người đằng sau xô lên.
" Dần dần, cả những người ngồi đầu đều đứng lên, rồi muốn cho cao hơn, họ đứng cả lên ghế.
" Một vài ông cố sức mở một đường " huyết đạo " xông vào gần chỗ tôi, phàn nàn rằng mình vẫn mộ tiếng diễn thuyết mà không được nghe lấy một tiếng nào. Các ông đứng lau mồ hôi một lúc trèo mám lên một cái ghế nghiển cổ trông. Lúc thấy được mặt diễn giả các ông sung sướng chen ra tỏ ý mãn nguyện lắm.
" Cái nóng bức trong hội quán cùng với sự náo động cứ tăng mãi lên, đến lúc những cánh quạt vì lòng nguyện vọng nhiệt liệt của công chúng lại bắt đầu quay, mà trật tự vẫn không giữ được...Những người ở dưới muốn nghe rõ lần lượt rủ nhau lên gác muốn mát lại rủ nhau xuống. Cứ thế mãi không thôi ".
Nguym tường thuật cô Kiêm diễn thuyết bênh thơ mới
Sau cùng là lời thường thuật của một người ký tên là Ngym, chẳng biết là ai :
" Thính giả, cả hai giống, có đến bảy tám trăm đầu.
" Các bà các cô đến đông. Phần nhiều không được trắng như mọi khi, ý chừng nóng quá mồ hôi ra trôi cả phấn.
" Nhưng vì đến sau, phải đứng cả. Có độ hơn 400 ghế thì các ông râu mày ngồi mất đến ngoài ba trăm rưỡi ghế. Ông huyện Trị thân sinh ra cô Kiêm, đứng lên xin các ông râu mày nhường chỗ cho các bà quần thoa " íu đúi ". Cái gì chứ cái ấy thì cố nhiên là thính giả phái khỏe không chịu nghe viện lẽ rằng họ không lẳng (nếu tôi có thể dịch chữ " galant " là lẳng được).
" Muốn cho thính giả lẳng lặng mà nghe, các tổ chức viên dùng " suỵt ". Sau có người " chừng cũng thạo về khoa học ", nghĩ ra được một kế rất điệu là đi mượn cái chuông. Anh hàng kẹo hay anh hàng dầu nào cho mượn cái chuông ấy, chắc cũng được biệt đãi.
Lê Ta phê bình tập thơ " Những bông hoa trái mùa "
Sau đấy Lê Ta, nhân đọc một tập cũ " Những Bông Hoa trái mùa " của hai ông Tường Vân và Phi Vân làm ra để thách đố, đua vai với thơ mới. Lê Ta đã phân tích tập thơ của hai ông và trích những câu văn vừa sáo, vừa rỗng, vừa đạo văn, vừa ngây ngô để minh chứng thơ cũ mà các ông ca ngợi đã hết sinh khí rồi. Thực bài trả lời của Lê Ta là cay độc, khiến cho làng thơ cũ phải một phen bể mặt. Đây bài phê bình " Những Bông Hoa trái mùa " của Lê Ta (P.H. số 148, 10-5-1935).
" Sau khi góp sức chế tạo ra được ngót ba mươi trang thơ (Những bông hoa trái mùa) hai nhà văn Tường Vân và Phi Vân " một ngày tốt đẹp kia ", đem in thành sách. In sách để tỏ cho thiên hạ biết hai ông cũng có triết lý về cuộc đời, mà hai ông coi như một buổi hát :
Còn lạ lùng chi cái thói đời.
Trăm năm cũng một lớp tuồng thôi
(Cuộc Đời)
" Để trách trăng, trách gió, trách người bạn gái, khóc ý trung nhân và để than cái nỗi đời xoay chuyển mãi, " dặm liễu " đã mòn chân " ngựa ký " mà " đường mây " chưa thẳng cánh " chim đồng " cho nên " anh hùng " còn thẹn mặt trần ai, luống lo tưởng đến " nợ kiếm cung " ( !) chưa biết đến bao giờ trả được.
" Tác giả thực là người có tâm huyết, có khí khái, có tình cảm và có những giọng cụ đồ cổ bất đắc chí ngồi cạy ghét móng tay mà giận đời không biết đến mình.
"Bởi thế, cái mới là cái đáng thù, cả sự chân thực cũng vậy. Đứng trên núi cao trông cảnh giang sơn dưới ánh trăng vằng vặc, các ông ngẫm, các ông cảm động bằng đôi mắt và trái tim của bà Huyện Thanh Quan:
Tuế nguyệt thành xưa trơ lớp đá,
Tang thương ngõ cũ nhạt làm meo.
(Trên núi Thiên nhẫn)
"Các ông tả cái sắc đẹp của giai nhân trên thuyền bằng văn Cung oán:
Cá dưới nước ra chiều lảng bảng,
Hoa trên giòng ra dáng lênh đênh.
Hoa kia ngơ ngẩn với tình,
Cô kia ngơ ngẩn như hình ai nghe.
(Trên mặt hồ tây)
" Các ông phục cái khí phách của bà Triệu Ẩu bằng lời của một nhà làm thơ cũ, tôi quên mất tên, nhưng vẫn nhớ kỹ cái nghệ thuật giở hơi và kiểu cách :
Dãi nắng dầm mưa đôi má phấn,
Xông tên đột pháo một đầu voi
(Triệu Ẩu)
" Các ông khen âm điệu thơ cũ thánh thót âm thầm như tiếng đàn năm cung. Không ai cãi hai ông, nhưng tiếc rằng khi nghĩ đến đàn, các ông lại nghĩ đến tính tình của người khác, các ông lại xúc động bằng tâm hồn của người khác vì trong lòng các ông không có một thi cảm riêng nào.
" Thi sĩ Nguyễn Du tả tiếng đàn như thế này :
Trong như tiếng hạc bay qua,
Đục như nước suối mới sa nửa vời ;
Tiếng êm như gió thoảng ngoài,
Tiếng mau sậm sập như trời đổ mưa.
"Các ông liền lấy những ý trên lập lại. Các ông cũng viết:
Trong như tiếng hạc mới bay qua,
Đục tựa lưng vời nước suối pha,
Êm ái tiếng khoan như gió thoảng,
Tiếng mau sầm sập lại mưa sa.
" Cái tài của các ông là cái tài xào nấu lại những món ăn cũ. Các ông lấy lời văn, ý tưởng, tình cảm của người khác làm của mình. Trong văn thơ các ông đầy rẫy những cành tuyết, mai, thông, liễu, ở những chỗ sông Tân, vườn Thuý, chơi sông đêm trăng các ông bắt chước người ta nhớ câu thơ Xích bích, ngắm nước hồ Tây các ông cũng chỉ nghĩ đến cảnh Bắc quân xô xát với truyện con trâu vàng. Các ông đi sau cổ nhân để lượm nhặt những rơm rác ấy là " Những bông hoa trái mùa ".
" Các ông đem bó hoa không đáng gọi hoa kia dùng làm thứ khí giới để công kích lối thơ chân thực dồi dào, phóng khoáng mà người ta thường gọi là thơ mới.
" Là vì các ông không làm được thơ mới.
" Các ông không phải là người biết tìm cái đẹp mới mẻ, biết tả đúng tâm sự mình trước cảnh vật, cái cảm hứng của các ông không thể ra ngoài khuôn sáo, chỉ quanh quẩn ở những điển tích mà đã mấy nghìn lần người ta nhắc đến, nghe quen tai quá, chẳng khác gì những lời chúc tụng của bọn người hát " súc sắc súc sẻ " đầu năm.
" Các ông trách lối thơ bây giờ không theo niêm luật cũ, vì các ông không biết rằng thơ bao giờ cũng phải có luật. Không phải cái luật hẹp hòi hạn câu chọn chữ là một lối rất tiện cho những người khúm núm thi thố cái tiểu sảo của mình. Nhưng thơ phải có thứ luật cao siêu hơn, thiêng liêng hơn : mình biểu lộ cảm tưởng, tâm trạng mình một cách êm ái, tha thiết hay hùng tráng du dương theo cái bản lĩnh riêng mình, không bao giờ chịu theo tư tưởng, tình cảm của người khác. Như thế thì trái với thứ biệt tài của hai ông lắm, nên hai ông không bằng lòng.
" Các ông chỉ ưa và chỉ tìm được những lời văn hoa sẵn có để tra vào cái khuôn khổ sẵn có. Khi tiễn đưa, tất nhiên phải dùng đến những chữ : chuốc chén qua nhà với duổi dong dặm kỳ ; khi vinh hoa tất nhiên phải chắp nhặt những tiếng : sắc nước hương trời. Mà cuộc đời bao giờ cũng là một tấn tuồng cũng như lúc mặt trời về chiều, bao giờ cũng là ác, là chênh chếch, giọt sương dùng để chỉ nước mắt, là ngô vàng rụng để tả mùa thu. Các ông cũng không quên những chữ cảnh biếc, biển quế, bụi hồng, mắt xanh, không quên những câu :
Lơ thơ dăm cụm lục chen hồng,
Thượng uyển là đây có phải không ?
Hương ngự ( !) ngạt ngào đôi khóm cúc,
Nhạc thiều ( !) reo rắt mấy cành thông (trang 15)
" Để tả những cảnh...trong vườn bách thú ( !). Nghĩa là những câu thơ có thể tả được bất cứ cảnh vườn nào, mà tả cảnh vườn nào cũng rỗng, cũng sáo, cũng không có nghĩa lý chi hết.
" Ấy thế mà các ông đi công kích bọn làm thơ lối mới ; các ông lấy những giọng oanh liệt để mắng họ :
Lạy bác xin đừng nói đến thi,
Nghĩa thi chưa hiểu hãy im đi.
" Và gọi họ là bọn mù :
Chẳng khác anh mù lại nói mơ,
Chẳng qua một bọn dốt làm thơ...
" Vâng, họ dốt vô cùng, dốt vì không biết theo kinh điển, vì không biết nhai lại những lời cổ nhân mà các ông quý trọng, vì không biết để cho cái khuôn khổ buồn cười của thơ (bát cú) kìm kéo, thắt buộc tính tình, cảm hứng của họ.
" Vâng, họ dốt và mù lắm, họ không thể sáng như hai ông Tường Vân và Phi Vân được, mà như thế, theo ý tôi, thì thực là may cho quốc văn.
" Vì quốc văn cần phải tiến. Quốc văn không phải thứ trò chơi dí dỏm ở trong ấy có những luật lệ bày ra để một ít người thợ khéo chắp nhặt cái tiểu sảo nọ để ghép vào cái tiểu sảo kia. Thơ văn của ta bây giờ mới biết theo khuynh hướng mới cũng đã quá chậm rồi, không cần phải có những bọn văn sĩ như hai ông Tường Vân và Phi Vân với cô Bích Ngọc ngăn cản lại.
" Nói đến cô Bích Ngọc, người đề tựa cho quyển " Những bông hoa trái mùa " tôi lại tưởng tượng đến một bậc nữ lưu đoan trang, trầm mạc. Tôi còn tưởng tượng lên thêm một bực nữa, tuy không được vừa ý cô nhưng tôi cũng cứ mạn phép cô tôi nói: tôi tưởng tượng ra một bực nữ lang... bà già.
"Bởi vì những ý tưởng của cô cũng đã già như cái cây cổ thụ.
"Cô cũng đồng lòng với hai nhà thi sĩ của cô ham mến cái cổ, coi lối thơ luật cũ rích như những bông hoa thơm, cô lại viết một bài thơ tám câu, có ý cho chúng tôi thấy thí dụ. Cái cụm hoa thơm là bài thơ quý hoá ấy cũng có đủ những biền ngẫu: nhị vàng đi dôi với cành thắm, lòng bướm với kiếp hoa, dậu cúc với cành hồng, nghĩa là những chữ sáo đi đôi với những chữ sáo.
" Cô thực là người biết yêu trọng quốc hồn, quốc tuý. Nhất thiết cái gì là mới, là lạ, cô đều ghét cay, ghét đắng lấy lẽ rằng cái mới lạ ấy không phải là của nhà. Câu phong dao :
Ta về ta tắm ao ta,
"Có lẽ là câu châm ngôn của cô. Cô thiết tha khuyên người ta chê bỏ và tự mình chê bỏ "ao ngoài", để về tắm "ao nhà" dù ao nhà ấy đầy những bùn, những vẩn.
"Tôi buồn rằng người "thục nữ" có duyên đến thế lại kém vệ sinh.
E - Phản ứng làng thơ cũ
Thái độ chung các nhà thơ cũ
Chẳng hiểu dựa vào đâu mà có người cho rằng trước sự tấn công của làng thơ mới, làng thơ cũ đã chịu thua ngay từ đầu không có một ai lên tiếng. Hình như đó cũng là ý tưởng mà Lê Tràng Kiều đã biểu lộ trong bài trả lời ông Thái Phỉ, Hànội báo số 19, 13-5-1936.
