Nếu đã có không ít người
yêu văn chương trước 75 vui mừng khi bất chợt gặp lại Âu Thị Phục An trong một
vài trang web với những truyện ngắn, vừa nhú lên như những búp măng đầy hứa hẹn
của một thời (như Thăm Viếng, Sói Đồng Hoang, Một Ngày Không Định Trước…),
thì, cũng không ít độc giả đã giật mình với sự xuất hiện những vần thơ đầy
tính mới mẻ, mới mẻ như những dấu chân mở đường của một cơn tỉnh thức, sau những
tháng năm (cũng như độc giả)
mộng du quanh quẩn trong
thiên đường vô ngôn, đã như bị bóng đè không dậy nổi…
Tôi nghĩ là tôi đã nói
không quá, bởi, nếu như độc giả có dịp lướt qua những trang Da Màu, Tiền Vệ,
Văn Chương Việt, LitViet, Sáng Tạo… sẽ thấy có những ngòi bút phê bình quen
thuộc đã không ngại ngần đặt Âu Thi Phục An lên một vị trí trang trọng trên
chiếc chiếu hoa “VĂN MIỀN NAM THỜI CHIẾN”
…Trong 117 truyện ngắn,
truyện ngắn này (Văn Miền Nam - Thư Ấn Quán sưu tập), Thăm Viếng (ÂTPA) đã
theo đuổi tôi mãi sau khi tôi gấp sách lại. Không phải vì đây là truyện ngắn
xuất hiện đầu tiên trong tuyển tập, cũng không vì người viết mới 21 tuổi khi
truyện đăng tháng 2 năm 1975. Nó theo đuổi tôi bởi vì nó rất mới lạ trong suy
nghĩ của tôi. Nó mới ở chỗ, cô có suy nghĩ một cách độc lập đến cái hạnh… cái
định nghĩa của hạnh phúc(Nguyễn Thi Hải Hà)
…Tôi kinh ngạc một cách
thích thú khi biết tác giả Âu thị Phục An mới trên 20 tuổi mà đã viết được một
cách tinh tế những ngại ngùng bối rối, những xót xa âm thầm… (Trần Bình
Dân).
Độc giả sẽ không lấy làm lạ,
tại sao MỞ một tập thơ, lại thấy nói toàn văn! Tôi nói ngay, không lạ đâu, ý
tôi, nhà thơ ÂTPA của chúng ta hôm nay, ngày xưa là thế đấy! Con tằm đó đã
không chết vì những nhát búa đóng lên 1975, mà “đã đi qua hơn ba mươi năm
bầm dập để kiếm sống...” ( ÂTPA, bài phỏng vấn của Hai Trầu, trong
“14 Tác Giả, mỗi người mỗi vẻ”), để cho chữ nghĩa đóng kén nằm im, như ghi nhận
của Lương Thư Trung (Hai Trầu) “Như chị vừa nói : vầng trăng tôi bị
đời ăn đi trong một đoạn đời rất lâu mà sau đó, từ cuối năm 2007, tôi đã làm
thơ lại”, có nghĩa là chị đã tìm lại được mình giữa muôn trùng bất trắc
của dòng đời (LTT). Và, những chiếc kén đó, đã và đang cho chúng ta những sợi
tơ vàng.
Chúng ta đang bước vào RỤNG
XUỐNG TRĂM NĂM, thi phẩm thứ 2 của ÂTPA, sau NGUYỆT THỰC, cái “vầng
trăng tôi bị đời ăn” đó đã (không thể dùng chữ gì khác hơn) thành công, ít
nhiều để lại những âm vang (nếu không muốn nói là chấn động) trong giới yêu
thơ, ở hải ngoại: “…cũng như nhiều ngòi bút chân thực khác trên thế giới
trong các xã hội chuồng trại, chính là vùng đất ươm mầm cho tiếng nói của
một nhà thơ ngoại hạng (CHÂN PHƯƠNG: KHÁT VỌNG ĐƯỢC LÀM NGƯỜI QUA
THƠ ÂU THỊ PHỤC AN) hay “…Ít lâu sau cô ra tập thơ đầu tay, được nồng
nhiệt đón nhận từ giới yêu thơ. Nhiều nhà phê bình thơ có uy tín trong và
ngoài nước đã đọc và đánh giá rất công bằng về tài năng của ATPA” (ĐỖ
XUÂN TÊ: Âu Thị Phục An, Khuôn mặt thơ tôi yêu), cũng như ở trong nước: “Thơ
Âu Thị Phục An, nhiều lúc có nét sáng lóa và huyền bí như vậy, tạo dựng một
khuynh hướng thi ca có nét sống mãnh liệt, đầy dương tính, pha trộn ý thức
hóa sinh đầy rẫy hơi thở tiềm phục. Mở ngõ tử sinh cho gió bốn phương tràn ngập,
mang âm sắc thinh lặng ngàn xưa lang thang về cõi sống (NGÔ NGUYÊN NGHIỄM: Người
Đồng Hành Quanh Tôi, tập 3), và “…Thế giới thơ của Phục An đa chiều, rộng
nghĩa. Chị đã phá bỏ những luật lệ trong thơ cổ điển (như nhiều nhà thơ đi
trước đã từng làm) để tìm kiếm cái đẹp, dẫu cho cái đẹp ấy hàm chứa bao nỗi
nhục nhằn của một kiếp người. Tuy nhiên, khi đến với thế giới thơ Phục An, nếu
chỉ lướt qua, một lần thì dễ bị những ẩn ngữ kia đánh lừa, bởi bề ngoài ngôn
ngữ mang đầy chất phồn thực, lớp lớp những khoái cảm của tính dục là “những
khắc khoải, thao thức về thân phận, khát vọng làm người của một con người”
như chị đã từng tâm sự.(NGUYỄN LỆ UYÊN: Trang Sách Và Những Giấc Mơ Bay,
tập 2).
Tôi hy vọng độc giả sẽ đón
nhận RỤNG XUỐNG TRĂM NĂM như một cuộc tái hợp mong đợi, vì gần như hầu hết những
bài thơ được in trong tập này đều đã được các các trang mạng điện tử, các tạp
chí văn học uy tín và khó tính tuyển chọn đăng trong nhiều năm qua, và được độc
giả yêu thích.
Tôi bắt gặp cái nét lãng
đãng, phiêu bồng, mơ màng của thơ ÂTPA ngay từ những câu đầu tiên của tập
thơ, để không thể không thắc mắc một cách thích thú “Tác giả đang ở cõi nào”
mà những viên sỏi cuội trên đường kia lại là con đường lạ, ném đâu chả
được lại lựa phải nơi chẳng có nơi nào (phù du) mà ném, và có phải chăng viên
sỏi xấu xa kia dưới mắt nhà thơ bao dung, đã hóa ra nụ hoa thơ mộng?
Hôm qua nhặt sỏi bên đường
lạ
Ném xuống phù du một nụ
hoa
(Đường Mơ)
Cả đến cái giọng hờn trách
trong một bài thơ buồn, cũng vẫn cái hơi thơ “tiếu ngạo” ấy:
rơi đâu từ lá thu vàng úa
thảng thốt địa
đàng chợt vắng tanh
Và những cố tình rất duyên
dáng (mà cũng lãng đãng như có như không), mà tôi tin, bạn sẽ mỉm nhẹ nụ cười,
khó khăn gì cái câu “Mưa Ngâu Tháng Bảy” quen thuộc, mà sao phải là Tháng
Tám:
Khi nào mùa thu tan theo
mưa
Đừng vẫy tay chào
Cho ta níu lại
Từng hạt ngâu Tháng Tám.
(Chút Thu Mưa)
Nhà thơ nói thế, không có
nghĩa là không biết độc giả sẽ không hiểu như thế, cho nên Mưa Ngâu Tháng Tám
thì cũng không khác gì Trung Thu Tháng Chín, cứ thả cho nhà thơ bềnh bồng,
càng bềnh bồng chúng ta càng có cơ hội thưởng thức được những vần thơ ý nhị,
bất ngờ như những giọt mực rớt đại xuống trang giấy:
Hột mưa lăn đại xuống cơn
đau thầm
(Cõng)
mặt trời Sài gòn hôm nay ì
ạch nỗi buồn.