Sự thực đã không hẳn như vậy. Trong khi tường thuật những vụ diễn thuyết ủng hộ thơ mới ở Nam và ở Bắc, tôi đã đọc cho các bạn nghe những bài tường thuật của báo Phong Hoá và báo Phụ Nữ Tân Văn. Cả hai tờ báo đều tố cáo thái độ quyết sống quyết chết của phái bênh thơ cũ. Chẳng thế mà khi cô Nguyễn Thị Kiêm diễn thuyết mấy lần ở Nam kỳ và ở Bắc kỳ, phe phản đối thơ mới như các ông Nguyễn Văn Hanh chẳng những huy động bạn bè đi nghe để gây rối, để đăng đàn phản đối cô Kiêm tại trận mà ta còn thấy có lần cô Kiêm bước vào phòng diễn thuyết đã được người ta trao cho cô một túi đầy ắp những thơ hăm doạ. Cô Kiêm quyết liệt đối với thơ mới thế nào thì ông Hanh hăng say đối với thơ cũ như vậy. Thực là trong cuộc chiến tranh này chẳng những cá nhân chọi với cá nhân mà còn các cơ quan ngôn luận chọi với các cơ quan ngôn luận nữa : trận tuyến lan tràn từ Nam ra Bắc kéo dài suốt mấy năm trường. Nếu bênh thơ mới có Phong Hoá, Phụ Nữ Tân Văn, Tiểu Thuyết Thứ Bảy, Hànôi báo, Loa, Ngày Nay.. thì bênh thơ cũ có An Nam tạp chí, Văn Học tạp chí, Công Luận, Tiếng Dân, Văn Học tuần san, Tin Văn...Xét số đông thì bên thơ cũ buổi đầu chắc là ăn đứt bên thơ mới.
Tản Đà, tuy chẳng ưa gì thơ mới, nhưng xem ra nhà thi sĩ của chúng ta tế nhị lắm : chính ông không để cơ quan ngôn luận của ông là An Nam tạp chí tấn công thơ mới. Còn đối với thơ cũ, ông thản nhiên bênh vực nó một cách gián tiếp bằng việc cho đăng thơ cũ, bình giảng thơ cũ. Đề cập thẳng đến thơ mới với luận điệu mỉa mai có lẽ có trường hợp Vân Bằng trong bài "Tôi thất vọng về ông Phan Khôi " (An Nam tạp chí số 39, 30-4-1932).
"Vừa đây, ông lại ra công "sáng chế" ra một lối thơ "tân thời, tự do đặc biệt", không cần niêm luật, tự ý vắn dài, làm cho nhiều người "hoài cổ" phải ngậm ngùi thương tiếc, "tám vế" luật Đường! Có lẽ vì sự phát minh lối thơ mới này mà phải mai một đi chăng?"

Chất Hằng đả kích thơ mới của Phan Khôi
Ngoài An Nam tạp chí, tờ báo thứ nhất ở Bắc tỏ vẻ chống thơ mới là tờ Văn Học tạp chí của Chất Hằng Dương Tự Quán.
Trong bài "Ấm Hiếu Không thể làm Tú Khôi "hay là" Một cái tỉ hiệu luận giữa Phan Khôi và Nguyễn Khắc Hiếu ", Chất Hằng, trong lúc đả kích Phan Khôi ở nhiều phương diện, đã mỉa mai lối thơ mới do Phan Khôi khai mào. Nói về Phan Khôi làm thơ, Chất Hằng viết: "Người ít tình cảm thì sự cảm giác về cái bản ngã cũng kém cho nên Phan Khôi không hay làm thơ mà chỉ ưa nghiên cứu về thơ. Đôi khi Phan Khôi cũng làm thơ, nhưng thơ của ông cũng "hùng hổ" như ông... hay khắc khổ như văn xuôi của ông, hoặc nhạt nhẽo vô duyên như hình dáng của ông.
"Có lẽ vì thế mà Phan Khôi muốn thay đổi cái hình thức của thơ mà xướng xuất ra một thể thơ mới nó thật ra chẳng mới chút nào, và cũng ít người cùng ông hưởng ứng " (V.H.T.C. số 18, 1-6-1933).
Sau khi chế diễu thơ mới một cách nhẹ nhàng ngày 1 tháng 6 năm 1933, Chất Hằng viết liên tiếp ba bài công kích thơ mới đăng Văn Học tạp chí các số 22 (1-8-1933), số 23 (15-8-1933), số 24 ( 1-9-1933). Bài đăng số 22, với tựa đề " thơ mới ", đề cập đến cuộc cải cách thơ của Phan Khôi từng được mệnh danh là cuộc cải cách của thơ mới. Chất Hằng cho rằng cái mà Phan Khôi nhận là mới ấy, chẳng phải Phan Khôi là người đầu tiên xướng xuất ra, người đầu tiên xướng xuất ra là Nguyễn Văn Vĩnh :
"Phá cùm và cắt xích cho những nhà thơ, công cuộc giải phóng đó không phải là chẳng hợp lý và chẳng thích thời.
"Nhưng khi ấy cũng ít người hưởng ứng, trong số tôi thấy có ông Thượng Minh mà các bạn độc giả của Văn Học tạp chí chắc còn nhớ là một người vì quá hâm mộ ông Phan Khôi mà liệt ông Nguyễn Khắc Hiếu vào hạng nhà văn điên cuồng, gàn dở.
"Mới đây một tờ báo có tính cách hài hước " lại đem cái vấn đề thơ mới ấy đặt lên thảm xanh " và hết sức cổ động cho "lối thơ Phan Khôi" như lời ông Thượng Minh đã nói trong báo Đông Tây.
"Nhưng trước khi bàn về việc đổi mới cho thơ, ta hãy nên "trả cho César cái gì của César" đã. Tôi muốn nói rằng ông Phan Khôi chẳng phải là người thứ nhất đã có cái sáng kiến làm thơ quốc văn theo lối tây vậy.
"Người ấy có phải ai đâu mà chính là ông Nguyễn Văn Vĩnh. Ta hãy đọc mấy câu trong bài ngụ ngôn "Con ve và con kiến" dịch của La Fontaine ra đây:
Ve sầu kêu ve ve, suốt mùa hè.
Đến kỳ gió bấc thổi
Nguồn cơn thật bối rối
Một miếng cũng chẳng còn
Ruồi bọ không một con
Vác miệng chịu khúm núm
Sang chị Kiến hàng xóm
Xin cùng chị cho vay
Giăm ba hạt qua ngày.
Đối với Chất Hằng, Nguyễn Văn Vĩnh hay Phan Khôi cũng thế thôi, toàn là người lập dị, phản động: vẫn biết phải đổi mới cho thơ, nhưng chỉ nên đổi mới tinh thần thôi chứ ai lại kỳ cục mà sửa đổi hình thức theo đây:
"Song tôi không đồng ý hẳn với người hay những người đã và sẽ sáng tạo ra các lối thơ mới, tuy trên kia tôi nói rằng công cuộc giải phóng cho thơ không phải là chẳng hợp lý và không thích thời.
"Tôi thích đổi mới cho thơ, nhưng tôi chú trọng về tinh thần của thơ hơn là là đường hình thức. Về đường hình thức của thơ, tôi dám nói rằng những nhà thơ cổ của Trung quốc đáng là thầy ta. Lối thơ Đường luật tuy bị giam hãm vào trong cái thi pháp chặt chẽ nhưng ta thử hỏi có lối thơ nào là chẳng phải bó buộc bởi những luật lệ nhất định. Ngay như thơ tây cũng còn phải theo phép tắc rất phiền phức. Vì nếu không thế thì không phải là thơ nữa.
Và ngoài thể thơ Đường luật nghiêm nhặt ra, ta há lại không còn thể nào rộng rãi nữa hay sao ?
Còn như coi thể thơ Đường luật có chật hẹp quá, thì có thể cổ phong cũng là rộng rãi lắm chứ, việc gì phải lập dị. Tinh thần hướng dẫn nhà thơ hiện đại phải là "dùng lối cổ mà diễn những tư tưởng mới ":
"Thì thể cổ phong đó thật đủ tư cách để ứng phó cho sự nhu yếu của ta. Cổ phong là lối văn có vần mà không đối nhau. Nếu có đối nhau là tuỳ ý của nhà làm văn, không phải là một luật nhất định. Cổ phong không có niêm luật, không hạn câu, tự bốn câu cho đến bao nhiêu câu cũng được. Cả bài dùng một vần tức là độc vận, như:
Hôm qua có bạn, rượu lại hết
Hôm nay có rượu, bạn không biết,
Cất đi, đợi bạn đến lúc nào,
Cùng uống, cùng vui trời đất tít
Khi say, quên cả ai là ta
Còn hơn lúc tỉnh nhớ mà mệt
Cả bài dùng nhiều vần là liên vận, như:
Đá xanh như nhuộm, nước như lọc
Cỏ cây hoa lá dệt như vóc
Trời hoang mây tạnh gió hiu hiu
Ai thấy cảnh này mà chẳng yêu
Mới biết Hóa công tay khéo vẽ
Tuy người điểm xuyết ra nước non
Bể cạn non bộ nhỏ con con
Sao bằng tiêu giao cùng Tạo hoá
Bốn mùa phong cảnh thật không giả.
Đọc qua mấy bài thơ thể cổ phong tôi lục ra trên đây, chắc phần nhiều các bạn độc giả sẽ nghĩ như tôi rằng những người khởi xướng và cổ động cho lối thơ mới chỉ là "cho máy chạy rụt lùi" mà thôi, chứ có chi là đặt ra mới đâu.
Vì vậy tôi cho cái hình thức của thơ chẳng phải đổi mới. Việc các nhà thơ nên làm ngay bây giờ là cứ theo cái hình thức thơ cổ và diễn những tư tưởng mới.
Sang đến bài "Làm thế nào để đổi mới cho thơ" (V.H.T.C. số 23, 15-8-1933), về vấn đề hình thức, ngoài việc đề nghị hình thức cổ phong, còn đề nghị thêm hình thức lục bát và song thất lục bát nữa, nhưng ông không ưng cho người ta đi xa hơn nữa. Thế rồi ông kịch liệt tấn công sự nghèo nàn của thơ hiện tại về phương diện nội dung. Ông hô hào phải đổi mới cho thơ về mặt đề tài, về nội dung. Ông bảo:
"Sao người ta không vịnh cái máy bay, cái tầu thuỷ, cái ô tô, cái xe lửa, mà cứ quanh đi quẩn lại hết cái điếu, cái chổi lại đến cái nón hay cái hoả lò?
Giá ông thi sĩ nào vịnh cho tôi cái toa máy xe lửa cũng linh động như mấy câu sau này :
Sur le taureau de fer qui fume, souffle et beugle
L'homme a monté trop tôt...
Mais il faut triompher du temps et de l'espace
Arriver ou mourir...
...Mais aucun n'est le maitre
Du dragon mugissant qu'un savant a fait naitre, của thi sĩ Alfred de Vigny tả những toa máy thứ nhất (Les premières locomotives) thì có phải ông ấy đã mở được cho thơ quốcvăn một con đường mới không. Tôi lại ước ao có nhà thơ nào đem con mắt biết quan sát mà ngắm những nhà máy và cảnh sinh hoạt anh em chị em lao động rồi vẽ nên được những bức tranh tuyệt xảo giống như của thi sĩ Verhaeren nước Bỉ, thì lúc này chúng ta còn có thể lạc quan, trong khi dự đoán tiền đồ của thơ quốc âm. "

Thương Sơn bênh thơ cũ
Chẳng những bảo thơ mới của Phan Khôi chẳng có gì mới mà còn cho thơ mới của bọn các ông chẳng qua chỉ là một thứ từ khúc hết sức cổ lỗ, lời thời trước đây đã có biết bao nhiêu người làm rồi. Bài này tựa đề là " Thơ mới tức là Từ Khúc " ký Thương Sơn một bài bổ khuyết bài " thơ mới "của Chất Hằng và được ông Chất bàn góp thêm ở phần cuối (V.H.T.C. số 24, 1-9-1933). Theo cả hai ông Thương Sơn và Chất Hằng thì thơ mới thực ra chỉ mới ở mỗi cái chỗ gieo vận. Vậy mà các lối vận của cái thơ được mệnh danh là thơ mới, lại chỉ là vận của các lối từ khúc mà thôi. Ông Thương Sinh phân tích các vần của hai bài: bài "con ve và con kiến" của Nguyễn Văn Vĩnh, cũng như bài "Tình già" của Phan Khôi, rồi đem so sánh với cách gieo vần của nhiều bài Từ Khúc để kết luận: thơ mới là một hình thức đi giật lùi.
"Kể ra thì trong bài "con ve và con kiến" cái lạ ở nơi cách bắt vần, cách này cũng hai câu một vần với nhau, đến hai câu khác lại vần khác, có giống như lối vần "liên tiếp" (rimes suivies) của tây. Ấy, cũng vì cái giống ấy mà chúng ta tưởng lầm rằng, cách bắt vần này mới lắm, song kỳ thực trong văn Tàu nó đã có từ lâu, nó đã cũ, tôi nói cũ để khỏi nói xưa đó thôi.
" Thì cứ xem bản dịch Tỳ bà của Tản Đà thư điếm cũng đã thấy cách bắt vần ấy rồi, nên bản Tỳ bà của Cao Đông Gia ở tận đời Nguyễn. Đây xin trích mấy vần :
Thám hoa (đọc) :
Bác chẳng thấy năm ngoái quan nghè Bùi ?
Ngã ngựa đứt băng một bên đùi.
Lại chẳng thấy năm trước quan đốc Phùng
Ngã ngựa vẹt hẳn một bên mông ?
Ở đời có ba sự rất sợ,
Chở đò, đánh đu cùng cưỡi ngựa. . . . .
lại điệu từ "Bồ tát Man" dịch đăng ở Nam Phong:
Bảng lảng non vàng cảnh minh diệt
Mây in mái tóc, thân pha tuyết
Ủ dột nét mày ngài
Điểm trang cùng với ai?
Cánh hoa lồng trong kính
Mắt hoa cùng lấp lánh
Mới mẻ . . .
Đôi chim ai thêu thùa ?
Cùng điệu " Mộc Lan Hoa "
Đàn ai tiêu sái
Khiến khách giang hồ tình ái ngại ;
Lơ lửng trăng sân,
Bóng mình mình ngỡ bóng giai nhân. . . . .
chẳng phải là bắt vần như bài dịch của ông Vĩnh ru ?
"Tôi còn nhớ như bài "Khóc Lâm Tứ Nương" đăng ở tạp chí này, nguyên Hán văn cũng bắt vần như thế.
"Vậy thì cách vần ở bài" Tình già " cũ lăm lắm chứ có cũ vừa đâu ! - ông Chất Hằng lại rõ thật là sơ ý. Ông không thấy rằng bài ông Vĩnh cũng bài cổ thể thứ hai mà ông chép ở đoạn sau bài là giống nhau lắm ru ? Bài trên là một bài ngũ ngôn; cái lạ chắc không ở đó, mà ở cách bắt vần, song cách bắt vần lại giống bài dưới mất, nghĩa là người ta đã làm rồi, thì còn gì là sáng kiến nữa đâu! Họa chăng chỉ còn ở mấy chữ " suốt mùa hè ".
"Từ trên tới đây, đó là tỏ một phần cũ của bài thơ ông Phan. Trước khi nói đến phần cũ khác của nó, ta hãy thử xem vì sao cách bắt vần " liên tiếp " nó đã có từ lâu rồi mà người ta lại ít làm tới, cho đến bây giờ người ta ngộ nhận rằng nó là " tân thời ". Ấy cũng vì nó không hay gì cho lắm, không êm ái bằng cách bắt vần như thơ Đường vậy, ấy nó cũng sắp vào vòng " đào thải " rồi. "
Rồi Thương Sơn đem so sánh bài "Tình già" của Phan Khôi với bài "Mối tình ngầm" của Trần qu Thường H.T., để quả quyết rằng thơ Phan Khôi còn cổ hơn là Từ Khúc nữa kia:
"Ông Chất Hằng chép bài "Tình già" sai với nguyên văn, nên chỉ chú đến cách bắt vần, mà không biết đến cái tự do của nó. Như thế, những người đã " lại đem cái vấn đề thơ mới ấy đặt lên thảm xanh " chắc sẽ không khỏi nói qua nói lại. Vậy xin thay ông chép lại mấy câu thơ gốc của " lối mới " rồi chỉ một chỗ " cũ " khác của nó, mà chỗ này quan hệ hơn.
Hai mươi bốn năm xưa
Một đêm vừa gió lại vừa mưa
Dưới ngọn đèn mờ trong gian nhà nhỏ
Đôi cái đầu xanh kề nhau than thở
Ôi ! đôi ta tình thương nhau thì vẫn nặng
Mà lấy nhau hẵn đà không đặng,
Để đến nỗi tình trước phụ sau
Chi cho bằng sớm liệu mà buông nhau. . . . .
Đọc bài ấy rồi, độc giả đọc bài này :
Lá liễu xanh
Hoa hồng đỏ
Trăng rạng tỏ
Thấp thoáng trong mành ai to nhỏ
Ai to nhỏ ?
Vườn xuân cỏ cây tươi tốt
Khi xuân đầm ấm dương hoà
Dan díu cùng ai lời thề thốt
Hẹn dưới hoa.
"Ở trên bài đây, ta nếu thử đề rằng " Thơ mới " mà gửi cho mấy tờ báo vẫn chắc rằng lối "thơ Phan Khôi" là mới, họ sẽ đăng ngay, vì nó có theo luật lệ gì đâu, người ta cũng tự do đặt nó ra, nó là thơ " mới " vậy. Nhưng nó " mới " từ độ mười năm nay, trong Hữu Thanh khi xưa ; tôi đã trích ở trong bài nói về từ khúc của ông Nguyễn Ửng, nó là Từ khúc vậy. Từ khúc lúc ấy rất thịnh trong thi ca. Ấy là một lối thơ tự do, nhưng " tự do " ở trong " giới hạn " âm nhạc câu thơ, tự do phải đường ".

Động Đình đả thơ mới
Cũng trên Văn Học tạp chí số 49, 11-8-1934, Động Đình viết bài " Bàn thêm về lối thơ mới ", lời lẽ có vẻ còn cay nghiệt hơn trước đây. Trước hết, Động Đình cho rằng luật thơ cũ chẳng có gì là khó khăn gò bó cả :
" Ít lâu nay cái phong trào thơ mới sôi nổi dữ. Các báo thường thấy hô hào cải cách về thơ. Nào bài xích lối thơ Hàn luật, đổ tội cho thơ cũ của ta phải tội niêm luật quá nghiêm khắc, làm cho mất cả tinh thần tự do của văn chương đi. Nhưng nói thế là lầm, ta hãy xét lại những lời xưa ý cũ của các thi sĩ đời xưa xem có diễn được hết ý tứ, ngụ được đủ tính tình của người làm thơ, tả được hết cái trạng thái của vũ trụ, của cảnh vật không ".
" Đem so với thơ mới bây giờ thì thơ cũ hơn vô cùng, thơ mới vô vị thế nào thì thơ cũ thi vị và ý vị như vậy :
" Cái thi tứ thi vị ngày xưa so sánh với thơ mới bây giờ ra sao. Thật là thơ Hàn luật vẫn ý vị vô cùng, thanh tao biết mấy, bóng bảy dường nào, đọc lên, nghe đến ai mà không hiểu. Tuy, cái niêm luật, thể vần, lối thơ cũ của ta nó hơi khó, hơi nghiêm một chút, nhưng âm điệu vẫn thâm trầm, mà tinh thần vẫn hàm súc đủ các ý tưởng, tình tứ ".
Động Đình cho rằng những lẽ người ta viện ra để bảo thơ cũ luật lệ chật hẹp là không đúng, có thứ chặt chẽ như thất ngôn bát cú, nhưng lắm thứ chẳng có luật lệ gì gò bó như " ca, hát, từ, khúc, trường thiên, cổ phong :
" Vả lại thơ cũ có thật niêm luật khắc khổ nghiêm ngặt thì sao từ trước đến giờ thi sĩ có ai chịu không theo nổi cái niêm luật thể thức ấy đâu ?
" Kể thơ Hàn luật còn lắm điệu, nhiều thể rộng lắm như các bài ca, hát, từ, khúc, trường thiên, cổ phong, chữ và vần vẫn tự do chẳng cũng là đặc điểm khoan hồng cho thi luật lắm đó sao ? Bất tất phải thay đổi chi thêm phiền, thêm rắc rối. Còn lối thơ mới bây giờ, xét ra cũng bất ngoại cái khuôn sáo cũ. Thể cách tuy có hơi khác, nhưng cái tinh thần vẫn cũ rích.
Động Đình đồng ý phải đổi mới cho thơ, nhưng chỉ đổi mới về nội dung mà giữ y nguyên về hình thức chứ, theo ông, thơ mới, ngược lại, chỉ có mới về lời mà ý thì cũ rích và lạc hậu :
" Tưởng đã duy tân cho thơ thì cần ở chỗ tinh thần hơn là hình thức thì mới nên. Chứ chỉ bỏ có niêm luật thể vận cho dễ viết mà thôi, thì e rằng rừng thơ thêm gai góc, hồn thơ tổ vẫn đục.
" Duy có một điều mà tôi muốn bàn đây là chỉ nên cải cách nguyên cái tinh thần cũ. Vì ít lâu nay thơ ca nhường như phần nhiều đều phải chung cái bệnh không hồn. Phàm gọi là thơ, văn phải có tình, có tứ, có khí, có hồn, ấy thế mà chỉ thấy giọng sầu oán bi ai cả là nghĩa lý gì.
" Sao lại có thứ văn chương phù phiếm ấy, nhu nhược thế. Hay là vận thế đến lúc suy, mà văn chương cũng suy theo chăng .
" Văn tức là hồn nước, rất có ảnh hưởng đến nền tiến hoá ".
Cuối cùng Động Đình chê thơ mới yếu đuối, phản động vì buồn bã, ủy mị, hại dân hại nước, không bổ ích cho ai :
" Ta nên rèn dũa sao cho văn chương được hùng hồn, có vẻ hoạt động, thực tế, thì ở thế kỷ 20 này mới thích dụng. Lại còn phải thông thường thì mới bổ ích. Bởi thứ văn sầu cảm đã không bổ ích gì cho đường thực tế, mà lại làm thêm ủy mị đi, mất cả cái nhuệ khí phấn đấu, cái mãnh lực tiến thư, dẫu có hay mấy cũng là vô dụng ".
Nếu ở ngoài Bắc có Văn Học tạp chí đố kỵ thơ mới thì trong Nam có Văn Học tuần san chửi bới thơ mới. Hai nhà văn của Văn Học tuần san bênh thơ cũ chửi thơ mới quyết liệt hơn cả là Tùng Lâm Lê Cương Phụng và Thiết Diện.
Để bênh vực thơ cũ là thứ thơ có âm điệu, có tiết tấu, nghĩa là có chất thơ, tức là đáng gọi là thơ, Tùng Lâm Lê Cương Phụng viết bài " Nói chuyện văn vần : lịch sử và giá trị của nó " (V.H.T.S. số 5, 1-5-1935).Trước hết Tùng Lâm phân biệt văn vần với văn xuôi :
" Tình cảm ở trong, phát lộ ra tiếng nói, tiếng nói có tăng thứ, có ý vị, có âm hưởng, làm cho người ta dễ cảm xúc được, ấy là nguồn gốc của văn vần.
"Tiếng chim hót mùa xuân, tiếng ve ngâm mùa hạ, tiếng dế khóc mùa đông, tiếng cao, tiếng thấp, tiếng nhặt, tiếng khoan, ấy là manh mối của văn vần.
"Văn vần có cái đặc điểm khác văn xuôi là câu đặt gọn gàng mà bóng bảy, lời đưa uyển chuyển mà tiêu dao. Nay xin kể qua lịch sử và giá trị của nó".
Thế rồi ông ngược dòng lịch sử mà phác vẽ nguồn gốc của thi ca từ Tây phương qua Đông phương, từ đời thượng cổ cho đến nay, đâu đâu người ta cũng thấy văn vần là thứ văn của thần linh :
" Lịch sử văn vần ở Thái tây phát sinh từ đời nào tôi chưa được chắc ; chỉ theo thần thoại Hy Lạp, tôi được biết rằng Apollon là một đứng thi thần (Dieu de la poésie) ; còn theo lịch sử văn chương YÙ Đại Lợi thì tôi thấy người ta tôn sùng Daute làm thi tổ, vì cuốn La divine comédie của Daute.
" Ở Pháp hình như bài vận văn đầu tiên thì thuộc vào thế kỷ thứ IX (chỗ này chúng tôi đương còn tra cứu). Ở Tàu thì trước kỷ nguyên Thiên Chúa hai nghìn năm vào đời Nghiêu, Thuấn đã nứt mầm rồi, đại để như bài ca Cao Dao, bài đờn Ngu Thuấn, bài hát Khang Cù...đều là câu có vận cả.
" Trải qua một khoảng thời gian khá dài hơn hai ngàn năm nữa, từ đời Thành Chu tới đời Lục Triều, lúc bấy giờ văn vần mỗi ngày một tiến lên, và biến thể rất nhiều, từ lối Quốc Phong, Nhã, Tụng mà tiến dần tới thi Ngũ ngôn, Thất ngôn. Dẫu rằng các nhà học giả sinh vào thời kỳ ấy có trứ tác lối văn lý thuyết như Tiêu dao thiên của Trang Chu, Đạo đức Kinh của Lão Tử, và các sách của Tuân, Dương, Quản, Án...nhưng đó chỉ là một thể văn, không thể đánh đổ nổi lối văn gọi là văn tánh tình như vận văn được ".
Tùng Lâm ví thơ với hội hoạ : cái khó của đôi bên làm nên chính cái giá trị của cả đôi bên. Hội hoạ tài tình vì những nét tỉ mỉ, thơ kỳ diệu vì những luật lệ tinh vi. Bỏ tất cả các thứ đó đi, hoạ không còn là hoạ và thi cũng hết là thi :
" Nhà làm văn vần, cũng như nhà hội hoạ, nét bút nhà hội hoạ càng tỉ mỉ, tinh tế, bóng bảy đúng mẫu mực, thì mới thấy cái khéo của nét bút thần tình. Trái lại nếu không có cái sở thích (gỏt) và không thường để ý thưởng thức nó thì không bao giờ nên một nhà danh hoạ được. Nhà làm văn không có cái đặc tánh sở thích thì bao giờ làm nổi văn vần ? "
Sau đó ông bác bẻ những lý lẽ người ta viện ra để chê trách các luật lệ gò bó, câu thúc của văn vần, tức của thơ cũ. Theo ông, thơ là cái gì tinh hoa nhất trong nghề văn :
" Tôi đã có thường thấy nhiều người phản đối văn vần. Họ cho rằng : lối văn ấy câu thúc trong quyền sáo, tẳn mẳn đẽo gọt, mất hết tự nhiên, và nhiều khi vì vận mà ép câu vì lời mà hại ý, mà nhất là phí mất cả thì giờ.
" Phải, chính lúc ban sơ tôi đây cũng nghĩ như thế . Nhưng rồi sau tôi nghĩ lại : Văn vần đứng trong các thứ văn cũng như một mỹ thuật đứng trong các nghệ thuật.
" Văn vần như cánh hoa cắm để chơi, bức tranh treo để ngắm, cây đờn đờn để nghe. Nếu cắm cành hoa không sắc không hương, treo bức tranh vẽ vụng về thô tháp, nghe tiếng đờn không nhịp không nhàng, thì cái giá trị đặc biệt nó ở chỗ nào ? Thà đừng có còn hơn.
" Một lẽ nữa : văn vần là một lối văn để thưởng thức mà chơi. Muốn chơi đến nó, tự nhiên phải theo niêm luật, vận âm của nó, nghĩa là phải nằm trong khuôn sáo của nó ; cho được câu văn chải chuốt bóng bảy, tự nhiên phải phí mất thì giờ. Cái đó để riêng phần cho các nhà tao ông, mặc khách là những nhà tài tử phong lưu, lúc nhàn du ngâm vịnh, chớ mình, thày lay chơi đến nó làm gì mà bảo rằng tốn công tỉ mỉ, phí uổng thì giờ ? ".
Cuối cùng Tùng Lâm kể ra tất cả thể thơ của ta, từ lối bắt chước Tàu (hễ Tàu có gì thì ta có nấy) đến các lối riêng của ta như lục bát, song thất lục bát, ca trù, ca Nam, xoang xẫm, trống quân...rồi ông kết luận rằng thi ca Việt Nam phải là theo truyền thống ấy.
Theo ông, thơ mới chẳng qua chỉ là sự lập dị của một người (chắc ám chỉ Phan Khôi) không thể lấy đó làm khuôn phép :
" Thì tôi dám nói quả quyết rằng, lối văn vần chẳng hạn ở Tàu, ở Tây, hay ở Ta, cứ mỗi ngày mỗi tiến mãi lên vì no cóù cái giá trị đặc biệt, cho nên nhà làm văn vẫn chú ý đến nó và muốn bồi bổ cái gốc nó mà khuyếch trương mãi, trừ ra một ít người không muốn dụng công đặt để tìm theo cách dễ dàng, mau lẹ, khuynh hướng về lối thơ mới. (Chúng tôi sẽ có bài nói riêng về thơ mới). Còn riêng ra những hạng người thích ngâm vịnh, chuộng tài hoa thì thật không bao giờ bỏ qua các lối văn vần để có qui tắc như từ lâu nay chúng ta thường thấy đó" (Văn Học tuần san số 5, 1-5-1935).

Tùng Lâm Lê Cương Phụng đả kích thơ mới
Sang đến Văn Học tuần san số 6, 1-6-1935, Tùng Lâm tấn công thơ mới ra mặt.Vì chưa có trích tuyển ở đâu nên tôi trích vào đây toàn bài để cácbạn tiện bề so sánh. Trong bài này Tùng Lâm đề cập đến các điểm sau đây :
1) Chỉ có hạng dốt mới muốn thơ mà lại thơ dễ dãi không niêm luật.
2) Thơ mới là thứ thơ bừa bãi,vô kỹ luật.
3) Minh chứng những chỗ dở của các bài thơ mới.
4) Trách Đông Hồ đã đi lầm đường bỏ thơ cũ là chỗ sở trường của ông để đi vào thơ mới với những bài thơ vô vị :
" Thi vẫn một món trong các thứ văn vần, nhưng đối với các thứ ấy nó lại rắc rối mắc mỏ hơn nhiều. Người đã từng chơi với nó và nếu được ý vị nó ít nhiều, thì lại càng thấy cái khó của nó ; trừ ra những hạng " bướng " hoặc chưa có nhà " đại gia " " căng nọc " ra chỉ vạch những chỗ khuyết điểm cho, thì bao giờ họ cũng vẫn cho là dễ.
" Mà thật thế, có khó chi, cứ đủ vần đủ chữ, đừng thất niêm thất luật, ấy là thi đó chứ gì. Đó là nói về lối thi ngũ ngôn, thất ngôn, chớ còn cái lối thi như hiện thời gọi là " thơ mới " đó, lại càng dễ hơn thập bội nữa. Cứ việc kéo, tha hồ kéo, kéo lượt bượt, mấy vần cũng được, mấy chữ cũng xong, không có khuôn sáo nào, luật nào bó buộc, dễ biết bao nhiêu, không trách gì hạp với thời thượng cũng phải.
" Họ bảo rằng : Cái thời đại này là thời đại máy móc, trăm ban vạn sự gì cũng cần sự mau chóng tiện lợi, đâu có phải như cái đời cũ kỹ trước kia, bất kỳ việc gì cũng chần chờ, chậm chạp, làm phí mất thì giờ, nhà văn cũng thế, ngồi rung đùi tối ngày, tằn mằn tỉ mỉ, đẽo gọt từng câu từng chữ, đối với thời buổi này không dùng lối ấy được đâu ". Nghe có lý lắm ! Nhưng có người cắc cớ hỏi vặn lại một câu :" Thi là một món chơi, để tiêu khiển thì giờ, nó đối với nhân sanh thực tế không quan thiết gì, có cũng được, không không sao, ai bảo đeo đuổi nó làm chi, rồi chê bai nó, ghét ghen nó, mắng nó là lối văn chặt chịa, ở trong quyền sáo niêm luật, không được tự do ? Nếu muốn dễ dãi thì hẳn cứ viết văn xuôi đi, cho người ta dễ hiểu, việc gì phải ngụy tạo ra cái lối văn " cổ chẳng ra cổ, kim chẳng ra kim " ? Thì đây, tôi xin đem ra một bài này để làm đại biểu cho trăm nghìn bài khác :
CẢNH TRỜI XUÂN
" Cảnh trời xuân,
" Em dạo ra sân,
" Đứng trông, em càng khoan khoái tinh thần.
" Kìa kìa, con chim nó hót cái giọng
" Thảnh thót như một vị mỹ nhơn, khảy khúc đờn.
" Khúc đờn này, tiếng nhặt tiếng khoan, tiếng cao tiếng
" Thấp, dường như khêu gợi mối xuân tình của em
" Từ bấy lâu nay dồn dập
" Rồi em nghĩ vơ nghĩ vẩn, tâm hồn em lẩn thẩn.
" Nghĩ cái tuổi xanh này, là cái tuổi thơ ngây
" Một mai xuân này đã qua, thân em già
" Lúc bấy giờ, em tưởng tượng lại,
" Em chi xiết ngậm ngùi, nỗi ngậm ngùi.
" Mây bay, nước chảy, hoa trôi ".
(Xin dấu tên của tác giả)
" Đó, thơ mới đó ! Tác giả chính là tín đồ của thơ mới, thật tôi ráng đọc ; tôi muốn nói thơ, thì thơ chẳng ra thơ, tôi muốn nói ca, thì ca cũng chẳng ra ca. Tôi chỉ hiểu cái bài ấy là bài ấy đó thôi !
" Song, cái bài này đây, nghe ra còn có câu, có nghĩa, chỉ hiềm nó không ở trong một khuôn sáo là " thể " gì cả.
" Tác giả bài này trước kia là tín đồ của thơ luật, có nhiều bài thần tình lắm, chẳng biết bị cái phong trào thơ mới nó lôi cuốn thế nào, nay lại xoay sang làm tín đồ thơ mới ?
" Lại gần đây, có nhiều nhà phỏng theo điệu thơ Tây làm ra nhiều bài, cũng tự cho là thơ mới.
Như bài này :
BÊN GỐC CÂY DỪA
" Ánh nắng trời thu dịu dàng êm mát,
" Bên gốc dừa, cô em ngồi lặng buông câu.
" Trên thảm cỏ xanh, bên sông bát ngát,
" Cô đăm đăm nhìn dưới nhịp cầu.
" Phong cảnh đẹp bóng cây in bóng nước,
" Lá rung rinh, tàn xanh lả lướt.
" Mặt cô em tròn trắng xinh tươi,
" Dưới vành khăn, phơ phất mái tóc mai.
" Mắt lóng lánh, làn môi tươi thắm ;
" Khiến cho tôi nhìn cô em say đắm.
" Nhẹ nhàng tôi bước lại một bên.
" Ngồi gần cô, tôi lẳng lặng ngắm xem,
" Giờ lâu tôi mới tìm lời ướm thử
" Rằng " câu cá vẫn là một cái thú :
" Những người thanh tao ẩn dật xưa nay,
" Chỉ biết thanh nhàn với cỏ cây,
" Sớm vác cần câu bên khóm trúc...
" Buông cần cô em ngảnh nhìn tôi :
" Cặp mắt ngây thơ, cô trả lời :
" Em nào phải thanh nhàn phong phú,
" Mượn cảnh thiên nhiên làm vui thú.
" Nhà nghèo sớm tối em nhọc nhằn,
" Lúc dưới nắng hạ, lúc mưa xuân,
" Lúc gió đông thổi lạnh lùng rét mướt,
" Và sương thu rơi thấm ướt,
" Em vẫn phải làm với ngày tháng cho qua,
" Bên gốc cây, câu để nuôi nấng mẹ già,
"Trong túp lều tranh, sớm mong chiều đợi.
"Hai mắt đã loà, hai chân đã mỏi,

"Chỉ trông vào em, kiếp sống chiều tàn...
"Cần lòng yêu, để che nỗi khóc than...
"Em nào phải thanh nhàn phong phú,
" Mượn cảnh thiên nhiên làm vui thú,
" Sớm câu, chiều câu, lại mai câu.
" Mong có cá nhiều và mong mẹ sống lâu,
" Bữa qua bữa với tấm lòng vui vẻ,
" Của một mẹ già trông mong ở con trẻ.
" Thể thơ đó, bắt vần như thể thơ Tây, nhưng tác giả phun châu nhả ngọc, muốn bao nhiêu tuỳ ý. Có bài gấp đôi, lại cũng có bài ngắn bằng nửa.
" Mà rồi ta thử  lẳng lặng ngâm coi, coi cái giọng ngâm nó ra sao ? Ngâm như ngâm thi thì ngâm thế nào được, hay là phải ca như ca Văn Thiên Tường ? Hoặc phải bắt giọng như giọng ca Tiều của cô Phùng Há ?
" Xét cho kỹ, chẳng qua tác giả chán nản cái công phu đặt thi luật, nó chỉ có bốn câu tám câu năm vần, ba vần mà phải cho đủ ý, đủ lời, không thất niêm, không phản luật, không lạc vần, thấy khó chơi, rồi thì băng qua một con đường khác đặng cho dễ dãi, nhưng không ngờ lại đâm ra cái bãi đại sa mạc minh mông !
" Muốn cho dễ dãi một ít, khỏi mất công phu đẽo gọt, thì tôi xin hiến cho một kế là hẵng làm theo lối thơ Đường, mà thể Đường cổ phong. Thì như bài này :
THƠ VUA SIAM MỚI GỬI CHO VUA CŨ
" Năm xưa chú bảo chú đau mắt ;
" Bà con ai cũng cho là thật ;
" Cả nước chờ chú về làm vua ;
" Ai ngờ tin chú ngày một mất
" Bây giờ thơ chú gửi về nhà,
" Rằng chú ở lại nước người ta,
" Ngôi vua chú không muốn ngó đến,
" Thịnh suy mặc kệ nghiệp ông cha.
" Không lẽ nước có, vua không có,
" Đình thần mới chọn cháu lên đó,
" Cháu đã nghĩ tới rồi nghĩ lui,
" Cháu biết làm vua là chuyện khó
" Vì rằng trong nước đảng phái nhiều,
" Quân chủ, dân chủ biết bao nhiêu,
" Rầy nhất là chính sách lập hiến,
" Quyền vua chỉ còn có một thiu.
Cũng vì mẹ cháu bàn giải mãi,
" Cháu không làm vua cháu cũng dại,
" Dầu chỉ có vị không có quyền,
" Nhưng mình ăn tiêu còn rộng rãi.
" Huống chi kinh tế buổi khó khăn,
" Tay làm không đủ cho miệng ăn,
" Ai chê ai cười chi cũng mặc,
" Làm vua còn sướng hơn làm dân.
ĐƯỜNG QUANG
(Trích ở báo Ánh Sáng)
" Đó cũng là lối thơ dễ dãi, mà nghe hay, lại có lý thú nữa. Nếu muốn văn hoa thêm thì phỏng như bài này :
HOA THẬT HOA GIẢ
(Lời cô hàng hoa)
" Cô em hàng xóm sinh nhà nghèo,
" Trồng hoa tưới hoa sớm lại chiều,
" Gió đông vừa thổi hoa vừa nở,
" Cắt bó vội vàng đem bán chợ,
" Chợ chiều lác đác người hồ quang,
" Gánh hoa còn nặng cô bàng hoàng.
" Nào đâu quà em, nào cháo mẹ,
" Mẹ yếu em thơ lòng những thương !
" Đổ hoa xuống rãnh bưng mặt khóc,
" Khóc ra giọt lệ như giọt ngọc.
" Cúi đầu gạt lệ sợ người cười,
" Nhìn hoa dưới rãnh mắt khôn rời.
" Thương hoa thương cả công vun xới,
" Sương nắng công trình biết mấy mươi !
" Ô hay ! người đời riêng tính lạ !
" Hoa thật chẳng thích, thích hoa giả,
" Hoa thật hỏi mua nào mấy người ?
" Hoa giả đắt hàng như tôm tươi,
" Cô em ngẫm nghĩ bụng sực nhớ,
" Vì nghèo nên phải liệu chiều đời,
" Mua lụa mua phẩm, mua giây sắt,
" Nhuộm đủ các màu đem kéo cắt,
" Nào cành, nào cánh, nào đài trang,
" Khéo làm chẳng khác chi hoa thật.
" Làm xong hoa giả bán nhiều tiền,
" Lãi lời tấn tới ngày một lên.
" Mẹ khỏe, em học, chị buôn bán,
" Tay không bỗng chốc dư bạc nghìn !
" Có khi thong thả thăm vườn cũ,
" Mắt trông trăm hoa chiều ủ rũ,
" Tàn tàn, nở nở biết bao lần,
" Mưa mưa, gió gió ai là chủ ?
" Tần ngần ngắm nghía cô thương tâm !
" Chứa chan dòng lệ khôn ngăn cầm !
" Thương hoa, thương cả nghề buôn bán,
" Lai láng tình riêng năm lại năm.
NHƯỢNG TỐNG
"Gần đây lại nổi cái phong trào thi bình dân. Thấy có nhiều tờ báo đăng những bài thi, trong đó tác giả dùng nhiều tiếng rất tục tĩu khó nghe quá. Như là : ỉa phẹt phẹt, ăn ngủ đ..., bày mổng trôn...Bảo rằng đó là thơ bình dân. Lại còn ngụy biện bảo là lối tả chân. Gớm thật !
" Đâu có hiểu rằng, thơ bình dân nghĩa là thơ có tính chất bình dân, không cái " mốt " thưởng nguyệt xem hoa, đề non vịnh nước, tiêu sầu khiển hứng như những trang tài tử phong lưu, không mơ mộng lên cung quế, gặp Hằng Nga, uống rượu đào, nghe khúc sinh ca, như phái thi ông lãng mạn. Chỉ cốt lời văn mộc mạc, tả ra cái phong vị của hạng bình dân mà thôi.
" Muốn tập làm thi bình dân thì hẵng bắt chước như bài dưới này :
ĐI LÀM THUÊ
" Miền tôi ở lở dở,
" Đã cách với nguồn lại xa chợ.
" Muốn buôn, không có đồng vốn nào,
" Muốn cày ruộng, không có một sở ;
" Học mới học cũ cũng dỡ dang,
" Không phải thầy, cũng không phải thợ.
" Trong tay không có nghề,
" Thêm nạn khủng hoảng gớm ghê !
" Ma đói dục thúc mãi
" Buộc mình bước chưn đi làm thuê
" Nghe nói miệt trong đường xe lửa,
" Các ông đứng thầu làm nhiều sở.
" Lật đật mang gói đi ngay vào,
" Cùng bạn cô li làm dọi bữa.
" Đào đất đập đá,
" Công việc vất vả.
" Mong rằng mồ hôi đổi bát cơm.
" Đồng công đồng nợ có tiền trả,
" Nào hay vài tháng nay,
" Làm rồi tiêu rồi, không có đồng nào còn dính tay.
" Chỉ lưa cái mình mộc,
" Đi về lỡ cười lại lỡ khóc !
Người Làm Thuê
(Trích ở báo Tiếng Dân)
" Đó, xem có chữ nào quê kịch, sống sượng, tục tỉu không ?
" Luôn dịp nói chuyện thơ, tôi xin nói đến thơ Đông Hồ :
" Đông Hồ tiên sinh, một nhà thi sĩ đã viết ra nhiều tập, in ra nhiều cuốn, hình như tác giả có cái sở thích về thơ.
" Tôi để ý xem thì đoán được ngay nhà thi sĩ này có mấy cái đặc tính :
" Mấy năm trước, nhà thi sĩ vẫn là tín đồ của phái thi niêm luật, khoảng trung gian lại ít chuyên về lối ấy, thường dùng " Thơ tản văn ".
" Tôi không hiểu lối này là lối gì. Xin trích ra một hai bài dưới đây :
BÓNG TRĂNG TÀN
" Bàng hoàng tỉnh giấc, mảnh trăng khuya chấp chới giải bên màn, ngửa mặt nhìn trăng, lầu sầu quấn quít. Cùng ai dưới bóng trăng này : Gió hắt, sương bay, đêm thu lạnh. Cảnh xưa tình cũ nào đâu : tay ngọc ai cầm, lòng son ai tựa, tóc mây ai buông toả bên vai.
" Vói bóng bắt trăng, bức màn rung động, nào phải đâu tay ngọc ai đưa, để âu yếm mối ân tình trên đầu năm ngón...gối nghiêng trằn trọc suốt canh dài ! "
CÀNH HOA HỒNG
" Bình pha lê lóng lánh, cắm cành hoa hồng, tay ai vừa cắt trước sân nhà, buổi tan sương sớm. Đôi má hây hây, kề tựa đóa hoa mơn mởn, vẻ đẹp như lấn, khiến cho bông hoa hồng thèn thẹn nụ cười. Một ngày qua trở lại, cánh hồng bay tơi tả khắp bàn...
"Một năm qua trở lại, đôi má hây hây đâu đã vắng, cánh hoa hồng năm trước đã héo khô rồi. Đôi má hây hây, nay có lẽ, đang kề tựa đóa hoa mơn mởn nào đâu, nhưng vẻ đẹp biết có như lấn, mà khiến cho bông hoa hồng thèn thẹn nụ cười nữa không? "
"Còn nhiều nữa, vô khối! Tôi chỉ trích ra hai bài đó cũng như các bài khác.
"Tản văn là tản văn, mà thơ là thơ, đâu có thơ với tản văn chung với nhau làm một được ? Nếu bảo thơ thì tất nhiên phải có vần nghe mới được chớ, dầu cổ, dầu kim, dầu Đông, dầu Tây, chưa tầng thấy lối thơ nào mà thơ không vần, xin hỏi Đông Hồ tiên sanh ?
"Gần đây, nhà thi sĩ lại cũng chịu ảnh hưởng "thơ mới" ít thấy làm tứ tuyệt, bát cú như trước nữa, hoặc giả bị cái trào lưu thời thượng nó lôi cuốn rồi chăng? Nhưng xem thơ mới của tác giả thì có phần kém hơn thơ luật nhiều. Tôi chưa nói chỗ hay chỗ dở, ý thì ít mà lời thì nhiều, đại khái như bài thơ này:
TRƯỚC GIÓ
(Tặng Thanh Lan)
"Chập tối hôm qua, ta gặp một người trong mộng.
"Người có cái đẹp dịu dàng, xinh tươi lồng lộng.
"Là cái đẹp mặn mà, đằm thắm của người con gái đến thì,
"Cái đẹp dễ khiến cho người nhìn đắm đuối say mê.
"Nàng đứng chỗ ào ào cơn gió rét,
"Hơi gió lạnh như thấm vào trong xương thịt,
"Chiếc áo lụa phong phanh màu tuyết trắng bong, giải khăn san phơn phớt màu hồng bay lả lướt, phất phơ theo chiều gió lốc, như một áng mây tàn lờn vờn trên cành cây ngọc.

"Ta, bấy giờ, thấy người giá buốt, mà trông nàng thì như chẳng chút lạnh lùng. Âu yếm, ta sẻ hỏi: Em ơi! Lạnh nhỉ? Mỉm cười, đáp lại lời ta: Anh ơi! Tuổi trẻ! tuổi trẻ là tuổi êm đềm, đầm ấm, nồng nàn, thì chi có sợ nỗi lạnh lùng của sương gió, của thời gian.
"Mặc gió thổi, sương gieo, thời gian lãnh đạm, ánh than hồng của lòng ta vẫn ấm và vui với văn chương, trăng gió, cỏ hoa,với non sông, ánh sáng và nhất là với tình ái của đôi ta?
ĐÔNG HỒ
Tôi xin mạn phép tác giả, cũng trong bài ấy, bấy nhiêu chữ, tôi xin rút lại tám câu như thế này:
Gặp người trong mộng tối hôm qua,
Trạt tuổi xuân xanh nét mặn mà.
Chiếc áo phong phanh màu tuyết nhuộm,
Giải khăn phơn phớt áng mây qua.
Lạnh lùng chẳng quản cơn sương gió,
Đầm ấm như say thú cỏ hoa.
Âu yếm, ta vừa lên tiếng hỏi,
Mỉm cười, liền tỏ tấm tình ra.
"Như vậy cũng đủ ý, đủ nghĩa, mà chẳng gọn hơn sao?
"Tôi đã đọc qua các tập thơ Đông Hồ, tôi có để ý đoán xét được tác phẩm của nhà thi sĩ này hầu hết chín phần mười là thư tình, mà là tình mơ mộng cả, thành ra hão và phù phiếm quá, ít có bài nào vịnh vật hoặc kỷ sự như mấy nhà thi nhơn khác. Thử lật một tập "Thơ Đông Hồ" ra xem, thì nhan nhản những bài: Chơi hoa, Khóc hoa, Nhớ Mai, Trông trăng nhớ người, Dưới hoa, Buồn nhớ người xưa, Buồn vơ buồn vẩn, Gặp nhau, Trách nhau...chan chứa cả giọng bi sầu ảo não.
"Rồi xem đến cuốn "Cô gái xuân" cũng thấy rặt những bài:
"Ngấn lệ, Quả tim, Cái hôn lần đầu, Giấc mộng tình, Đưa nhau, Hôn em, Dưới cây, Hỏi nhỏ, Gió buồng xuân...cũng là lai láng cả tình là tình!
"Thì ra cái tâm hồn nhà thi sĩ này thường vơ vẩn ở cõi " Cánh hoa thuỷ nguyệt " cùng là tiêu dao nơi hận hải tình thiên " trừ ra không mấy khi thấy lối văn nào khác nữa. Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu cũng bị mấy cái tật ấy mà Phạm Quỳnh tiên sanh tặng cho cái tiếng " văn chơi " " Ngông " chỉ nghĩa là không thiết thực.
" Vậy xin thi sĩ Đông Hồ cũng nên bớt bớt cái lối văn tình đi, xin luôn đừng chơi thơ mới nữa, hãy khôi phục lại lối thơ như các bài mấy năm trước đã từng làm, mong sau này sẽ trở nên một thi gia thằng mặc "
Sau khi chửi bới thơ mới và khuyên Đông Hồ nên bỏ thơ mới trở về với thơ cũ, Tùng Lâm Lê Cương Phụng còn lên tiếng cực tán thơ Đường mà ông cho là hơn hết mọi thứ thơ vì năm lý do sau đây (xem bài Những cái đặc sắc của Đường thi, V.H.T.S. số 9 tháng 9 năm 1935).
1) Là nấc tiến cuối cùng, tột đỉnh của thi ca Tàu.
2) Là vì nó là thể thơ được xã hội cực văn minh Trung Hoa trau dồi tô điểm trong mấy trăm năm.
3) Là vì nó là một kho tàng văn chương vô cùng phong phú, đủ màu, đủ sắc.
4) Là vì nó là thể thơ thuần nghệ thuật chứ không phải là thể thơ đạo đức.
5) Là vì lắm khi nó còn bao hàm ý nghĩa bình dân, phô thông.
" Đều là thi, trước đời Đường thì Hán, Tấn, Nguỵ cũng có thi, sau đời Đường thì Tống, Nguyên, Minh, Thanh cũng có thi. Thế sao lại Đường thi vẫn có giá trị hơn ? Các nhà thi sĩ phê bình nhau cũng lấy thi Đường làm căn cứ, các nhà nho học, cũng lấy thi Đuờng làm thi pháp nhập môn. Cho đến mấy câu sáo ngữ ở Tàu thường nói " Đường thi, Tống Tự, Hán văn chương " " Đường nhân phong vị " v.v... Thì biết thi Đường có giá trị hơn các thi khác. Nhưng, ta nên biết cái đặc sắc của nó ở chỗ nào ?
" Có người nói : Lục triều vẫn có thi, nhưng thi ấy phần nhiều phức tạp, Tống, Nguyên, Minh vẫn có thi, nhưng thi ấy không được phong tao, không bằng Đường thi gồm đủ các thể tài. Nói thế, vẫn có lẽ, song chỉ lấy một phương diện chớ sự thật thì còn nhiều chứng tá. Muốn biết cái đặc sắc của Đường thi, nên xem lời phê phán của ông Hồ Vân Đực thì mới biết rõ là xác đáng hơn.
" Ông Hồ là một thi sĩ có tiếng ở đời nhà Thanh, người có công nghiên cứu về thi học, có viết ra cuốn nghiên về Đường thi, trong có nhiều đoạn bài bác các nhà thi sĩ xưa nay nhiều chỗ ngộ giải ; nay tôi chỉ xin lược trích ra một chương nói về chỗ đặc sắc của Đường thi, hiến cho các thi nhân được biết một ít Đường nhân phong vị.
" Đường thi sở dĩ hơn các thi khác, có bốn cái đặc sắc :
" Một là do thể thi của Tấn, Nguỵ mà biến thành mới, có niêm luật, có cổ, cận thể, có trường đoản thiên. Tức như các bài đã tuyển trong bộ Đường thi tam bách thư.
" Hai là đời Thạch Đường từ vua Cao Tôn về sau, hơn ba trăm năm triều đình chỉ chăm một mặt dùng thi phú từ chương làm nấc thang cho sĩ phu trong nước. Đại để như ông Lý Thái Bạch làm ra bài " Thanh bình Điệu " thì được vua Huyền tôn yêu quí lạ thường, ông Bạch Cư Dị làm bài Trường Hận Ca thì vua Hiến Tôn vời làm chức Hàn lâm học sĩ, vua Mục Tôn thấy tập thi ca của Nguyên Thận thì vời làm chức xá nhân, cho đến các cung phi, hoàng hậu như Võ Hậu, Vi Hậu, Mai Phi, Dương Phi đều là các bà thích ngâm vịnh cả. Người bề trên đã ham chuộng, tự nhiên kẻ bề dưới phải lấy đó làm con đường tiến thân, thành ra một phong khí tập quán.
"Ba là ảnh hưởng của thời cuộc; vì đời Đường từ khai nguyên Thiên hửu sắp về sau, trong nước thường gặp nhiều cảnh éo le, những cảnh ấy dễ làm đề tài cho thi nhơn đề vịnh, đại khái như việc An Lộc Sơn đời Minh Hoàng, việc Sử Tư Minh đời Túc Tôn, việc Trần Hoàng Chí đời Hiến Tôn, việc Chu Toan Trung đời Chiêu Tôn, thảy thảy những đại biến trong nước, nhà làm thi hay dùng sử liệu vào thi ca, mở xem một bộ Đường thi bao nhiêu bài đáng ca tụng, đều là những bài thời thế, như Điếu chiến trường, Yên ca, Tùng quân, Khuê oán, Cung Trung từ ...Có nhiều cảnh nên thơ, thơ mới nảy ra nhiều tình tứ, mới thấy chỗ đặc sắc.
" Còn một lẽ nữa, đời nhà Đường lấy thi làm tác phẩm văn chương, chứ không như Hán, Nguỵ và Tống chỉ lấy thi làm tác phẩm đạo đức, vì người đời ấy cho rằng đã là thi mà ngụ cái giọng đạo đức thì lời văn không được thôi xao, thành ra không lưu truyền được rộng, xem như thi của Châu Mậu Thúc, Thiệu Nghiên Phu ở Tánh Lý thì đủ biết.
" Vả lại, Đường thi thì có cái đặc sắc là phần nhiều chứa chất nhiều qua niệm văn học bình dân. Đại khái như thi của Nguyên Thận, Vương Xương Linh, Bạch Cư Dị, Cao Thích, Vương Duy... Phần nhiều thi của các ông ấy lời văn giản dị mà thâm, ý tứ dồi dào càng dễ cảm, thành ra một lối thi phổ thông trong đám bình dân. Lục trong thi Đường có nhiều bài miêu tả cảnh thống khổ của xã hội, như là trọng phú (thuế nặng), Phụ nhơn khổ (cái khổ của người đàn bà), Mãi thán ông (ông bán than) Chiết tí ông (ông gãy tay)...Nay tôi xin trích mấy câu trong bài Ông bán than dịch ra đây, để cho các bạn đọc biết rằng lối thi bình dân đã xuất hiện từ đời Đường :
" Mãi thán ông, phạt tân thiêu thán nam san trung, mãn diện trần khôi yên hoả sắc, lưỡng mấn thương thương thạp chỉ hắc, mãi thán đắc tiên hà sở dinh, thân thượng y phục khẩu trung thực, khả liên thân thượng y chánh đan, tâm ưu thán tiện nguyện thiên hàn "...
" Ông bán than, đốn củi đốt than núi Nam san, mặt mày khói khém lem lọ bôi, mái tóc xanh kịt, tay đen thùi, bán than kiếm tiền lo mưu sanh, lo ăn trong miệng, mặc trong mình, thương hại mình ông áo mỏng lét, ông lo than ế, cầu trời rét... ". Lối thi đó đủ chứng là một lối thi bình dân ".
Thế rồi, để kết luận bài " Những cái đặc sắc của Đường thi ", Tùng Lâm kết luận bằng việc hô hào các ông làm thơ mới hãy thôi lập dị :
" Hỡi các nhà thơ mới của ta ! Đừng tưởng rằng Đường thi là thi cổ hãy chịu khó tìm kiếm trong thi Đường mà xem thử coi, không có lối nào mà thi Đường không có, cái đặc sắc của nó là gồm đủ các phương diện, các thể tài, cảnh có, tình có, tả chân có, quí phái có, cần gì phải bịa ra thơ mới làm chi, làm cho nhiều bạn trẻ em học cách háo kỳ, tập làm theo, đã bất thành cú, mà rồi một ngày kia không còn ai biết Đường thi là gì, chẳng là uổng cho văn nghệ ba trăm năm của một đời toàn thạnh lắm sao ? "

Thiết Diện tỏ ác cảm đối với thơ mới 
Cùng một quan điểm như Tùng Lâm, Thiết Diện bày tỏ thái độ ác cảm của ông đối với thơ mới ở bài :" Quan niệm của tôi đối với thơ mới " (V.H.T.S. số 8, tháng 8 năm 1935). Trong bài này Thiết Diện cực lực chê trách thơ mới, coi nó chỉ là thứ đồ rác rưởi, trò múa máy quay cuồng của bọn người ngu dốt, nào có khác gì bọn du đãng mặc áo rằn ri, bọn lẳng lơ đi giầy cao gót. Theo ông đã gọi là thơ mới thì phải mới như thơ của Hồ Thích bên Tàu, chứ đàng này thơ mới Việt Nam, chỉ mới có mỗi một cái là bỏ niêm luật, còn tất cả đều cũ, đều xưa. Cái cũ và xưa ấy là cách dùng chữ, cách chọn đề tài, nhất là cái tinh thần từ chương, bạc nhược, thua trận, thiếu hẳn tinh thần bình dân, xa cái đại chúng vô sản lam lũ.
" Trong vũ trụ này, không có gì là không thay đổi ! Trái đất này vẫn xoay, thì tư tưởng người ta vẫn tiến ! Chúng tôi có lý nào không biết đến lẽ tuần tự tiến hoá mà lại đi nhận rằng thi phải ở trong khuôn mẫu chật hẹp của luật Đường và chỉ có thi nào ở trong khuôn mẫu ấy mới gọi là thi.
" Nhưng muốn làm một nhà thi chân chánh trong phái mới, thì ít ra cũng phải biết thi là gì đã, và cũng phải biết qua những luật Đường, làm được một bài thi cổ, dầu không hay cũng phải đúng với thi pháp. Như thế, nghĩa là tôi muốn nói nhà thi sĩ, phải có một cái khiếu về thi, phải có một cái học chắc chắn, chớ chẳng phải cóp nhặt năm bảy câu vô ý thức làm thành một bài vô nghĩa lý mà đã lên mặt thi hào đâu !
" Một ông bạn già của tôi thường hay nói :" Thời hư quỉ lộng, bọn ranh con thường hay cho mình hủ lậu, nhưng cái mới của chúng chỉ mới ở hình thức, mà mới một cách lố lăng theo cái kiểu áo rằn ri không khỏi đầu gối, và đôi giầy cao gót cao gần một tấc tây :
" Tôi hiểu ông bạn ấy lắm. Theo ông bạn, thì dầu mới dầu cũ, cũng đều có khuôn phép cả, nếu không thì 20 triệu người ý muốn của mỗi người!
"Chắc ai cũng biết bác sĩ Hồ Thích là người đề xướng ra thơ mới ở Tàu, trong cuốn "Thường thi tập" tiên sanh có đặt tám luật cho thơ mới, gọi là luật "Bát Bất":
1)- Không dùng điển tích,
2)- Không dùng chữ sáo,
3)- Không buộc đối vế
4)- Có thể dùng chữ tục,
5)- Phải biết văn pháp,
6)- Bỏ lối không đau mà rên,
7)- Không buộc theo người xưa,
8)- Phải nói có sự thật.
" Thơ mới của ta đã có luật gì chưa, hay là mạnh ai nấy đặt luật ?
" Ông bạn già yêu quí của tôi lại một phen chíp miệng thở dài :
" Than ôi ! Mấy ông làm " thơ mới " ở nước ta miệng còn hôi sửa thì đâu phải là Hồ Thích ở nước Tàu ! "
" Thơ phải kể cái hồn của nó đã rồi sẽ kể đến cái hình thức. Cái hồn chưa thoát khỏi sáo cũ, cũng còn nghe " Tiếng sáo Thiên Thai ", " Tiếng trúc tuyệt vời ", " Tiếng nhạn kêu sương " v.v...thì đổi cái hình thức phỏng có ích gì ? Đó cũng chẳng khác chi bắt một bà già mặc áo rằn ri, đi giầy cao gót. Độc giả thử tưởng tượng trong trí, coi có được không ?
" Tiếng nhạn ở đâu, kêu sương hồi nào ? và sao gọi là Tiếng sáo Thiên Thai ?
" Thế là ở trong những bài thi cũ, người ta còn dung thứ ; chớ đã tự xưng là " thơ mới " mà còn sáo hư như vậy, thì đâu phải là những " chiến sĩ chắc chắn " để đỡ gạt những mũi tên của những người đại biểu cho thơ cổ có cái tên như " Nguyễn Khắc Hiếu ", " Trần Tuấn Khải "... ?
" Tôi vẫn biết rằng văn chương thi phú chỉ là cái phản ảnh vật chất, trên chỗ vật chất đã có điều cải cách thì trên chỗ văn chương làm sao cũng không khỏi có điều biến dịch. Nhưng một nhà thi chân chánh, ngoài việc biểu lộ tư ý ra, còn phải làm một người hướng đạo cho quần chúng nữa.
" Nhà thi phải nhắm đến quyền lợi của quần chúng trước nhứt, chứ chẳng phải chỉ biết có mình mà không biết có ai. Vậy thì thi ca không phải chỉ dùng để biểu diễn cái tâm hồn của cá nhân mà đủ ; cái quan niệm của phái thi sĩ lối mới như thế nào ?
" Nếu có dịp " giải phẫu " những tác phẩm của họ ra, thì cũng chỉ thấy đầy cả sự yêu đương mơ mộng, vì họ chỉ biết phát biểu tâm hồn đau khổ của một giai cấp " thua trận ", không nữa thì họ cũng chỉ biết sùng bái một vài cử chỉ anh hùng, sự sùng bái ấy chỉ là cái óc nô lệ của thời đại phong kiến còn sót lại mà thôi.
" Thiệt nhắm ra chẳng bổ ích gì cho hạng bình dân nghèo khổ, vì đối với cái quan niệm trên ấy thì hạng người sau này vẫn không ham muốn thứ ái tình mơ mộng viễn vong của một số người phong lưu đài các và cũng không có tư tưởng giống với tư tưởng sùng bái anh hùng, yêu nhà yêu nước của số ít người kia, đời bây giờ biết bao nhiêu đứng vô danh anh hùng đã phơi thây giữa đám bình nguyên để mua cái tiếng anh hùng cho một mình Mussolini, Hitler, hay Tưởng Giới Thạch.
" Đời bây giờ, không có tư bản thì không có nhà, và anh lao động ở đâu sống đươc thì ở đó là quê hương, vậy thuyết yêu nước yêu nhà có còn đứng vững không ?
" Cái quan niệm của mấy ông " thi sĩ mới " đối với cuộc thiệt tế sanh hoạt tôi chẳng thấy có chút gì là mới cả, mới chăng là mới với các ông ở giai cấp tiểu tư sản chớ chẳng mới gì với giai cấp bình dân.
" Xét về phương diện vật chất, thì những bài thơ mới của một vài ông bạn thiếu niên thi sĩ mà ông Nguyễn Triệu Luật ngoài Bắc đã gọi là " một tụi văn sĩ non hứng lấy mà vung vẫy những áng văn xuôi không vần ", xem ra chưa có những niêm luật gì nhất định. Thế nghĩa là thơ mới có kỷ cương đáng ở riêng vào một học phái. Đọc phần nhiều những bài thơ mới bây giờ, người ta đều có cái cảm tưởng rằng nhà thi sĩ bỏ cái khó tìm cái dễ để mạnh ai nấy viết, mạnh ai nấy ngâm. Đó là chưa nói đến sự dùng chữ sai (như nàng Ly Tao là nghĩa lý gì !).
" Xét về phương diện tinh thần, thì những bài thơ mới ngày nay đó chỉ là cái tiếng nói của giai cấp tiểu tư sản, là một giai cấp bại trận không có sức phấn đấu hẳn hòi như cấp bình dân. Chính giai cấp sau này mới là nguyên động lực tiến hoá của xã hội.
" Mấy ông bạn trong làng " thi mới " nếu có cho tôi hủ tôi xin chịu, nhưng tôi không sợ mất lòng mấy ông mà dám nói lớn với anh em bình dân rằng :
" Cái phái thi mới ấy vừa xác, vừa hồn không có ích gì cho anh em, chị em chúng ta cả ! Hãy tẩy chay đi ! "
" Không tẩy chay cái tinh thần bạc nhược của giai cấp thua trận thì anh chị em ta sẽ gặp lắm điều trở ngại trên con đường tiến thủ của chúng ta.
" Chừng nào thi mới của các ông có một khuôn khổ " mới " nhứt định, và thứ nhứt, chừng nào thi mới có một tinh thần bình dân đặc biệt, không có cái lối ru ngủ, cái lối mơ mộng hão huyền và biết ca tụng sự phấn đấu của chúng tôi thì chừng ấy chúng tôi sẽ hoan nghinh ngay.
" Rồi đây chúng tôi sẽ lần lượt đem những bài thi mới mà một số người làm thi mới đã ca tụng để bình phẩm, chúng tôi sẽ chỉ cho tác giả các bài thi kia thấy rằng tinh thần và thể chất mình là cũ.
"Xin ai kia đừng trách rằng chúng tôi cay nghiệt với phái thi mới, mà biết cho chúng tôi chỉ muốn làm một người bạn "ngang bằng sổ thẳng" mà thôi.
"Chúng tôi không chê thi cổ là sáo, bởi vì mấy ông đã chê nó là sáo rồi ".

Hoàng Tân Dân chê thơ mới phản động
Mang nặng óc đảng phái, có khuynh hướng thiên tả, Hoàng Tân Dân, không công kích thơ mới vì thơ mới bỏ phép tắc cũ, mà chê thơ mới có thái độ phản động, phản cách mạng ở chỗ chỉ phục vụ cho tư bản, không đau mà rên, cho nên lúc nào cũng xướt mướt (V.H.T.S. số 9, tháng 9 năm 1935).

Đẩu Tiếp chê thơ mới
Sau cùng, Đẩu Tiếp, vào tháng 11 năm 1936 (V.H.T.S. số 26), lại lên tiếng " Nói chuyện về thi ". Trong bài này, Đẩu Tiếp kết án Phan Khôi rất nặng nề. Theo ông, chính vì ganh ghét Tản Đà hơn mình về thi mà Phan Khôi phải lập ra thơ mới để được thiên hạ biết đến tên tuổi mình. Và bọn thanh niên ngu dốt không làm nổi trò trống gì đã ùa chạy theo Phan Khôi. Thành thử bên thơ cũ gồm bao nhiêu thiên tài thì bên thơ mới gồm bấy nhiêu tụi nhãi con, ngu dốt, bất tài. Giới thuyết như vậy rồi, Đẩu Tiếp đưa ra các điểm mà người ta chê thơ cũ để lại bênh vực thơ cũ, từng điểm một, như việc dùng điển, dùng sáo ngữ, lặp lại tư tưởng của tiền nhân.
" Từ ngày ngọn cờ ba sắc đã dựng nên giữa cõi trời Nam, muốn hiểu biết ngôn ngữ của người Pháp để tiện ra hợp tác với họ, hòng giành lại trong muôn một, một ít quyền lợi của ông cha để lại, quốc dân ta đều đua nhau xu hướng về đường văn học. Chữ Hán, một thứ chữ trước kia người mình vì dùng quen đã lâu đời, đã hầu thành ra một thứ tiếng mẹ đẻ, từ đó theo cớ chuyển vận đã hầu lọt ra ngoài vòng đào thải. Nhân tài nước ta bây giờ tây học càng rộng, thì Hán học càng hẹp ; Hán học đã hẹp thì quốc văn phải kém, vì chữ hán mà có người đã gọi là chữ Hán Việt, nghĩa là chung của Tàu và Ta, vắng nó thì chữ An nam nói ra hầu không thành tiếng nữa.
" Tuy vậy mỗi khi đọc đến những tác phẩm bằng tiếng mẹ đẻ của các cụ Nguyễn Tiên Điền, Nguyễn Công Trứ, tâm hồn ta tự thấy rung động rồi đem lòng khao khát, thèm thuồng, nhưng cố làm cho được một bài thơ như người xưa thì ngồi bóp trán mãi cũng chẳng thấy ra được chữ gì, hoặc được thì lổ đổ vài chữ kết lại cũng chẳng thành câu ! Thẹn thuồng và tức giận, bọn thanh niên ta đổ ra ghen với cổ nhân hầm hầm, toan đạp đổ những xiềng xích trong lối thơ Đường.
" Đương lúc ấy, thì Phan Khôi và Nguyễn Khắc Hiếu hai ngài không biết tại sao lại có điều xích mích nhau, rồi nổi giận cãi nhau, mắng nhau, rồi ghét bỏ nhau !
" Tự nghĩ Nguyễn Khắc Hiếu là kẻ thù của mình, mà trên đàn thơ lúc nào mình cũng nhường hắn đứng trước, Phan Khôi bèn muốn rẽ ra một con đường khác, bụng bảo dạ rằng dẫu hắn có đi trên con đường ấy, thì ta cũng được đi trên con đường này, cũng như một bên làm tướng nước Nhựt, một bên làm tướng nước Xiêm, nghe nói hai bên làm tướng cả thì người đời cho là hai bên nghịch nhau, nào ai biết tài bên nào cao, trí bên nào thấp mà phân biệt trên dưới. Nghĩ thế rồi Chương Dân tiên sinh vung văng vác bút chạy ra một con đường mới " Đả đảo Đường luật, làm thơ theo lối mới ". Bọn thanh niên nói trên nghe được câu nói của Chương Dân tiên sanh liền hăm hở bắt hơi nối gót theo tiên sanh. Phái thơ Đường diễu cợt họ càng cay thì họ lại châm chích phái thơ Đường càng độc. Phái thơ Đường gồm những bậc lão thành hay thanh niên kiêm thông cả tân học cựu học, hay riêng giỏi về một món học thì cho họ là " một tụi văn sĩ non hứng lấy mà vùng vẫy một thứ văn không xuôi không vần ". Hoặc có người độc hơn thì lại thuật bài thơ cổ người ta vịnh con cóc để cười những kẻ làm thơ không ra thơ.
" Con cóc trong hang, con cóc nhảy ra,
Con cóc nhảy ra, con cóc ngồi đó,
Con cóc ngồi đó, con cóc nhảy đi !
" Rồi kêu bọn " thơ mới " mà cười rằng tôi tưởng thơ mới của các anh ra thế nào té ra cũng như thơ con cóc mà có người đã làm hơn trăm năm trước. Lời công kích có thú vị và cay độc quá. Tôi xin giả làm một nhà thơ mới đáp lại.
" Người làm bài thơ con cóc, là vì ngó thấy con cóc như vậy mới làm thơ, người không biết cóc thì biết gì mà bình phẩm thơ cóc ! Không, những nhà thơ mới gồm có những kẻ mới học tòm tèm được 3 chữ Pháp, không hề hiểu một giọt (ne comprendre goutte) về hán văn họ không thèm đáp lại một cách vu vơ như vậy đâu. Trái lại câu trả lời của họ có nhiều khi nghe ra cũng có phần xác thực lắm.
"Họ nói: các ông chỉ là những bọn nô lệ chịu trói buộc trong những luật pháp nghiêm khắc của thơ Đường.
"Nhưng họ quên rằng chính nhờ ở chỗ pháp luật nghiêm khắc đó mà thơ Đường rất dễ nhớ. Vì trong bài thơ đã hẹn trước rằng "chữ nào trắc chữ nào bằng", nên khi ta đọc mà thấy sai thì tự nghĩ liền và đổi lại, tuy vậy ta cũng đừng nệ theo Đường luật lắm, chịu thất luật một đôi chỗ mà câu thơ thấy già hẳn lên ta cũng thấy vui lòng, nhưng chỉ khi nào bất đắc dĩ không dùng chữ ấy mà dùng chữ khác thay vào không thú bằng thì ta mới chịu dùng chữ ấy và cam tiếng thất luật vậy. Phái thơ mới lại chê : thơ Đường của các ông chỉ biết khóc trăng khóc gió. Thơ Đường luật cũng có nhiều bài khẳng khái lắm chứ. Các ngài hãy đọc thử lại những thơ văn cổ ngày nay quốc dân hãy còn truyền tụng mà xem. Người xưa dầu có nhiều khi họ than khóc thì trong tiếng than tiếng khóc của họ cũng nghe rất là giọng trượng phu. Tả một cảnh đang rơi châu đau ruột, như trong Chinh phụ ngâm, họ chỉ biết dùng ngòi bút vẽ ra một bức tranh khiến ta trông vào mà tự đau ruột rơi châu, chứ trong bài nào họ có hề dùng tới một chữ rơi châu đau ruột ? Các ngài không nhận rằng sầu là một cái bệnh chung của con nhà văn nhà thơ mà nở công kích kẻ đa sầu đa cảm ? Ấy thế mà các ngài chỉ biết làm những lối thơ phóng đãng là gì ? Các ngài thường " ôi " ! Thấy hoa bay các ngài cũng "ôi" ! Thấy lá rụng các ngài cũng ôi" ! Thậm chí có ngài viết " tôi đau đớn, ôi huyền diệu " ! Các ngài lại nói thơ Đường luật hay dùng những điển tích mơ hồ, như có người làm bài thơ " Vịnh Trương Lương " :
Mình dịu dàng như gái,
Bao trời một lá gan !
Bốn trăm năm nghiệp Hán,
Ba tấc uốn trong màn.
Vẫn biết ba tấc đây là ba tấc lưỡi, nhưng ba tấc lưỡi uốn trong màn, thì có thể khiến cho mọi người hiểu được không ? Cách dùng điển như vậy coi cũng mơ hồ lắm, nhưng đó là tay vụng chớ tay khéo thì nhiều khi họ dùng điển chẳng những đã rõ mà lại hay ; có một cách dùng điển mà tự lấy làm thú lắm khi họ dung hoà hai điểm lại một. Như nguyên trong sách Thuý Kinh của Tàu có nói : Giống cá Gáy hễ đến tháng ba thì đua nhau nhảy lên thác Long Môn (cách Trường Yên cao 900 dặm, con nào nhảy lên được thì hoá ra rồng, cho nên người đời hễ ai thi đậu thì người ta ví như cá Gáy nhảy lên được Long Môn, còn con cá Gáy nào mà không nhảy lên được thì phải vạch cả trán mà phải trở về chỗ cũ).
" Nhân vậy rồi Lý Bạch có câu thơ nói người thi hỏng :
" Điểm ngạch bất thành long " vạch trán chẳng ra rồng ! thú vị biết là bao nhiêu, còn trong đám thi sĩ ta thì có người làm câu :" Lò đời thổi gió un mây... " thì ai cũng biết rằng là đời là một điển, gió mây là một điển, nhưng tác giả khéo biết dung hoà vào trong một câu " gió thổi un mây " ứng với lò đời cũng như câu thơ của Lý Bạch ra rồng ứng với vạch trán, điển tuy cũ mà tứ vẫn mới đó vậy. Dùng điển mà dùng được như vậy thì cũng đáng dùng lắm chứ, còn như không thêm được cái ý mới vào chỉ biết lập lại những tư tưởng cũ của người thì xem ra cũng nhạt. Ví dụ bậc thi bá đời Đường đã nói " xử thế nhược đại mộng " rồi ta lại lập lại : Trăm năm giấc mộng cười thân thế ; lời thơ tuy cứng nhưng phái thơ mới họ bảo dở đó kìa.
" Họ lại chê thơ Đường luật quen lập lại những tư tưởng của tiền nhân.
" Vẫn có thế nhưng cũng chỉ có những kẻ bất tài mới có thế thôi, chứ phàm người có tài năng họ cũng biết rằng trong mỗi bài thơ ít nhất cũng phải có một câu tứ mới. Đừng nói đến thơ nôm, nói ngay đến một số câu thơ chữ của người xưa cũng đủ thấy rồi. Khi trong bài " Đi chơi đêm với cụ Nguyễn Hàm Ninh ở núi Tuỳ Vân ", ngài Tùng Thiện Vương có câu :
Ngư xướng trời thanh ngoai,
Chung minh thọ sắc trung.
Chài reo ngoài tiếng sóng,
Chuông điển giữa màu cây !
" Trong bài mừng được ân ban một chiếc thẻ ngà khắc Tứ Nguyễn Hàm Ninh nhập các, được ra vào tự do trong các, của cụ Nhâm Sơn có câu:
Cung nhật hồi xuyên ảnh,
Giai hoa phật bội thanh.
Dịch :
Vầng nhật trên cung xây bóng vách,
Cành hoa quanh lối gõ bài ngà,
" Mấy câu thơ đó ông Cao Bá Quát đã khuyên đặt cả mặt giấy chẳng phải đều có tứ mới sao ?
" Phái thơ mới lại chê : các cụ ấy chỉ ngồi mà đẽo gọt từng chữ.
" Lạ chưa ! thơ đã gọi là một môn mỹ thuật thì dầu cho đẽo gọt chạm trỗ cũng là lẽ thường. Nhưng bao giờ câu thơ cũng được vẻ tự nhiên, nhà thơ vẫn dư biết thế ! Mở lời ra mà gặp liền được chữ đối xứng thì cụ Dương Bá Trạc cũng đối chơi :
Ta giã núi bụi hồng đeo đẳng,
Núi xa ta mây trắng mịt mờ !
" bằng không, thì cụ Huỳnh Thúc Kháng cũng chỉ cười một hơi mà thành ra bài thơ vậy.
Tớ đẻ tháng mười năm bính tí,
Năm nay bính tí sáu mươi năm !
Kể vòng hoa giáp quanh đà khắp,
Còn nợ non sông chết chửa cam v.v...
" Nhưng các bạn thơ mới lại nói rằng : Các ông có học chữ tàu mà làm thơ nôm thì chúng tôi học chữ tây lại không có quyền bắt chước thơ tây mà chế ra một điệu thơ riêng để chúng tôi ngâm vịnh ?
" Đã bắt chước thì hễ ai có cái hay ta cũng có thể bắt chước được cả. Song thử hỏi lối thơ ta phỏng theo lối thơ tây, thì có thể ngâm nga được như lối thơ ta đã phỏng theo lối thơ Đường không ? Nói thế tất sẽ có người lấy làm lạ mà hỏi rằng vậy sao ta vẫn ngâm được thơ tây ? Vì ngâm thơ tây ta vẫn ngâm theo giọng tây, còn khi ngâm thứ thơ mới kia ta không thể ngâm theo giọng tây được, mà ngâm theo giọng ta thì nào có âm hưởng gì đâu. Đến như thơ Đường luật sở dĩ mình ngâm lên mà nó réo rắt như tiếng đờn nguyệt là vì hợp với tiếng ta đó vậy.
" Tóm lại, dầu chi ta cũng nên hoan nghinh lối thơ Đường luật, nếu có chê nó là khó thì cứ làm theo lối tứ tuyệt, lối song thất lục bát hay lối thượng lục hạ bát, cùng đi nữa thì những từ khúc.
" Thơ Thế Lữ, những bài xuất sắc cũng vẫn làm theo những điệu ấy, thế sao vẫn gọi là thơ mới ?
" À phải ! Ông Lê Tràng Kiều có nói : Vô luận thì làm theo điệu thơ gì có tứ mới thì đều gọi là thơ mới. Song tôi lại xin trừ ra lối thơ mà ta vẫn mô phỏng theo thơ tây một cách vô ý thức, vì ngoài một đôi người như Thế Lữ là vẫn có một chút tài, còn thì lối thơ lố lăng ấy chỉ tạo ra được những nhà thơ non như là Phúc Nhuận, ông Đỗ Phủ (ông Đỗ Phủ người Bắc chứ không phải cụ Đỗ Phủ người Tàu đâu !). Nhưng điều đó ta cũng chẳng cần lo, vì ông Phan Khôi thì đã ngỏ lời từ biệt lối thơ " không xuôi không vần " kia trên báo Trường An độ nọ, còn những đồ đệ của ông mỗi ngày mỗi vắng dần. Nhiều kẻ hô hào đào thải thơ Đường luật, ngày nay lại muốn trở về với nó. Đáng khen thay những kẻ biết rộng thấy xa, lâu nay vẫn dốc một lòng thờ phụng thơ Đường " (Văn Học tuần san, số 26, 1-11-1936). 

Tản Đà lần đầu tiên lên tiếng về thơ mới
Trong cuộc tranh luận thơ mới thơ cũ này, Tản Đà xem ra có căm tức lắm, nhưng Tản Đà khôn lắm, ít khi lâm trận đánh thẳng vào địch, dù địch đó là Phan Khôi. Trong mấy lần đụng độ với Phan Khôi, như vụ Nho Giáo, vụ Cái Cười Con Rồng Cháu Tiên..., Tản Đà đã hăng hái, quyết liệt, phũ phàng nữa là khác. Vậy mà trong vụ thơ cũ thơ mới, Tản Đà xem ra đứng ở ngoài. Bài Tản Đà đả kích thơ mới mạnh nhất có lẽ chỉ là một bài chửi mát, mà cũng chỉ là chửi mát Phan Khôi trong bài " Hài đàm của Tản Đà : Thơ mới " đăng ở Phụ Nữ Tân Văn số Xuân năm 1934. Tản Đà đem so sánh Phan Khôi với Lý Bạch cũng như so sánh một họ Quách nào đó phải chăng là Quách Tấn với Bá Nha để rồi kết luận : đàn của chàng Quách thỉ " ngớ ngẩn " còn thơ của chàng Phan thì " vẩn vơ "
" Hài đàm của Tản Đà :
" Thơ mới
" Từ khi Lý Bạch chết, thiên hạ không chuộng thơ mà thơ kém hay : Bởi thế mới có Phan tiên sinh ra đời.
" Từ khi Bá Nha chết, thiên hạ không chuộng đờn, mà đờn kém hay : Bởi thế mới có Quách tiên sanh ra đời.
" Phan tiên sinh cải lương về nghề thơ, ở đời chưa gặp ai tri kỷ :
" Quách tiên sinh cải lương về nghề đờn, ở đời chưa gặp ai tri âm.
" Một hôm, kỳ ngộ duyên may, hai tiên sinh gặp gỡ.
" Trong một nhà ở phố Khâm Thiên, Phan đương nằm hút ở trên gác, bỗng nghe ở dưới gác có tiếng đờn gẩy, nhân lâu rất thấy khác thường ; tiếng đờn thực hay mà như không có cung bực do bụng hoài nghi, Phan tiên sinh bước xuống bực thang, ngó thử coi thấy người nẩy đờn đó chừng cũng là một du tử mà coi ra có vẻ cao nhân, nhân bước luôn xuống thang, làm quen nói chuyện chơi. Người đó là ai ? Tức là Quách tiên sinh vậy. Rồi đó, Quách tiên sinh nói chuyện đờn, Phan tiên sinh nói chuyện thơ.
Rồi Quách đờn một chập, Phan thơ một hồi.
Rồi Quách lại đờn ; Phan lại thơ.
Rồi Phan, Quách lại truyện thơ, truyện đờn.
"Cái thú gặp tri kỷ, khó bút mực nào vẽ cho hết. Chi chủ đó nguyên là một tay tài tình, văn thơ âm nhạc, đều có hiểu qua, nhân bàn quanh một cuộc cầm thi, cũng cảm tác một bài "Thơ Mới":
Đờn là đờn
Thơ là thơ
Thơ thời có chữ, đờn có tơ.
Nếu không phá cách vứt điệu luật,
Khó cho thiên hạ đến bao giờ !
Bá Nha xa.
Lý Bạch khuất.
Thơ có họ Phan, đờn có họ Quách,
Thơ có chữ
Đờn có tơ:
Đờn thời ngơ ngẩn, thơ vẩn vơ
Tài tử văn nhân nhường rứa rứa,
Bách huê ngao ngán bận đề thơ "
Sau bài nói kháy, chửi mát Phan Khôi và thơ mới trên Xuân Phụ Nữ Tân Văn, Tản Đà viết một thôi năm sáu bài về thơ mới đăng trên Tiểu Thuyết Thứ Bảy vào cuối năm 1934:
1)- Phong trào thơ mới muốn cùng ai trong bạn làng thơ (T.T.T.B. số 26 ngày 24-11-1934).
2)- Cùng các bạn làng thơ (T.T.T.B. số 28)
3)- Tính chất của thơ (T.T.T.B. số 30 và số 32)
4)- Một chữ trong nghề thơ (T.T.T.B. số 40)
Bài "Phong trào thơ mới muốn cùng ai trong bạn làng thơ" là để thương xác với Lưu Trọng Lư về bài diễn thuyết ông đọc ở nhà Học hội Qui NHơn.
Với một tâm hồn cởi mở, và những lời lẽ rất ư là khiêm tốn, Tản Đà đã bày tỏ thái độ của ông đối với thơ mới, thơ cũ. Tản Đà cho rằng giữa lúc xảy ra vụ tranh chấp thơ cũ thơ mới thì Tản Đà không có mặt ở Hànội, cho nên không theo rõi được sự diễn biến của cuộc chiến. Phải chăng đây là thời kỳ Tản Đà đang buồn chán vì An nam tạp chí của ông bị chết lần thứ tám, tức là lần chót. Biến cố đau thương đó đã khiến Tản Đà tủi dỗi đời nên tự đặt mình ra bên ngoài xã hội:
"Mới đây một người bạn tôi gởi cho bài diễn thuyết của ông Lưu Trọng Lư đọc ở nhà Học hội Qui Nhơn, tôi đọc tới bài đó, tâm hồn xúc động, không thể lại lẳng lặng mà ngồi yên. Cứ như bài diễn văn của ông Lư, cảm tưởng và kiến giải, phần nhiều thiệt tôi lấy làm phải, có nhiều chỗ lại thấy rất là tinh.
"Song mà trong sự quan sát cũng còn có chỗ không tường xác; cái kiến giải để hướng đạo cho quần chúng coi chưa đủ phát dương hiệu lệnh trên thi đàn. Bài tôi viết đây, không chuyên cùng ông Lưu Trọng Lư biện luận, cho nên không dẫn đến những chỗ mà tôi cho hơn kém ấy. Nay tôi chỉ cần muốn biện bạch trước độc giả, công chúng vì thấy có mấy lời trong bài diễn văn của ông Lư.
"Trong bài ông Lư nói, ngay một đoạn mở đầu rằng: "gần đây, trong văn học nước nhà thấy có một cái phong trào mạnh danh là "thơ mới". Cái phong trào ấy dư luận chia ra làm hai, phái hoan nghênh và phái phản đối. Tôi không cần nói, các ngài cũng dư hiểu rằng phái hoan nghênh là phái thanh niên tân học, phái phản đối là các cụ nho học. Hai bên đương sừng sộ nhau đương giằng co nhau".
"Ông Lư đã nói, chắc là ông có thấy như thế, mà lâu nay tôi xa đất Hà Thành, thực tình trạng trong văn giới như sao, ít có tiếp đến tai mắt, riêng về phần tôi, thời như lời ông Lư nói đó, tôi quả không phục tình."
Sau đó, gián tiếp Tản Đà muốn bảo rằng cái mà người ta gọi là thơ mới, Tản Đà vẫn làm, làm từ lâu, từ 20 năm nay mà chỉ khác là ông không gọi nó là thơ mới. Ông trích mấy bài thơ ông đã làm trên dưới hai chục năm:
"Cứ văn vận của tôi đã làm ra trong khoảng 20 năm nay, kể có không ít; mà nay nếu có người hỏi tôi rằng: bài nào hay hơn hết? Thời phải lấy một bài trong cuốn tiểu thuyết Giấc mộng con thứ hai, làm cho Dương Quí Phi, Tây Thi...ở Bồng Lai, bài ấy rằng:
Non xanh xanh
Nước xanh xanh
Nước non như vẽ bức tranh tình.
Non nước tan tành
Giọt lệ tràn năm canh.
*
Đêm năm canh
Lụy năm canh
Nỗi niềm non nước,
Đó ai quên cho đành !
*
Quên sao đành ?
Nhớ sao đành ?
Bồng lai non nước xanh xanh ?
" Cuốn tiểu thuyết ấy viết ra, trong khi tôi giúp việc Đông Pháp thời báo của ông Diệp Văn Kỳ ở Nam, là khoảng năm 1926 cách đây đã 8 năm.
"Lại như bài "Cảm thu liễu thư" của tôi, một đoạn tả cảnh ở đầu rằng:
"Từ vào thu đến nay
Gió thu hiu hắt
Sương thu lạnh
Trăng thu bạch
Khói thu xây thành
Lá thu rơi rụng đầu ghềnh
Sông thu đưa lá bao ngành biệt ly.
Nhạn về...
"Mấy câu đó, riêng tôi thật ngâm mãi không chán; mà bài văn đó tới nay ở trong báo Saigon lại có người lại đem ra để phê bình, kể cái thời gian tôi viết ra thời vào khoảng năm 1921, trong lúc tôi làm việc cho báo Hữu Thanh, cách đây có 14 năm.
"Lại như những bài "Hoa rụng" in ra ở Khối tình con, lời văn rằng:
"Hoa ơi, hoa hỡi, hoa hời!
Đang ở trên cành bỗng chốc rơi!
Nhị mềm cành úa,
Hương nhạt mầu phai
Sống chưa bao lâu đã hết đời
Thế mà hoa lại sướng hơn người.. . . .
"Bài này viết ra, kể cách nay có tới 20 năm.
"Những điệu văn thơ đó, thật tự tôi đặt ra, không theo niêm luật ở đâu hết, duy tôi không gọi nó là thơ mới mà thôi. "
Ngày 8-12-1934, Tản Đà viết bài "Cùng các bạn làng thơ" (An nam tạp chí số 28), bàn về ý nghĩa của thơ mà ông phân biệt làm nghĩa rộng, nghĩa hẹp.
Về nghĩa rộng của thơ, Tản Đà viết:
"Theo nghĩa rộng mà nói, thì thơ là lương năng của mọi người, cho nên không có hạng người nào đều có thể nên thơ. Như thế, phạm vi của thơ thật rất rộng, hàm người ta nói ra mà hơi có vần, đều là thơ, không thể cách phi hết. Những thơ đó, theo ý kiến của người quan sát, chỉ có thể nhận cho những câu nào, những bài nào là hay; mà không thể phán đoán bảo như những câu nào, những bài nào là dở".
"Hiểu theo nghĩa rộng, thơ là thú tiêu khiển ai cũng có thể làm được. Nhưng hiểu theo nghĩa hẹp, thơ là  một thứkỹ thuật phải người có học mới biết làm, mới làm được; ví như đánh đàn phải có cung bực, đánh cờ phải sạch nước cản, nếu không thì không là thơ".
Đối với Tản Đà, thơ hiểu nghĩa hẹp là các lối thơ thất ngôn, ngũ ngôn, cổ phong, tứ tuyệt. Như vậy mà trong cuộc tranh luận thơ cũ thơ mới, chữ "thơ mới", theo Tản Đà là một danh từ lạm dụng, hiểu sai nghĩa.
Sau khi bàn về danh nghĩa của thơ, Tản Đà dành hai số báo để bàn về "Tính chất của thơ" (TTTB số 30 và 32). Theo Tản Đà, thơ có hai tính chất : tài và tình. Tài là tài nghệ, tức là thuộc về nghĩa mỹ thuật; tình là tình hoài, tức là thuộc về nghĩa lương năng" (TTTB số 30). Tản Đà đã dựa vào hai tính chất tài và tình để tìm ra cái đẹp trong các câu thơ cũ. Không nói rõ ra, nhưng cứ theo lối trình bầy, người ta cũng nhận ra rằng thơ mới thiếu hẳn tính chất "tài", cho nên thơ, mới là thứ thơ lệch lạc, là thứ thơ không hoàn toàn.
Những tài liệu tôi trích trên đây chưa phải là tất cả các tài liệu liên quan đến cuộc tranh luận gay go giữa thơ mới và thơ cũ và có lẽ cũng chưa phải là những bài quyết liệt nhất. Chẳng hạn ba bài diễn thuyết nảy lửa của Nguyễn Văn Hanh bênh vực thơ cũ, của Thái Phỉ công kích Lê Tràng Kiều, của Tường Vân và Phi Vân tác giả tập "Những bông hoa trái mùa".
 Thanh Lãng
Theo http://chimviet.free.fr/




Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Tô Hoài - Vẽ lên hoài niệm

Tô Hoài - Vẽ lên hoài niệm Những chuyện đời tư sôi nổi, cảm động, thiết tha và gần gũi phần nào cho thấy sự chuyển đổi theo chiều hướng nh...