(Sao em buồn quá)
tia sáng diệu kỳ
bơi nhiệt tình trong nước
ối
(Đêm Rằm Ra Đời)
Chúng ngồi thiền lặng như
gốc cây
Chúng mơ về cái gì ai biết
(Tất Cả Đều Bỏ Đi)
Bên cạnh những gốc cây lơ
mơ, “mơ về cái gì ai biết” đó, lại cũng có những hình tượng sống động, vừa
như cam chịu cũng vừa như phá phách (một cách đau đớn mà phá phách):
thưa anh ngọn cỏ em mềm/ e
đau trái mộng để dành đã lâu
(Trầm Khúc)
Để thấy nhức buốt như khi
đứng trước bức họa Skrik (The Scream: Tiếng Thét) của danh họa người Na Uy
Edvard Munch:
bước tới và bước tới
vọc suối nguồn lạnh căm
tay ta vời bóng tối
khuya rớt giọt máu bầm
Em phơi xuân đồi ngà ngọc
Nước trôi dầm dập bờ hông
Thở hương hoa hồng thơm lụa
Ngửi em trinh tiết vàng
thu
(Cơn Điên Của Sợi Tóc Bạc)
đừng đặt tay lên ngực em
đêm nay gió sẽ về qua cửa
sổ…
Em muốn rồi đó (Bắt Đầu)
tay vọc miền vực thẳm
anh, chạm vào hư hao.
(Biển Đêm)
ngửa thả lướt trên cuồng
đêm trượt vào đời anh
hút vào bao la đêm đêm lũ
sóng dập dập vào hang động mềm mượt rong rêu xanh um…
ép sát vô thường cực bắc cực
nam hút sát…
anh hôn em em hôn anh níu
trái mộng đỏ lòm trực giác
(Trái Mộng Đong Đưa)
Như đùa cợt với thân phận
mình, có lẽ người đọc dễ nhận thấy, khi bắt gặp những điệp ngữ chập chùng nhảy
múa, một cách cố tình, giống như là bí vần, kẹt chữ, mà tôi khó (hoặc không)
tìm thấy ở một nhà thơ nào:
khi không trăng gió ngừng
trăng gió…
kiếp trước kiếp nào ai biết
đâu
luân hồi luân chuyển mờ
con mắt…
có khi ẩn ẩn hồn tố nữ
nhập nhập vờn vờn một đóa
tranh
(Có Khi)
Mưa mưa trăng trăng vờn
qua phố
(Mưa Trăng)
đỉnh cao, cao đỉnh núi
(Biển Đêm)
Nhưng, như tôi đã nói, những
cợt đùa kia phải chăng cũng để “ẩn ẩn” những “Tiếng Thét” xuống ngày tháng
mình? Bởi tôi thấy, bàng bạc từng trang nghêu ngao, là những xót xa rất thực,
“rất đời thường” và trần gian đến nao lòng:
tô thị vời vợi ngóng
những gót chân hoang đàng
(Khuya Rớt)
Tóc ai đêm rồi đã bạc
Đêm rồi ngơ ngác tìm xuân (Cơn
Điên Của Sợi Tóc Bạc)
Không hẹn hò mà sao mưa
bay
Có quen đâu mà tay níu tay (Tìm
Chút Nhau)
Một vài nơi, tôi bắt gặp
chữ Cali, như một tiếng thở dài, một Cali của trăm năm rụng xuống, mất dấu, một
Cali mà tác giả muốn khắc khoải cho những ngậm ngùi bên kia bờ, cũng như những
đợi mong mòn mõi bên nay bờ, Cali cho tất cả những 36 năm viễn xứ, những lưu
lạc năm châu… Nơi đó, “sông núi chờ nhau…” một thứ tình lớn, lớn như những gì
đã mất mà “NGƯỜI (đã) không về”. NGƯỜI không về, nên từ đó nhà thơ đã tự lạc
loài trên chính quê hương mình “… từ đó, tôi luôn là kẻ ngoài lề, và
tôi thích như vậy.
Cũng như thời cuộc vậy,
chúng ta đều muốn sống hạnh phúc và yên bình cho đến hết một kiếp người,
nhưng chúng ta đều đang hụt hẫng và hoang mang bơi trong một vũng lầy... (PA
trả lời P/v của Phan Nhiên Hạo)”, hay:
- Điều gì là sao Bắc Đẩu
khi thơ lạc lối?
- Thường thì tôi thích lạc
lối. (PA trả lời P/v của Lưu Diệu Vân).
Thích lạc lối, hay kẻ
ngoài lề, thì điều đó cũng chưa phải là nấc thang đưa ÂTPA đến gần độc giả,
có lần, khi nghe tôi nói đùa “Tôi ganh tỵ với PA đấy nhé”, chị cười rất đỗi
thật thà: “Có lẽ do cây bút nữ ít quá, mà lại nữ liều mạng như ÂTPA”
Rất mong, độc giả hiểu tôi
chỉ là độc giả đầu tiên, và vẫn còn nhiều bí ẩn kỳ thú mà độc giả sẽ giúp
khám phá hương sắc của từng đóa hoa trong vườn thơ Rụng Xuống Trăm Năm…
|
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét